51.
HÒA THƯỢNG HẢI ẤN TÍN
Hòa
thượng hải Ấn Tín nối pháp ngài Lang Gia, người Quế Phủ,
trụ chùa Ðịnh Huệ ở Tô Châu tuổi hơn tám mươi. Ngày
thường được Chu Phòng Ngữ cúng dường, Sư cũng hay đến
nhà này. Một hôm họ Chu hỏi:
- Hòa
thượng đời sau có thể thác sanh trong nhà đệ tử chăng?
Sư
cười nhẹ bằng lòng, rồi trở về chùa mắc bệnh mấy ngày
mà chết. Hôm chôn cất, nhà họ Chu Sanh được một cô con
gái. Thiền sư Viên Chiếu bổn khi đó ở Thụy Quang nghe được
việc này bèn đến thăm. Cô bé vừa đầy tháng được ẵm
ra, vừa thấy Ngài liền cười. Viên Chiếu nói:
- Hải
Ấn! Ông lầm rồi. Cô bé khóc mấy tiếng rồi chết.
52.
THIỀN SƯ QUY TÔNG TUYÊN
Thiền
Sư Quy Tông Tuyên, người Hán Châu, nối pháp Ngài Lang Gia Quảng
Chiếu kết thân với Quách Công Phủ. Chợt một hôm có quan
trấn thủ Nam Khang đến, Sư sai người đem thơ cho Công Phủ
lại dặn người đưa thơ chớ cho quan huyện trông thấy. Công
Phủ đọc thơ thấy ủy thác rằng:
- Tôi
còn sáu năm duyên đời chưa hết, hôm nay không chịu nổi
áp bức muốn thác sanh vào nhà ông, mong ông chiếu cố cho.
Công
Phủ vừa sợ vừa mừng, nửa đêm bà vợ mơ màng thấy Sư
vào trong phòng ngủ, bất giác thất thanh nói:
- Ðây
không phải là chỗ Hòa thượng đến.
Công
Phủ hỏi duyên cớ, bà vợ kể lại. Công Phủ sai đốt đền,
lấy thơ của Sư cho coi. Quả nhiên sau bà vợ có thai sanh con
đặt là Tuyên Quang. Vừa đầy năm đã nhớ hỏi chuyện trước.
Ðến
ba tuổi, Hòa thượng Bạch Vân Ðoan đi qua nhà này, Công Phủ
kêu con ra tương kiến, vừa thấy kêu lên:
- Sư
Ðiệt! (cháu).
Hòa
thượng Ðoan nói:
- Cùng
Hòa thượng từ biệt nhau đã mấy năm rồi?
Tuyên
co ngón tay nói:
- Bốn
năm.
Hòa
thượng Ðoan nói:
- Tương
biệt tại đâu?
- Tại
Bạch Liên Trang.
- Lấy
gì để chứng nghiệm?
- Cha
mẹ tôi ngày mai sẽ mời Hòa thượng thọ trai.
Chợt
có tiếng đẩy xe qua ngoài cửa. Hòa thượng Ðoan nói:
- Tiếng
gì ngoài cửa vậy?
Tuyên
làm thế đẩy xe. Hòa thượng Ðoan nói:
- Qua
thế nào?
- Ðất
bằng có một rãnh nước.
Ðến
sáu tuổi không bệnh mà chết.
53.
TĂNG DẠ ÐÀI
Tăng
Dạ Ðài người đất Tây Thục. Thuở bé, Sư học thuật nhịn
ăn. Sau gặp sư Ðại Trí ở núi Nga Mi, xin xuất gia, thọ giới.
Rồi từ biệt thầy, đến với ngài Phục Ngưu ở núi Chung
nam. Về sau Sư xuống núi Ngũ Ðài, ngày ngày thường chỉ
uống nước, ngồi tĩnh tọa, ban đêm thì đi quanh Ðài Sơn.
Người ta nhân đó gọi Sư là Dạ Ðài. Chu vi Ngũ Ðài khoảng
500 dặm, nổi tiếng gió mạnh, đá lớn, lừa ngựa bị thổi
bay như quét là. Sư đi, áo mũ tung rơi, tay cầm gậy sắt,
cứ gặp gió thì ngừng, hết gió lại đi. Có lúc trời tối
mịt, Sư bị rơi xuống hố, gậy sắt cong vòng mà Sư chẳng
sao hết. Gặp cọp, Sư đến trước nó nạp mình, nói:
- Ngươi
ăn thịt ta, tức là cùng ta kết mối duyên nhỏ.
Gặp
bọn cướp núi, Sư động gậy xuống đất, tiếng gậy vang
dội. Bọn cướp kinh hãi bỏ chạy, la lớn:
- Bị
Sư Dạ Ðài nhiếp phục!
Chúng
chẳng dám động đến Sư. Có hôm tuyết lớn rơi đầy núi,
mọi người vác xẻng đi kiếm; thấy Sư bị tuyết chôn đến
thắt lưng, rét cứng. Họ khiêng Sư về hơ lửa, tắm nước
nóng, chập lâu Sư mới hồi tỉnh. Vậy mà vẫn tiếp tục
đi đêm như cũ. Sư thường gặp ánh đèn, lửa rừng, mãnh
thú, quỷ quái trong đêm. Cũng có khi gặp được Văn Thù,
hoặc hiện hình Tỳ kheo già, hoặc hiện làm phụ nữ đẹp
ôm đứa con mới sinh còn trần truồng, chốc lát biến mất.
Sư đi như thế đến hơn hai mươi năm.
Năm
Quý Mão, Sư đến kinh đô. Thái hậu Từ Thánh ban cho Sư bình
bát, tích trượng và một bộ Tử Lang Ca Sa, Sư bèn đến chùa
Tháp Viện, lập hội Thiên Bàn (ngàn mâm) rồi đến chùa Long
Tuyền lập hội Long Hoa bốn mươi chín ngày. Sau đến núi
Ngũ Ðài, Nga Mi đúc một chuông u minh nặng một vạn ba ngàn
cân, lại đến núi Phổ Ðà, Nga Mi thỉnh hai bộ Tạng kinh;
đến núi Cửu Hoa lập đạo tràng Thủy Lục. Bao nhiêu tiền
gạo còn dư, Sư đem phân phát cho các tịnh thất và những
vị tăng nghèo, không hề bỏ túi riêng một mảy may. Cho nên
tăng tục hết lòng tin cậy. Sau Sư trở lại bốn danh sơn
lớn, tinh thần mỏi mệt. Từ đất Thục đến Quảng Lăng,
Sư nhuốm bệnh. Có một đạo nhân chặt ngón tay nấu cháo
cho Sư dùng, ý mong cầu Sư lành bệnh. Sư mắng ràng:
- Ngươi
xuất thế, sao lại học theo thói đàn bà. Hạn ta đã gần
đến rồi.
