Người
Lái Đò
Ta
sẽ ở lại bên con sông này, Tất Đạt nghĩ. Cũng cùng con
sông này ta đã đi qua trên con đường về kinh thành. Một
người lái đò thân thiện đã đưa ta sang sông. Ta sẽ đến
ông ấy. Con đường ta đi đã một lần đưa ta từ mái chòi
của người đến một đời sống mới mà bây giờ đã cũ
và chết. Con đường hiện tại của ta, cuộc đời mới của
ta sẽ bắt đầu từ đây!
Chàng
thương mến nhìn dòng nước chảy, nhìn màu xanh trong suốt,
những đường pha lê vẽ nên bức tranh thần tình trong lòng
nước. Chàng trông thấy những viên ngọc ngời sáng nổi lên
từ đáy sâu, những bọt nước bơi lội trên tấm gương,
bầu trời xanh phản chiếu trong bọt nước. Con sông nhìn chàng
bằng trăm ngàn đôi mắt – màu xanh lục, trắng, màu pha lê,
màu xanh da trời. Chàng yêu dòng sông này biết bao, nó thật
quyến rũ và chàng đầy cảm ơn đối với nó. Chàng nghe trong
tim tiếng nói của thức tỉnh nói với chàng: “Hãy yêu dòng
sông này, ở bên nó và học với nó”. Phải, chàng muốn
học nơi nó, chàng muốn lắng nghe nó. Chàng thấy dường như
bất cứ ai hiểu được dòng sông và những huyền bí của
nó sẽ hiểu được nhiều điều hơn nữa, nhiều điều huyền
bí, tất cả mọi huyền bí.
Nhưng
hôm nay chàng chỉ mới thấy một điều bí mật của con sông,
điều bí mật đã đập mạnh vào tâm trí chàng. Chàng thấy
do`ng sông vẫn tiếp tục chảy như nó vẫn luôn luôn ở đấy,
luôn luôn là dòng sông ấy trước mắt chàng, tuy nhiên mỗi
lúc nó mỗi mới. Ai có thể hiểu được, quan niệm được
điều này? Chàng không hiểu được, chàng chỉ trực nhận
một mối hoài nghi, một ký ức lờ mờ, và những tiếng nói
thiêng liêng.
Tất
Đạt đứng dậy, cơn đói cồn cào đang trở thành không thể
chịu được. Chàng khó nhọc đi lang thang dọc theo bờ sông
lắng nghe tiếng nước vỗ, lắng nghe cái đói đang vò xé
thân thể chàng.
Khi
chàng đến bến, chiếc đò đã đợi sẵn và người lái đò
đã một lần đưa chàng Tất Đạt trai trẻ qua sông, đang
đứng trên đò. Tất Đạt nhận ra ông ta ngay. Ông ta cũng
già đi rất nhiều.
- Nhờ
ông đưa tôi sang sông. Chàng nói.
Người
lái đò ngạc nhiên thấy người đàn ông sang trọng như thế
đi bộ một mình, mời chàng lên thuyền và rời bến, Tất
Đạt bảo:
- Ông
đã chọn một cuộc sống thần tiên. Sống bên dòng sông này
và chèo thuyền trên sông hằng ngày hẳn là thích thú lắm.
Người
lái đò đẩy nhẹ mái chèo mỉm cười:
- Rất
thú vị, đúng như ngài nói, nhưng không phải cuộc sống nào,
công việc nào cũng thú vị cả hay sao?
- Có
lẽ, nhưng tôi thèm khát công việc của ông.
- Ồ,
ông sẽ mất hứng thú vì nó. Nó không phải là công việc
của những người ăn mặc đẹp.
Tất
Đạt cười:
- Hôm
nay tôi đã bị phê bình qua phục sức và nhìn với sự nghi
ngờ. Ông có thể nhận những quần áo mà tôi thấy rất phiền
phức này không? Vì tôi phải nói với ông rằng tôi không
có tiền để trả công ông đã đưa tôi sang sông.
Người
lái đò cười lớn:
- Ông
nói đùa chứ.
- Tôi
không đùa, ông bạn ạ. Trước kia đã có lần ông đưa tôi
sang sông này không lấy tiền, vì thế hôm nay tôi cũng xin
ông làm như thế và lấy quần áo của tôi vậy.
