Kiều
Lan
Tất
Đạt học thêm trên mỗi bước đường một điều mới mẻ,
vì vũ trụ đổi thay và chàng đang ở trong vũ trụ. Chàng
thấy mặt trời lên trên núi rừng và lặn ở bãi xa. Ban đêm
chàng thấy những vì sao trên nền trời và mảnh trăng lưỡi
liềm như một con thuyền trôi trong màu xanh thẳm. Chàng thấy
cây cối, trăng sao, loài vật, mây, ráng trời, hang đá, cỏ
hoa, suối và dòng sông, sương lấp lánh trên bụi bờ buổi
sớm, những dãy núi xa cao và xanh nhạt, chim hót, ong bay vù
vù, gió thổi nhẹ qua đồng lúa. Tất cả thứ đó muôn màu
sắc, muôn dáng hình vẫn luôn luôn tồn tại ở đây. Mặt
trời và mặt trăng vẫn luôn luôn chiếu sáng, dòng sông luôn
chảy và những con ong bay vù vù, nhưng ngày xưa đối với
chàng, chúng không là gì cả ngoài ra một trò huyễn hoá trước
mắt chàng, bị nhìn một cách hoài nghi, bị khinh thường và
gạt ra khỏi tư tưởng vì chúng không phải là thực tại,
vì thực tại nằm bên kia nhãn giới. Bây giờ chàng nhìn chúng,
chàng thấy và nhận ra nhãn giới, chàng tìm thấy vị trí
của chàng trong vũ trụ này. Chàng không kiếm tìm thực tại;
mục đích của chàng không ở một phía nào khác nữa. Vũ
trụ tươi đẹp khi ta nhìn nó bằng cái nhìn này, không tìm
kiếm, một cái nhìn đơn giản, cái nhìn của trẻ thơ. Trăng
sao đẹp, bờ suối, bờ bể, rừng và hang đá, con dê và con
nai vàng, hoa và bướm đều đẹp. Vũ trụ sẽ đẹp nếu ta
nhìn thấy nó như vậy, hồn nhiên, tỉnh thức, chỉ quan tâm
đến hiện tại mà không một thoáng nghi ngờ. Nơi kia mặt
trời nắng gắt, nơi kia có bóng rừng im mát, nơi kia có chuối
và bí ngô. Ngày và đêm đều ngắn, mỗi giờ qua nhanh như
một chiếc buồm của con tàu chở đầy kho báu, chở đầy
niềm vui. Tất Đạt trông thấy một đàn khỉ trong rừng sâu,
chuyền qua những cành cao, và chàng nghe tiếng kêu man rợ của
chúng. Tất Đạt trông thấy một anh cừu đực đi theo ái
ân với một chị cừu cái. Trong một chiếc hồ, một con cá
lớn đói đang đi săn mồi ăn chiều. Từng đàn cá nhỏ đang
bơi lượn sáng loáng, lo lắng tránh xa cá lớn đang tìm ăn
chúng. Sức mạnh và dục vọng phản chiếu trên những con
sóng xao động vì cuộc đuổi bắt hăng say. Tất cả những
điều ấy đã có từ bao giờ nhưng chàng không hề thấy,
chàng chưa bao giờ hiện diện. Bây giờ chàng hiện diện và
thuộc vào thế giới ấy. Bằng con mắt, chàng thấy ánh sáng
và bóng tối, bằng trí óc, chàng trực nhận có trăng sao.
Trên
đường đi, Tất Đạt nhớ lại tất cả những gì chàng đã
thực nghiệm trong vườn Lộc Uyển, những giáo lý mà chàng
đã nghe từ đức Phật, cuộc đối thoại với bậc Toàn Giác.