Khỏi
bệnh, Sư mua một chiếc thuyền lớn bày tượng Thủy Lục
miệng phun lửa không ngớt.
Tháng
mười, năm Canh Tuất, từ Thông Châu dong thuyền ra biển. Ði
ngang Phước Sơn, Sư vui vẻ muốn dừng lại. Sư giải tán
đệ tử, chỉ giữ lại một đạo nhân già theo, rồi lên
thuyền. Có hai người khách buôn ở Tấn An xin đi nhờ. Sư
nói:
- Người
này có duyên.
Bèn
bằng lòng cho đi. Thuyền giưong buồm đi thật nhanh. Chợt
Sư hỏi:
- Trưa
chưa?
- Trưa
rồi!
Sư
sai làm cơm cho hai người khách cùng ăn. Họ lấy tiền cúng
dường Sư, nhân đó lễ mười phương chư Phật, Sư nói:
- Ta
muốn vào biển!
Mọi
người kinh hãi thưa:
- Nay
đã ở trong biển rồi, còn muốn vào đâu nữa?
Sư
nói:
- Ta
nghe bậc Bồ Tát giải thoát, khi tịch dặn các đệ tử chia
thân làm ba phần: Một cho loài cầm thú, một cho tôm cá và
một cho kiến trùng. Nay ta cũng thế.
Mọi
người khóc lóc níu lại. Sư lấy một tờ giấy đưa cho khách,
đó là lời của Bồ Tát giải thoát. Chúng vẫn buồn bã níu
giữ không buông. Sư nói:
- Các
ông hãy vì ta mà lễ Phật.
Mọi
người liền cúi lạy, Sư nhảy xuống biển. Họ định lấy
buồm, vớt Sư. Ngồi ngay sóng nước, Sư vẫy tay nói:
- Cất
buồm đi! Các ông thua ta rồi!
Phút
chốc, có một đám sương trắng vàng bao phủ quanh Sư, rồi
cuốn đi. Ðó là ngày 25 tháng 10 năm Canh Tuất (1610) niên hiệu
Vạn Lịch 38. Vị đạo nhân già trở về thuật lại. Hoa Ðình
Trần Mi Công bèn ghi chép lại chuyện này.
54.
TĂNG THU NGUYỆT
Thu
Nguyệt là một vị sư già ở núi Huyền Cơ, Tô Châu. Sư tinh
thông giới luật, lễ tụng chuyên cần, lấy uống trà làm
Phật sự. Ai đi qua Huyền Cơ cũng đều ghé thăm Sư. Nhưng
nếu không phải người cao nhã thì Sư chẳng tiếp, gặp mặt
cũng chẳng mời trà nước.
Lúc
ấy, đang có giảng tịch của Ngài Thiên Kỳ, người bốn
phương rầm rộ kéo đến. Sư vẫn điềm nhiên như không hề
hay biết. Có người khuyên Sư nên tùy hỷ ra một lần, Sư
chỉ cười chẳng đáp.
Niên
hiệu Thiên Khải cải nguyên (1612), Sư từ biệt bạn đạo
trong núi, sáng sớm đi thuyền đến bể Liên Hoa ở Nam Hải,
hốt nhiên đến đầu thuyền lễ bái, lớn tiếng niệm Phật
rồi nhảy ùm xuống nước. Mọi người vội níu lại nhưng
chẳng kịp. Sóng gió nổi lên rất mạnh, Sư nhấp nhô trên
sóng, vẫn chắp tay niệm Phật. Tiếng Sư xa dần rồi mất
hẳn.
Dạ
Ðài khắp bốn núi lớn, vết chân in khắp nước. Thu Nguyệt
tĩnh lặng đóng cửa thất, chẳng màng đến việc bên ngoài.
Ðạ Ðài rộng tu phước nghiệp, Thu Nguyệt một việc cũng
không làm. Hai Ngài bình sinh trái nhau như thế, đến lúc cuối
lại giống hệt nhau. Dạ Ðài giấu cái tĩnh trong động. Thu
Nguyệt gởi cái động trong tĩnh. Dấu vết động tĩnh của
hai vị thoát khỏi mé sanh tử không mảy may chướng ngại.
Tâm hai vị thật không thể so sánh ai hơn ai kém vậy.
55.
THIỀN SƯ GIÁC TÔNG
Thiền
sư Giác Tông, tự là Ðạo Huyền, biệt hiệu Tùng Khê, họ
Nam quê ở Phù Phong. Nhà theo nghiệp Nho, mẹ họ Trần, kính
tin Phật pháp. Cứ đầu năm, bà đến chùa Pháp Môn cúng dường
trai tăng cho đại chúng. Một hôm ngủ trưa, bà mộng thấy
Thản Công chùa Pháp Môn trao cho một tượng ngọc cao gần
một tấc, bà nhận lấy rồi nuốt vào bụng. Tỉnh dậy, biết
mình có thai, bà báo cho chồng hay. Chồng bà sai người đến
chùa thăm dò, biết được Thản Công chết đúng ngày ấy.
Hai vợ chồng liền dặn nhau:
"Nếu
được con trai, sẽ cho cho xuất gia thờ Phật". Ðến ngày
sanh, phòng bà có ánh sáng, trên hư không có tiéng Phạn âm,
ai nghe cũng lạ lùng. Sư lúc còn bé đã không ăn mặn, không
ưa đùa giỡn, chỉ thích ngồi thiền chỗ vắng. Cha mẹ biết
rằng Sư không quên nhân cũ, bèn theo lời hứa cho vào chùa.
Gặp
lúc quân Mông Cổ xâm lăng, cha con không bảo bọc nhau được.
Sư bị bắt ở Vũ Xuyên, và bị đưa vào hầu hạ Quận chúa
của quan Thái phó. Sư cẩn thận khác những người hầu khác,
quan Thái phó thấy lạ, hứa cho xuất gia. Sư bèn đến chùa
Thanh Sơn ở Quy Xuyên, cạo tóc với ngài Lâm Pháp Sư, nhân
đó Sư khóc nói:
- Cha
mẹ yên lòng, nay con đã được xuất gia rồi.
Chưa
đến ba năm, Sư thông suốt các kinh. Sư theo ngài Anh Công ở
Vũ Xuyên nghe sớ kinh Hoa Nghiêm, trong năm năm thông suốt chỗ
uẩn áo, thâm nhập biển Hoa Tạng, tung hoành không ngại, là
bậc long tượng dưới tòa. Sư không hề rời thầy, do đó
danh tiếng vang xa. Nhưng Sư vẫn tự cho mình ăn chưa đến
lúc no, nên đến chỗ ngài Thánh Nhơn. Thánh Nhơn là bậc cự
phách trong nhà Thiền, thấy Sư liền hỏi:
- Nghe
ông rành Hoa Nghiêm, sao không giảng kinh độ sanh, đến đây
làm gì?
