Bên
Bờ Sông
Tất
Đạt đi lang thang vào rừng, đã xa thành thị và chàng chỉ
biết một điều rằng chàng không thể trở về, rằng cuộc
đời chàng đã sống nhiều năm qua bây giờ đã hết, chàng
đã nếm trải đến một độ buồn nôn. Con chim hoàng oanh
đã chết cái chết của nó, mà chàng đã chiêm bao, chính là
cái chết của con chim trong lòng chàng. Chàng đã vướng sâu
vào đau khổ, đã rước vào mình sự buồn nôn và chết chóc
từ tứ phía, như một cái tô đã thấm nước cho đến khi
đầy. Chàng đầy cả chán chường, khổ đau, chết chóc, không
còn một cái gì ở thế tục có thể lôi cuốn chàng, có thể
đem lại cho chàng khoái lạc và niềm an ủi.
Chàng
say sưa ao ước được quên, được nghỉ ngơi, được chết.
Sao cho một cơn sét đánh chàng đi! Sao cho một con hổ cứ
đến ăn thịt chàng phứt đi! Ước sao có một thứ rượu
nào, một độc dược nào, đem lại cho chàng quên lãng, quên
hết, làm cho chàng ngủ thiếp đi không bao giờ dậy nữa!
Có một thứ gì thối tha mà chàng chưa bôi vào mình, có một
tội lỗi và sự điên rồ nào trong tâm hồn mà chàng chưa
phạm đến, có một vết nhơ nào trong tâm hồn mà chỉ có
chàng là không chịu trách nhiệm hay không? Cái vòng luân chuyển
đó không kiệt quệ đi và chấm dứt đi cho chàng hay sao?
Tất
Đạt đã đến con sông dài trong rừng, con sông mà một người
chèo đò đã từng đưa chàng qua khi chàng hãy còn trẻ và
sau khi từ giã đức Phật. Chàng dừng lại và đứng tần
ngần ở bờ sông. Cơn mệt và đói làm chàng yếu lả. Tại
sao chàng lại phải đi xa thêm, đi đâu, và để làm gì? Không
còn mục đích gì nữa, không còn gì hơn là một khát vọng
đau đớn sâu xa được rũ hết cơn mộng mị cuồng loạn
này, mửa hết chất rượu vô vị này, chấm dứt cuộc sống
ê chề đau đớn này.
Có
một cây dừa trên bờ sông; Tất Đạt ngồi dựa vào cây
ấy, choàng tay qua thân cây và nhìn xuống dòng nước lục
chảy bên dưới. Chàng nhìn xuống và bỗng dưng tràn ngập
một ước muốn buông tay ra, để trầm mình trong đáy nước.
Cái trống rỗng lạnh giá của nước phản chiếu sự trống
rỗng ghê rợn trong tâm hồn chàng. Phải, chàng đã đến bước
đường cùng. Không còn gì hơn đối với chàng trừ ra tự
xoá bỏ mình, huỷ hoại cái kiến trúc thất bại của đời
chàng, vứt nó đi, để cho những thần linh chế giễu. Đấy
là việc mà chàng ao ước làm -- huỷ hoại cái hình tướng
mà chàng ghét bỏ! Sao cho những con cá xé xác chàng ra. Chàng,
con vật xấu xí, người điên, thân xác mục nát, thối tha
ấy, tâm hồn chán chường vô dụng ấy! Sao cho cá sấu ngấu
nghiến chàng đi, sao cho những con quỉ xé thây chàng ra từng
mảnh!
Với
một nét mặt quái dị, chàng nhìn chòng chọc vào dòng nước.
Chàng thấy mặt chàng phản chiếu và khạc nhổ lên đấy;
chàng buông tay khỏi thân cây và xoay mình một tí, để có
thể rơi ngược đầu và chìm xuống nước. Chàng cúi rạp
người, đôi mắt nhắm nghiền như hướng về cõi chết.