- Và
rồi ông tiếp tục đi trần truồng sao?
- Tôi
không muốn đi thêm nữa. Tôi muốn xin ông cho tôi một ít
đồ cũ và để tôi ở đây như người phụ tá của ông,
hay hơn nữa người học nghề của ông, vì tôi phải học
cách lái đò.
Người
lái đò đăm đăm nhìn người khách lạ rất lâu:
- Tôi
nhận ra ngài rồi. Có lần ngài đã ngủ trong chòi của tôi.
Lâu lắm rồi, dường như hơn hai mươi năm về trước. Tôi
đưa ngài sang sông và khi chia tay, chúng ta trở thành đôi bạn
tốt. Tôi không thể nhớ tên ngài, có phải ngài đã là Sa
Môn không?
- Phải,
lúc ấy tôi là một Sa Môn và tên là Tất Đạt.
- Hân
hạnh chào ngài Tất Đạt. Tên tôi là Vệ Sử. Tôi mong ngài
sẽ là người khách của tôi hôm nay và ngủ trong lều tôi,
và kể tôi nghe ngài từ đâu đến và tại sao ngài chán y
phục sang trọng của ngài.
Họ
đã ra đến giữa sông và Vệ Sử chèo mạnh hơn vì ngược
nước. Ông chèo một cách bình thản, với hai cánh tay mạnh,
vừa nhìn về phía mũi thuyền. Tất Đạt ngồi nhìn ông và
nhớ ra một lần vào thuở còn là Sa Môn, chàng đã rất có
thiện cảm với người này. Khi họ đến bến, Tất Đạt
giúp ông cột thuyền. Vệ Sử dẫn chàng vào lều, cho chàng
bánh, nước và một quả xoài. Tất Đạt ăn tất cả một
cách hoan hỉ.
Một
lát sau, khi mặt trời bắt đầu lặn, họ ngồi trên một
thân cây cạnh dòng sông và Tất Đạt kể cho ông ta nghe về
lai lịch của chàng và cuộc sống của chàng cho đến khi chàng
gặp ông ta hôm nay, sau giờ phút tuyệt vọng. Câu chuyện kéo
dài cho đến khuya.
Vệ
Sử lắng nghe một cách chăm chú; ông nghe tất cả những gì
về lai lịch và tuổi thơ của chàng, về sự học của chàng,
về sự tìm kiếm của chàng, về khoái lạc và những nhu cầu
của chàng. Một trong những đức tính của người lái đò,
mà rất ít người có, là ông biết lắng nghe, không nói với
chàng một lời. Người kể chuyện có cảm giác Vệ Sử nghe
kỹ từng tiếng, một cách im lặng, đợi chờ, không bỏ sót
lời nào. Ông không thúc giục, không khen, không chê – ông
chỉ lắng nghe. Tất Đạt cảm thấy thật là tuyệt diệu
khi có một người nghe như thể bị thu hút vào cuộc sống
của riêng chàng, những cố gắng, những nỗi buồn riêng tư
của chàng.
Tuy
nhiên, khoảng cuối câu chuyện, khi Tất Đạt kể về cây
cổ thụ bên sông và sự tuyệt vọng của chàng, về tiếng
“Om” linh diệu, và sau giấc ngủ, chàng yêu mến dòng sông
ra sao, người lái đò nghe chăm chú gấp đôi và hoàn toàn
bị thu hút, đôi mắt nhắm nghiền lại.
Khi
Tất Đạt kể hết và sau một lúc lâu im lặng, Vệ Sử nói:
- Theo
tôi nghĩ, chính dòng sông đã nói với ngài. Nó cũng thân thiện
với ngài nữa, nó đang nói với ngài. Lành thay điều đó.
Ở lại đây cùng tôi, hỡi ông bạn. Ngày xưa tôi có vợ,
giường nàng sát kề giường tôi, nhưng giờ nàng đã chết.
Tôi sống một mình từ lâu rồi. Hãy đến ở với tôi, có
chỗ ở và thức ăn cho cả hai chúng ta.
- Tôi
cảm ơn anh, Tất Đạt nói. Tôi cảm ơn và nhận lời anh.