Sư
thưa:
- Sanh
tử là việc lớn.
Thánh
Nhơn nói:
Từ
ngày rõ nẻo Tào Khê ấy,
Mới
hay sống chết chẳng tương can.
(Tự
tùng thức đắc Tào Khê lộ,
Liễu
tri sanh tử bất tương quan).
Ông
hiểu thế nào?
Sư
suy nghĩ, Thánh Nhơn hét, Sư đi ra. Thánh nhơn kêu lại:
- Thượng
tọa!
Sư
quay đầu nhìn. Thánh Nhơn nói:
- Rõ
ràng nhận lấy!
Sư
lãnh hội được ý chỉ này. Ngày hôm sau, Sư lên phương trượng
thưa:
- Hôm
qua được Hòa thượng hét một tiếng, con có chỗ thấy.
Thánh
Nhơn nói:
- Thử
đưa ra xem!
Sư
phất ray áo đi ra. Thánh Nhơn cười mà chấp nhận.
Nguyên
Hiến Tông năm đầu (1251); Phan Sơn sai người đưa thơ đến
mời ngài Thánh Nhơn làm chủ pháp tịch Linh Sơn. Thánh Nhơn
bảo:
- Không
bằng Giác Tông!
Sau
Sư vâng lời, lúc ra đi làm bài kệ:
Mười
năm chí như sắt,
Cổng
huyền đều thấu suốt
Nhảy
khỏi rừng góc gai
Ðạp
bể trang đầm vắng
Khéo
hướng trên đỉnh cô phong
Linh
quang riêng chiếu không thời tiết.
(Thập
tải chí như thiết
Huyền
quan giai thấu triệt
Khiêu
xuất kinh cức lâm
Ðạp
phá trừng đàm nguyệt
Hảo
hướng cô phong đảnh thượng hành
Linh
quang độc điệu vô thời tiết).
Sư
lên tòa thuyết pháp trong khoảng mười năm, chúng có hơn vài
ngàn. Cõi Phật rộng mở, vàng ngọc sáng ngời, chiếu soi
đá suối, tòng lâm đầy đủ tiện nghi. Linh Sơn hưng thạnh
một thời không kém những ngôi chùa lớn.
Niên
hiệu Chí Nguyên năm thứ tư (1280), ngài Văn Công trụ trì
chùa Long Tuyền ở Ðàm Giá, lui về ẩn ở Tây Ðường. Sư
được bổ nhậm thay thế, pháp tịch cũng thịnh như ở Linh
Sơn. Sư chấn chỉnh nghiêm túc, vào chúng rất nghiêm trang,
ai thấy cũng đem lòng kính sợ. Môn đình của Sư cao vút,
không bao giờ chấp nhận cho người mới hợp một lời, khế
một cơ; trái lại xem xét kỹ lưỡng, rõ ràng không còn ngờ
vực sau mới chịu. Nên hàng nạp tử thấy vách đứng mà
thối lui cũng nhiều.
Cũng
năm ấy, Sư ngồi tịch. Tháp ở Ðàm Giá.
56.
TĂNG ÐỒNG TÂN
Ðồng
Tân tự là Trọng Ích, biệt hiệu Nguyệt Tuyền, họ Quách
quê ở Phòng Sơn, Yến Ðô. Sư thế phát với Kiên Công ở
An Sơn, thường làm việc khổ nhọc để phụng sự đại chúng.
Ban ngày làm việc, ban đêm tụng kinh, sự thông minh trí tuệ
của Sư phát triển mau lẹ. Sư muốn đi tham học các nơi,
bèn hỏi ý kiến của Ðồng Hành, Ðồng Hành cười nhạo,
Sư bực mình viết một bài kệ dán lên vách rồi bỏ đi:
Ðại
trượng phu chí khí ngất trời
Ngòi
rãnh tầm thường há phải nơi
Tay
nắm xuy mao ba thước kiếm
Hàm
rồng, châu nọ đoạt như chơi.
(Khí
trụ xung thiên đại trượng phu
Tầm
thường câu độc khởi năng bào
Thủ
đề tam xích xuy ma kiếm
Trực
thủ ly long lãnh hạ châu).
Sư
đến yết kiến ngài Phương Công ở Thanh An, Phương Công hỏi:
- Muốn
đi ngàn dặm, một bước làm đầu. Thế nào là bước đầu
tiên?
Sư
chắp tay bước tới. Phương Công nói:
- Quả
thật gót chân không chấm đất!
Sư
phất tay áo, đi ra. Lại đến yết kiến Cảo Công ở Ðại
Minh. Dưới cây trụ trượng, Sư phát tiết được nhiều vốn
riêng. Cuối cùng vẫn cho trong ngực còn có chỗ ngại chưa
bạch, Sư nuốn trở lại Thanh An, nhưng Cảo Công bảo không
sao và dạy cứ mài dũa nhồi nặn. Thêm ba năm, Sư mới được
rỗng rang. Ẩn dấu chưa lâu, các bậc kỳ túc lại ủng hộ
Sư đưa về An Sơn. Thiền sư Giản ở Hải Vân nhận Sư vào
làm Thủ chúng. Luận Công ở Long Tuyền hướng dẫn người
đến quy y. Sư vừa cất tiếng, muôn người hoan hô. Vua Ðại
Nguyên ngự đến, phân chúng của Sư thành tám nhóm, cử Sư
làm chủ chùa Linh Nham ở Trai Nam. Lúc ấy, người khắp nơi
kéo đến, Sư không cho họ toàn là người đạo đức, phân
biệt rõ hiền ngu. Do đó, miệng tiếng dèm pha. Sư bỏ về
An Sơn, nhưng mọi người không chịu, giữ lại. Sư nhớ đến
kinh thành gặp nạn binh lửa, tạng kinh hư hao, người học
không xem được đầy đủ, cho nên Sư tốn bao nhiêu là y bát,
đề xướng kiếm người cùng chí hướng, đích thân đến
Giang nam tìm thỉnh. Trải qua bao năm, chịu đủ nóng lạnh,
gian nan khốn khó, mới được toàn văn dem về. Sư chạy ngược
xuôi, xa gần, đến đâu cũng được người thấy nghe tùy
hỹ. Thật là Bạch Mã không cánh ở phương Tây lại vậy.
Ở Sơn Ðông, mọi người nói với quan Ðề Hình là Na Luật
Công, dùng lễ Tổ mà đón Sư.
Sau
Sư đến viện Quan Âm ở Trai Nam kiết hạ, rồi lâm bệnh,
bèn kêu thị giả lại truyền pháp yếu, nói kệ:
Ôi!