Chàng hồi tưởng mỗi chữ chàng đã nói với đấng Giác
Ngộ, và chàng ngạc nhiên rằng mình đã nói những điều
mà chính mình chưa thật biết. Điều chàng nói với đức
Phật -- rằng sự giác ngộ của Phật là điều huyền bí
không thể giảng dạy được, không thể diễn tả và thông
cảm được – mà chàng đã một lần chứng nghiệm trong một
giờ sáng suốt, chính là điều mà bây giờ chàng bắt đầu
thực nghiệm. Chàng cần phải có kinh nghiệm bản thân. Chàng
đã biết từ lâu rằng bản thân chàng là Tiểu ngã, cùng
nguồn gốc với Đại ngã, nhưng chàng chưa bao giờ thật tìm
thấy Tự ngã, vì chàng đã tóm nó vào cái lưới tư duy. Thân
thể dĩ nhiên không là Tự ngã, cảm giác, tư tưởng, sự
hiểu biết, sự tinh khôn để rút kết luận và dệt những
tư tưởng mới từ những ý đã có sẵn, cũng không phải
là Tự ngã. Không, thế giới tư duy cũng vẫn còn ở bên này
bờ và nó không đưa đến mục đích nào khi con người phá
huỷ giác quan để chỉ nuôi Tự ngã bằng tư duy và kiến
thức. Tư tưởng và giác quan đều quý báu, sau chúng là ý
nghĩa cuối cùng ẩn nấp. Thật đáng nên lắng nghe cả hai,
không khinh thường cũng không xem trọng cái nào hơn, mà phải
chú tâm lắng nghe cả hai một cách cẩn thận. Chàng sẽ chỉ
lắng nghe lời chỉ bảo của tiếng nói nội tâm, không dừng
lại bất cứ chỗ nào, ngoài chỗ mà tiếng nói ấy chỉ định.
Tại sao đức Cồ Đàm đã ngồi dưới gốc cây khi Ngài đạt
được toàn trí? Ngài đã nghe một tiếng nói, một tiếng
nói trong thâm tâm đã ra lệnh cho Ngài yên toạ dưới gốc
cây đó, và Ngài đã không hành hạ thể xác, không tế thần
linh, tắm nước thiêng hay cầu nguyện, uống hay ăn, ngủ hay
mơ; Ngài đã nghe theo tiếng nói, không tuân theo mệnh lệnh
nào khác ở ngoài, chỉ theo tiếng nói ấy – đó là điều
hay và cần thiết – ngoài ra không có gì cần nữa.
Suốt
đêm, khi ngủ trong một căn lều tranh dành cho người bộ hành,
chàng đã mơ một giấc mơ. Chàng mơ thấy Thiện Hữu đứng
trước mặt, trong chiếc áo vàng của nhà tu khổ hạnh. Thiện
Hữu trông buồn bã và hỏi chàng:
-
Tại sao anh bỏ tôi?
Chàng
liền ôm lấy bạn và khi kéo bạn sát lòng mình và hôn, thì
bạn không còn là Thiện Hữu nữa, mà là một người đàn
bà và ngoài cái áo của nàng là một bộ ngực đầy, và chàng
nằm xuống uống những dòng sữa vị ngọt và nồng nàn. Có
vị của đàn ông và đàn bà, của mặt trời và núi rừng,
của loài vật và hoa lá, của mọi thứ quả, của mọi khoái
lạc. Thứ sữa ấy làm mê man. Khi Tất Đạt thức dậy, con
sông mờ nhạt loang loáng ánh qua liếp cửa của chòi tranh,
và trong rừng một tiếng cú kêu vang lên sâu thẳm và trong
vắt.
Khi
ngày bắt đầu lên, Tất Đạt nhờ người chủ nhà của chàng,
một người lái đò, đưa chàng qua sông. Người lái đò đưa
chàng trên con thuyền tre. Mặt nước rộng và phẳng lì loang
loáng hồng trong ánh nắng ban mai.
- Con
sông thật đẹp – chàng nói với người đồng hành.
- Vâng,
người chèo đò đáp. Con sông rất đẹp, tôi yêu thích nó
hơn tất cả mọi sự. Tôi đã thường lắng nghe nó, nhìn
ngắm nó, và luôn học được ở nó một điều gì. Người
ta có thể học được rất nhiều từ một dòng sông.
- Cám
ơn ông lái đò, Sa Môn bảo khi chàng lên bờ. Tôi sợ
e rằng tôi không có gì để tặng ông, cũng không có tiền
trả. Tôi không nhà cửa, tôi là con của một người Bà La
Môn và là một vị Sa Môn.
- Điều
đó tôi cũng thấy rõ, người chèo đò nói – và tôi không
chờ đợi ngài trả công hay cho chác gì tôi. Ngài sẽ cho tôi
một lần khác.
