Thức
Tỉnh
Khi
Tất Đạt từ giã khu rừng trong đó đức Phật, đấng Toàn
Thiện ở lại, và bạn chàng cũng ở lại theo Ngài, chàng
có cảm tưởng rằng chàng vừa từ bỏ một tiền kiếp lại
sau lưng, trong cụm rừng. Khi chàng từ từ bước trên đường,
đầu chàng nghĩ liên miên về những điều ấy.
Chàng
nhận ra rằng chàng không còn là một người con trai nữa,
bây giờ chàng là một người đàn ông. Chàng trực nhận rằng
một cái gì đó đã bỏ chàng, như một con rắn vừa thay vỏ.
Một cái gì đó không còn ở trong chàng nữa, một cái gì
đã theo chàng từ tấm bé và đã là một phần của người
chàng: lòng ham muốn có bổn sư và được nghe những lời
chỉ giáo. Chàng đã từ giã bậc thầy cuối cùng chàng gặp,
cả đến vị thầy cao cả nhất, khôn ngoan nhất, thánh thiện
nhất: đức Phật. Chàng phải từ giã Ngài, chàng không thể
chấp nhận lời chỉ giáo của Ngài.
Con
người suy tư ấy tiến bước chậm rãi và tự hỏi: ta muốn
học cái gì từ những lời dạy và thầy học, và mặc dù
họ dạy ta rất nhiều, cái gì họ không thể dạy cho ta? Và
chàng nghĩ: chính là Tự ngã, đặc tính và bản chất của
nó mà ta muốn biết. Ta muốn thoát khỏi Tự ngã, nhiếp phục
nó nhưng ta không thể, ta chỉ có thề lừa dối nó, trốn
thoát nó, lẩn tránh nó. Quả thế, không gì trong vũ trụ xâm
chiếm tư tưởng ta nhiều như Tự ngã, bài toán khó giải
ấy, vấn đề tôi tồn tại, tôi là một và tách rời khác
hẳn bao kẻ khác, rằng tôi là Tất Đạt . . . thật không
có gì trong vũ trụ mà tôi biết ít hơn là về chính tôi.
Đang
đi chậm rãi trên đường, chàng bỗng đứng dừng lại, ý
nghĩ vừa rồi đập mạnh vào trí chàng, và một ý nghĩ khác
theo sau. Ấy là: lý do vì sao tôi không biết gì về tôi, lý
do vì sao Tất Đạt đã vẫn xa lạ, lạc loài đối với chính
mình chỉ do từ một điểm, một điểm độc nhất – là
tôi sợ hãi chính tôi, tôi đang trốn chạy tôi. Tôi đang tìm
kiếm Đại ngã Tiểu ngã, tôi muốn tự huỷ mình, ra khỏi
chính mình, để mà tìm trong khu vực thâm cùng xa lạ cái nhân
của mọi pháp, linh hồn, sự sống, sự thiêng liêng, sự tuyệt
đối. Nhưng khi làm thế, tôi tự đánh mất chính tôi.
Tất
Đạt nhìn lên quanh chàng, nụ cười thoáng nở trên mặt.
Một cảm giác tỉnh thức từ giấc trường mộng chạy khắp
người chàng. Chàng lại tiếp tục bước, nhanh nhẹn, như
một người vừa biết mình phải làm gì.
Chàng
thở mạnh và suy nghĩ: phải, ta sẽ thôi trốn chạy bản thân
ta, ta sẽ thôi nghĩ về Tiểu ngã và những nỗi buồn nhân
thế. Ta sẽ thôi huỷ hoại thân này để đi tìm một màu
nhiệm nào đằng sau sự huỷ diệt. Ta sẽ thôi học khổ hạnh
hay bất cứ giáo lý nào khác. Ta sẽ học chính ta, là người
học trò của chính ta; ta sẽ học ngay trong ta cái màu nhiệm
của Tất Đạt.
Chàng
nhìn quanh như mới thấy vũ trụ lần đầu. Thiên nhiên đẹp
hẳn lên, kỳ lạ nhiệm màu. Đây là màu xanh, đây là màu
vàng, đây là màu lục, trời và nước, cây và rừng, tất
cả đều đẹp, tất cả đều huyền bí và quyến rũ và giữa
tất cả các cái đó, chàng, Tất Đạt, kẻ vừa giác ngộ,
đang tự tìm mình. Tất cả sự vật, tất cả sắc xanh hay
vàng, dòng sông hay rừng cây lần đầu tiên diễn ra dưới
mắt Tất Đạt. Chúng không còn là phép lạ của thần Mara,
chúng không còn là bức màn huyễn hoá, không còn là những
bề ngoài vô nghĩa mà các người Bà La Môn khinh bỉ. Dòng
sông là dòng sông, và nếu có cái Nhất thể thiêng liêng trong
Tất Đạt đang sống tiềm tàng trong màu xanh kia và dòng sông
nọ, thì đấy chính là sự hiện hữu của sắc màu, trời
và rừng cây, và Tất Đạt. Ý nghĩa và thực tại không ẩn
núp đằng sau sự vật, mà trong sự vật, trong mọi sự vật.