Ðãy da ngố
Ngu
ngơ tương ưng
Chẳng
biết khéo léo
Tư
tưởng quên luôn
Ðến
không chỗ theo,
Ði
cũng không chốn
Sáu
đục rỗng rang
Bốn
đẽo mênh mang
(Ðốt!
Hàm bì đại
Ngột
để tương ưng
Kỹ
lưỡng bất giải
Tư
tưởng toàn vong
Lai
vô sở tùng
Khứ
diệc vô phương
Lục
tạc không không
Tứ
đạc hoàng hoàng)
Lại
nói:
- Cái
này không còn một chút ngại.
Im
lặng giây lâu, Sư nói:
- Buông
tay mà đi, mây trời mênh mông.
Kệ
xong, nghiễm nhiên mà tịch, thọ 66 tuổi, 45 tuổi hạ. tánh
tình Sư khoáng đạt, đạo nhân sáng trong, tiếp vận có cơ
biến, Sư sở trường về thi văn, giỏi đàm luận. Phất tràn
vừa đưa lên, thính chúng ngồi nghe mê mải, suốt ngày không
chán, Sư lại hay biện luận khôi hài mà người không dám
dể duôi xúc phạm. Nối pháp Sư là Tuyết Ðậu. Lúc trà tỳ
hàng vạn người đưa, hương hoa rải nghẹt lối đi. Nếu
không có sự hóa độ sâu xa vào lòng người, há được như
thế. Sư thật là một nạp tử anh hùng của một thời.
57.
THIỀN SƯ NGỌC TUYỀN
Thiền
sư Tông Liễn, người quê Thạch Chiếu, Hạp Châu, họ Ðổng.
Lúc nhỏ, có vị tăng đi ngang qua nhà, thấy Sư mặt mũi sáng
sủa, bèn chỉ ngọn đèn hỏi thử rằng:
- Ðèn
chiếu con hay con chiếu đèn?
Sưnói:
- Ðèn
không chiếu con, con cũng chẳng soi đèn. Ở giữa không một
vật, hai bên thấy công năng.
Tăng
lấy làm lạ, khuyên nên đi tham phỏng các nơi. Sư trải qua
khắp các pháp tịch, sau đến Nguyệt Am Quả Công, nghe một
câu biết đường về.
Sư
khai pháp ở Ngọc Tuyền, treo bảng thất là "Cùng Cốc". Lưu
Kỷ làm quan trấn ở Hình Nam, đến phỏng vấn Sư ý nghĩa
của tên này. Sư nói:
- Tâm
hết là "cùng", tánh ngừng là "cốc". Tùy vang ứng tiếng,
chẳng vội mà nhanh.
Cơ
biện ứng đáp của Sư đại loại như thế, so với với Hạo
Công chẳng kém. Sư thường nói:
- Việc
này chẳng thuộc có lời hay không lời, chẳng ngại nói hay
nín. Người xưa nói một lời, nửa câu đều như binh khí
quốc gia, bất đắc dĩ mới dùng. Nói ngang nói dọc đều
cốt mong người vào được đạo, kỳ thực đạo không ở
trên chương cú. Người đời nay chẳng thể thẳng một đường
mà chứng suốt cội nguồn, chỉ toàn dùng nói năng, chữ nghĩa
mà cho là đến được đạo. Ðó giống như Trịnh Châu ra
cửa của Tào. Theo như dưới hội của bậc Tông sư, thì đến
đâu cũng lấy sự hành cước làm chính. Hễ có chỗ nghi,
liền đối trước chúng mà quyết trạch, ngay dưới một câu
thấy được rõ ràng. Vì tông Phật Tổ chỉ thẳng chẳng
truyền, cùng các loài hữu tình mãi mãi đời sau, đồng đắc
đồng chứng. Nếu chưa phải là chỗ bạc đầu, há mở suông
hai miếng da môi ra nói Hồ nói Hán sao? ...
Sư
khai thị như thế cũng đích đáng rõ ràng, tạo khí thế cho
người. Chưa rõ cuối đời Sư thế nào!
58.
HÒA THƯỢNG HÀ TỬ
Hòa
thượng Hà tử (Tôm) tên Trí Nghiễm ở chùa Tĩnh Am, Hoa Ðình.
Ngày rằm tháng Bảy, ngoài làng tổ chức lễ Vu Lan. Tăng chúng
trong chùa được thỉnh đi gần hết, chỉ còn Sư ở lại
chùa. Có cháu của thôn trưởng đến mời tăng, mà không có
ai để mời, muốn kéo Sư đi, Sư bảo:
- Hãy
về trước sắp đặt, ta sẽ đến sau.
Rồi
lên thuyền đi. Giữa đường thấy người câu tôm. Sư bảo
ghé lại mua một đấu, đòi nước mà ăn sống. Sư nuốt trọng
không nhai. Ăn xong, bảo người bán tôm rằng:
- Ta
đi dự đám, lúc về sẽ trả ông tiền.
Và
hối chủ thuyền chèo mau kẻo trễ. Ðến làng, chủ thuyền
nhịn không nổi, kể lại cho mọi người nghe. Chủ đám nghe
được, khinh bỉ không mời ngồi mâm trên, trải chiếu xuống
đất, có cơm mà không cúng dường để làm nhục. Sư vẫn
tỉnh tuồng, vui vẻ nạp thọ. Lúc về, gặp người câu tôm,
Sư cười nói:
- Xui
quá! Hôm nay dự trai không có tiền, biết tính sao đây?
Người
câu nói:
- Không
tiền thì trả tôm lại cho tôi!
Sư
đáp:
- Việc
này dễ thôi!
Rồi
đòi nước uống, mửa ra tôm sống đầy một đấu, đem trả
lại. Mọi người lấy làm lạ, nhân đó gọi Hòa thượng
Hà Tử.
Ðời
Sư nhiều chuyện ly kỳ, những người ở bờ sông thường
truyền tụng. Ðến lúc sắp tịch, Sư lượm cỏ bồ kết
thành xâu hơn vạn dây, treo ở hiên nhà, nói với mọi người:
- Ta
muốn gieo duyên với quí vị.
Bèn
ngồi tịch. Mọi người tranh nhau đến cúng tiền, đầy hết
các dây treo. Tiền này được dùng để xây dựng Phật Các
ở trong chùa. Ðến nay, chùa vẫn được gọi là Ðạo Tràng
Hà Tử.
59.
TĂNG THANH TỦNG
Thanh
Tủng người ở Phước Châu. Lúc đầu Sư tham vấn Thiền
sư Pháp Nhãn. Pháp Nhãn chỉ mưa, bảo Sư rằng:
- Từng
giọt, từng giọt rơi trong con mắt Thượng tọa.