- Ông
nghĩ vậy sao? Tất Đạt vui mừng hỏi.
- Hẳn
là thế. Tôi đã học điều này cũng từ con sông nữa. Mọi
sự đều trở về. Ngài nữa, vị Sa Môn ơi, ngài cũng sẽ
trở lại. Nào, chúng ta từ biệt! Mong ngài nghĩ đến tôi
khi ngài tế lễ các vị thần.
Họ
mỉm cười chia tay. Tất Đạt sung sướng trước sự thân
mật của người chèo đò. Anh ta thật giống Thiện Hữu. Chàng
nghĩ, vừa mỉm cười. Mọi người ta gặp đều giống Thiện
Hữu. Mọi người đều biết ơn, dù chính họ xứng đáng
được tạ ơn. Mọi người đều ưa phục tòng, mọi người
đều ước mong là bạn của ta, vâng lời và ít suy nghĩ. Người
ta đều là trẻ con cả.
Ban
trưa, chàng đi qua một làng mạc. Trẻ con nhảy múa tung tăng
trên con đường nhỏ trước mặt những chòi bằng đất sét.
Chúng chơi đùa la hét và vật lộn nhau, nhưng bỏ chạy rụt
rè khi người Sa Môn lạ lùng xuất hiện. Ở cuối làng, con
đường chạy dài theo một dòng suối, và bên bờ suối, một
người đàn bà đang quỳ gối giặt giũ. Khi Tất Đạt chào,
nàng ngẩng đầu lên nhìn chàng với nụ cười và chàng thấy
rõ tròng trắng của mắt nàng chiếu long lanh. Chàng nói lên
một lời chúc tụng theo tục lệ những du khách, và hỏi đường
còn bao xa nữa là đến thành phố. Khi ấy nàng đứng lên,
tiến đến chàng, đôi mắt ướt sáng lên một cách quyến
rũ trên gương mặt trẻ của nàng. Nàng trao đổi vài nhận
xét với Tất Đạt, hỏi chàng ăn cơm chưa và có phải rằng
những Sa Môn ngủ một mình trong rừng ban đêm không được
theo người đàn bà nào cả hay không. Đoạn nàng đặt bàn
chân trái lên trên chân phải của Tất Đạt và phác một
cử chỉ thường làm khi một người đàn bà mời một người
đàn ông hưởng thú khoái lạc ái tình mà thánh kinh gọi là
“leo xuống cây”. Tất Đạt cảm thấy máu chàng nóng lên
và khi chàng nhận ra hình ảnh giấc chiêm bao của chàng vừa
qua, chàng hơi cúi mình về phía người đàn bà và hôn lên
đầu chóp nâu của ngực nàng. Nhìn lên, chàng thấy mặt nàng
tươi cười, đầy dục vọng, với đôi mắt hơi nhắm của
nàng khẩn cầu khao khát.
Tất
Đạt cũng cảm thấy khát khao và lòng rung động vì dục vọng,
nhưng vì chàng chưa hề động đến một người đàn bà, chàng
hơi do dự một lúc, mặc dù tay chàng sẵn sàng để ôm lấy
nàng. Lúc ấy chàng bỗng nghe tiếng nội tâm của chàng, và
tiếng ấy nói “Đừng!”. Rồi tất cả ma lực đều biến
đi khỏi khuôn mặt tươi cười của người đàn bà, chàng
chỉ thấy cái nhìn nồng nàn của một người đàn bà trẻ
say đắm. Chàng vỗ nhẹ má nàng, và nhanh chân đi khỏi người
đàn bà đang tiu nghỉu và khuất bóng trong rừng tre.
Trước
khi chiều xuống, chàng đến một thành phố lớn, và chàng
sung sướng, vì chàng khao khát gặp người ta. Chàng đã sống
trong rừng núi khá lâu và chòi canh của người chèo đò trong
đó chàng ngủ đêm trước, là mái nhà đầu tiên trên đầu
chàng sau một thời gian dài.
