Thiện
Hữu
Một
dạo Thiện Hữu cùng với vài Sa Môn khác đến nghỉ ngơi
trong khu vườn chơi mà Kiều Lan, người kỹ nữ đã dâng cúng
đồ đệ của đức Phật. Chàng nghe nói về một người lái
đò già bên sông, cách một ngày đường, mà nhiều người
cho là hiền nhân. Khi Thiện Hữu lên đường khất thực, chàng
chọn con đường ngang khúc sông ấy, hăm hở muốn thấy được
người lái đò kia, vì tuy chàng đã sống theo giới luật và
được những người sư đệ kính trọng nhờ tuổi tác và
đức khiêm cung, chàng vẫn còn đang thao thức trong tâm hồn,
và sự tìm tòi của chàng vẫn không được thoả mãn.
Chàng
đến bờ sông và nhờ người lái đò đưa chàng qua bên kia
bờ. Khi họ đã đến bến chàng nói với người lái đò:
- Ông
thật tốt với những Sa Môn khất sĩ. Ông đã đưa rất nhiều
chúng tôi sang sông. Thế ra ông cũng là một người đang tìm
con đường chánh đạo sao?
Đôi
mắt già nua của Tất Đạt thoáng hiện nụ cười khi chàng
đáp:
- Người
tự gọi mình là một kẻ tìm kiếm sao, hỡi thầy Tỳ kheo,
khi trông người cũng khá tuổi tác, và lại mặc áo tăng sĩ
của đức Cồ Đàm?
- Tôi
già nua thật, Thiện Hữu nói – nhưng tôi chưa bao giờ thôi
tìm kiếm. Tôi sẽ không bao giờ thôi tìm kiếm. Đấy như
là định mệnh của tôi. Tôi đoán hình như người cũng đã
tìm kiếm. Người có thể nói cho tôi nghe chút đỉnh về điều
đó không. Hỡi ông bạn?
Tất
Đạt đáp:
- Có
cái gì xứng đáng cho tôi nói với ngài đâu, trừ ra rằng
ngài tìm kiếm quá nhiều, và bởi ngài tìm kiếm quá nhiều,
ngài không thể nào gặp được.
- Sao
lại như thế? Thiện Hữu hỏi.
- Khi
một người tìm kiếm, thì thường thường anh ta chỉ thấy
có điều mà anh ta tìm kiếm; và anh ta không thể gặp được
cái gì, không thể thu nhận được gì, bởi anh ta chỉ nghĩ
về điều anh ta đang tìm, bởi anh ta có mục đích, và bị
ám ảnh vì mục đích ấy. Tìm kiếm có nghĩa là mục đích,
nhưng “gặp” có nghĩa là tự do tự tại, sẵn sàng đón
nhận, không có mục đích cố định nào. Hỡi người Sa Môn
khả kính, có lẽ ngài quả là một người tìm tòi, vì trong
khi cố đạt mục đích, ngài đã không thấy bao nhiêu sự
vật trước mắt ngài.
- Tôi
vẫn chưa hiểu thấu. Ngài muốn nói gì?
Tất
Đạt bảo:
- Có
một lần, vị Sa Môn đáng kính ơi, cách nhiều năm qua, ngài
đến sông này và trông thấy một người ngủ ở đây. Ngồi
bên cạnh kẻ kia trông chừng giấc ngủ cho nó, nhưng ngài
lại không nhận ra kẻ đang ngủ đó là ai.
Quá
ngạc nhiên, và như một người mắc phải bùa chú, vị Sa
Môn trừng trừng nhìn người lái đò:
- Anh
có phải là Tất Đạt không? Chàng e dè hỏi. Tôi lại không
nhận ra anh lần này nữa! Tôi rất sung sướng được gặp
lại anh, Tất Đạt. Rất sung sướng. Anh đã thay đổi rất
nhiều, bạn ơi. Và bây giờ anh đã thành người lái đò sao?
Tất
Đạt cười lớn thân mật:
- Phải,
tôi đã trở thành người lái đò! Nhiều người phải thay
đổi khá nhiều và mặc đủ mọi chiếc áo. Tôi là một trong
những kẻ ấy, bạn. Rất hoan nghênh bạn, Thiện Hữu, xin
mời bạn ở lại hôm nay trong chòi tôi.