Tôi cũng cảm ơn anh, Vệ Sử, vì anh đã lắng nghe chuyện
tôi như thế. Rất ít người biết lắng nghe và tôi chưa gặp
ai có thể nghe như anh đã nghe. Tôi cũng sẽ học nơi anh về
điều này.
- Anh
sẽ học, nhưng không phải nơi tôi. Chính dòng sông đã dạy
tôi cách nghe, anh cũng sẽ học nơi đó. Dòng sông biết mọi
chuyện, người ta có thể học mọi chuyện từ nơi dòng sông.
Anh đã học với con sông rằng nên cố gắng lặn xuống tìm
kiếm những chiều sâu thẳm nhất. Ông Tất Đạt sang trọng
giàu có, ông Tất Đạt người Bà La Môn trí thức sẽ trở
thành ông lái đò. Anh đã học điều này từ dòng sông. Anh
cũng sẽ học nhiều điều khác nữa …
Sau
một hồi lâu im lặng, Tất Đạt bảo:
- Điều
nào khác nữa đâu, ông bạn?
Vệ
Sử đứng lên và nói:
- Khuya
rồi, ta đi nghỉ thôi. Tôi không thể nói cho anh nghe điều
khác ấy như thế nào, bạn ạ. Anh sẽ tìm ra, và cũng có
thể anh đã biết rồi. Tôi không phải là người có học;
tôi không biết nói chuyện và suy tư. Tôi chỉ biết nghe và
trung thành, ngoài ra tôi không biết gì cả. Nếu tôi có thể
nói chuyện và dạy dỗ, có lẽ tôi đã trở thành một thầy
giáo; nhưng thực tế tôi chỉ là một người lái đò và việc
của tôi là đưa người sang sông. Tôi đã đưa hàng ngàn người
sang và với mọi người, con sông của tôi không là gì cả,
nó chỉ là một chướng ngại trên đường đi của họ. Họ
đã đi cuộc hành trình vì tiền, và vì công việc kinh doanh,
đám cưới hay đi hành hương; dòng sông đã cản đường họ
và người lái đò chỉ ở đó đưa họ vượt nhanh qua trở
ngại. Tuy nhiên, giữa hàng ngàn người có một số rất ít,
bốn hay năm người không cho con sông là chướng ngại vật.
Họ đã nghe tiếng nói của dòng sông và chú ý, và dòng sông
trở nên linh thiêng đối với họ cũng như đối với tôi.
Bây giờ ta hãy đi nghỉ, Tất Đạt ạ.
Tất
Đạt ở lại với người lái đò và học cách trông coi chiếc
thuyền, và khi không có việc dưới thuyền, chàng giúp Vệ
Sử trong đồng lúa, nhặt củi, và hái chuối. Chàng học cách
chế những chiếc chèo, sửa thuyền và đan giỏ. Chàng vui
thích với mọi công việc và học hỏi. Ngày tháng qua nhanh.
Chàng học ở con sông nhiều hơn những gì Vệ Sử có thể
dạy chàng. Chàng không ngừng học hỏi ở nó. Trước hết
chàng học cách lắng nghe, nghe với một tâm hồn vắng lặng,
với một sự đợi chờ, mở hồn ra, không dục vọng, không
say mê, không phê phán, không quan niệm.
Chàng
sống hạnh phúc với Vệ Sử và thỉnh thoảng họ trao đổi
những lời đầy suy tư. Vệ Sử không thích nhiều lời. Tất
Đạt ít khi có thể làm cho ông ta nói chuyện.
Một
hôm, Tất Đạt hỏi ông:
- Có
phải ông cũng học điều nhiệm màu này từ dòng sông không,
rằng không có cái gì gọi là thời gian?
Một
nụ cười sáng lên trên khuôn mặt Vệ Sử:
- Phải
đấy, Tất Đạt! Có phải là bạn muốn nói điều này không:
con sông nó ở khắp nơi cùng một lúc, ở nguồn cũng như
ở cửa sông, ở thác, ở dòng sông, ở đại dương và ở
núi, khắp nơi, và với nó chỉ có hiện tại, không có bóng
dáng quá khứ cũng như vị lai.
- Chính
thế, Tất Đạt nói, và khi tôi học được điều đó, tôi
ôn lại cuộc đời mình và thấy nó cũng là một dòng sông.