Ngoài
phố thị, cạnh một khu rừng đẹp, người lữ hành lang thang
gặp một đoàn gia nhân mang đầy những giỏ. Ở giữa, trong
một chiếc kiệu trang hoàng có bốn người gánh, một người
đàn bà, bà chủ, ngồi trên chiếc ghế dựa đỏ, dưới chiếc
tàn lọng sặc sỡ màu. Tất Đạt đứng lặng ở cửa vào
khu rừng nhỏ và ngắm đoàn rước, những người tớ trai
tớ gái và giỏ. Chàng nhìn chiếc kiệu và người đàn bà
ngồi trong. Dưới mớ tóc đen bới cao, chàng thấy một gương
mặt rất sáng, dịu hiền và thông minh, một cái miệng đỏ
chót như một trái anh đào mới cắt, đôi mày tuyệt xảo
và một vòng cung cao, đôi mắt đen láy tinh khôn và ưa quan
sát, chiếc cổ thon trắng muốt nổi trên chiếc áo choàng
vàng lục của nàng. Đôi bàn tay mịn màng dẻo dai dài và
thon, nơi cườm tay đeo những chiếc vòng vàng chói.
Tất
Đạt thấy nàng tuyệt đẹp và lòng chàng vui rộn lên. Chàng
cúi thấp khi chiếc kiệu đi qua gần chàng, và lại ngẩng
đầu lên ngắm gương mặt xinh đẹp trong sáng, nhìn vào đôi
mắt bồ câu một lúc và thở hít vào mùi hương mà chàng
không nhận ra mùi gì. Người đàn bà đẹp gật đầu mỉm
cười một lát, rồi biến khuất trong cụm rừng, theo sau là
đàn tôi tớ.
Tất
Đạt nghĩ: ta đã vào thành phố này dưới một ngôi sao may
mắn. Chàng cảm thấy hăm hở muốn đi vào cụm rừng ngay,
nhưng chàng nghĩ lại, vì chàng sực nhớ đến cái nhìn của
bọn tôi tớ trai và gái nhìn chàng trước cửa đi vào, một
tia nhìn khinh mạn và nghi ngờ, một tia nhìn như muốn xua đuổi.
Ta
vẫn còn là một Sa Môn, chàng nghĩ, vẫn còn là một nhà khổ
hạnh, ăn xin. Ta không thể vẫn là một người như thế. Ta
không thể đi vào cụm rừng ấy trong hình thức này. Và chàng
cười lớn.
Chàng
dò hỏi những người chàng gặp đầu tiên về khu rừng, và
về người thiếu phụ; và được biết đó là khu rừng của
Kiều Lan, một kỹ nữ danh tiếng, và ngoài khu rừng ra, nàng
còn làm chủ một biệt thự trong thành phố. Chàng đi vào
thành. Chàng chỉ có một mục đích. Theo đuổi đích ấy,
chàng rảo bước qua thành phố, đi lang thang trong những đường
hẻm, đứng lặng ở vài chỗ, và đứng nghỉ trên bực đá
đưa xuống sông. Về chiều, chàng làm quen với một người
thợ phụ hớt tóc, người chàng thấy đang làm việc dưới
bóng một vòm cây. Chàng lại gặp ông ta đang cầu nguyện
trong một ngôi đền, ở đấy ông ta kể lại cho chàng nghe
những câu chuyện về thần Tình ái. Ban đêm chàng ngủ giữa
những chiếc thuyền trên sông, và sáng sớm, trước khi những
khách hàng đầu tiên đến tiệm, chàng đã nhờ người thợ
phụ cạo hết râu cho mình. Chàng cũng bảo chải tóc và xức
dầu láng. Rồi Tất Đạt đi tắm trên dòng sông.
Khi
về chiều, nàng Kiều Lan xinh đẹp tiến đến khu rừng của
nàng trong chiếc kiệu, Tất Đạt đang đứng ở cổng vào.
Chàng cúi chào và đón nhận lời chào của nàng. Chàng ra hiệu
cho người tôi tớ đi sau cùng, và nhờ anh ta báo tin cho chủ
biết có một người Bà La Môn trẻ muốn nói chuyện với
nàng. Sau một lúc, người gia nhân trở lại, bảo Tất Đạt
theo mình, lặng lẽ dẫn Tất Đạt đi vào trong một gian trại
ở đó Kiều Lan đang nằm trên một chiếc thảm, và để chàng
lại đấy.