Thiện
Hữu ở lại đêm ấy trong chòi và ngủ trên chiếc giường
của Vệ Sử ngày xưa. Chàng hỏi người bạn thời niên thiếu
kia rất nhiều câu hỏi. Và Tất Đạt có biết bao nhiêu câu
chuyện để kể cho Thiện Hữu nghe về đời chàng.
Sáng
hôm sau, khi đã đến lúc từ giã, Thiện Hữu ngập ngừng
bảo bạn:
- Trước
khi tiếp tục lên đường, Tất Đạt, tôi muốn hỏi anh một
lời nữa. Anh có một thuyết lý nào không, một niềm tin hay
hiểu biết mà anh chấp trì, giúp anh sống và hành động phải
lẽ?
Tất
Đạt nói:
- Bạn
cũng biết rồi, ngay khi còn là một thiếu niên, khi chúng ta
sống với những người khổ hạnh trong rừng già, tôi đã
không mấy tin vào chủ thuyết và thầy dạy, và tôi đã ngoảnh
mặt đi trước những thứ ấy. Bây giờ tôi vẫn còn như
thế đó, mặc dù tôi đã qua bao nhiêu người dạy dỗ. Một
người kỹ nữ xinh đẹp đã là thầy tôi một thời gian khá
lâu, và một thương gia giàu, một tay bạc sành sỏi. Vào một
dịp khác, một người khất sĩ của đức Phật là thầy tôi.
Người dừng bước du khất để ngồi bên tôi khi tôi ngủ
thiếp trong khu rừng. Tôi cũng học được một ít từ người
ấy và rất cám ơn người. Nhưng nhất là tôi đã học từ
con sông này và từ người trước tôi, Vệ Sử. Ông quả thật
là một người giản dị; ông không phải là một nhà tư tưởng,
nhưng cũng trực nhận được lẽ vi diệu như đức Cồ Đàm.
Ông thật là một vì thánh.
Thiện
Hữu nói:
- Tất
Đạt, tôi thấy dường như anh cũng còn thích đùa bỡn chút
đỉnh. Tôi tin anh và biết anh đã không theo một vị thầy
nào, nhưng đến cả chính anh lại không có một lý thuyết,
một tư tưởng nào hay sao? Anh lại không khám phá được cho
chính mình một vài tri thức giúp anh sống hay sao? Tôi sẽ
rất sung sướng nếu được anh nói cho nghe về điều ấy.
Tất
Đạt nói:
- Vâng,
tôi đã có những ý nghĩ và hiểu biết thâu nhặt được
thỉnh thoảng. Đôi khi, trong một giờ hay một ngày, tôi đã
trực giác có tri thức, hệt như người ta cảm thấy sự sống
trong nhịp tim. Tôi đã có nhiều ý tưởng, nhưng thật khó
nói cho bạn nghe về chúng. Nhưng đây là một ý tưởng đã
làm tôi chú ý, Thiện Hữu. Sự khôn ngoan không thể truyền
cho kẻ khác. Trí tuệ mà một người hiền triết cố truyền
lại luôn luôn nghe có vẻ điên rồ.
- Anh
đùa đấy chăng? Thiện Hữu hỏi.
- Không,
tôi đang nói với bạn điều mà tôi đã tìm thấy. Kiến thức
có thể truyền được nhưng trí tuệ thì không. Người ta
có thể tìm thấy nó, sống trong nó, được thêm sức mạnh
vì nó, làm nên những phép lạ nhờ nó, nhưng người ta không
thể truyền dạy nó được. Tôi đặt nghi vấn về điều
này từ hồi còn trẻ, và chính nghi vấn đó đã làm cho tôi
xa lánh mọi thầy học. Có một ý tưởng tôi suy ra, Thiện
Hữu, mà có lẽ bạn cũng lại cho là một trò đùa hay một
sự điên rồ nữa: ấy là trong mọi sự thật, điều ngược
lại cũng đúng không kém. Chẳng hạn, một sự thật chỉ
có thể diễn tả và gói trọn trong danh từ nếu sự thật
chỉ có một mặt. Mọi điều, nếu được suy tưởng và diễn
tả thành danh từ thì đều là phiến diện, chỉ là nửa phần
sự thật, nó thiếu hẳn tính cách toàn vẹn, tròn đầy, nhất
thể. Khi đức Phật dạy về thế giới, Ngài phải phân chia
thành Khổ Đế và Niết Bàn, thành Vọng và Chân, thành
khổ đau và giải thoát. Người ta không thể làm khác hơn,
không có phương pháp nào khác cho những người giảng dạy.