Rồi
từ một cõi xa xăm trong tâm hồn chàng, từ quá khứ của
cuộc đời mệt mỏi, chàng bỗng nghe một tiếng vọng. Chỉ
có một tiếng, một âm thanh mà không suy nghĩ, chàng lẩm bẩm
nói lên, âm thanh ngày xưa bắt đầu và kết thúc mọi bài
kinh Bà La Môn, tiếng “Om” thiêng liêng, có nghĩa là “Giác
Ngộ” hay “Toàn Thiện”. Lúc đó, khi tiếng “Om” đến
tai chàng, tâm hồn thẫn thờ của Tất Đạt bỗng nhiên thức
tỉnh và chàng nhận ra sự điên rồ của hành vi mình.
Tất
Đạt vô cùng sợ hãi. Thì ra chàng đã ra thế đấy, chàng
đã quá lạc lõng, quá bối rối, quá mất lương tri đến
nỗi muốn tìm cái chết. Lòng mong mỏi ấy, lòng mong mỏi
trẻ con ấy đã trở nên quá mãnh liệt trong lòng chàng: tìm
sự bình an bằng cách huỷ hoại thể xác. Tất cả những
dày vò của thời vừa qua, tất cả ảo tưởng, tuyệt vọng
đã không ảnh hưởng đến chàng nhiều bằng khi tiếng “Om”
len vào ý thức chàng, làm chàng nhận rõ sự khốn nạn và
tội lỗi của mình.
“Om”,
chàng nhẩm đọc trong lòng, và chàng ý thức về Đại ngã,
về sự bất khả huỷ diệt của cuộc sống; chàng nhớ lại
mọi sự mà chàng đã quên, mọi sự thiêng liêng cao khiết.
Nhưng
chỉ một thoáng, thời gian một làn chớp, rồi Tất Đạt
lại quị xuống gốc cây dừa, sự mỏi mệt xâm chiếm lấy
chàng. Thì thầm tiếng “Om”, chàng gối đầu trên rễ cây
và ngủ một giấc dài. Giấc ngủ chàng rất say mà không mộng
mị; chàng chưa bao giờ ngủ ngon như thế trong một thời gian
khá lâu. Khi chàng tỉnh dậy sau giấc ngủ, chàng có cảm tưởng
như mười năm đã trôi qua. Chàng nghe tiếng nước chảy róc
rách; chàng không biết mình đang ở đâu, cũng không rõ tại
sao chàng đến đây. Chàng nhìn lên và ngạc nhiên thấy cây
cối và trời ở trên đầu. Chàng sực nhớ lại chàng đang
ở nơi nào và làm sao chàng đã đến đây. Chàng cảm thấy
ước muốn ở lại đây một lúc lâu. Quá khứ bây giờ dường
như phủ một lớp màn, vô cùng xa xăm, và không mảy may quan
hệ. Chàng chỉ biết rằng đời sống trước đấy của chàng
đã hết, nó đầy cả buồn nôn và khốn nạn khiến chàng
đã muốn huỷ hoại nó, nhưng chàng đã tỉnh ngộ bên cạnh
một dòng sông, dưới một gốc dừa, với tiếng “Om” thần
diệu trên môi. Rồi chàng đã ngủ, và khi thức dậy chàng
nhìn vũ trụ như một con người mới. Chàng nhẹ nhàng nói
thầm tiếng “Om” với chính mình, chàng đã ngủ với tiếng
ấy và chàng tưởng như suốt giấc ngủ chàng đã đọc tiếng
ấy sâu dài, nghĩ về “Om”, thể nhập trong “Om”, trong
cái vô danh, trong cái linh diệu …
Thật
là cả một giấc ngủ tuyệt vời! Chưa bao giờ một giấc
ngủ lại làm chàng tỉnh táo, đổi mới chàng, làm chàng trẻ
lại đến thế. Có lẽ chàng đã chết thực, có lẽ chàng
đã chết đuối và tái sinh dưới một hình hài khác. Nhưng
không, chàng nhận ra chính mình, nhận ra tay chân chàng, nơi
chàng nằm và bản ngã ở trong lồng ngực chàng, một Tất
Đạt cá biệt. Nhưng Tất Đạt này có một cái gì thay đổi,
mới mẻ. Chàng đã ngủ một giấc tuyệt vời. Bây giờ chàng
tỉnh táo một cách kỳ lạ, sung sướng và ngạc nhiên trước
mọi sự.