Lúc
ấy Sư không hiểu, sau đọc kinh Hoa Nghiêm mới ngộ được
ý chỉ này. Nhân vào núi kiếm đất cất am, Sư đến Tứ
Minh, lên cao xem bốn phía, ném một viên đá, nói:
- Ðá
rơi chỗ nào, ta ở chỗ đó.
Rồi
kết am. Ðến đời vua Trung Hiến Vương, vua nghe danh Sư mời
về chùa Linh Ẩn, đặt hiệu là Thiền sư Liễu Ngộ.
Ma
Ha Bát Nhã
Không
phải thủ, xả
Nếu
người chẳng hiểu
Gió
lạnh tuyết rơi.
(Ma
Ha Bát Nhã
Phi
thủ phi xả
Nhược
nhân bất hội
Phong
hàn tuyết hạ).
Sư
thuyết pháp như thế.
Một
hôm vua xem kinh Hoa Nghiêm, biết ở Trung Hoa có núi Chi Ðề,
Bồ tát Thiên Quan trụ ở đó. Vua bèn triệu tạp các vị
kỳ đức ở các núi đến hỏi nhưng chẳng vị nào biết
cả. Chỉ có Sư bảo rằng biết chỗ ấy rất rõ. Vua nói:
- Vậy
nếu Sư không đi thì không ai đến được.
Rồi
sai người cùng đi với Sư. Ðến mé biển, vết tích của
cảnh Thánh hiện ra. Ði sâu vào núi ba ngày, bỗng nghe tiếng
chuông ngân nga, có vượn trắng dẫn đường. Sư chí tâm đảnh
lễ, thấy trong rừng rậm có một khoảng đất lớn, lầu
các nguy nga, trên có biển đề chữ vàng: "Cảnh của Cổ Phật
Ðại Hoa Nghiêm".
Sư
vào chùa, thấy chúng tăng cả vạn người, ngàn vị Bồ tát,
nghiễm nhiên ở trên, mùi hương lạ lan tỏa, hào quang chói
lòa. Sư mặc tưởng chí thành, tùy hỷ trọn đêm. Ðến sáng,
thấy mình vẫn ở giữa đám cỏ rừng, cảnh đã thấy chỉ
là hóa cảnh. Sư về báo lại vua. Vua liền cho dựng chùa ở
đấy, đúng như cảnh Sư đã thấy. Vua cho đúc tượng Thiên
Quan ngàn thân đưa vào núi bằng thuyền. Ðến giữa dòng,
sóng to gió lớn, thuyền nặng muốn chìm. Mọi người nhìn
nhau không biết tính sao, bèn dìm một nửa tượng xuống nước.
Nào ngờ nửa tượng này lại đến đất đó trước. Ðó
là việc thật lạ lùng.
60.
THƯỢNG TỌA HUỆ VIÊN
Thượng
tọa Huệ Viên, họ Vu quê ở Toan Tảo, Khai Phong vốn làm nghề
nông. Sau Sư xuất gia ở chùa Kiến Phúc, bản tánh chậm chạp,
trì độn nhưng làm việc rất chăm chỉ, cẩn thận. Sư nghe
Thiền đạo phương Nam rất hưng thạnh bèn xuất du đến chùa
Ðông Lâm ở Giang Châu, bị tăng chúng trong chùa coi thường
lắm. Một hôm Sư hỏi huynh đệ rằng:
- Thế
nào là thiền?
Họ
đùa:
- Ði
hỏi xem! Cái gì kêu được là thiền (con ve)!
Sư
không hiểu, bèn ngồi quay vào tường suy nghĩ mãi cứng cả
lưng. Sau vài tháng, đi ra sân chùa, bỗng trợt chân té nhào,
bèn khai ngộ. Sư nhờ một hành giả:
- Tôi
không quen bút mực, muốn làm một bài tụng, nhờ ông viết
giùm lên vách.
Hành
giả cười bằng lòng. Ðề rằng:
Gặp
lần này, gặp lần này!
Muôn
lượng vàng ròng cũng tiêu ngay
Nón
đội đầu, bao cột lưng,
Gió
mát trăng trong đầu gậy quảy.
(Giá
nhất giao, giá nhất giao.
Vạn
lượng hoàng kim dã hợp tiêu
Ðầu
thượng lạp, yêu hạ bao
Thanh
phong minh nguyệt trượng đầu thiêu).
Ngay
ngày đó Sư rời Ðông Lâm. Ðến khi Thiền sư Tổng thấy
được bài kệ, giật mình nói:
- Có
nạp tử chân tham đến đây! Kệ hay quá! Không thể thêm gì
vào nữa!
Rồi
cho người đi tìm, nhưng không ai biết Sư đã đi đâu.
61.
NGÔN PHÁP HOA
Ngôn
Pháp Hoa chẳng biết từ đâu đến, tướng Sư cổ quái, nói
năng phóng khoáng, ẩn hiện không lường. Sư thường xăn quần
vào chợ, hoặc có khi lấy tay vẽ trên không rồi đứng yên
hồi lâu. Sư lại kết giao với bọn hàng thịt, ăn uống theo
họ, đạo tục đều gọi Sư là Cuồng tăng.
Lúc
Sư đến viện Thất Câu Chi ở chùa Cảnh Ðức. Thừa tướng
Lữ Hứa Công hỏi về đại ý Phật pháp. Sư đáp:
- Xưa
nay không một vật, nhất vị thảy đều chơn.
Tăng
hỏi:
- Ðời
có Phật không?
Sư
đáp:
- Trong
chùa có Văn Thù.
Hỏi:
- Sư
là phàm hay Thánh?
Sư
đưa tay lên nói:
- Ta
không trụ nơi này.
Niên
hiệu Chí Hòa năm thứ ba (1056), vua Nhân Tông ban đầu không
được vui vì chưa có người nối ngôi. Thiên hạ buồn bã.
Gián quan Phạm Trấn chủ trương làm một cuộc đại nghĩa,
xin chọn người hiền trong hàng tôn thất, cho làm thái tử
trong khi chờ đợi hoàng tử ra đời. Thông Phán Tinh Châu là
Tư Mã Quang cũng nhân đó mà bàn, dâng sớ cho vua đến ba lần.
Một đêm, vua thắp hương thầm khấn: "Ngày mai sẽ thiết
trai ở điện Hóa Thành, kính thỉnh đại sĩ Pháp hoa đến
dự, đừng chối từ.
Sáng
sớm, vua sai Y Ngưng đứng đón. Lát sau, ông ta vào báo rằng
sư Pháp Hoa đang vào cửa bên phải. Sư vào thẳng tẩm điện
(phòng ngủ của vua), thị vệ hét đứng lại mà không được.
Vua cười bảo:
- Sư
đến theo lời trẩm thỉnh đó.