Nhưng thế giới tự nó, ở trong ta và xung quanh ta, thì lại
không bao giờ phiến diện. Không bao giờ một người hay một
sự việc lại thuần khổ hay thuần lạc, không bao giờ một
người lại thuần là thánh thiện hay thuần tội lỗi; chỉ
dường như thế bởi vì chúng ta bị mắc phải một ảo tưởng
rằng thời gian là một cái gì có thực. Thời gian không thực
có, Thiện Hữu. Tôi đã luôn luôn trực nhận điều này. Và
nếu thời gian không thực có, thì đừng tưởng tượng ngăn
chia cõi đời này với cõi vô cùng, ngăn chia thiện và ác,
hạnh phúc và đau khổ, tất cả cũng chỉ là một ảo tưởng
…
- Sao
lại như thế? Thiện Hữu hỏi, hoang mang.
- Này
nhé, bạn! Tôi là một kẻ phạm tội và bạn là một kẻ
phạm tội, nhưng một ngày kia người tội lỗi cũng sẽ là
Đại ngã trở lại, sẽ đạt Niết Bàn, sẽ trở thành một
đức Phật. Nhưng ý niệm “một ngày kia” ấy là một ảo
tưởng: đấy chỉ là một sự so sánh. Kẻ tội nhân không
phải đang tiến hoá, mặc dù tư tưởng ta không quan niệm
khác hơn. Không, đức Phật, tiềm năng đã sẵn có trong người
tội lỗi, tương lai đã ở trong hiện tại. Đức Phật tiềm
tàng ấy phải được trực nhận trong người kia, trong bạn,
trong tất cả mọi người. Thiện Hữu, thế giới không phải
bất toàn hay đang từ từ tiến trên đường dài để đạt
đến toàn thiện. Không, nó hoàn hảo trong mọi giây phút,
mọi tội lỗi mang theo với nó sự ân xá, mọi trẻ con đã
là những ông già tiềm tàng, mọi nầm non đã mang sẵn chết
chóc, và trong mọi người hấp hối, đã có sự sống Vĩnh
cửu. Một người không thể nào thấy được người khác
đã đi bao xa, đức Phật hiện hữu trong kẻ trộm cướp và
tay bạc bịp; kẻ trộm cướp hiện diện trong người Bà La
Môn. Trong lúc quán tưởng sâu xa, ta có thể bất chấp thời
gian tính, thấy đồng thời tất cả quá khứ, hiện tại,
vị lai, và khi thấy mọi sự đều tốt, đều hoàn hảo, mọi
sự đều là Đại ngã, linh hồn. Bởi thế đối với tôi
dường như mọi sự vật hiện hữu đều tốt cả -- chết
cũng như sống, tội lỗi cũng như thánh thiện, khôn ngoan cũng
như điên rồ. Mọi sự đều cần thiết, mọi sự chỉ cần
sự biểu đồng tình của tôi, cái gật đầu của tôi, niềm
yêu thương và thông cảm của tôi: lúc đó tất cả đều
tốt đẹp đối với tôi và không gì có thể làm hại tôi
nữa. Tôi đã học qua thể xác và linh hồn tôi rằng tôi cần
phải phạm tội, cần phải đắm mê dục lạc, cần phải
lao tâm nhọc trí kiếm tiền của, trải qua những cơn buồn
nôn và xuống tận cùng hố thẳm tuyệt vọng, để mà học
đừng chống chọi lại chúng, để mà học yêu thương cuộc
đời, và không còn so sánh nó với một thứ thế giới tưởng
tượng viễn vông do mình ao ước, không còn so sánh nó với
một ảo tưởng nào về Toàn Thiện, mà trái lại, để cuộc
đời nguyên trạng là nó, yêu thương và vui thích được dự
phần với nó. Những điều này, Thiện Hữu ơi, là vài ý
tưởng trong đầu tôi.
Tất
Đạt cúi xuống nâng một hòn đá khỏi mặt đất, cầm trên
tay.