Tất
Đạt ngẩng lên và thấy một thầy tu áo vàng, đầu cạo,
ngồi đối diện với chàng trong dáng điệu của một người
suy tư. Chàng nhìn vào ông ta, và chẳng mấy chốc chàng đã
nhận ra đấy là Thiện Hữu, người bạn của chàng thời
thơ ấu. Thiện Hữu, người đã nấp dưới bóng đức Giác
Ngộ . . . Thiện Hữu, cũng đã luống tuổi, nhưng chàng còn
biểu lộ những nét đặc biệt cũ trên gương mặt – lòng
hăng hái, chính trực, óc tò mò, nỗi hoang mang. Nhưng khi Thiện
Hữu cảm thấy cái nhìn của Tất Đạt, ngẩng lên và nhìn
chàng, Tất Đạt thấy rằng Thiện Hữu không nhận ra chàng.
Thiện Hữu vui mừng khi thấy chàng tỉnh giấc. Chàng có vẻ
đã ngồi đấy từ lâu chờ Tất Đạt thức dậy, mặc dầu
Thiện Hữu không biết chàng.
- Tôi
đang ngủ -- Tất Đạt lên tiếng. Ông đến đây bằng cách
nào?
- Ông
đang ngủ -- Thiện Hữu đáp, và thật không nên ngủ
ở những nơi như vầy, vì thường có rắn và dã thú trong
rừng ra. Tôi là một trong những đồ đệ của đức Phật
Thích Ca Mâu Ni, và tôi đang đi hành hương cùng với một số
tăng lữ như tôi. Tôi thấy ông nằm ngủ một nơi nguy hiểm,
nên đã cố thức ông dậy, nhưng ông ngủ say quá, nên tôi
ở lại và ngồi đây. Rồi dường như tôi, người muốn canh
chừng cho ông, chính tôi lại cũng ngủ. Sự mệt mỏi đã
chiếm lấy tôi và tôi đã canh chừng rất sơ sót. Nhưng bây
giờ ông đã tỉnh, tôi phải đi cho kịp với các môn đệ.
- Cám
ơn thầy Sa Môn đã canh cho tôi ngủ. Những đồ đệ của
đấng Giác Ngộ thật rất tốt, nhưng bây giờ ông có thể
đi đường của ông đi.
- Tôi
đi đây. Chúc ông ở lại mạnh giỏi.
- Cám
ơn thầy Sa Môn.
Thiện
Hữu cúi đầu nói:
- Xin
từ biệt.
- Xin
từ biệt, Thiện Hữu, Tất Đạt buột miệng.
Vị
tu sĩ đứng dừng lại:
- Xin
lỗi ông, làm sao ông biết được tên tôi?
Tất
Đạt cười lớn:
- Thiện
Hữu, tôi biết anh từ ngôi nhà của thân sinh anh và từ ngôi
trường của những người Bà La Môn, và từ những cuộc tế
thần, từ ngày chúng ta đi theo những Sa Môn, và cũng từ giờ
phút trong rừng Lộc Uyển khi anh xin qui y đấng Giác Ngộ.
- Anh
là Tất Đạt! Thiện Hữu kêu lên – Bây giờ tôi đã nhận
ra anh và không hiểu tại sao tôi lại không nhận ra anh ngay.
Chào Tất Đạt, tôi mừng lắm được gặp lại anh …
- Tôi
cũng rất mừng. Bạn đã canh chừng giấc ngủ của tôi. Cám
ơn bạn một lần nữa, mặc dù tôi không cần người canh.
Bây giờ bạn đi đâu?
- Tôi
không đi đâu cả. Chúng tôi, những tu sĩ, thì luôn luôn đi
trên đường, trừ trong mùa mưa. Chúng tôi luôn luôn đi từ
nơi này đến nơi kia, sống theo qui luật, giảng dạy giáo
lý, khất thực và lại đi. Luôn luôn như thế. Nhưng anh đi
đâu, Tất Đạt?
Tất
Đạt nói:
- Tôi
cũng y hệt như anh, bạn ơi. Tôi không đi đâu cả. Tôi chỉ
đi trên đường. Tôi đang đi hành hương.
Thiện
Hữu nói:
- Anh
bảo anh đi hành hương, tôi tin anh. Nhưng này anh Tất Đạt,
xin lỗi anh, tôi trông anh không giống một khất sĩ chút nào.