- Có
phải anh đứng ngoài cổng hôm qua và chào ta không? Kiều Lan
hỏi.
- Vâng,
chính thế. Hôm qua tôi thấy nàng và chào nàng.
- Nhưng
hôm qua hình như anh có bộ râu và tóc dài đầy bụi, phải
không?
- Nàng
đã quan sát rất giỏi, đã thấy mọi sự. Nàng đã thấy
Tất Đạt, con một vị Bà La Môn, người đã từ bỏ gia đình
để trở thành một thầy Sa Môn, và đã tu trong ba năm. Nhưng
giờ đây tôi đã từ bỏ con đường ấy và đến thành phố
này, và người đầu tiên tôi gặp chính là nàng. Tôi đến
đây để nói với nàng, hỡi nàng Kiều Lan, rằng nàng là
người đàn bà đầu tiên mà Tất Đạt muốn nói chuyện cùng
mà không hạ đôi mắt. Tôi sẽ không bao giờ hạ đôi mắt
khi gặp một người đàn bà đẹp nữa.
Kiều
Lan mỉm cười và mân mê chiếc quạt lông công, đoạn hỏi:
- Tất
Đạt đến để nói với ta có chừng ấy sao?
- Tôi
đến để nói cùng nàng điều đó, và để cám ơn nàng vì
nàng quá xinh đẹp. Và nếu nàng không phật ý, hỡi nàng Kiều
Lan, tôi xin yêu cầu nàng hãy là bạn và thầy của tôi, vì
tôi không biết tí gì về nghệ thuật mà nàng đang nắm vững.
Lúc
ấy Kiều Lan bật cười:
- Tôi
chưa bao giờ nghe chuyện một người Sa Môn trên núi xuống
muốn gặp tôi và học với tôi. Chưa bao giờ một người
Sa Môn tóc dài, áo quần rách rưới đến với tôi. Nhiều
thanh niên đến gặp tôi, kể cả con trai những người Bà
La Môn, nhưng họ đều ăn mặc đẹp đẽ, giày bóng, đầu
họ thơm tho và túi đầy tiền. Đấy những thanh niên đến
với tôi như thế đấy, hỡi thầy Sa Môn.
Tất
Đạt bảo:
- Tôi
bắt đầu học được ở nàng hôm nay. Hôm qua tôi cũng đã
học được một điều. Tôi đã cạo râu, chải đầu và bôi
dầu láng. Hỡi người diễm tuyệt, tôi không còn thiếu bao
nhiêu nữa: áo quần đẹp, giày đẹp và tiền trong túi. Tất
Đạt đã làm những việc khó khăn hơn những chuyện tầm
thường ấy, và đã thành công. Tại sao tôi lại không đạt
được điều mà hôm qua tôi quyết định khởi sự - làm bạn
với nàng và học nơi nàng những lạc thú của ái tình? Nàng
sẽ thấy tôi là một người học trò có khả năng. Hỡi Kiều
Lan, tôi đã học nhiều điều khó khăn hơn những gì nàng
phải dạy tôi. Thế ra Tất Đạt không tươm tất vừa ý nàng,
với đầu tóc láng bóng, nhưng không có quần áo tốt, giày
và tiền?
Kiều
Lan cười lớn, đáp:
- Không,
Tất Đạt không đủ tươm tất. Anh phải có quần áo thật
đẹp và giày thật tốt, và tiền đầy túi, và tặng phẩm
cho Kiều Lan. Anh đã biết chưa, hỡi thầy Sa Môn từ rừng
núi xuống? Anh hiểu không?
- Tôi
hiểu lắm. Tất Đạt kêu lên. Làm sao tôi không hiểu được,
khi những lời ấy thốt ra từ một chiếc mồm xinh đẹp thế
kia? Môi nàng giống như một trái anh đào mới cắt, hỡi Kiều
Lan. Môi tôi cũng đỏ thắm và tươi mát, và sẽ hợp với
môi nàng lắm, để nàng xem. Nhưng này, hỡi nàng Kiều Lan
xinh đẹp, nàng không sợ hay sao, sợ vị Sa Môn từ rừng núi
xuống để học về yêu đương?
- Tại
sao tôi phải sợ một vị Sa Môn, một thầy Sa Môn ngốc nghếch
từ rừng núi xuống, và không biết gì về đàn bà?