Tất Đạt người con trai, Tất Đạt người trưởng thành
và Tất Đạt ông già, chỉ tách rời nhau bằng những cái
bóng, không phải thực tại. Những tiền kiếp của Tất Đạt
không ở trong quá khứ, cái chết và sự trở về Đại ngã
của Tất Đạt cũng không phải ở trong vị lai. Không có cái
gì đã là, không có cái gì sẽ là, mọi sự đều thực tại
và hiện tiền.
Tất
Đạt nói đầy vẻ thích thú. Sự khám phá này làm chàng hân
hoan. Không phải mọi buồn rầu đều ở trong thời gian đó
sao? Và mọi nỗi dày vò sợ hãi? Và thế thì phải chăng mọi
khó khăn, mọi điều xấu của thế gian sẽ được khắc phục
ngay khi ta khắc phục được thời gian, khi ta bất chấp nó?
Chàng đã thích thú nói; nhưng Vệ Sử chỉ cười tươi tắn
và gật đầu đồng ý. Ông vỗ vai chàng và trở lại công
việc.
Một
bận khác khi con sông dâng lên mùa mưa, và gầm lên ầm ĩ,
Tất Đạt nói:
- Ông
bạn ơi, có phải con sông có rất nhiều tiếng nói ấy không?
Có giọng của một vì vua, một ông tướng, một bọt nước,
một cánh chim đêm, một người đàn bà đau đớn và một
người đàn ông thở dài, và muôn ngàn giọng khác?
- Thật
thế, Vệ Sử gật, trong tiếng của dòng sông, có tiếng của
mọi loài đang sống.
- Và
ông bạn có biết, Tất Đạt nói tiếp, con sông nói lên tiếng
gì khi người ta có thể nghe được cả muôn ngàn tiếng nói
của nó cùng một lúc?
Vệ
Sử cười lớn vui vẻ; ông cúi mình về phía Tất Đạt và
thì thầm vào tai chàng tiếng “Om” thiêng liêng. Và chính
đấy là tiếng mà Tất Đạt đã nghe.
Dần
dà, nụ cười chàng bắt đầu giống nụ cười ông lái đò,
cũng trong sáng, đầy hạnh phúc, cũng ngời lên qua nhiều nếp
nhăn, cũng hồn nhiên và bình thản. Nhiều lữ khách thấy
họ tưởng là hai anh em. Họ thường ngồi với nhau trên thân
cây bên bờ sông. Họ cùng lắng nghe tiếng nước, mà đối
với họ là tiếng của cuộc đời, tiếng của thực tại,
của sự sinh thành vĩnh viễn. Và đôi khi, lúc lắng nghe dòng
sông, họ cùng có những tư tưởng giống nhau về một cuộc
đối thoại hôm trước, hay về một trong những lữ khách
mà số phận và hoàn cảnh đã làm họ suy nghĩ, hay về sự
chết hay về thời trẻ thơ. Khi dòng sông cùng lúc nói với
họ một điều hay, họ nhìn nhau, cùng chung một ý tưởng,
cùng sung sướng vì cùng có giải đáp giống nhau về một
vấn đề.
Nhiều
người qua sông cảm thấy có cái gì toả ra từ dòng sông
và từ hai người lái đò ấy. Một đôi khi một hành khách
nhìn một trong hai người và bắt đầu kể về cuộc đời
mình, những âu lo, tội lỗi và hỏi ý kiến hoặc tìm lời
an ủi. Có người xin phép được ở lại một buổi chiều
với họ, để lắng nghe dòng sông. Cũng có người tò mò tìm
đến, vì nghe đồn có hai triết nhân, phù thuỷ hay người
thánh thiện sống ở bến đò ngang. Họ hỏi hai người nhiều
câu nhưng không được trả lời, và họ không tìm thấy phù
thuỷ hay thánh hiền nào cả. Họ chỉ thấy hai ông già thân
thiện, có vẻ câm, hay đúng hơn kỳ dị và ngớ ngẩn. Rồi
họ cười lớn, bảo rằng người ta thật là nhẹ dạ, và
điên rồ làm sao khi đồn đại những tin huyễn hoặc như
kia.