- Đây,
-- chàng nâng niu viên đá, -- đây là một viên đá, và trong
một thời gian nào đó có lẽ nó sẽ là đất, và từ đất
trở thành cây, loài vật hay người. Trước đây có thể tôi
đã nói: viên đá này chỉ là đá, nó không có giá trị, nó
thuộc về thế giới vật chất trơ lì, nhưng có lẽ trong
vòng biến hoá viên đá cũng có thể trở thành người và
linh hồn, vậy thì nó cũng quan trọng. Đấy là điều mà đáng
lẽ tôi đã nghĩ. Nhưng bây giờ tôi lại nghĩ: hòn đá này
là đá, nó cũng là loài vật, Chúa và Phật. Tôi không yêu
kính nó vì nó là một vật và sẽ trở thành một vật gì
khác, nhưng vì nó từ lâu đã, và mãi mãi sẽ, là mọi sự.
Tôi yêu nó chỉ vì nó là một hòn đá. Tôi thấy giá trị
và ý nghĩa trong mọi đường vân tinh vi của nó và trong mọi
lỗ hổng, trong màu vàng, màu xám, trong vẻ cứng và âm thanh
của nó khi tôi gõ lên trong sự khô ráo hay ẩm ướt của
bề mặt. Có những hòn đá sờ giống dầu hay xà phòng, trông
giống như lá hay cát, và mỗi viên đá đều khác biệt và
tôn thờ Toàn Thiện một cách riêng; mỗi viên đá đều
là Đại ngã. Đồng thời nó lại cũng rất là đá, trơn như
dầu hay xà phòng và chính điều đó làm cho tôi thích thú
và thấy nó thần diệu, đáng tôn thờ. Nhưng thôi tôi không
nói thêm nữa. Danh từ không diễn tả được tư tưởng bao
nhiêu. Những ý tưởng luôn luôn trở nên hơi khác đi ngay
khi chúng được diễn tả, chúng trở nên méo mó, đôi khi
điên rồ. Tuy vậy, điều này cũng làm cho tôi lấy làm thú
vị và có lẽ đúng, rằng cái gì có giá trị, là chân lý
đối với một người, thì đối với người khác nó dường
như vô nghĩa.
Thiện
Hữu đã lắng nghe trong im lặng.
- Tại
sao anh kể cho tôi nghe về hòn đá? Chàng hỏi sau một lúc
ngập ngừng.
- Tôi
không cốt làm thế. Nhưng có lẽ điều ấy chứng tỏ rằng
tôi yêu hòn đá, con sông và tất cả mọi sự mà ta thấy
đây và từ đó ta có thể học. Tôi có thể yêu thương một
hòn đá, Thiện Hữu ạ, và một thân cây hay một mảnh vỏ
cây. Đấy là sự vật, và người ta có thể yêu mến sự
vật. Nhưng người ta không thể yêu mến danh từ. Vì thế,
những lời giảng dạy đối với tôi thật vô dụng. Chúng
không cứng, cũng không mềm, không mầu sắc, không góc cạnh,
không mùi, không vị -- chúng không có gì ngoài ra danh từ.
Có lẽ chính chúng đã ngăn cản bạn đạt đến bình an, có
lẽ quá nhiều danh từ, vì cả đến sự giải thoát và đức
hạnh, khổ và lạc, cũng chỉ là những danh từ, hỡi Thiện
Hữu. Niết Bàn không phải là sự vật, chỉ có danh từ Niết
Bàn mà thôi.
Thiện
Hữu:
- Niết
Bàn không chỉ là một danh từ, Tất Đạt. Đó là một ý
tưởng.
Tất
Đạt tiếp:
- Nó
có thể là một ý tưởng, nhưng tôi phải thú thật với bạn
rằng tôi không phân biệt mấy giữa ý tưởng và danh từ.
Thành thật mà nói, tôi cũng không gán cho ý tưởng nhiều
quan trọng nữa. Tôi quan tâm đến sự vật nhiều hơn. Chẳng
hạn, có một người ở trên khúc sông này đã là tiên phong
của tôi và thầy tôi. Ông ta là một người thánh thiện trong
bao nhiêu năm đã chỉ tin vào dòng sông, và không tin gì khác.