Anh đang mặc áo quần của một người giàu có, anh đang mang
giày theo thời trang, và mái tóc đầy hương của anh không
phải là tóc của một khất sĩ, không phải là tóc của một
Sa Môn.
- Bạn
đã quan sát kỹ lắm, đôi mắt tinh vi của bạn đã thấy
hết mọi sự. Nhưng tôi không bảo bạn rằng tôi là một
Sa Môn. Tôi nói rằng tôi đi hành hương, và điều ấy có
thật.
- Anh
đang đi hành hương. Thiện Hữu nói – Nhưng ít ai đi hành
hương trong bộ áo quần như thế, giày như thế, tóc như thế.
Tôi đã lang thang nhiều năm nay mà chưa bao giờ thấy một
khất sĩ như thế cả.
- Tôi
tin bạn nói thật, Thiện Hữu. Nhưng hôm nay đây, bạn đã
gặp một khất sĩ như thế, trong giày và áo như thế. Hãy
nhớ, Thiện Hữu thân mến của tôi ơi, rằng thế giới hiện
tượng luôn luôn giả tạm, kiểu áo và tóc vô cùng tạm bợ.
Ngay cả tóc và thân thể của chúng ta cũng giả tạm nữa.
Bạn đã quan sát rất đúng. Tôi đang mặc y phục của một
người giàu, và tôi có đầu tóc như người thế tục, theo
thời trang chỉ vì tôi đã là một người trong số đó.
- Và
bây giờ thì anh là gì, Tất Đạt?
- Tôi
không biết, tôi cũng không biết như bạn. Tôi chỉ đang đi
trên đường. Tôi đã là một người giàu nhưng bây giờ thì
không còn nữa, và những gì sẽ xảy ra ngày mai, tôi không
biết được.
- Anh
đã mất hết của cải?
- Tôi
mất chúng, hay chúng đã mất tôi – tôi không chắc. Bánh
xe hiện tượng quay nhanh lắm, hỡi Thiện Hữu. Đâu là Tất
Đạt con người Sa Môn, đâu là Tất Đạt người giàu có?
Cái gì giả tạm sẽ thay đổi ngay, Thiện Hữu, bạn cũng
biết thế.
Thiện
Hữu hoài nghi nhìn người bạn ấu thời một lúc khá lâu.
Đoạn chàng cúi chào Tất Đạt như người ta chào một người
quí tộc, và đi tiếp con đường mình.
Mỉm
cười, Tất Đạt nhìn chàng bước đi. Tất Đạt vẫn còn
thương yêu chàng, người bạn trung thành hay thắc mắc ấy.
Và trong lúc này, trong giờ phút sáng rạng sau giấc ngủ nhiệm
màu thấm nhuần tiếng “Om” này, chàng không thể không cảm
thấy thương yêu một người nào hay bất cứ một vật gì.
Đó chính là điều kỳ diệu đã đến với chàng trong giấc
ngủ với tiếng “Om”. Chàng yêu mến mọi sự, một tình
yêu hoan hỉ đối với mọi vật chàng nhìn thấy. Và chàng
cảm thấy dường như trước kia chàng đau khổ vì chính chàng
đã không biết yêu thương.
Tất
Đạt nhìn Sa Môn ra đi với nụ cười. Giấc ngủ đã làm
chàng sảng khoái, nhưng chàng cảm thấy bụng đói cồn cào
vì đã không ăn gì trong hai hôm nay, và cái thời chàng chế
ngự được cơn đói nay đã qua rồi. Chàng nhớ lại thuở
ấy một cách xao xuyến, nhưng đồng thời cũng với một nụ
cười. Chàng nhớ hồi ấy chàng đã tự hào ba điều với
Kiều Lan, ba nghệ thuật cao quí siêu quần: nhịn đói, chờ
đợi và suy tư. Những điều ấy đã là sở hữu của chàng,
quyền năng của chàng, sức mạnh của chàng. Chàng chỉ học
có ba nghệ thuật ấy và không biết điều gì khác, suốt
trong những năm chuyên cần và kiên tâm của thời niên thiếu.