Sư
leo luôn lên giường vua và ngồi xếp bằng, thọ trai xong bèn
đi. Vua nói:
- Trẫm
vì chưa lập được thái tử, đại thần bàn cố gắng kiếm
con muộn, không biết có được không? Xin Sư định giùm việc
này!
Sư
đòi giấy bút, viết:
Thập
tam, thập tam
Phàm
số thập hành.
Rồi
ném bút không nói thêm lời nào. Mọi người không hiểu nổi.
Sau này Anh Tông lên ngôi . Vua là con thứ mười ba của An Hiển
Vương, nghiệm lại đúng lời Sư đã viết.
***
Lữ
Thần Công mong đúng vào ngày nhậm chức đốt sớ thỉnh Sư
thọ trai. Sáng hôm sau Sư đến nhà ngồi. Công vừa bước
ra, tự nghĩ không biết nên lễ hay không? Sư bèn kêu to:
- Già
Lữ! Mau ra đây! Lễ cũng được, không lễ cũng được!
Lữ
Công thất kinh bèn đến làm lễ. Thọ trai xong. Lữ Công hỏi
việc vị lai thế nào? Sư viết hai chữ "Hào Châu".
Về
sau nghĩ việc, đến Hào Châu mới rõ. trường hợp Thiên Y
Nghĩa gặp Sư ở Cảnh Ðức. Sư vỗ lưng Nghĩa Hoài nói:
- Lâm
Tế, Ðức Sơn đây!
Nghĩa
Hoài nhân đó phấn khởi hành Thiền, Sư làm hưng thạnh đạo
của Vân Môn, con cháu rõ ràng mới thấy lời Sư thật linh
nghiệm.
Ngày
23 tháng 11 năm Canh Tý (1960), Sư thị tịch. Trước đó bảo
với mọi người:
- Ta
từ vô lượng kiếp đến nay, thành tựu rất nhiều quốc
độ, phân thân hoàng hóa rộng rãi. Nay ta sẽ về phương Nam.
Nói
xong nằm nghiêng bên phải mà tịch.
Có
nơi nói: Sư họ Hứa quê ở Thọ Xuân. Ðến năm mười lăm
tuổi, Sư dạo Ðông Ðô, xuất gia ở viện Câu Chi, qua lại
giảng tứ rất lâu (nơi giảng kinh). Một hôm đọc ngữ lục
Vân Môn, hốt nhiên khế ngộ, bèn được linh thông.
Hà
Nam Chí nói: Chí Ngôn họ Hứa, từ Thọ Xương đến chùa Cảnh
Ðức ở Ðông Kinh, bói việc cát hung cho người, viết chữ
rất mau, nét cứng cỏi mạnh mẽ, thoạt xem khó hiểu, về
sau ứng nghiệm. Ai dâng cúng thịt nem, Sư cũng ăn hết, đến
sông mửa ra hóa thành cá nhỏ lội theo đàn. Khách đi biển
gặp sóng gió sắp chìm, liền thấy Sư quăng dây kéo thuyền
đưa đi. Ðến bến, khách bước xuống. Sư bảo rằng:
- Nếu
không có ta, chẳng biết các ông ra sao!
Khách
ghi nhớ dáng mạo của Sư chính là người đã dẫn thuyền.
Sau Sư tịch, Nhơn Tống đem họa tượng chân thân của Sư
thờ trong chùa, bảng đề Hiển Hóa Thiền sư.
62.
HÒA THƯỢNG THIÊN TUẾỞ TRUNG THIÊN TRÚC
Sư
tên Bảo Chưởng, người ở Trung Ấn Ðộ. Ðời Ngụy Tấn,
Sư đi về phương Ðông, tự bảo rằng mình đã sáu trăm bảy
mươi ba tuổi, sanh vào đời Oai Liệt Vương nhà Chu năm thứ
mười hai, tức năm Ðìnhh Mão. Lúc mới sanh bàn tay trái nắm
chặt, gỡ ra có viên ngọc, nhân đó đặt tên. Ban đầu Sư
đến Nga Mi, Ngũ Ðài rồi về phương nam đến Hành Lô; vào
đất Kiến Nghiệp gặp Tổ Ðạt Ma ở triều Lương bèn hỏi
đạo. Ngộ được vô sanh pháp nhẫn. Lương Vũ Ðế trọng
vì tuổi đạo mời vào nội đình cúng dường. Chưa bao lâu
Sư qua Ngô, thuật kệ:
Lương
Thành ngộ đạo sư
Tham
thiền rõ tâm địa
Phiêu
linh dạo tam Triết
Khắp
hết non nước đẹp.
Rồi
đi thăm khắp danh sơn Lưỡng Triết, ưa thích cảnh Thiên Trúc
đẹp đẽ, Sư liền cất am ở đến bốn mươi lăm năm. Rồi
Sư đến Thiên Thai ở Tứ Minh, dạo khắp các danh sơn, du lịch
nhiều nơi.
Niên
hiệu Trịnh Quán thứ mười lăm (641) đời Ðường, Sư trở
lại Trúc Phong. Khá lâu lại dời đến Bảo Nham, Phổ Giang.
Niên hiệu Hiển Khánh thứ hai (657), ngày đầu năm, Sư bắt
đầu đắp tượng, chín ngày hoàn thành, giống Sư như hệt.
Xong, Sư bảo với đồ đệ:
-Ta
ở tạm thế gian này ngàn năm. Từ lúc đến Trung Hoa, thấm
thoát đã qua bốn trăm năm. Nay dư ra hết bảy mươi hai năm
rồi.
Sư
nói kệ xong liền tịch. Người đời gọi Sư là Hòa thượng
Thiên Tuế. Sư có dặn rằng:
- Sau
khi ta tịch, có vị tăng sẽ đến lấy xương ta, đừng cản.
Năm
mươi bốn năm sau, trưởng lão Thích Phù đến đó làm lễ,
cửa tháp mở ra, được xương của Sư, toàn bộ tỏa ánh
sáng. Nhân đó Trưởng lão giữ lại làm một tháp khác để
thờ, tôn Sư làm Thủy Tổ khai sơn ở Trung Trúc.
Tán
rằng:
Người
sống bao lăm
Sương
sớm mất tăm
Sanh
Chu đến Ðường
Vốn
tạm thế thôi
Ðông
đợi Ðạt Ma
Tâm
ấn mới truyền
Ai
bảo Phật pháp
Chỉ
ở Ðông Thiên?
(Nhân
thọ kỷ hà
Triêu
lộ thệ xuyên
Sinh
Chu, thiệp Ðường
Bổn
tạm tắc nhiên
Ðông
trì Ðạt Ma
Tâm
ấn thủy truyền
Thục
vân Phật pháp
Ðộc
tại Ðông Thiên?)