Ông ta để ý rằng tiếng con sông đang nói với ông ta. Ông
ta học từ đó, nó dạy dỗ, giáo dục ông ta. Con sông đối
với ông ta như một Thượng đế, mà trong nhiều năm ông không
biết rằng mỗi làn gió, mỗi một đám mây, mỗi thân chim,
mỗi con bọ cũng đều thần tiên không kém, hiểu biết và
có thể dạy cho ta hệt như dòng sông mà ông tôn sùng. Nhưng
khi người thánh thiện ấy bỏ đi vào rừng, ông ta biết hết
mọi sự, ông ta biết hơn cả bạn và tôi, mà không cần thầy
hay sách vở, chỉ vì ông ta tin tưởng ở dòng sông.
Thiện
Hữu nói:
- Nhưng
cái mà anh gọi là “sự vật” ấy, nó có phải là một
cái gì có thật hay không, một cái gì thực hữu nội tại!
Nó lại không chỉ là ảo ảnh của phù trần, hình bóng, hiện
tượng mà thôi hay sao? Hòn đá của anh, cây cối của anh,
-- chúng có thực hay không?
- Điều
đó cũng không làm tôi bận tâm mảy may – Tất Đạt nói.
Nếu chúng là ảo tưởng thì tôi cũng là ảo tưởng, và như
thế chúng luôn luôn đồng một tính chất với tôi. Chính
điều này làm cho chúng đáng kính đáng yêu biết mấy. Chính
vì thế mà tôi có thể yêu chúng. Và đây là lý thuyết sẽ
làm cho bạn cười nữa, Thiện Hữu. Ấy là, với tôi, dường
như thương yêu là điều quan trọng nhất trên đời. Những
tư tưởng gia vĩ đại có thể đặt nặng vấn đề tìm hiểu
vũ trụ nhân sinh, giảng giải và khinh bỉ nó. Nhưng tôi nghĩ
chỉ có một điều quan trọng là yêu thương thế giới, không
phải khinh bỉ nó, không thù ghét nhau mà phải nhìn thế giới
và nhìn chính chúng ta cùng mọi sự vật với lòng yêu thương
và kính trọng.
- Tôi
hiểu điều đó, Thiện Hữu bảo. Nhưng đây chính là cái
mà đấng Giác Ngộ gọi là vọng tưởng. Ngài dạy lẽ độ
lượng, nhẫn nhục, từ bi, v. v. . . nhưng không dạy yêu
thương. Ngài giới răn chúng ta không được trói buộc mình
vào những tình yêu thế tục.
- Tôi
hiểu, Tất Đạt nói, nụ cười chàng sáng ngời hào quang,
-- tôi hiểu, Thiện Hữu, và đây chúng ta lại đang rối ren
vì nghĩa danh từ, lọt vào trong sự tranh chấp của những
tiếng, lời, vì tôi không phủ nhận rằng danh từ của tôi
về yêu thương thật là trái ngược với những lời chỉ
dạy của đức Cồ Đàm. Chính vì thế mà tôi khinh thường
danh từ thế đó, Thiện Hữu, vì tôi biết mâu thuẫn kia chỉ
là một ảo tưởng. Tôi biết ý tôi không mâu thuẫn với
đức Phật. Thật vậy, làm sao Ngài có thể không biết đến
Tình Yêu; Ngài, người đã trực nhận mọi sự phù phiếm
giả tạo của nhân sinh, nhưng mặc dù vậy, Ngài vẫn yêu
nhân loại đến độ đã tận tuỵ một đời chỉ để giúp
đỡ và giáo dục con người? Với bậc thầy cao cả này, cũng
thế, tôi xem sự vật quan trọng hơn danh từ, hành động và
đời sống của Ngài đối với tôi quan trọng hơn lời của
Ngài, cử động của bàn tay Ngài đối với tôi quan trọng
hơn quan niệm của Ngài. Không phải vì lời nói hay tư tưởng
của Ngài mà tôi xem Ngài là một vĩ nhân, mà chính là hành
vi và nếp sống của Ngài.
Hai
người im lặng một lúc lâu. Khi Thiện Hữu sửa soạn từ
giã, chàng nói:
- Cám
ơn anh đã nói cho tôi nghe những ý tưởng của anh, Tất Đạt.
Một vài ý tưởng thật là quái lạ. Tôi không thể nắm vững
được chúng ngay. Tuy nhiên, cảm ơn anh và chúc anh hưởng
nhiều ngày bình an.