Bây giờ chàng đã mất chúng, chàng không còn nắm vững chúng
được nữa, nhịn đói, chờ đợi hay suy tư. Chàng đã đổi
chúng để lấy những vật khốn nạn nhất, những vật tạm
bợ, những lạc thú cảm quan, nếp sống thượng lưu và của
cải.
Chàng
đã đi theo một con đường quái gở. Và bây giờ dường như
chàng đã nghiễm nhiên trở thành một phàm nhân.
Tất
Đạt suy nghĩ về tình trạng của chàng. Chàng nhận thấy
rất khó suy nghĩ, và thực tình không muốn suy nghĩ, nhưng
chàng tự bắt buộc mình.
Bây
giờ, chàng nghĩ, mọi vật phù du kia đã lại lọt qua kẽ
tay ta, một lần nữa ta lại đứng dưới trời như một đứa
trẻ. Không có cái gì của ta, ta không biết gì, không học
tập được gì. Lạ lùng biết bao!
Bây
giờ, khi ta không còn trẻ nữa, khi tóc ta trở màu, khi sức
ta bắt đầu giảm, ta bắt đầu sống lại như một trẻ thơ.
Chàng lại mỉm cười. Vâng, định mệnh chàng kỳ lạ thật!
Chàng đang đi ngược trở lại, và bây giờ chàng vẫn tay
không, vẫn trần truồng và dốt nát trong vũ trụ. Nhưng chàng
không buồn vì điều đó, trái lại chàng còn cảm thấy muốn
cười lớn lên, cười mình, cười cuộc đời đảo điên
quái gở. Chàng tự bảo và cười lớn: “Mọi vật đang đi
lui với mình”, và khi chàng nói như thế, cái nhìn của chàng
chiếu sáng trên dòng sông, và chàng thấy dòng sông cũng chảy
lùi đều đều, reo lên vui vẻ. Điều đó làm chàng rất thích
thú, chàng mỉm cười vui vẻ với dòng sông. Đó chẳng phải
là con sông mà một lần chàng đã ao ước trầm mình -- hằng
trăm năm về trước – hay chàng đã mơ thấy nó?
Đời
sống của chàng thật lạ lùng, chàng nghĩ. Chàng đã lang thang
qua nhiều con đường lạ. Khi còn là một cậu bé, tôi ham
mê thần linh và các cuộc tế lễ, lúc trở thành thanh niên
đam mê thiền quán và khổ hạnh. Tôi đã đi tìm Đại ngã
và kính phục cái trường cửu nơi linh hồn. Là thanh niên
tôi đã tu khổ hạnh. Tôi đã sống trong rừng, chịu nóng
lạnh, tôi học nhịn đói, học chế ngự bản thân. Rồi tôi
khám phá những giáo lý của đức Phật. Tôi cảm thấy tri
thức và sự nhất thể của thế giới lưu thông trong tôi
như chính máu của tôi, nhưng tôi cũng cảm thấy cần rời
xa đức Phật và sự hiểu biết. Tôi đi và học những lạc
thú của ái tình nơi Kiều Lan và việc kinh doanh nơi Vạn Mỹ.
Tôi tích luỹ tiền của và tiêu hoang nó, ăn những thức ăn
ngon, và học kích thích giác quan. Tôi phải tiêu phí nhiều
năm như thế để đánh mất sự thông minh, khả năng suy tư
của tôi, để quên cái nhất tính của sự vật. Chẳng phải
tôi đã dần dần đổi thay từ một người đàn ông thành
một đứa trẻ, từ một người tư duy đến một người thông
thường, qua nhiều khúc quanh hay sao? Và con đường này có
lợi và con chim trong lòng tôi đã không chết. Nhưng chao ôi
là con đường! Tôi đã phải trải qua quá nhiều ngu dại,
quá nhiều tính xấu, quá nhiều lầm lạc, nôn mửa, vỡ mộng
và buồn rầu, mà chỉ để lại trở thành một đứa trẻ.