63.
THIỀN SU HOÀN TRUNGÐời ÐƯỜNG - Ở Núi ÐẠI TỪ
Sư
tên Hoàn Trung, họ Lư, quê Bồ Phản, sanh ra dã có dị tướng,
tiếng nói như chuông. Sư xuất gia tại chùa Ðồng Tử ở
Tỉnh Châu, thọ tâm ấn với Thiền sư Bá Trượng Hoài Hải,
kết am tranh ở núi Nam Nhạc.
Một
hôm Nam Tuyền đến hỏi:
- Thế
nào là chủ trong am?
Sư
đáp:
- Trời
xanh, trời xanh!
Nam
Tuyền nói:
- Trời
xanh để đó, thế nào là chủ trong am?
Sư
nói:
- Hội
thì hội liền, chớ có nghĩ suy toan tính.
Nam
Tuyền phất áo đi ra. Triệu Châu hỏi Sư:
- Bát
Nhã lấy gì làm thể?
Sư
nói:
- Bát
Nhã lấy gì làm thể!
Triệu
Châu cười to, bỏ đi.
Sáng
hôm sau, Sư thấy Triệu Châu quét sân, bèn hỏi:
- Bát
Nhã lấy gì làm thể?
Triệu
Châu bỏ chổi, vỗ tay cười to. Sư liền về phương trượng.
Sau
Sư trụ núi Ðại Từ ở Triết Giang, thượng đường dạy
chúng rằng:
- Sơn
tăng không biết đáp câu hỏi, chỉ hay biết bệnh.
Lại
nói:
- Nói
được một trượng, chẳng bằng hành một tấc.
Lúc
người học quá đông, trên núi thiếu nước, Sư định dời
chỗ. Ðêm mộng thấy thần nhân báo rằng:
- Xin
Ngài chớ lo điều chi! Tôi sẽ sai đồng tử nhỏ ở Nam Nhạc
đào suối để Sư dùng.
Sáng
mai, thấy hai con cọp dùng móng bới đất, nước tự phun lên,
ngọt như mạch nha. Có tăng từ Nam Nhạc đến nói:
- Tiểu
đồng tử! Suối cạn vậy!
Do
đó Ðông Pha có đề thơ rằng:
Tháp
đá sừng sững trên đỉnh Ðông
Lão
này mới đến, trăm thần mong
Hổ
đời miệng suối cúng hành khước
Rồng
làm hoa sóng dâng chân tăng
Ðến
nay du nhân tắm rửa xong
Nằm
nghe tiếng vang của diệu không
Nên
biết lão này truyền như thế
Chớ
nghĩ đến đi như nhân gian.
(Ðình
đình thạch tháp đông phong thượng
Thử
lão sơ lai bách thần ngưỡng
Hổ
di tuyền nhãn sấn hành khước
Long
tác lãng hoa cung vũ chưởng
Chí
kim du nhân quán trạc bãi
Ngọa
thinh không giai hoàn âm hưởng
Cố
tri thử lão như thử truyền
Mạc
tác nhân gian khứ lai tưởng).
Ngày
15 tháng 3 niên hiệu Hàm Thông thứ ba (862), Sư không bệnh
mà tịch, thọ 83 tuổi, 54 tuổi hạ. Vua Y Tông ban thụy là
Ðại Sư Tánh Không, tháp là Ðịnh Huệ.
Tán:
Tu
hành chân thật
Tâm
ngộ không bờ
Nam
Tuyền, Triệu Châu
Ðối
đáp nêu cao
Ở
chốn hàn tuyền
Hổ
đến giúp nhau
Ðức
này cảm đấy
Gió
mát trời trong.
(Lý
tiễn chân thật
Tâm
ngộ vô tế
Nam
Tuyền, Triệu Châu
Kích
dương thù đối
Cư
chi hàn tuyền
Hổ
bào dĩ tế
Duy
đức tư ảnh
Phong
thanh nhật lệ).
64.
ÐẠI SĨ HẢI VÂN
Ấn
Giảng người Ninh Viễn, Phong Cốc, Sơn Tây, họ Tống con của
Vi Tử. Sư sanh niên hiệu Thái Hòa năm Nhâm Tuất đời Kim
(1202), nhân phẩm cao quý, khôi vĩ. Thuở nhỏ Sư thông minh
đỉnh ngộ. Năm bảy tuổi cha đưa chương Khai Minh Tông Nghĩa
của Hiếu Kinh cho xem. Sư hỏi:
- Khai
là tông gì? Minh là nghĩa gì?
Cha
kinh dị, biết không phải là người thường, bèn đưa Sư
đến thăm ngài Truyền Giới Nhan Công. Nhan Công muốn xem căn
khí của Sư, mới trao bài Thảo Am Ca (Thảo Am Ca của ngài
Thạch Ðầu Hy Thiên) cho Sư đọc. Ðến chỗ "Hoại cùng chẳng
hoại, chủ vẫn đó". Sư hỏi rằng:
- Chủ
ở đâu?
Nhan
Công hỏi lại:
-
Chủ nào?
Sư
thưa:
- Người
lìa hoại và bất hoại.
Nhan
Công bảo:
- Ðây
là khách vậy!
Sư
nói:
- Chủ
đấy!
Nhan
Công trầm ngâm rồi thôi.
Sư
tìm đến lễ ngài Trung Quán Chiểu Công làm thầy. Năm mười
một tuổi, được thọ đại giới. Thượng tọa Hồng Ngạn
mới hỏi Sư rằng:
- Nay
thọ đại giới rồi, vì sao mà làm tiểu tăng?
Sư
đáp:
- Vì
tăng nhỏ nhưng giới lớn.
Sư
hỏi thử lại:
- Thượng
tọa giới lớn hay nhỏ.
Ðáp:
- Thân
tôi dĩ nhiên đã già.
Nói
chưa dứt lời, Sư lớn tiếng nói:
- Ðừng
phân biệt nữa!
Một
hôm Thượng tọa sai tăng đi ra ngoài. Sư vỗ lưng tăng, đợi
vị tăng này quay đầu trở lại, Sư giơ một ngón tay lên.
Tăng theo đó vỗ lưng Sư, Sư cũng giơ một ngón tay lên. Thượng
toạ rất ngạc nhiên.
Năm
mười hai tuổi, ngài Trung Quán nghe Sư tham vấn, bèn dạy:
- Hãy
ngừng mọi tâm muốn biết về văn tự ngữ ngôn. Chỉ để
tâm như cây cầu, như tro nguội. Hết sức dụng công cho thuần
thục, ngộ giải cho chân thật. Một phen chết hẳn (đại
tử), sạch mọi tập khí dư thừa. Ðến thời tiết đó tự
nhiên rõ biết, lại cùng ta gặp gỡ.