Năm
tháng trôi qua và không ai đếm xỉa đến đôi bạn. Nhưng
bỗng một ngày, vài vị tu sĩ, những đồ đệ của đức
Cồ Đàm, đến nhờ họ chèo qua sông. Hai người lái đò được
biết những vị sư muốn về gặp sư phụ của họ gấp, vì
có tin đấng Giác Ngộ ốm nặng và sắp nhập Niết Bàn. Chẳng
bao lâu một toán tu sĩ khác đến, rồi một toán khác, và
những tu sĩ cũng như phần đông hành khách, đều chỉ nói
đến đức Phật và sự Ngài sắp mất. Và cũng như khi đi
xem một cuộc viễn chinh hay một cuộc tấn phong hoàng đế,
người ta từ tứ phía tụ lại như những đàn ong, như bị
thu hút bởi nam châm, kéo đến chỗ đức Phật đang nằm trên
tử sàng, nơi mà biến cố lớn đang tiếp diễn và vị cứu
tinh của một thời đang đi vào cõi Vô cùng.
Tất
Đạt nghĩ rất nhiều về vị thánh sắp chết, người mà
tiếng nói đã kích động hàng nghìn người, tiếng nói chàng
cũng đã một lần nghe, người mà gương mặt thánh thiện
chàng đã một lần chiêm ngưỡng với đầy uy phục. Chàng
yêu mến nghĩ về Ngài, nhớ đến con đường giải thoát của
Ngài, và mỉm cười nhớ lại những lời chàng đã có lần
thốt ra với đấng Giác Ngộ khi chàng còn là một thanh niên.
Hình như những lời nói ấy rất ngạo mạn và hơi sờm sủa
đối với Ngài lúc ấy. Trong một thời gian khá lâu, chàng
biết rằng chàng không xa đức Cồ Đàm, mặc dù chàng không
thể chấp nhận giáo lý của Ngài: không, một kẻ thực sự
đi tìm kiếm, không thể chấp nhận bất cứ lý thuyết nào,
nếu kẻ ấy thành tâm muốn tìm ra một cái gì. Nhưng người
tìm ra có thể đồng ý với mọi con đường, mọi mục đích,
không gì phân rẽ người ấy với hàng nghìn người khác sống
trong vô tận thời gian cùng thở luồng Thần khí.
Một
ngày kia, khi rất nhiều người đến viếng đức Phật sắp
chết, Kiều Lan, người kỹ nữ một thời nhan sắc cũng đang
trên đường đi viếng. Nàng từ lâu đã giã từ nếp sống
cũ, cúng dường các tỳ kheo của Phật mảnh vườn của nàng
và an trú trong giáo lý đức Phật. Nàng đã trở thành một
trong những tín nữ chuyên hành thiện bố thí. Khi nghe Phật
sắp mất, nàng đã ăn vận đơn sơ, ra đi với con nàng. Họ
đến bờ sông, nhưng đứa con trai đã mệt mỏi, nó muốn
trở về, ăn và nghỉ. Nó không ngừng khóc, mặt mày tiều
tuỵ. Kiều Lan phải thường dừng lại nghỉ với nó. Nó vẫn
thường cản trở thiện chí của nàng. Nàng phải cho nó ăn,
an ủi nó, rầy la nó. Nó không hiểu được vì sao mẹ phải
đi cuộc hành hương mệt nhọc khốn khổ để đến một nơi
xa lạ, thăm một người thánh thiện lạ lùng sắp chết. Thì
cứ để cho ông ấy chết đi, có can hệ gì đến nó đâu?
Những
người hành hương cách con đò của Tất Đạt không xa, khi
cậu bé ngỏ ý với mẹ muốn nghỉ chân. Kiều Lan, chính nàng
cũng mệt và trong khi cậu con trai ăn một trái chuối, nàng
ngồi phịch xuống đất để nghỉ, mắt lim dim. Bỗng nàng
thốt ra một tiếng đau đớn. Cậu con trai giật mình nhìn
mẹ và thấy mặt nàng trắng bệch vì kinh hãi. Từ dưới
quần áo nàng, một con rắn nhỏ đã cắn Kiều Lan và đang
bò đi.