- Ồ,
người Sa Môn rất hùng mạnh và không sợ gì cả. Người
có thể cưỡng bức nàng, hỡi cô gái đẹp, người có thể
cướp của nàng và làm nàng đau đớn.
- Không,
hỡi Sa Môn. Tôi không sợ. Có bao giờ một thầy Sa Môn hay
một Bà La Môn sợ rằng có kẻ sẽ đến đánh người ấy
và cướp của người ấy kiến thức, lòng sùng bái, năng
lực suy tư? Không, bởi vì những cái ấy thuộc về của chính
ông ta, và ông ta chỉ có thể cho những gì ông ta muốn, và
nếu ông ta muốn. Cũng hệt như thế với Kiều Lan và những
lạc thú của tình yêu. Đôi môi của Kiều Lan đẹp lắm,
nhưng ai muốn cưỡng bức Kiều Lan để hôn chúng, người
ấy sẽ không hưởng một chút gì ngọt ngào từ nơi
môi ấy, mặc dù chúng biết rõ làm sao để ban bố sự ngọt
ngào. Anh là một người học trò giỏi, hỡi Tất Đạt, bởi
thế anh nên học thêm điều này: người ta có thể cầu xin,
mua, được tặng hay gặp tình yêu trên các nẻo đường, nhưng
tình yêu không bao giờ trộm cướp được. Anh đã hiểu lầm.
Vâng, thật đáng tiếc, nếu một người thanh niên đẹp đẽ
như anh mà hiểu lầm điều đó.
Tất
Đạt cúi đầu mỉm cười:
- Nàng
nói phải, Kiều Lan, thật đáng tiếc. Thật sẽ vô cùng đáng
tiếc. Không, không một giọt ngọt ngào nào sẽ bị rơi mất
từ môi nàng hay môi tôi. Vậy Tất Đạt sẽ trở lại khi
có đầy đủ những gì đang thiếu – áo quần, giầy, tiền
bạc. Nhưng hỡi nàng Kiều Lan xinh đẹp, nàng không thể cho
tôi vài lời khuyên nhủ sao?
- Lời
khuyên? Sao lại không? Ai mà lại không sẵn sàng chỉ cho một
thầy Sa Môn, nghèo khó ngu ngốc từ núi xuống, sống giữa
những con lừa?
- Hỡi
nàng Kiều Lan, tôi có thể đi đâu để kiếm được nhanh
chóng ba thứ trên?
- Ông
bạn ơi, nhiều người muốn biết điều đó lắm. Ông phải
làm những gì ông đã học để kiếm tiền, quần áo và giày.
Một người nghèo khó không thể kiếm tiền bằng cách nào
khác hơn?
- Tôi
biết suy tư, tôi biết chờ đợi, tôi biết nhịn đói.
- Không
biết gì khác sao?
- Không.
Ồ có, tôi biết làm thơ. Nàng có thể cho tôi một cái hôn
để đổi lấy một bài thơ không?
- Tôi
sẽ đổi nếu bài thơ của anh vừa ý. Bài thơ ấy gọi là
gì?
Suy
nghĩ một lúc, Tất Đạt đọc lên những vần thơ:
Nhác
trông người kiều nữ
Dạo
gót sen về rừng
Ngõ
vào, Sa Môn đứng
Nghiêng
mình trước bông hoa
Nàng
mỉm cười diễm lệ
Chàng
Sa Môn thầm nghĩ:
“Nên
dâng nàng lễ vật
Hơn
cúng tế thần linh"
Kiều
Lan vỗ tay thật lớn, đến nỗi những đôi vòng vàng của
nàng kêu reng rẻng.
- Bài
thơ của anh rất hay, hỡi thầy Sa Môn áo nâu. Và thật cũng
không mất gì nếu tôi cho anh một chiếc hôn vì nó.