Nhưng đúng là phải như vậy. Đôi mắt và trái tim tôi đòi
hỏi điều đó. Tôi phải chứng nghiệm sự tuyệt vọng, tôi
phải đi vào chiều sâu thăm thẳm nhất của tâm hồn, vào
những ý tưởng tự sát, để chứng nghiệm thánh ân, để
nghe tiếng “Om” trở lại, để ngủ say sưa lại và thức
dậy cải lão hoàn đồng. Tôi lại phải trở thành một người
ngu để tìm Tự ngã trong tôi. Tôi phải phạm tội để sống
lại. Con đường tôi sẽ còn dẫn tôi đi đâu? Con đường
này ngu ngốc, nó đi xoắn ốc, có lẽ xoay vòng tròn, nhưng
dù nó đi đâu tôi cũng theo nó. Chàng cảm thấy một hạnh
phúc lớn lao đang dâng lên trong tâm hồn. Chàng tự hỏi: hạnh
phúc ấy từ đâu lại, đâu là lý do của cảm giác hạnh
phúc ấy? Nó có đến từ giấc ngủ dài của tôi, giấc ngủ
đã làm cho tôi rất khoan khoái không? Hay từ thế giới “Om”
mà tôi gọi tên? Hay chính vì tôi đã cao bay xa chạy, vì cuối
cùng tôi đã trở lại tự do, và trở lại như một đứa
trẻ dưới vòm trời? Ồ! Chuyến bay mới đẹp, cuộc giải
thoát mới đẹp làm sao! Nơi tôi vừa trốn chạy luôn luôn
có một không khí của dầu xức đầu, đồ gia vị, sự quá
độ và sự trơ lì. Tôi ghét cái thế giới tiền của, rượu
chè, cờ bạc ấy quá! Tôi ghét cả chính tôi đã sống quá
lâu trong thế giới kinh tởm ấy. Tôi ghét cả chính tôi đã
tự bóp méo, tự đầu độc và hành hạ mình, làm cho mình
già và xấu xí. Tôi sẽ không bao giờ còn xem Tất Đạt này
là thông minh nữa, như có lần tôi đã tưởng. Nhưng một
điều tôi đã làm khiến tôi hài lòng và tự ngợi khen là
bây giờ tôi đã vượt qua sự tự ghét ấy rồi, cái đời
sống điên rồ trống rỗng ấy rồi. Tất Đạt, ta khen ngợi
ngươi là sau ba năm điên cuồng, ngươi đã có lại một ý
nghĩ đẹp, rằng ngươi đã hoàn thành một cái gì, rằng ngươi
đã nghe lại con chim hót tự trong lòng ngươi và theo nó.
Chàng
tự khen mình như thế, tự bằng lòng với mình và lắng nghe
một cách tò mò bao tử của mình đang gào lên vì đói. Chàng
cảm thấy mình đã trút ra một phần nỗi buồn, một phần
khổ đau của thời quá khứ, mà chàng đã uống cạn đến
độ tuyệt vọng gần chết. Nhưng mọi sự đều tốt đẹp.
Chàng có thể sống lâu hơn với Vạn Mỹ, làm tiền và phung
phí, nuôi dưỡng thể xác và bỏ rơi tâm hồn, chàng đã có
thể sống lâu hơn nữa trong cái địa ngục êm đềm khéo
sơn phết đó, nếu không có cái phút hoàn toàn vô vọng và
căng thẳng khi chàng nghiêng mình trên dòng nước chảy, sẵn
sàng tự tử. Thì cơn tuyệt vọng đó, sự buồn nôn tột
độ mà chàng trải qua đã không thắng được chàng. Con chim,
dòng suối trong trẻo, tiếng nói trong lòng chàng vẫn còn sống.
Đó là lý do làm chàng vui tươi, làm chàng cười lớn, làm
mặt chàng sáng lên dưới mái tóc đã hoa râm.
Tự
mình chứng nghiệm mọi sự là một điều hay, chàng nghĩ.
Khi còn là một đứa trẻ, tôi đã học rằng những lạc thú
và của cải thế tục không hay ho gì. Tôi đã biết điều
ấy từ rất lâu, nhưng tôi chỉ mới chứng nghiệm nó vừa
rồi. Bây giờ tôi biết điều ấy không phải chỉ bằng tri
thức, mà bằng mắt tôi, bằng tim tôi và bằng bao tử tôi.