Nhưng
trong thâm tâm, chàng lại nghĩ: Tất Đạt thật là một người
lạ lùng, diễn tả những tư tưởng kỳ dị, có vẻ điên
rồ. Thật là khác với những lời của Thế Tôn biết bao!
Lời Thế Tôn thì bao giờ cũng sáng sủa, trực tiếp, hiểu
được ngay; không có gì là kỳ dị, quái gở hay đáng cười.
Nhưng tay chân Tất Đạt, mắt chàng, vừng trán chàng, hơi
thở, nụ cười chàng, cái chào của chàng, dáng điệu của
chàng có ảnh hưởng nơi ta khác với những tư tưởng của
chàng. Từ ngày Thế Tôn nhập Niết Bàn, chưa bao giờ ta gặp
được một người, trừ Tất Đạt, mà về người ấy ta
nghĩ: đây chính thực là một người thánh thiện! Ý nghĩ
anh ta có thể quái dị, lời lẽ anh ta có vẻ điên rồ, nhưng
cái nhìn, bàn tay anh, da thịt anh, tất cả toả ngời sự trong
sáng, thanh bình, hiền hoà, thánh thiện mà ta chưa hề thấy
ở nơi nào bất cứ một người nào từ khi vị thầy Giác
Ngộ của ta khuất bóng.
Khi
Thiện Hữu đang có những tư tưởng ngổn ngang đối chọi
ấy, chàng lại cúi chào Tất Đạt đầy trìu mến đối với
chàng. Thiện Hữu cúi thấp trước con người đang ngồi trầm
tĩnh.
- Tất
Đạt, Thiện Hữu bảo – bây giờ chúng ta đã là những ông
già. Có thể chúng ta sẽ không bao giờ gặp lại nhau trên
đời này nữa. Tôi có thể thấy được, hỡi bạn thân yêu,
rằng anh đã tìm thấy bình an. Tôi nhận rằng tôi đã không
tìm thấy nó. Nói cho tôi nghe thêm một lần nữa, hỡi người
bạn kính yêu, hãy nói cho tôi nghe một điều mà tôi có thể
quan niệm được, một điều tôi có thể hiểu được! Cho
tôi một điều gì để giúp tôi trên đường đi, hỡi Tất
Đạt! Đường tôi đi thường gian nan và tăm tối.
Tất
Đạt lặng yên nhìn Thiện Hữu với nụ cười trầm tĩnh
thanh bình của chàng. Thiện Hữu nhìn chăm chăm vào mặt chàng,
lo ngại, khát khao. Cái nhìn của Thiện Hữu in dấu niềm đau
khổ, sự tìm kiếm không ngừng, và luôn luôn thất bại. Tất
Đạt thấy rõ điều ấy và mỉm cười:
- Cúi
gần tôi! – Chàng thì thầm bên tai Thiện Hữu. Nào, đến
gần hơn nữa, sát lại gần, hãy hôn lên trán tôi đi, Thiện
Hữu!
Mặc
dù ngạc nhiên, chàng do một tình thương lớn thúc đẩy, phải
vâng lời Tất Đạt. Chàng cúi sát gần Tất Đạt và kề
môi vào vừng trán. Một cái gì thần diệu xảy đến với
chàng. Khi chàng đang còn vương vấn vì những nỗi kỳ dị
của Tất Đạt, khi chàng nhọc công khổ trí một cách vô
hiệu để đuổi xa ý niệm thời gian, để tưởng tượng
Niết Bàn và Khổ đế là một, khi cả đến một ý niệm
khinh bỉ đối với lời lẽ của bạn đang mâu thuẫn với
một niềm yêu thương kính phục vô bờ, thì điều kỳ diệu
ấy xảy đến với chàng. Chàng không còn thấy mặt của bạn
chàng là Tất Đạt nữa. Thay vào đấy, chàng thấy những
nét mặt khác, nhiều nét mặt, cả một loạt, một dòng liên
tiếp những nét mặt, trăm ngàn nét mặt, chợt hiện rồi
chợt biến, nhưng đồng thời cũng dường như đều ở đấy,
thay đổi không ngừng và mới lạ luôn luôn, tuy thế tất
cả đều là Tất Đạt. Chàng thấy mặt mày một con cá, một
con cá chép, há hốc mồm đau đớn, một con cá đang hấp hối
với đôi mắt nhắm nghiền. Chàng thấy nét mặt hài nhi mới