Nàng
đảo mắt ra hiệu cho chàng lại gần. Chàng để mặt sát
mặt nàng, kề môi sát môi nàng, đôi môi tựa trái anh đào
mới cắt. Kiều Lan hôn chàng đắm đuối, và người Sa Môn
ngạc nhiên vô cùng thấy nàng đã dạy chàng nhiều quá, nàng
khôn khéo quá, cách nàng chế ngự chàng, xua đuổi chàng, và
sau chiếc hôn dài đầu tiên, bao nhiêu cái hôn khác chờ đợi
chàng, chàng đứng yên, thở rất dài. Lúc ấy chàng giống
hệt một trẻ nhỏ ngạc nhiên trước sự hiểu biết và kiến
thức tràn đầy trải qua trước mắt.
- Bài
thơ của anh rất hay, Kiều Lan bảo, nếu tôi giàu có, tôi
sẽ trả tiền cho anh về bài thơ ấy. Nhưng sẽ rất khó khăn
cho anh nếu anh muốn kiếm được nhiều tiền như anh muốn
với thi ca. Vì anh sẽ cần rất nhiều tiền, nếu anh muốn
là bạn của Kiều Lan.
- Nàng
biết hôn thật tuyệt – Tất Đạt ấp úng.
- Quả
thế, chính vì vậy mà tôi không thiếu áo quần, giày và mọi
thứ xinh đẹp. Nhưng anh sẽ làm gì, anh không biết gì khác
ngoài suy nghĩ, nhịn đói và làm thơ sao?
- Tôi
còn biết hát những bài tế thần – Tất Đạt nói. Nhưng
tôi sẽ không hát nữa. Tôi cũng biết những bài phù chú,
nhưng tôi sẽ không đọc nữa. Tôi đã đọc những thánh kinh.
- Xem!
Kiều Lan ngắt lời, - anh không biết viết và đọc sao?
- Dĩ
nhiên là biết. Nhiều người có thể làm được việc ấy.
- Không
có nhiều. Chẳng hạn như tôi, tôi không biết. Thật tốt,
thật rất tốt, nếu anh biết đọc, biết viết. Có thể anh
cần đến cả những bài phù chú.
Lúc
ấy một người tớ bước vào thì thầm bên tai bà chủ. Kiều
Lan vội bảo Tất Đạt:
- Tôi
có một người khách. Nhanh lên, cút đi, Tất Đạt. Không ai
được thấy anh ở đây. Chúng ta sẽ gặp nhau lại ngày mai.
Tuy
nhiên, nàng sai gia nhân đem tặng thầy Sa Môn thánh thiện một
chiếc áo choàng trắng. Không biết rõ những gì đang xảy
ra, Tất Đạt được gia nhân nàng dẫn đi ra, qua một con đường
ngoằn ngoèo, đến một ngôi nhà có vườn. Chàng được tặng
một chiếc áo, dẫn vào bụi rậm và người ta bảo chàng
lập tức rời khỏi cụm rừng chớ để cho ai thấy chàng.
Vui
mừng, chàng làm những gì người ta bảo. Đã quen với rừng
núi, chàng lặng lẽ tiến ra khỏi khu rừng nhỏ và qua bên
kia bờ rào. Vui mừng, chàng trở lại thành phố, mang theo chiếc
áo cuộn tròn dưới cánh tay. Chàng đứng trước cửa một
tửu quán ở đấy du khách tụ tập, lặng lẽ xin ăn và lặng
lẽ nhận một mảnh bánh cốm. Có lẽ ngày mai, chàng nghĩ,
ta sẽ không cần ăn xin nữa.
Bỗng
chốc chàng cảm thấy tràn ngập một niềm kiêu hãnh. Chàng
không còn là một Sa Môn: thật cũng không nên ăn xin nữa.
Chàng quăng cho chó mảnh bánh cốm và nhịn ăn.
Đời
sống ở đây thật là đơn giản, Tất Đạt nghĩ. Không có
gì là khó khăn cả. Mọi sự đều là khó khăn, vô vọng khi
ta là một Sa Môn. Bây giờ thì tất cả đều dễ dàng, đễ
dàng như cái hôn mà Kiều Lan dạy. Ta chỉ còn cần quần áo
và tiền bạc. Đó là những mục đích dễ dàng không làm
ai mất ngủ.