Chàng
suy nghĩ rất lâu về sự đổi thay trong lòng chàng, lắng nghe
con chim đang hót mừng. Nếu con chim trong chàng đã chết, chàng
có chết không? Không, một cái gì khác trong chàng đã chết,
một cái gì từ lâu chàng thèm khát đã chết. Đó chẳng phải
là cái mà chàng từng mong phá huỷ suốt những năm khổ hạnh
của chàng đó sao? Đó phải chăng là Tự ngã của chàng, cái
ngã nhỏ bé, sợ hãi, kiêu căng, mà chàng đã chiến đấu
với nó bằng bao nhiêu năm, nhưng luôn luôn nó thắng, luôn
luôn nó xuất hiện lại, để cướp hạnh phúc của chàng,
gieo cho chàng sợ hãi? Chẳng phải nó cuối cùng đã chết
hôm nay, trong rừng, bên cạnh dòng sông kỳ diệu này sao? Chẳng
phải vì cái chết của nó mà bây giờ chàng giống như một
đứa trẻ, đầy hạnh phúc và niềm tin, không hoảng sợ?
Bây
giờ Tất Đạt cũng đã nhận ra được vì sao chàng đã chiến
đấu vô vọng với Tự ngã của chàng khi còn là một Bà La
Môn và một nhà khổ hạnh. Quá nhiều kiến thức đã ngăn
ngại chàng, quá nhiều thánh thi, quá nhiều lễ tế, quá nhiều
ép xác, quá nhiều cố gắng và làm lụng. Chàng đã đầy
kiêu căng, chàng đã luôn luôn là người khôn ngoan nhất, hăng
hái nhất, luôn luôn hơn người một bước, luôn luôn là người
trí thức, luôn luôn là người giảng đạo hay nhà hiền triết.
Tự ngã chàng đã len lỏi vào trong chức vị giảng đạo ấy,
vào lòng kiêu hãnh ấy, vào trí thức ấy. Nó an vị đấy
một cách vững vàng, và tăng trưởng thêm, trong khi chàng tưởng
chàng đang huỷ hoại nó bằng nhịn đói và sám hối. Bây
giờ chàng hiểu nó và nhận ra rằng tiếng nói nội tâm rất
đúng, không có một bậc thầy nào có thể đưa chàng đến
giải thoát. Đó là nguyên do vì sao chàng đã đi vào cuộc
đời, tự đánh mất mình trong thế lực, trong đàn bà và
tiền bạc; vì sao chàng trở thành một thương gia, một người
cờ bạc, rượu chè và một người giàu có, cho đến khi con
người thuyết giáo và vị Sa Môn trong chàng chết đi. Đó
là nguyên do vì sao chàng đã phải sống qua những năm kinh
khủng chịu đựng sự buồn nôn, học các bài học về sự
điên rồ của một đời sống vô vị, trống rỗng cho đến
chết, cho nên khi chàng đạt đến nỗi tuyệt vọng đắng
cay để cho Tất Đạt con người buôn lạc thú và Tất Đạt
con người của giàu sang cũng chết nốt. Chàng đã chết và
một Tất Đạt mới đã thức dậy sau giấc ngủ của chàng.
Chàng cũng sẽ già và chết. Tất Đạt là giả tạm, mọi
hình thể đều giả tạm, nhưng hôm nay chàng còn trẻ, chàng
là một đứa trẻ -- chàng Tất Đạt mới – và chàng rất
hân hoan.
Những
tư tưởng đó thoáng qua trong trí chàng. Mỉm cười, chàng
lắng nghe tiếng bao tử mình, lắng nghe đầy cảm ơn tiếng
con ong đang rì rầm. Sung sướng chàng nhìn dòng sông đang chảy.
Chưa bao giờ một dòng sông thu hút chàng đến thế. Chưa bao
giờ chàng tìm thấy tiếng nước và hình ảnh dòng sông đang
chảy lại đẹp như thế. Dường như con sông có cái gì đặc
biệt để kể với chàng, một cái gì mà chàng không biết,
một cái gì còn chờ đợi chàng. Tất Đạt đã có lần toan
trầm mình trong dòng nước đó, thì hôm nay chàng Tất Đạt
già cỗi, mỏi mệt, tuyệt vọng đã chết trong ấy. Chàng
cảm thấy một tình yêu sâu đậm đối với dòng sông đang
chảy và quyết định sẽ không rời nó vội.
WP:
Dannyviet