Cả
hai mẹ con chạy nhanh để gặp người. Khi họ đến gần bến
đò ngang, Kiều Lan quị xuống, không thể đi xa hơn nữa. Cậu
con la cầu cứu và hôn mẹ. Nàng cũng la lên cùng với con,
cho đến khi những tiếng kêu của họ đến tai Vệ Sử đang
đứng cạnh con đò. Ông hối hả chạy lại, ẵm người đàn
bà mang về thuyền. Cậu con chạy theo và chẳng mấy chốc
họ đã đến túp lều trong đó Tất Đạt đang đứng nhóm
lửa. Chàng nhìn lên và lần đầu tiên thấy mặt đứa bé,
gương mặt mãnh liệt nhắc chàng nhớ đến một điều gì.
Quay lại, chàng thấy Kiều Lan và nhận ra ngay, mặc dù nàng
nằm bất tỉnh trên tay người lái đò. Rồi chàng biết đấy
chính là con chàng mà nét mặt đã gợi cho chàng nhớ đến
một điều gì ấy. Tim chàng đập mạnh.
Vết
thương của Kiều Lan được rửa sạch nhưng nó tím bầm và
toàn thân nàng sưng lên. Nàng uống một liều thuốc hồi dương
và tỉnh lại. Nàng nằm giường của Tất Đạt, và chàng,
người nàng đã từng yêu dấu, đang cúi nhìn nàng. Nàng ngỡ
mình nằm mơ, và mỉm cười nhìn vào mặt người yêu. Dần
dà nàng nhớ lại tình trạng mình, và lo lắng gọi con.
- Đừng
lo, Tất Đạt bảo – nó ở đây.
Kiều
Lan nhìn vào mắt chàng. Nàng khó nhọc nói năng vì nọc độc
trong thân thể.
- Anh
đã già rồi, Tất Đạt yêu quí. Tóc anh đã hoa râm, nhưng
anh giống người Sa Môn trẻ đã đến vườn tôi trước kia,
áo quần rách rưới và chân đầy bụi. Anh giống vị Sa Môn
đó hơn khi bỏ Vạn Mỹ và tôi. Mắt anh giống người Sa Môn
ấy, Tất Đạt. Ôi, tôi cũng đã già, già rồi – anh có nhận
ra tôi không?
Tất
Đạt mỉm cười:
- Tôi
nhận ra nàng ngay, Kiều Lan yêu quí.
Kiều
Lan chỉ con nàng và bảo:
- Anh
có nhận ra nó nữa không? Nó là con anh.
Mắt
nàng lạc loài rồi khép lại. Cậu con trai bắt đầu khóc.
Tất Đạt đặt nó lên đầu gối, để cho nó khóc và vuốt
tóc nó. Nhìn mặt đứa trẻ, chàng nhớ lại một bài kinh
Bà La Môn mà chàng đã từng học khi còn là một đứa trẻ.
Chàng bắt đầu chậm rãi tụng bài kinh ấy giọng ngân nga,
những lời kinh trở lại với chàng từ dĩ vãng và thời trẻ
thơ. Đứa trẻ lặng im khi nghe chàng tụng, nấc lên một vài
tiếng nữa rồi ngủ thiếp. Tất Đạt đặt nó lên giường
Vệ Sử. Vệ Sử đứng nấu cơm bên bếp. Tất Đạt nhìn
ông ta, ông ta mỉm cười với chàng.
- Nàng
sắp chết, Tất Đạt nói nhỏ.
Vệ
Sử gật. Ánh lửa trong lò phản chiếu trên gương mặt từ
hoà của ông ta.
Kiều
Lan lại tỉnh. Nét mặt nàng lộ vẻ đau đớn, Tất Đạt
đọc thấy nỗi đau đớn ấy trên miệng nàng, trong gương
mặt xanh xao của nàng. Chàng đọc nó lặng lẽ, chăm chú,
chờ đợi chia xẻ nỗi đau đớn của nàng. Kiều Lan cũng
biết thế, đưa mắt nhìn mắt chàng. Nàng nói:
- Bây
giờ tôi thấy mắt anh cũng thay đổi. Chúng khác hẳn. Làm
sao tôi còn nhận ra được anh là Tất Đạt? Anh là Tất Đạt:
nhưng anh lại không giống Tất Đạt.