Hôm
sau chàng trở lại nơi Kiều Lan ở để thăm nàng. Nàng bảo:
- Mọi
sự đều tốt đẹp. Vạn Mỹ mời anh đến thăm ông ta. Ông
ta là thương gia giàu có nhất trong thành phố. Nếu anh vừa
ý ông ấy, ổng sẽ nhận anh giúp việc. Hãy khôn ngoan lên,
vị Sa Môn áo nâu ơi! Và hãy thân mật với ông ấy: ông ta
rất quyền thế, nhưng anh đừng nên quá nhún mình. Tôi không
muốn anh là người tôi tớ của hắn ta, mà là người ngang
hàng, nếu trái lại tôi sẽ bất bình về anh. Vạn Mỹ bắt
đầu già và lười biếng. Nếu anh làm cho ổng vừa lòng,
ổng sẽ rất tin cậy anh.
Tất
Đạt cám ơn nàng và cười, và khi biết chàng đã đói từ
hai hôm nay, nàng ra lệnh lấy bánh và trái cây cho chàng. Nàng
bảo chàng khi sắp từ giã:
- Anh
may mắn đó. Hết cánh cửa này lại đến cánh cửa khác mở
ra cho anh. Sao mà may mắn thế! Anh có bùa chú gì chăng?
Tất
Đạt trả lời:
- Hôm
qua tôi đã nói với nàng rằng tôi biết suy tư, chờ đợi
và nhịn đói, nhưng nàng không cho đó là hữu ích. Rồi nàng
sẽ thấy chúng rất hữu ích, Kiều Lan ạ. Nàng sẽ thấy
những Sa Môn khờ dại ở trong rừng biết được rất nhiều
điều hữu ích. Hôm kia tôi hãy còn là một khất sĩ lôi thôi,
hôm qua tôi đã được hôn nàng, và bây giờ tôi sắp sửa
là một thương gia có tiền, có tất cả những gì mà nàng
yêu chuộng.
- Phải
đó, -- nàng biểu đồng tình, -- nhưng anh sẽ làm gì nếu
không có tôi? Anh sẽ ra sao nếu Kiều Lan không giúp anh?
- Kiều
Lan thân mến ơi, khi tôi đến khu rừng của nàng, tôi đã
đi bước đầu. Ý hướng của tôi là học về tình yêu từ
nơi người đàn bà đẹp nhất. Ngay khi tôi đưa ra quyết định
ấy, tôi biết chắc tôi sẽ thực hiện nó. Tôi biết nàng
sẽ giúp tôi, biết từ cái nhìn đầu tiên của nàng khi tôi
mới đến.
- Và
nếu tôi không muốn?
- Nhưng
nàng đã muốn, Kiều Lan hãy nghe này, khi nàng ném một viên
đá trong nước, nó tìm con đường nhanh nhất để rơi xuống
đáy. Cũng thế, khi Tất Đạt có một mục đích. Nó không
làm gì cả: nó chờ đợi, suy tư và nhịn đói; và khi làm
những công việc thế tục nó cũng giống như hòn đá rơi
trong nước, nó không làm gì, không khuấy động gì, mà tự
để mình rơi. Tất Đạt bị lôi cuốn bởi mục đích của
chính mình, vì nó không cho phép một điều gì chống lại
mục đích đó len vào trong trí óc. Đó là điều mà Tất Đạt
đã học từ các vị Sa Môn. Đó là điều mà những kẻ phàm
phu cho là phép lạ và do quỉ thần sai khiến. Không có gì
do quỉ thần cả, và cũng không có quỉ thần. Mọi người
đều có thể thực hiện phép màu, mọi người đều có thể
đạt đến mục đích nếu họ biết suy tư, chờ đợi và
nhịn đói.
Kiều
Lan lắng nghe chàng nói. Nàng yêu giọng nói ấy, yêu cái nhìn
ấy. Nàng dịu dàng bảo:
- Có
lẽ như anh nói, nhưng cũng có lẽ chính vì Tất Đạt là một
chàng trai khôi ngô, vì cái nhìn của chàng thu phục được
đàn bà, nên chàng mới may mắn như thế.
Tất
Đạt hôn nàng từ giã.
- Tôi
cầu mong được như vậy, hỡi người đã dạy cho tôi. Cầu
mong cái nhìn của tôi mãi mãi làm đẹp lòng nàng, cầu mong
sự may mắn sẽ mãi mãi đến với tôi từ nơi nàng!
WP:
Dannyviet