sinh, đỏ hỏn và nhăn nheo, chợt khóc. Chàng thấy nét mặt
một kẻ sát nhân, thấy anh ta thọc dao vào thân thể một
người, đồng thời chàng thấy kẻ tội nhân kia quì gối,
bị trói và chiếc đầu bị chặt đứt do một người đao
phủ. Chàng thấy những thân thể trần truồng của đàn ông
và đàn bà trong dáng điệu và trong cơn cuồng nhiệt của
yêu đương. Chàng thấy những thi thể duỗi dài, cứng đờ,
lạnh giá, trống trải. Chàng thấy những đầu thú vật, beo,
cá sấu, voi, bò, chim chóc. Chàng thấy thần Sáng tạo và thần
Huỷ diệt. Chàng thấy tất cả những hình dáng, nét mặt
kia trong muôn ngàn tương quan với nhau, tất cả đều hỗ trợ
nhau, yêu, ghét, huỷ diệt nhau và trở lại sơ sinh. Mỗi dáng
hình đều đi đến cái chết, đều là một biểu hiện say
đắm, khổ đau của luật vô thường. Tuy thế, không có một
hình hài nào là chết hẳn, chúng chỉ biến hoá, luôn luôn
tái sinh, luôn luôn có một bộ mặt mới: chỉ có thời gian
đứng giữa nét mặt này với nét mặt khác. Và tất cả những
hình hài và dáng mặt này nghỉ ngơi, tuôn chảy, sinh hoá trôi
qua và hoà lẫn vào nhau, và trên tất cả những hình hài đó,
luôn luôn có một cái gì mong manh, hư ảo, tuy nhiên vẫn hiện
hữu, phủ lên như một làn băng giá mỏng, như một làn da
trong suốt, một lớp vỏ, một dáng hình hay mặt nạ bằng
nước – và chiếc mặt nạ kia là nét mặt tươi cười của
Tất Đạt, mà chàng đang đặt môi hôn. Và Thiện Hữu thấy
rằng nụ cười phớt trên bao nhiêu hình hài ẩn nấp kia,
nụ cười của sự Nhất thể phảng phất trên bao hình hài
tuôn chảy, nụ cười của sự Đồng Thời ở trong muôn ngàn
cái Sinh và Tử -- trong sinh có tử và ngược lại -- nụ cười
của Tất Đạt, chính thực là nụ cười trầm tĩnh, sâu xa,
khôn dò, nụ cười vừa có vẻ ban ân vừa có vẻ chế diễu,
nụ cười Trí tuệ, nụ cười muôn mặt của Thế Tôn, đức
Phật, mà chàng đã bao lần nhìn thấy, lòng tràn đầy uy phục.
Thiện Hữu biết rõ nụ cười kia chính là nụ cười của
đấng Toàn Giác.
Không
còn biết nữa thời gian có hiện hữu hay không, cảnh trước
mắt đã hiện ra trong một giây hay tròn thế kỷ, không còn
biết nữa đấy là Tất Đạt hay đức Thế Tôn, một Tiểu
ngã hay cái gì khác, Thiện Hữu như vừa nhận mũi tên thần
diệu đâm sâu vào trong chàng đem lại cho chàng niềm hân hoan.
Vô cùng mừng rỡ, Thiện Hữu vẫn đứng một lúc, nghiêng
mình trên nét mặt bình an của Tất Đạt mà chàng vừa hôn
lên, nét mặt đã là sân khấu cho tất cả những hình hài
hiện tại, vị lai. Vẻ mặt chàng không đổi sau khi làn gương
của muôn ngàn hình sắc đã biến mất. Tất Đạt mỉm cười
bình an, hiền từ, nụ cười có vẻ đầy ân huệ, cũng có
vẻ đầy châm biếm, hệt như đấng Giác Ngộ đã cười.
Thiện
Hữu cúi thấp. Những giọt nước mắt khôn ngăn rỉ xuống
gương mặt già nua. Chàng thấy tràn ngập một cảm giác yêu
thương lớn rộng, tràn ngập niềm kính cẩn. Chàng phủ phục
quì trước con người đang ngồi bất động, mà nụ cười
nhắc chàng nhớ đến mọi sự chàng đã từng yêu thương
trong cuộc sống, mọi giá trị và thánh thiện trong đời chàng.
HẾT
WP:
Dannyviet