Tất
Đạt không nói, lặng yên nhìn vào mắt nàng.
- Anh
đã đạt đến đấy rồi sao? Nàng hỏi – Anh đã tìm thấy
bình an?
Chàng
mỉm cười và đặt bàn tay trên tay nàng.
- Phải,
nàng nói, -- tôi thấy. Tôi cũng sẽ tìm thấy bình an.
- Em
đã tìm thấy nó, - Tất Đạt thì thầm.
Kiều
Lan chăm chăm nhìn chàng. Nàng đã có ý định đến viếng
đức Cồ Đàm để thấy mặt đấng Giác Ngộ, để có được
ít nhiều niềm bình an của Ngài, và thay vì thế nàng chỉ
gặp chàng, và thật là hay, cũng tốt như thể nàng đã nhìn
thấy đức Phật. Nàng muốn bảo chàng thế, nhưng lưỡi nàng
không theo ý muốn của nàng nữa. Lặng lẽ nàng nhìn chàng
và chàng thấy sự sống đang mất dần nơi mắt nàng. Khi cơn
đau cuối cùng dâng lên qua đôi mắt ấy, khi cái rùng mình
cuối cùng thoáng qua thân thể nàng, chàng đưa ngón tay nhẹ
khép làn mi nàng.
Chàng
ngồi nhìn rất lâu gương mặt nàng đã chết. Rất lâu chàng
nhìn miệng nàng, chiếc miệng mệt mỏi, già nua và đôi môi
khô héo, và nhớ lại ngày xưa thời xuân sắc của đời nàng,
chàng đã sánh đôi môi nàng với một trái anh đào mới cắt.
Rất lâu chàng nhìn chú mục gương mặt xanh xao của nàng,
những đường nhăn mệt mỏi và thấy mặt chàng cũng như
thế, cũng trắng, cũng chết, và cùng lúc ấy chàng thấy mặt
chàng và nàng, trẻ trung, môi hồng, đôi mắt tinh anh, và chàng
tràn ngập một cảm giác của hiện tại và sự sống hiện
tiền. Trong giờ phút này chàng cảm thấy sâu xa hơn sự bất
khả huỷ diệt của mọi cuộc sống, cái thiên thu của mỗi
giây phút.
Khi
chàng đứng lên, Vệ Sử đã sửa soạn cho chàng một ít cơm,
nhưng Tất Đạt không ăn. Trong chuồng dê, hai người sửa
lại một ít rơm và Vệ Sử nằm xuống. Nhưng Tất Đạt đi
ra ngoài và ngồi trước chòi suốt đêm, lắng nghe dòng sông,
lắng vào quá khứ, để lòng chìm đắm trong mọi giai đoạn
vui buồn của đời chàng. Thỉnh thoảng chàng đứng dậy,
đi đến cửa túp lều và lắng nghe xem đứa trẻ có ngủ
không.
Sáng
sớm hôm sau, trước khi mặt trời ló dạng, Vệ Sử ra khỏi
chuồng và tiến đến bạn.
- Anh
không ngủ, -- ông nói.
- Không,
Vệ Sử, tôi ngồi đây lắng nghe dòng sông. Nó đã nói với
tôi rất nhiều, nó đã cho tôi đầy những tư tưởng lớn
lao, những tư tưởng về sự Nhất thể.
- Anh
đã khổ đau, Tất Đạt, nhưng tôi thấy rằng nỗi buồn không
len được vào tim anh.
- Không,
bạn yêu quí. Tại sao tôi lại phải buồn? Tôi đã giàu có,
hạnh phúc, và đã trở nên giàu hơn, sung sướng hơn, tôi
đã được một món quà là đứa con tôi.
- Tôi
cũng sung sướng đón tiếp con anh. Nhưng này, Tất Đạt, chúng
ta hãy đi làm, có rất nhiều việc. Kiều Lan chết trên cùng
chiếc giường mà vợ tôi đã chết. Chúng ta cũng sẽ dựng
giàn hoả thiêu của Kiều Lan trên cùng một ngọn đồi mà
tôi đã hoả táng vợ tôi.
Khi
đứa con trai còn ngủ, họ dựng dàn hoả.
WP:
Dannyviet