Chàng
đi nhanh hơn và suy nghĩ, ta thật là ngu và điếc. Khi một
người đọc một bài để học thuộc, nó không khinh thường
những từ ngữ và dấu chấm câu trong bài, không xem chúng
là ảo tưởng, tình cờ, chỉ là những cái vỏ vô vị, mà
trái lại, đọc chúng, học và thích từng chữ. Còn ta thích
đọc quyển sách vũ trụ và sách bản thân ta, mà lại đi
khinh thường những chữ và dấu hiệu. Ta gọi thế giới hiện
tượng này là ảo ảnh, ta gọi mắt và lưỡi là sự tình
cờ. Bây giờ đã hết: ta đã tỉnh thức. Ta đã giác ngộ
và chỉ mới sinh ra ngày hôm nay.
Nhưng
khi những tư tưởng đó đi qua đầu Tất Đạt, chàng bỗng
đứng lặng yên, như có một con rắn đang nằm chắn đường.
Rồi bỗng nhiên điều này khai thị trong chàng: chàng, mà quả
thật là một người vừa mới giác ngộ hay vừa sinh ra, phải
bắt đầu cuộc đời lại từ khởi thuỷ. Khi chàng rời vườn
Lộc Uyển sáng nay, khu vườn của bậc Toàn Giác, chàng có
ý định trở về với phụ thân, với quê hương sau những
năm dài khổ hạnh. Bây giờ khi đứng im lìm giữa đường,
ý nghĩ này đến với chàng: ta không còn là ta thuở trước,
một người khổ hạnh, một ông thầy tu, một người Bà La
Môn. Ta sẽ làm gì? Ở nhà với phụ thân ư? Học ư? Cúng
tế ư? Ngồi thiền ư? Tất cả điều ấy đối với ta đã
hết rồi.
Tất
Đạt đứng bất động, và trong lúc ấy chàng cảm thấy lạnh
cả người. Tim chàng run lên, như một con vật nhỏ, một con
chim hay một con thỏ, khi nhận ra rằng chàng quá cô đơn. Chàng
đã sống kiếp không nhà từ nhiều năm mà không cảm thấy
như vậy. Nhưng giờ đây chàng lại có cảm giác ấy. Trước
kia, trong những giờ trầm tư miệt mài nhất, chàng vẫn còn
là con của phụ thân, là một người Bà La Môn thượng lưu,
một người ngoan đạo. Bây giờ chàng chỉ là Tất Đạt,
người thức tỉnh; ngoài ra không còn là gì nữa. Chàng hít
vào một hơi dài và rùng mình trong một lúc. Không ai cô đơn
như chàng. Chàng không còn là người quý phái, thuộc một
dòng họ quyền quí nào. Chàng không là người Bà La Môn, sống
cuộc đời Bà La Môn, không là một người thuộc dòng Sa Môn
khổ hạnh. Đến cả kẻ ẩn tu trong rừng vắng cũng không
cô đơn, vì kẻ ấy thuộc vào một hạng người. Thiện Hữu
đã trở thành một tu sĩ và có hàng trăm tu sĩ huynh đệ của
chàng cùng mặc một loại áo, cùng thuộc một tín ngưỡng
và nói cùng một ngôn ngữ. Mà chàng, Tất Đạt, chàng thuộc
về đâu? Chàng sống theo đời ai? Chàng dùng ngôn ngữ ai?
Trong
lúc đó, lúc vũ trụ quanh chàng tan rã, lúc chàng đứng cô
đơn như một ngôi sao trên nền trời, lòng chàng tràn ngập
một cảm giác thất vọng tái tê, nhưng chàng cũng cương quyết
hơn bao giờ. Đó là sự run rẩy cuối cùng trước khi tỉnh
thức, những đau đớn cuối cùng của sự thoát hình. Lập
tức, chàng tiếp tục đi, và bắt đầu bước nhanh hối hả,
không hướng về quê nhà, không trở lại thân phụ, không
nhìn lui nữa.
WP:
Dannyviet