Sư
kính cẩn nghe dạy.
Một
hôm Sư theo ngài Trung Quán đi, Trung Quán hỏi:
- Thiền
sư Pháp Ðăng nói: "Xem việc nhà người rộn ràng hãy nói
nương sức ai?" Ông làm sao hội?
Sư
liền kéo tay Trung Quán. Trung Quán bảo:
- Tên
dã hồ tinh này!
Sư
thưa:
- Vâng,
vâng!
Năm
mưòi ba tuổi, vua Thành Cát Tư Hãn thống trị thiên hạ, Sư
ở Ninh Viễn, ngoài thành bị bao vây, nhiều người xúi Sư
để tóc. Sư bảo:
- Nếu
theo phép nước, thì mất tăng tướng.
Bèn
giữ như cũ.
Năm
mười tám tuổi, quân Nguyên lại chiếm Nam Thành. Tứ chúng
giải tán, chạy trốn. Một mình Sư ở lại hầu ngài Trung
Quán. Trung Quán nói:
- Ta
tuổi đã già, con còn trai tráng. Ngày nay vàng đá đều bị
đốt hết, thì có ích gì? Con nên đi đi!
Sư
khóc thưa:
- Nhân
quả không sai, sống chết có mạng. Làm sao con bỏ Thầy mà
cầu thoát thân được? Nếu thoát được, cũng chẳng xứng
làm người.
Trung
Quán thấy Sư tâm thành, dặn dò:
- Ông
có nhân duyên lớn ở Sóc Mạc. Ta với ông cùng đến phương
Bắc vậy.
Hôm
sau thành bị hạ. Nguyên soái Sử Thiên Trạch trông thấy Sư,
tức giận hỏi:
- Ngươi
là ai?
Ðáp:
- Tôi
là Sa môn.
Sử
hỏi:
- Có
ăn thịt không?
Hỏi:
- Thịt
gì?
- Thịt
người.
Sư
bảo:
- Người
không phải thú vật. Thịt cọp beo còn chẳng nên ăn, huống
gì là thịt người.
Sử
Thiên Trạch nói:
- Ngày
nay, ngươi ở dưới mũi thương của quân lính, có thể toàn
mạng được sao?
Sư
đáp:
- Ắt
phải nhờ cậy Ngài giúp đỡ.
Sử
Thiên Trạch rất hài lòng.Lại có Nguyên soái Lý Thất Ca hỏi:
- Ông
đã làm tăng, vậy thuộc thiền hay giáo?
Sư
đáp:
- Thiền
giáo đều là lông cánh của tăng, như nước dùng người phải
gồm cả văn võ.
Lý
nói:
- Ðúng
rồi, nhưng ông theo bên nào?
Sư
nói:
- Chẳng
theo cả hai.
Lý
hỏi:
- Ông
là gì?
- Thầy
chùa.
Rồi
tiếp:
- Thầy
tôi cũng đang ở đây.
Hai
vị này thấy Sư còn nhỏ tuổi mà chẳng sợ sệt, ứng đáp
khác thường, liền cùng nhau đến gặp ngài Trung Quán. Nghe
ngài chỉ dạy chí thiết, bèn rất vui vẻ thưa:
- Có
cha này phải có con này vậy.
Rồi
lễ Trung Quán làm thầy và cùng Sư kết nghĩa đá vàng.
Ðến
đây, Quốc vương ban ân lớn, mời về viện Hương Tuyền,
Hưng An, ban hiệu ngài Trung Quán là Từ Vân Chính Giác Ðại
Thiền Sư, còn Sư là Tịch Chiếu Anh Ngộ Ðại Sư, mọi nhu
yếu đều do quan chu cấp. Khi ngài Trung Quán thị tịch. Sư
khất thực rồi về canh tháp cho Ngài. Một hôm nghe trên không
có tiếng kêu tên mình, Sư chợt tỉnh, bèn dời về ở đạo
viện Tam Phong. Lại hỏi Người, Người nói:
- Việc
con muốn thành, nên đi chớ trệ ở đây.
Tờ
mờ sáng, Sư về Yến Kinh. Qua Tùng Phô mắc mưa, phải núp
dưới núi. Nhân sấm chớp mà đại ngộ. Sư tự rờ lên mặt
nói:
- Hôm
nay mới biết mày ngang mũi dọc, mới tin lời các lão Hòa
thượng trong thiên hạ chẳng mê hoặc người.
Trước
đây lúc ngài Trung Quán sắp tịch, Sư hỏi:
- Con
nên nương theo ai để rõ việc lớn này?
Trung
Quán bảo:
- Nương
Khánh Tám Mươi!
Sư
đến Yến Kinh vào chùa Ðại Khánh Thọ, mới tin lời ngài
Trung Quán nói. Sư đến yết kiến lão nhân Trung Hòa Chương
Công. Trước đó một hôm, lão nhân đêm mộng thấy một dị
tăng cầm gậy đến phương trượng ngồi lên tòa sư tử.
Hôm sau Sư đến, Trung Hòa cười bảo:
- Người
này đúng là người đêm qua đến mộng của ta.
Sư
hỏi:
- Con
không đến mà đến, làm thế nào gặp nhau?
Trung
Hòa nói:
- Tham
nên thực tham, ngộ nên thực ngộ. Chớ đánh chồn rừng!
Sư
nói:
-
Con nhân sấm chớp tơi bời, mới biết mày ngang mũi dọc.
Trung
Hòa bảo:
- Chỗ
này thì ta khác.
Sư
hỏi:
- Thầy
thế nào?
Trung
Hòa nói:
- Răng
là một miệng xương, tai là hai miếng da.
Sư
thưa:
- Nên
nói riêng có.
- Lầm!
Sư
hét:
- Giặc
cỏ đại bại!
Trung
Hòa bèn thôi. Ngày sau, Trung Hòa lại đưa chuyện: "Thủ tọa
lưỡng đường cùng hét" của Lâm Tế. Sư đưa nắm tay đấm
một cái. Lúc ấy Trượng đường chấn động, Trung Hòa ấn
ký cho Sư.
Lúc
xuất thế, Sư thường ngồi đại đạo tràng theo lời mời
của Thái sư, Quốc vương cùng các trọng thần. Trong thất,
Sư thường dùng bốn lời "vô y" để khám nghiệm người học,
chẳng ai đương nổi. Một hôm, Sư gặp vài vị tăng dưới
hiên, liền hỏi mà không người khế hợp, Sư bèn đánh. Ðến
vị cuối cùng, Sư hỏi:
- Ông
đi đâu đây?
Tăng
thưa:
- Tìm
Hòa thượng.
- Tìm
ông ta làm gì?
- Ðể
đánh đau một trận.
Sư
hỏi: