27.
PHÓ ÐẠI SĨ
Phó
Ðại Sĩ, tên Hấp tự là Huyền Phong hiệu là Thiện Huệ,
người Nghĩa Ô. Niên hiệu Kiến Vũ thứ tư (497) đời Tề,
Ngài sanh ngày 8 tháng 5 ở làng Song Lâm, trong nhà Phó Tuyên
Từ. Năm mười sáu tuổi lấy con gái họ Lưu tên Diệu Quang,
sanh được hai con trai là Phổ Kiến, Phổ Thành. Năm 24 tuổi,
theo dòng sông bắt cá đem đến ao Kê Ðình, dìm giỏ vào nước
nói:
- Ði
thì thả, ở thì bắt.
Người
ta bảo là ngu. Một hôm có Tung Ðầu Ðà người Thiên Trúc
đến thăm Ngài, bảo rằng:
- Xưa
tôi với ông ở trước Phật Tỳ Bà Thi cùng phát thệ nguyện
độ sanh. Nay ở cung Ðâu Suất vẫn còn y bát. Ngày nào sẽ
trở lại?
Rồi
dẫn đến suối nhìn bóng, thấy bảo cái tròn sáng. Ðại
sĩ liền ngộ được nhân duyên đời trước cười to nói:
- Lò
rèn còn nhiều sắt, thô. Cửa thầy thuốc đầy bệnh nhân,
việc độ sanh gấp gáp, đâu rãnh mà nghĩ đến cái vui thú
ở thiên cung.
Rồi
Ngài bỏ đồ bắt cá, dẫn nhau về nhà, nhân đó Ngài hỏi
đất để tu đạo. Tung Ðầu Ðà chỉ rừng Song Lâm núi Tùng
nói:
- Nên
ở nơi này!
Ngài
bèn kết am tự xưng là “Bồ tát Thiện Huệ tương lai sẽ
giải thoát, ở dưới cây Song Lâm”, ở đó cày cấy, trồng
rau quả như người tầm thường. Khi thu hoạch lúa má, dưa
trái, Ngài lấy giỏ đựng đem bán. Ngài cùng với vợ là
Diệu Quang, ngày thì làm lụng, tối về hành đạo.
Ngài
ở Sơn Lâm bảy năm, một hôm hành đạo xong, cảm được
bảy Phật theo đến. Phật thích Ca đi trước, sau cùng là
Duy Ma. Chỉ có đức Thích Ca mấy lần nhìn, bảo với Ngài:
- Ta
bổ xứ cho ông đấy!
Lại
có một hôm thấy ba vị Phật Thích Ca, Kim Túc, Ðịnh Quang
phóng hào quang chiếu thân mình. Ngài tự bảo đắc định
Thủ Lăng Nghiêm.
Vì
thế đệ tử càng đông thêm. Niên iệu Trung Ðại Thông sanh
năm thứ hai (530) Ngài sai đệ tử là Phó Vãng đến kinh đô
dâng thư cho Lương Vũ Ðế rằng:
“Ðại
sĩ Thiện Huệ, người tương lai giải thoát, ở dưới rừng
cây Song Lâm tâu với Quốc vương:
Bồ
tát cứu thế có ba điều thiện bậc thượng, trung, hạ phải
nên nhận giữ:
1.
Ðiều thiện bậc thượng: Lấy hư hoại làm gốc, chẳng vướng
mắc làm tông, vô tướng làm nhân, Niết Bàn làm quả.
2.
Ðiều thiện bậc trung: Lấy trị thân làm gốc, trị nước
làm tông, được quả báo an lạc trên trời, trong loài người.
3.
Ðiều thiện bậc hạ: Lấy việc bảo vệ nuôi nấng chúng
sanh, thắng tàn bạo, bỏ giết hại, khiến dân chúng đều
giữ lục trai.
Nay
mộ lòng sùng pháp của Hoàng đế, muốn đến tranh luận nghị
mà chưa được mãn nguyện, nên sai đệ tử đến để cáo
bạch”.
Vua
rất vui, sai Hà Xương viết chiếu đến, đón Ngài về triều.
Vũ Ðế hỏi:
- Xưa
nay ai là thầy của Ngài?
Ðáp:
- Theo
không chỗ theo, đến không chỗ đến, thờ thầy cũng thế.
Lại
hỏi:
- Sao
không luận nghĩa?
Ðáp:
- Lời
Bồ tát chẳng dài, chẳng ngắn, chẳng rộng, chẳng hẹp,
chẳng phải hữu biên, chẳng phải vô biên, như như chính
lý, còn nói gì nữa?
Niên
hiệu Ðại Ðồng năm thứ hai (536), lại vào kinh đô. Vũ Ðế
mời vào hỏi:
- Thế
nào là chân đế?
Ðáp:
- Dứt
mà chẳng diệt.
Vua
nói:
- Dứt
mà chẳng diệt tức là có sắc, có sắc nên trì độn. Như
thế cư sĩ chưa khỏi được dòng tục.
Ngài
đáp:
- Gặp
tiền tài không cẩu thả để được, gặp khó không cẩu
thả để tránh.
Vua
nói:
- Cư
sĩ rất biết lễ.
Ngài
nói:
- Tất
cả các pháp không có cũng không không, những sắc tượng
trong đại thiên thế giới, tất cả đều không, trăm sông
trôi chảy không ra khỏi biển. Vô lượng diệu pháp không
ra khỏi chơn như. Như lai vì sao một mình vượt hẳn chín
mươi sáu đường trong ba cõi? Xem tất cả chúng sinh như con
đẻ. Thiên hạ không phải đạo thì Ngài chẳng an, không phải
lễ thì Ngài chẳng vui?
Vua
làm thinh. Ngày khác, Vũ Ðế thỉnh Ngài giảng kinh Kim Cang.
Ðại sĩ vừa lên tòa, lấy thước đập xuống bàn một cái
rồi bước xuống. Vua ngạc nhiên, Ðại sĩ hỏi:
- Bệ
hạ hiểu không?
Ðáp:
- Không
hiểu.
Ðại
sĩ nói:
- Ðại
sĩ giảng kinh xong rồi!
Một
hôm, Ngài đang giảng kinh thì vua đến, mọi người đều đứng
dậy. Ðại sĩ ngồi yên chẳng động. Họ bảo Ngài:
- Vua
đến đây rồi, sao không đứng dậy?
Ðại
sĩ nói:
- Ðất
pháp nếu động, tất cả chẳng yên.
Ngài
trở lại Song Lâm, viết bài minh “Tâm Vương”:
Quán
tâm không vương
Quán
tâm không vương
Kỳ
diệu khó lường.
Nguyên
diệu nan trắc.
Không
hình không tướng
Vô
hình vô tướng
Có
thần lực lớn
Hữu
đại thần lực
Hay
diệt ngàn tai
Năng
diệt thiên tai
Thành
tựu muôn đức
Thành tựu vạn đức
Thể
tánh tuy không
Thể
tánh tuy không
Hay
bày phép tắc
Năng thí pháp tắc
Xem
chẳng thấy hình
Quán
chi vô hình
Hô
thì có tiếng
Hô
chi hữu thanh
Làm
đại pháp tướng
Vi
đại pháp tướng
Tâm
giới truyền kinh
Tâm
giới truyền kinh
Vị
muối trong nước
Thủy trung cổ vị
Keo
xanh trong màu
Sắc
lý giao thanh
Quyết
định là có
Quyết định thị hữu
Chẳng
thấy được hình
Bất kiến kỳ hình
Tâm
vương cũng vậy
Tâm vương diệc nhĩ
Nằm
ở trong thân
Thân
nội cư đình
Ra
vào trên mặt
Diện
môn xuất nhập
Ứng
vật tùy hình
Ứng
vật tùy hình
Tự
tại vô ngại.
Tự
tại vô ngại
Việc
làm đều thành.
Sở
tác giai thành.
Rõ
gốc, biết tâm
Liễu
bổn thức tâm
Biết
tâm thấy Phật
Thức
tâm kiến Phật.
Tâm
này là Phật.
Thị
tâm thị Phật.
Phật
này là tâm
Thị
Phật thị tâm.
Niệm
niệm Phật tâm
Niệm niệm Phật tâm
Phật
tâm niệm Phật
Phật
tâm niệm Phật
Muốn
được sớm thành
Dục
đắc tảo thành
Răn
tâm tự luật
Giới
tâm tự luật
Tịnh
luật, tịnh tâm
Tịnh
luật tịnh tâm
Tâm
tức là Phật
Tâm
tức thị Phật
Trừ
tâm vương này
Trừ thử tâm vương
Không
có Phật khác
.Cách
vô biệt Phật.
Muốn
cầu thành Phật
Dục cầu thành Phật
Chớ
nhiễm vật gì
Mạc nhiễm nhất vật
Tâm
tánh tuy không,
Tâm
tánh tuy không,
Tham
sân thể thực
Tham sân thể thực.
Vào
pháp môn này
Nhập
thử pháp môn
Ngồi
ngay thành Phật.
Ðoan
tọa thành Phật.
Ðến
bờ kia rồi
Ðáo
bĩ ngạn dĩ
Ðược
Ba la mật
Ðắc
Ba la mật
Chân
sĩ mộ đạo
Mộ
đạo chân sĩ
Tự
xét tâm mình
Tự
quán tự tâm
Biết
Phật ở trong
Tri
Phật tại nội
Không
hướng ngoài tìm.
Bất
hướng ngoại tầm.
Tức
tâm tức Phật
Tức
tâm tức Phật.
Tức
Phật tức tâm
Tức
Phật tức tâm,
Tâm
sáng, biết Phật
Tâm
minh thức Phật
Rõ
ràng biết tâm
Liễu
liễu thức tâm.
Lìa
tâm không Phật
Ly
tâm phi Phật
Lìa
Phật không tâm
Ly
Phật phi tâm
Chẳng
Phật khó lường
Phi
Phật mạc trắc
Không
kham nhận nổi.
Vô
sở kham nhậm.
Chấp
không kẹt tịch
Chấp
không trệ tịch
Ở
đó trôi chìm
Ư
thử phiêu trầm
Chư
Phật Bồ tát
Chư
Phật Bồ tát
Chẳng
an tâm (như) vậy.
Phi
thử an tâm.
Ðại
sĩ sáng tâm
Minh
tâm đại sĩ
Ngộ
nguyên âm này
Ngộ
thử nguyên âm
Thân
tâm tánh diệu
Thân
tâm tánh diệu
Dùng
không sửa đổi
Dụng
vô canh cải
Thế
nên bậc trí
Thị
cố trí giả
Buông
tâm tự tại
Phóng
tâm tự tại
Chớ
bảo tâm vương
Mạc
ngôn tâm vương
Không,
không thể tánh
Không
vô thể tánh
Hay
khiến sắc thân
Năng
sử sắc thân
Làm
tà làm chánh
Tác
tà tác chánh
Chẳng
có, chẳng không
Phi
hữu phi vô,
Ẩn
hiện không định
Ẩn
hiện bất định
Tâm
tánh lìa không
Tâm tánh ly không
Thánh
phàm thành Thánh
Năng
phàm năng Thánh
Thế
nên khuyên nhau
Thị
cố tương khuyến
Khéo
nên cẩn thận
Hảo
tự phòng thận.
Sát
na tạo tác
Sát
na tạo tác
Lại
bị trôi chìm
Hoàn
phục phiêu trầm
Thanh
tịnh trâm trí
Thanh tịnh tâm trí
Như
thể vàng ròng
Như
thể hoàng kim.
Kho
pháp Bát Nhã
Bát
Nhã pháp tạng
Ðều
ở thân tâm
Tịnh
tại thân tâm
Pháp
báu vô vi
Vô
vi pháp bảo
Không
cạn không sâu.
Phi
thiển phi thâm.
Như
Phật Bồ tát
Như Phật Bồ tát
Rõ
bổn tâm này
Liễu thử bổn tâm
Người
ngộ có duyên
Hữu
duyên ngộ giả
Chẳng
có ba đời
Phi
khứ lai kim.
Lại
có kệ rằng:
Ðêm
đêm ôm Phật ngủ
Sáng
sáng cùng thức dậy
Ðứng
ngồi vẫn theo nhau
Nói
nín chung ăn ở
Mảy
may không cách biệt
Giống
hệt hình với bóng
Muốn
biết chỗ Phật đi
Chính
ngay tiếng nói này.
(Dạ
dạ bão Phật miên
Triêu
triêu hoàn cộng khởi
Khởi
tọa trấn tương tùy
Ngữ
mặc đồng cư chỉ
Ti
hào bất tương ly
Như
thân ảnh tương tợ
Dục
thức Phật khứ xứ
Kỳ
giá ngữ thanh thị).
Lại
nói:
Có
vật trước trời đất
Không
hình vốn tịch tiêu
Hay
làm chủ muôn vật
Chẳng
theo bốn mùa tàn.
(Hữu
vật tiên thiên địa
Vô
hình bổn tịch liêu
Năng
vi vạn tượng chủ
Bất
trục tứ thời điêu).
Ngài
ở niên hiệu Ðại Ðồng nhà Lương năm thứ mười (544),
thiết lập đại pháp hội, khắp vì chúng sanh, sám hối diệt
mọi tội khổ, chóng được giải thoát.
Ngài
lại cho mục lục kinh kinh Phật quá nhiều, người ta chẳng
thể xem khắp, bèn dựng Luân tạng, lập nguyện rằng:
- Người
lên tạng môn của ta, đời đời kiếp kiếp, không mất thân
người, người phát tâm Bồ đề có thể đẩy Luân Tạng
cùng người trì tụng kinh, công đức không khác.
Ngài
ở Song Lâm làm Phật sự rộng lớn, thường có kệ:
Tay
không nắm cán mai
Ði
bộ lưng trâu ngồi
Trên
cầu người cất bước
Cầu
trôi nước chẳng trôi.
(Không
thủ bả xừ đầu
Bộ
hành kỵ thủy ngưu
Nhơn
tùng kiều thượng quá
Kiều
lưu thủy bất lưu).
Nhà
Trần niên hiệu Thái Kiến năm đầu (569), có pháp sư Huệ
Hòa, chẳng bệnh mà tịch. Tung Ðầu Ðà cũng ở chùa Linh
Nham, Kha Sơn nhập diệt. Ðại sĩ thầm biết bảo Phổ Kiền,
Phổ Thành rằng:
- Tung
Công đang đợi ta ở cung trời Ðâu Suất, không thể ở lại
nữa.
Khi
ấy, bốn phía, cây vừa đơm hoa đẹp đẽ chợt khô héo.
Ngày 24 tháng 4, Ngài dạy chúng rằng:
- Thân
này là nơi mọi khổ nhóm họp, rất đáng chán ghét. Phải
tu tam nghiệp, tịnh tu lục độ, nếu đọa địa ngục, thật
khó ra được, thường nên sám hối.
Lại
nói:
- Ta
diệt rồi, không được dời giường ngủ, bảy ngày sẽ có
thượng nhân Pháp Mãnh đem tượng và chuông đến trấn ở
đây.
Ðệ
tử hỏi:
- Sau
khi quy tịch, thân thể nên làm sao?
Ngài
bảo:
- Ðem
lên đỉnh núi thiêu.
Hỏi:
- Nếu
không được thì sao?
Ðáp:
- Không
cần liệm vào quan tài, chỉ lấy gạch tường làm đàn tế,
dời xác lên trên, bình phong màu đỏ che chung quanh, trên dựng
tháp phù đồ, lầy tượng Di Lặc trấn vào.
Lại
hỏi:
- Chư
Phật diệt độ đều thuyết công đức, gốc gác của Thầy,
chúng con có thể nghe được chăng?
Ðáp:
- Ta
từ trời Ðệ Tứ Thiền đến, để độ các ông. Kế phụ
giúp đức Thích Ca, và giúp Phổ Mẫn (Văn Thù), Huệ Tập
(Quan Âm) Hà Xương (A Nan) cùng đến tán trợ, điều này trong
Thích Ca Ðại Phẩm có nói: “Có Bồ tát từ trời Ðâu Suất
đến, căn tánh mãnh lợi, chóng cùng Bát Nhã tương ưng”
chính là thân ta đó.
Nói
xong, ngồi kiết già mà thị tịch, thọ 73 tuổi. Ðến bảy
ngày sau có thượng nhân Pháp Mãnh quả nhiên đem lụa dệt
tượng Di Lặc và chuông chín lỗ đến trấn ở khám. Chốc
lát không thấy nữa.
Nhà
Tấn niên hiệu Thiên Phước năm thứ chín (944) *. Tiền Vương
mở tháp, lấy mười sáu miếng linh cốt toàn màu vàng tía
và đạo cụ hơn mười món, đến Phủ Thành – Long Sơn dựng
chùa Long Hoa, đắp tượng đặt thờ. Truyền thuyết nói rằng
Ngài là Di Lặc hóa thân.
* Tấn
Cao Tổ niên hiệu Thiên Phước từ 936-942
Tấn
Xuất Ðế niên hiệu Thiên Phước từ 942-944
28.
LƯƠNG VŨ ÐẾ
Lương
Vũ Ðế, tên Tiêu Diễn, hình dung kỳ vĩ, vầng trán chữ nhật,
mặt rồng, cổ có ánh sáng tròn, thân sáng như ánh trời chiều.
Nhà ở thường có hơi mây. Thuở nhỏ hiếu học, từ thi thơ
cho đến âm dương bói toán, chiêm đoán, bốc phệ; viết chữ
thảo, chữ lệ trên tờ bồi (xích độc); cung tên, cưỡi
ngựa, săn bắn thảy đều rành rẽ. Tuy lên địa vị to lớn,
tay vẫn không rời quyển sách. Về già thờ phụng Phật đạo.
Ngày chỉ ăn một bữa, nếu không có đại hội, yến tiệc,
tế tự Tông Miếu thì không cử nhạc. Khi hành quyết tử
tù thì rơi nước mắt. Chăm lo chính sự, mùa Ðông qua nửa
đêm vẫn cầm bút xem xét công việc, tay bị nứt nẻ; tánh
ngay thẳng, ở trong nhà tối cũng mặc áo mão; tháng nóng chưa
hề vén áo, cởi trần, tuy thấy bầy tôi thấp hèn cũng như
gặp khách quan trọng. Niên hiệu Thái Thanh năm thứ ba (549);
Hầu Cảnh vây hãm Thành Ðài; đem năm trăm quân mặc giáp
tự vệ, mang kiếm lên trên điện. Vua thần sắc vẫn không
thay đổi, bảo Hầu Cảnh đến giường của bậc Tam Công
ngồi, rồi bảo:
- Khanh
ở trong binh lính lâu ngày không mệt nhọc sao?
Cảnh
sợ hãi không đáp được, lui ra bảo tả hữu rằng:
- Ta
mỗi lần lên ngựa ra trận, tên đá bời bời, không hề hãi
sợ. Nay thấy Tiêu Công khiến người khiếp sợ. Há chẳng
phải oai trời khó phạm. Ta chẳng gặp ông ta nữa.
Sau
Lương Vũ Ðế nằm giường bệnh, ngày đêm niệm Phật luôn
miệng. Dần dần chẳng thể đưa thức ăn, lâu ngày miệng
đắng đòi mật, giơ tay nói:
- Hà,
hà.
Rồi
băng ở Ðiện Tịnh Cư, thọ 86 tuổi.
29.
THỰC XOA NAN ÐỀ (SIKSÀNANDA)
(GIÁC
HỈ)
Dịch
kinh Ðại Hoa Nhiêm
Ban
đầu Vũ hậu (Võ Tắc Thiên) nghe nước Vu Ðiền có Ðại
kinh Hoa Nghiêm bằng tiếng Phạn, bèn sai sứ đến thỉnh, và
mời một học giả rành tiếng Phạn cùng về.
Quốc
vương Vu Ðiền đưa Thực Xoa Nan Ðề đến theo lệnh của
Vũ Hậu. Tháng 3 năm Ất Mùi (695); mời vào chùa “Ðại Biến
Không” phiên dịch.
30.
PHÁP TẠNG
Pháp
Tạng họ Khương người nước Khương Cư. Ban đầu Ðỗ Thuận
truyền bản dịch Hoa Nghiêm Pháp Giới Quán đời Tấn cho Trí
Nghiễm. Pháp Tạng hầu hạ Trí Nghiễm rất lâu, được truyền
hết yếu chỉ kinh này. Nghiễm tịch. Pháp Tạng làm cư sĩ
thuyết pháp. Vũ Hậu độ cho làm tăng. Năm Ất Mùi xuống
chiếu mời Pháp Tạng khai thị tông chỉ Hoa Nghiêm. Mới nêu
đề tựa kinh, hào quang trắng từ miệng Ngài lóe ra. Chốc
lát biến thành một cái lọng dừng ở trên không.
Vũ
Hậu rất vui ban cho Ngài hiệu là Hiền Thủ. Vũ Hậu vời
Pháp Tạng đến chùa Phật Thọ Ký giảng kinh Tân Hoa Nghiêm,
đại địa chấn động cả thời mới dừng. Ngay ngày ấy,
mời đến điện Trường Sanh hỏi về Ðế Võng mười lớp
huyền môn.
Pháp
Tạng tuyên thuyết có đầu mối, huyền chỉ thông suốt. Vũ
Hậu nghe xong kinh dị. Pháp Tạng chỉ con sư tử vàng ở góc
điện để làm thí dụ cho rõ ràng, đến chỗ sư tử trên
đầu một sợi lông có trăm ức sư tử, Vũ Hậu hoát nhiên
liễu ngộ.
31.
ÐẠO THỌ
Ðệ
tử của Thần Tú, sau khi đắc pháp kết am tranh trên núi Tam
Phong ở Thọ Châu. Thường có người rừng ăn mặc giản dị,
nói năng lạ lùng, có lúc chợt hóa làm Phật, hoặc cách hình
Bồ tát, La Hán, Thiên Tiên ... hoặc phóng hào quang, hoặc tạo
âm vang, học đồ đều không lường được. Sau mười năm,
lặng lẽ chẳng còn chút bóng dáng.
Ðạo
Thọ bảo chúng rằng:
- Người
rừng làm đủ trò khéo léo, mê hoặc mọi người. Lão nhân
chả thèm thấy, chẳng thèm nghe. Cái khéo léo ấy có cùng,
còn cái chẳng thấy chẳng nghe của ta vô tận.
32.
HUỆ AN
Huệ
An họ Vệ ở Kinh Châu, xuất gia thọ đại giới, hành hạnh
đầu đà. Ðời Ðường niên hiệu Trinh Quán (627) đến Hoàng
mai, yết kiến Hoằng Nhẫn được tâm yếu. Lân Ðức nguyên
niên (664) ẩn cư ở Thạch Bích Chung Nam.
Ở
Thạch Bích, vua Cao Tông xuống chiếu rước, Ngài không đi,
rồi dạo khắp các danh thắng. Ðến Tung Nhạc, Ngài nói:
Ðây
là đất cuối cùng của ta.
Hai
vị tăng Thản Nhiên và Hoài Nhượng đến tham vấn hỏi:
- Thế
nào là ý Tổ Sư từ Tây sang?
- Sao
chẳng hỏi ý của chính mình?
- Thế
nào là ý của chính mình?
- Nên
quán mật tác dụng.
- Thế
nào là quán mật tác dụng?
- Ngài
nhắm mắt mở mắt để dạy.
Năm
Ất Mùi, có chiếu rước Ngài và Thần Tú đến kinh đô, tôn
làm Quốc sư. Vũ Hậu thường hỏi:
- Ngài
bao nhiêu tuổi?
- Chẳng
nhớ thân sanh tử xoay vần, vần xoay không đầu đuôi khởi
diệt, huống thức tâm lưu chú không có gián đoạn. Cái thấy
như bọt nước khởi diệt tức là vọng tưởng. Từ lúc ban
đầu đến lúc tướng động diệt cũng chỉ như thế, có
năm tháng nào để nhớ?
Sau
Ngài giã từ cung cấm trở về Tung Nhạc, một hôm chợt bảo
môn nhân rằng:
- Ta
chết hãy đem thây vào rừng, đợi lửa rừng đốt.
Ðến
ngày 8 tháng 7 đóng cửa ngồi yên mà tịch, thọ 128 tuổi.
Môn nhân đem thây vào rừng. Quả nhiên có rửa lừng tự thiêu
cháy, được xá lợi tám mươi viên, năm viên rất lớn màu
hồng tím, sáng chói mắt.
33.
ÐẠI SƯ PHÁP THUẬN
Họ
Ðỗ, đời truyền là hóa thân Văn Thù. Sanh ở Ủng Châu.
Người bệnh đến trước tòa của Sư liền được lành. Người
điếc, Sư kêu tai liền thông; người câm, Sư nói chuyện liền
nói được. Người điên khùng, Sư ngồi thiền trước họ,
họ liền bái tạ rồi đi.
Ðường
Thái Tông gọi Sư bảo:
- Trẫm
nóng nảy, khổ nhọc, nhờ thần lực của Sư làm sao trị
được?
- Chỉ
cần ban lệnh đại xá, thì thánh thể tự an.
Vua
theo lời, bệnh liền khỏi. Nhân đây ban cho Ngài hiệu Ðế
Tâm. Thường vời vào cung cấm, hoằng truyền ý chỉ viên
đốn của Hoa Nghiêm, tạo Pháp Giới Quán. Thiên hạ đều
tôn sùng. Thường có kệ pháp thân:
Trâu
Gia Châu ăn lúa
Ngựa
Ích Châu no bụng.
(Gia
Châu ngư khiết hòa
Ích
châu mã phúc trường).
Thiên
hạ kiếm thầy thuốc
Châm
cứu trên vai trái heo.
(Thiên
hạ mích y nhân
Cứu
trư tả bác thượng).
34.
HÒA THƯỢNG VẠN HỒI
Vạn
Hồi ở Văn Hương, họ Trương, tuổi trẻ tiêu ngao, ngông
cuồng, làng xóm không ai lường được. Có anh tên Vạn Niên
đi chinh phạt Liêu Tả. Mẹ Ngài mong tin anh. Ngài nói:
- Việc
này quá dễ.
Rồi
từ biệt mẹ đi, đến chiều trở về, đem theo thư của anh.
Lân lý đều kinh ngạc, nhân đó gọi là Vạn Hồi. Ngài cùng
Sa môn Long Hưng và thiếu tướng Ðại Minh kết giao, thường
qua lại nhà. Cấp Gián Minh Sùng Nghiễm ban đêm qua chùa thầy
thần binh đứng hầu hai bên Ngài. Nghiễm kinh hãi.
Một
hôm Ngài sai gia nhân quét dọn nhà cửa nói:
- Có
khách quý tới!
Hôm
ấy Huyền Trang từ Tây Vực trở về đến thăm Ngài. Ngài
hỏi thăm phong cảnh Ấn Ðộ rõ ràng như tự mình trông thấy.
Huyền Trang làm lễ đi nhiễu quanh Ngài gọi là Bồ tát.
Niên
hiệu Hàm Hanh năm thứ tư (673).
Vua
Cao Tông vời Ngài vào cung, độ làm sa môn. Khi ấy có tăng
Mông Cổ Phù Phong, trước ở trong cung, thường nói: “Hồi
đến! Hồi đến!” Và Ngài đến. Tăng Mông Cổ nói:
- Người
thay thế đến, ta sẽ đi.
Nội
trong một tuần Tăng ấy tịch.
Ðến
lúc hiển hóa, Vạn Hồi được ban hiệu là Pháp Vân. Thường
có kệ:
Sáng
tối cùng quên mở mắt Phật
Chẳng
cột một pháp, trổ rừng sen
Chân
không chẳng hoại tánh linh tri
Diệu
dụng thường còn công vô tác
Trí
thánh xưa nay thành Phật đạo
Tịch
quang chẳng chiếu tự viên thông.
(Minh
ám lưỡng vong khai Phật nhãn
Bất
hệ nhất pháp xuất liên tùng
Chân
không bất hoại linh tri tánh
Diệu
dụng thường tồn vô tác công
Thánh
trí bổn lai thành Phật dạo
Tịch
quang phi chiếu tự viên thông).
35.
CẦU NA BẠT MA (GUNAVARMAM)
Cầu
Na Bạt Ma (Công Ðức Khải) đến Kim Lăng. Ban đầu, bỏ nước
xuất gia, quán thông tam tạng, các vua thuộc quốc đều quy
y thọ giới. Ngài dạo nước Ðề Bà, vua nước này muốn
theo Ngài xuất gia, quần thần cố thỉnh nên không thể đi
được, bèn ra lệnh trong nước rằng:
- Nếu
mọi người theo Hòa thượng quy y thọ giới thì ta sẽ theo
lời thỉnh.
Vì
thế thần dân nước ấy đều cúi đầu tuân mệnh.
Ðầu
niên hiệu Nguyên Gia (424), Tống Văn Ðế nghe danh Ngài, sai
sứ rước về. Ngài vui vẻ nhận lời ghé thuyền đến Hàng
Châu. Ðạo pháp do đây được hưng thịnh. Ngài mến núi ở
đây giống Linh Thứu, bèn lưu lại suốt năm. Trên vách chùa
Ngài vẽ tượng Ðịnh Quang trải tóc ..., ban đêm có hào quang
chiếu sáng, Ngài thường ngồi nhập định trải mấy ngày
chẳng ra. Tăng trong chùa sai sa di hầu hạ. Sa di này bỗng thấy
sư tử trắng vờn cột mà giỡn, khắp trời đều có hoa sen
xanh. Sa di cả kinh bỏ chạy và la lớn. Tăng trong chùa đổ
xô đến chẳng thấy gì cả. Niên hiệu Nguyên Gia thứ tám
(431) Ngài đến Kim lăng, vua hỏi:
- Quả
nhân thường muốn trì trai chẳng sát sanh; đem thân tiếp vật,
mà chẳng tròn sở nguyện, xin thầy dạy cho.
Ngài
đáp:
- Ðạo
tại tâm chứ không phải nơi việc. Pháp do mình chứ chẳng
do người. Hơn nữa, Ðế vương tu khác với thất phu. Thất
phu nếu không khắc kỷ, tiết chế thì còn làm gì nữa? Còn
Ðế vương lấy bốn biển làm nhà, muôn dân làm con. Ban một
lời khen thì sĩ thứ đều vui, công bố một chính sách tốt
thì thần dân an hòa. Hình phạt không chết người, sưu dịch
không làm nhọc sức người, thì mưa gió đúng thời, nóng
lạnh hợp tiết, lúa đậu dồi dào, cây trái tốt tươi. Lấy
điều này mà trì trai, trì trai cũng lớn, lấy đây mà chẳng
sát sanh, thì lợi cũng nhiều. Ðâu phải ở chỗ ngày ăn một
bữa, bảo toàn tính mệnh cho một con vật, mới gọi giúp
đỡ rộng rãi ư?
Vua
vỗ ghế than rằng:
- Người
tục thì mê những triết lý xa xôi, Tăng thì trệ ở kinh điển
thiển cận. Còn như lời của Thầy, có thể nói gồm cả
trời người vậy.
36.
PHÁP SƯ HUYỀN CAO
Ngụy
Thái Vũ nghe lời sàm tấu của Thôi Hạo, bắt giam Thái tử
Triều. Triều bèn kêu cầu với Huyền Cao. Ngài làm bài sám
Kim Quang Minh cho Triều. Vua mộng thấy vua cha là Tổ Nhượng
nói:
- Chớ
nên vì lời sàm báng mà nghi Thái tử.
Tỉnh
dậy, vua kể lại cho quần thần. Quần thần đều tâu là
Thái tử vô tội. Vua thả Thái tử cho phục quyền như cũ.
Thôi Hạo sợ bất lợi cho mình nên tâu vua:
- Trước
đây Thái tử quả thật có âm mưu tạo phản, nhưng cấu kết
với Huyền Cao, dùng pháp thuật đến tiên đế. Bệ hạ nếu
không trừ sớm, e có hại lớn.
Vua
nổi giận bắt Huyền Cao và Huệ Sùng thắt cổ.
Huyền
Sướng là đệ tử của Huyền Cao, từ xa chạy đến. Huyền
Cao chợt mở mắt nói:
- Ðại
pháp ứng duyên, tùy theo duyên mà thạnh suy, thạnh suy là đối
với thân xác chứ lý thường trạm nhiên. Chỉ tiếc các ông
hành như ta vậy. Chỉ có Huyền Sướng về Nam hóa độ. Các
ông chết rồi, giáo pháp sẽ hưng thạnh lại, khéo tự tu
tâm chớ để sau hối hận.
Nói
xong liền chết. Sa môn Pháp Tấn kêu gào:
- Thánh
nhân đã qua đời, tôi còn sống làm chi?
Dứt
lời liền thấy ngài Huyền Cao ở trên không bảo Pháp Tấn
rằng:
- Ta
chẳng quên mọi người, chẳng lẻ bỏ mình ông sao?
Pháp
Tấn nói:
- Hòa
thượng với Sùng Công sanh về đâu?
Ngài
đáp:
- Ta
đến cõi ác để cứu giúp chúng sanh, còn Sùng Công nước
An Dưỡng (Cực lạc ).
Nói
xong biến mất. Ngài tịch khoảng 427 - 451 thời Ngụy Vũ đế
trị vì.
Lúc
Huyền Cao ở núi Mạch Tịch, nghe Ðàm Vô Sấm đến Lương,
liền đến thờ làm thầy. Qua một tuần liền ngộ. Vô Sấm
tán thán cho là hơn mình. Ngụy Vũ sai sứ rước Huyền Cao
làm thầy Thái tử Triều, môn nhân đắc pháp rất đông. Ngài
có một đệ tử tên Tăng Ấn, tự nói mình đắc quả A la
hán. Lúc mới nhập hạ, Ngài liền dùng thần lực khiến Tăng
Ấn trong định thấy mười phương vô tận thế giới và nghe
chẳng phải thuyết pháp, mỗi mỗi chẳng đồng. Cả một
hạ đó tìm chỗ thấy này chẳng dứt, bèn sanh lòng hổ thẹn
sám hối.
37.
PHÁP SƯ HUỆ ƯỚC
Huệ
Ước họ Sổ, lúc trẻ đạo đức đã vang xa, tổ tiên là
Cấp sự Trung Sổ Ấu Du, mỗi lần thấy Huệ Ước đến thì
đứng lên làm lễ. Có người hỏi:
- Ðây
là hạng con cháu của ông, sao ông lại cung kính thế?
Du
đáp:
- Ðây
là Bồ tát ra đời sẽ làm thầy trong thiên hạ, há chỉ có
mình lão phu kính mà thôi sao?
Lương
Vũ Ðế thỉnh Ngài ở trong cung. Ngày mồng 8 tháng 4 năm thứ
mười tám (520) niên hiệu Thiên Giám. Vua thọ giới Bồ tát
với Ngài, rồi thiết lập đại hội vô giá. Ngày ấy chợt
có cam lộ rưới xuống sân. Ba chim Túc Ðiểu và hai chim Khổng
Tước nằm đậu trên thềm. Thái tử và các vương tử công
khanh, đạo tục theo Ngài thọ giới đến bốn vạn tám ngàn
người. Nhân đây vua đại xá thiên hạ.
Nguyên
hiệu Ðại Ðồng nguyên niên (546), tháng 9, Huệ Ước có chút
bệnh. Vũ Ðế cho người đến hỏi thăm. Ngài nói:
- Ðêm
nay sẽ đi.
Ðến
canh năm, hương lạ đầy nhà, môn nhân lặng đứng. Ngài dạy:
- Hễ
có sanh thì có tử, đó là việc thường. Hãy siêng năng tu
niệm huệ, chớ khởi loạn tưởng.
Nói
xong, chắp tay mà tịch. Trâu xanh Ngài thường cỡi, rơi lệ
kêu rống không thôi. Một đôi hạc trắng từ lúc dựng tháp,
bay quanh kêu thương, tiếng rất thê thảm. Sau ba ngày, bay đi.
38.
PHÁP SƯ ÐÀM LOAN
Ðàm
Loan, ở Ðông Ngụy, xuất gia chí muốn được trường thọ.
Sau tu Phật pháp, nghe ẩn sĩ Ðào Hoằng Cảnh ở Giang Nam có
tiên thuật. Liền đến nước Lương yết kiến Cảnh. Cảnh
vui vẻ truyền cho mười cuốn phép tiên. Ông trở về Ngụy
đến Lạc Dương, gặp Bồ Ðề Lưu Chi bèn hỏi:
- Trong
Phật pháp có phép trường sinh bất tử không?
Ðáp:
- Sao
lại nói vậy? Ðất này từng có phép trường sinh? Dù được
ít lâu cũng chết, lại vẫn luân hồi.
Rồi
Bồ Ðề Lưu Chi bèn truyền cho ông Quán kinh nói:
- Ðây
là trường sinh thuộc họ Kim Tiên của ta vậy. Y theo đây
mà tu, sẽ ra khỏi sanh tử vĩnh viễn.
Ðàm
Loan bèn đốt kinh Tiên chuyên tu Tịnh độ.
Ngụy
chủ gọi Ngài là Thần Loan. Niên hiệu Hưng Hòa năm thứ tư
(542) thấy hương, hoa, tràng phan đến rước, thản nhiên mà
tịch.
39.
PHÁP SƯ KHUY CƠ
Thời
Ðường Thái Tông là thời kỳ Phật giáo Trung Quốc phát huy
rực rỡ, sự tích đại sư Huyền Trang thỉnh kinh, thấu qua
sự tường thuật được thần thoại hóa trong Tây Du ký, cũng
đã thành câu chuyện truyền khắp mọi nhà.
Lúc
thỉnh kinh từ Ấn Ðộ trở về, Sư có thâu được một đồ
đệ rất lý thú: Pháp sư Khuy Cơ (còn gọi là pháp sư Ba Xe).
Pháp
sư Khuy Cơ từ bé đã thông minh lanh lợi, xuất thân trong gia
đình phú quý, chú là đại tướng của vua Thái Tông, tức
là Ngạc Quốc Công Cảnh Ðức. Ngài là con của tướng quân
Kim Ngô Vệ Kính Tông, mẹ nằm mộng thấy cầm mặt trăng
nuốt vào bụng rồi có thai. Chiều sanh Ngài, hào quang đầy
nhà. Sáu tuổi đã viết sách. Ban đầu, Huyền Trang qua Tây
Vực được một cậu bé, dĩnh ngộ tuyệt luân, nhân Huyền
Trang bế đến Kính Tông, Tông gọi Khuy Cơ ra chào Huyền Trang.
Nhân Kính Tông sai tụng binh thư của Cơ làm, mấy ngàn lời.
Huyền Trang đếm đề mục. Ðợi đồng tử và Khuy Cơ tụng
xong. Bèn nói gạt rằng:
- Ðây
là sách cổ.
Rồi
bảo đồng tử Tây Vực che lại, đọc không sót một chữ.
Kính Tông nổi giận, cho là Khuy Cơ trộm sách cổ để gạt,
đòi giết. Huyền Trang xin cho Ngài xuất gia. Ngài đưa ra ba
điều kiện: Ðời sống xuất gia rất khổ cực, Ngài đòi
mang theo một xe vàng ròng; rất ham đọc sách, Ngài đòi mang
một xe sách vở; Ngài lại đòi mang theo một xe mỹ nữ để
hầu hạ mình, vì thế người đời gọi Ngài là “Pháp sư
ba xe”.
Tuy
bấy giờ bị người dị nghị, nhưng cuối cùng pháp sư Khuy
Cơ trở thành một Cao tăng đương thời, Ngài rất giỏi cả
Ðại thừa và Tiểu thừa. Niên hiệu Vĩnh Huy thứ năm (654)
vua Cao Tông đặc biệt xuống chiếu chỉ cho Khuy Cơ làm Ðại
tăng, vào chùa Ðại Từ Ân, tham gia dịch chánh nghĩa của
kinh. Khuy Cơ bèn theo Huyền Trang thọ tông chỉ Du Già Duy Thức.
Tạo luận đến 100 bộ, người đời gọi là Bách Bổn Luận
Sư, ngoài ra còn có trước tác 25 bộ 118 quyên về các kinh
Pháp Hoa Huyền Tán ...
Có
một tắc công án rất nổi tiếng phát sanh từ Ngài. Luật
sư Ðạo Tuyên ở núi Chung Nam là Sơ Tổ của Luật Tông. Ngài
trì giới tinh nghiêm, ngày ăn một bữa, cảm động lòng trời,
có chư Thiên cúng dường. Do đó, không cần ôm bát khất thực,
đến giờ cơm, thiên nhân tự nhiên cúng dường.
Một
hôm, pháp sư Khuy Cơ đi qua Chung Nam, nghe đồn luật sư ÐạoTuyên
ở đây tinh tấn, muốn lên núi bái phỏng. Luật sư Ðạo
Tuyên nghe Pháp sư Khuy Cơ muốn đến, đối với học vấn
của khuy Cơ, đương nhiên Sư rất bội phục, nhưng đối với
lối sống của Ngài thì Sư sanh tâm coi thường. Do đó, Sư
định chờ cơ hội này khuyên bảo pháp sư Khuy Cơ, cho ông
xem thấy Thánh cảnh chư Thiên đưa thức ăn cúng dường vào
giữa ngọ để phô bày sự cảm ứng do đức hạnh nghiêm
trì giới luật của mình. Ðâu dè giờ ngọ đã qua mà Thiên
nhân chẳng đem thức cúng dường đến. Khi pháp sư Khuy Cơ
đi rồi, giờ ngọ hôm sau, thiên nhân mới đem cúng dường.
Luật sư Ðạo Tuyên bèn hỏi:
- Hôm
qua sao không cúng dường?
Thiên
nhân thưa:
- Hôm
qua có Bồ tát Ðại thừa ở đây, thần Hộ pháp vây quanh
núi này nghiêm mật, tôi vào chẳng được!
Luật
sư Ðạo Tuyên toát mồ hôi, lập tức sanh lòng sám hối.
Khuy
Cơ người to lớn, cao tám thước (Tàu), khí thế trùm vạn
người. Trên gáy có ngọc chẩm; mười ngón tay có vân xoay
tròn rõ ràng như ấn. Người thấy nể phục. Lòng từ thiện
dạy người. Về già cầu sanh nội viện, nên hết lòng giữ
giới.
Ban
đầu Vô Trước và Thiên Thân ở Thiên Trúc, lên trời Ðâu
Suất tham hỏi tông chỉ Duy thức với đức Từ Thị, rồi
cùng nhau tạo luận. Nước ấy có Thánh hiền hoằng dương
giáo pháp này. Ðến luận sư Giới Hiền truyền cho Huyền
Trang. Huyền Trang truyền cho Khuy Cơ. Khuy Cơ tạo sớ luận
giải thích rộng rãi. Gọi là Từ Ân giáo.
Niên
hiệu Vĩnh Thuần năm đầu (682) Khuy Cơ nhập diệt, thọ 50
tuổi, là năm Võ Hậu lên ngôi.
40.
THẦN TÚ
Thần
Tú họ Lý quê ở Khai Phong. Thân cao tám thước, mày đẹp
tai to. Lúc nhỏ theo Nho giáo học rộng biết nhiều. Sau bỗng
đến Hoàng Mai gặp Hoằng Nhẫn bèn thán phục nói:
- Ðây
thật là thầy ta.
Hầu
hạ Ngũ Tổ sáu năm. Ngũ Tổ biết là pháp khí, bảo:
- Ta
độ người rất nhiều, mà kẻ ngộ giải chưa ai bằng ông.
Rồi
sai phân tòa thuyết pháp. Phía đông cách chùa bảy dặm, đất
bằng phẳng, núi hùng vĩ. Thần Tú nói:
- Ðây
chính là ngọn cô phong Lăng Già, là độ môn Lan Nhã, bóng
tùng thảm cỏ, ta về già sẽ đến đó vậy.
Thần
Tú trụ ở Ðương Dương, Võ Hậu xuống chiếu rước về
kinh đô, cùng Huệ An ở trong đạo trường để cúng dường.
Tú
thường có kệ:
Tất
cả Phật pháp
Tự
tâm sẵn có
Ðem
tâm cầu ngoài
Bỏ
cha chạy trốn.
(Nhất
thiết Phật pháp)
Tự
tâm bổn hữu
Tương
tâm ngoại cầu
Xả
phụ đào tẩu).
Thần
Tú thường tâu Vũ Hậu thỉnh Huệ Năng đến cung. Năng cố
từ chối. Thần Tú lại tự viết thơ mời nữa. Huệ Năng
bảo sứ rằng:
- Ta
hình dung xấu xí. Ở đó thấy ta, sợ chẳng kính pháp ta.
Hơn nữa, thầy ta bảo ta có duyên miền Nam, không thể trái
lời.
Và
từ chối không đi.
Thần
Tú ở Ðông đô, thiên hạ gọi là Pháp chủ Lưỡng kinh, Môn
sư Tam Ðế. Niên hiệu Thần Long năm thứ hai (706) ngày 2 tháng
2 Ngài nhập diệt, hiệu Ðạo Thông. Ngài sanh cuối đời Tùy
hơn 100 tuổi. Chưa hề tụ nói nên mọi người không rõ biết
là bao nhiêu.
41.
THIỀN SƯ NHÂN KIỆM
Nhân
Kiệm tức Hòa thượng Ðằng Ðằng, tháng tư năm Nhâm Thìn
(692), Vũ Hậu xuống chiếu rước vào cung. Ngài đến nhìn
Thái Hậu im lặng giây lâu nói:
- Hội
chăng?
- Không
hội.
- Lão
tăng giữ giới không nói.
Nói
xong bỏ đi. Có làm 19 bài ca ngắn, có bài:
Tu
đạo, đạo chẳng thể tu.
Hỏi
pháp, pháp không thể hỏi.
Người
mê chẳng rỏ sắc không.
Người
ngộ vốn không nghịch thuận.
Tâm
vạn bốn ngàn pháp môn.
Chí
lý không rời gang tấc.
Biết
giữ thành quách nhà mình.
Chớ
dối tìm châu quận khác.
Chẳng
cần học rộng nghe nhiều.
Chẳng
cốt biện tài, thông suốt.
Chẳng
biết tháng này đủ thiếu:
Chẳng
quản năm này dư nhuận.
Phiền
não tức là Bồ đề.
Hoa
sạch sanh trong bùn phẩn.
Ngài
đến hỏi ta thế nào?
Chẳng
thể cùng y đàm luận.
Sáng
sớm dùng cháo đỡ đói.
Ðúng
ngọ ăn thêm một bận.
Hôm
nay nhậm vận đằng đằng.
Ngày
mai đằng đằng nhậm vận.
Trong
tâm rõ ràng biết hết.
Hãy
làm ngu ngơ ám độn.
42.
HUỆ KHOAN ÐẠI SƯ
Huệ
Khoan họ Dương, người Ích Châu. Cha là Dương Vĩ làm đạo
sĩ hiệu Tam Ðộng Tiên sinh, có chị là Tín Tướng mới sanh
đã biết đạo, trọn ngày thiền tịch. Năm sáu tuổi Huệ
Khoan hàng ngày cùng chị luận bàn đạo lý, người nghe
không ai hiểu. Gia thế theo đạo Lão, một mình Khoan chẳng
vui. Cha quở mắng bắt lạy Thiên Tôn. Ngài bất đắc dĩ lễ
bái, tượng đồng bỗng đổ xuống vỡ ra. Thân tộc kinh dị,
nhân đó chép ngôn cú đã luận. Trước là thiền sư Ðàm
Tướng ở chùa Long Hoài, lúc lâm chung bảo đệ tử tên Hội
rằng:
- Ta
bảo duyên sẽ sanh vào nhà họ Dương, ở đỉnh núi Miên Trúc,
Quảng Hán. Sau bảy năm hãy đến gặp ta.
Nói
xong thị tịch. Sau Hội nằm mộng thấy Ðàm Tướng trách
mình lỗi hẹn. Hội thất kinh tỉnh dậy liền đến đỉnh
núi gõ cửa. Khoan hỏi:
- Ai
gõ cửa?
Hội
thưa:
- Dạ,
đệ tử là Hội.
Khoan
cười nói:
- Làm
sao biết ta mà xưng là đệ tử?
Hội
thưa:
- Nghe
tiếng Thầy giống tiếng ngày xưa.
Ngài
bèn ra gặp. Người cha đem những lời ghi chép sự đàm luận
của Ngài và Tín Tướng ra, Ngài dạy là luận Ðại Trang Nghiêm.
Hội
liền rước Ngài về chùa Long Hoài xuống tóc, khi ấy mười
ba tuổi, Hội kính sợ như thần. Chúng ở Long Hoài ba ngàn
người, Hội đều đích thân tận lực làm, Huệ Khoan một
mình nhàn nhã. Mọi người bàn tán, Hội nói:
- Ðây
là tiên sư của ta. Do đó đã đầy đủ đạo đức.
Từ
đây thần dị ngày một hiển lộ. Người đời gọi là Hòa
thượng Thánh. Niên hiệu Vĩnh Huy năm thứ tư (653) ngày 25
tháng 6, Ngài Thị tịch.
Người
đời cho là ứng thân Quan Thế Âm.
43.
BÁ TRƯỢNG HOÀI HẢI
Sư
nói:
- Ở
đất Thánh mà tập phàm. Vì Phật vào trong chúng sanh, thị
hiện đồng loại để dẫn dắt vỗ về và cùng loài với
ngạ qủy, thân thể bị lửa đốt, thuyết cho chúng Bát Nhã
Ba la mật, khiến chúng phát tâm. Nếu cứ ở mãi đất thánh
thì nương vào đâu mà nói chuyện với chúng được. Phật
vào chốn khổ cũng đồng như chúng sanh chịu khổ, chỉ khác
là đi đứng tự do không giống chúng sanh.
Sư
trụ ở Bá Trượng, thấy luật Thiền Tông từ Thiếu Thất
đến Tào Khê, phần nhiều nương theo luật chùa. Thuyết pháp,
trụ trì, chưa có quy củ. Ngài bèn than:
- Nếu
muốn Tổ đạo truyền bá chẳng mất, há nên theo hạnh của
Tiểu thừa sao?
Vì
thế Ngài sáng lập Thiền cư, hễ người đủ đạo nhãn,
đức đáng tôn trọng thì gọi là Trưởng lão. Ai làm Hóa
chủ thì ở phương trượng, không lập điện Phật, chỉ tạo
Pháp đường. Học chúng bao nhiêu đều vào trong tăng đường
hết, y theo tuổi hạ an bài. Ðặt giường nối dài, khi nằm
thì gối xéo, quay bên phải theo thế kiết tường mà ngủ.
Khi vào thất thỉnh ích dù người học siêng hay lười, hoặc
lớn hoặc chẳng câu nệ theo lệ thường. Tất cả đại chúng
trong viện, sáng tham thỉnh chiều nhóm họp, trưởng lão thượng
đường, thăng tọa, chủ sự theo chúng thứ tự đứng lắng
nghe. Khách chủ vấn đáp, kích dương tông yếu, ngày hai buổi
cơm cháo, tùy chúng chia đều. Thi hành pháp phổ thỉnh, đặt
mười nhà vụ liêu. Mỗi nhà một người cầm đầu trông
coi nhiều người, để cho mỗi ty thuộc trong nhóm, có ai giả
hiệu, trộm hình lẫn lộn trong thanh chúng, gây sự quấy nhiễu
người khác, duy na sẽ đưa lên, kéo ra khỏi bổn vị quải
tháp (khi được nhận vào chúng, gọi là cho quải tháp), tẫn
xuất đuổi ra khỏi viện. Hoặc người kia xúc phạm, như
lấy gậy đánh, thì nhóm chúng đốt y bát đạo cụ, đuổi
ra theo cửa bên, coi như để sỉ nhục.
44.
ÐÀM TẠNG Nối pháp MÃ TỔ - Ẩn cư HÀNH NHẠC
Ðàm
Tạng thọ tâm ấn ở Mã Tổ, sau yết kiến Thạch Ðầu được
thấu triệt. Niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ hai, Sư ở ẩn
trên chót đảnh Hành nhạc, ít người đến tham phỏng. Sau
vì đau chân, mới dời đến ở Tây Viên; các thiền khách
đến thăm viếng ngày càng đông. Một hôm tự nấu nước
tắm, tăng hỏi:
- Sao
không sai Sa di?
Sư
liền vỗ tay ba cái. Sư thường nuôi một con Linh Cẩu. Ðêm
đêm đi kinh hành, khi nào chó kéo áo thì mới trở về phương
trượng, còn chó thì nằm bên cửa canh. Một đêm nó sủa
đổng, chồm lên dữ tợn, đến sáng thấy phía đông nhà
bếp có một con trăn lớn dài mấy trượng há miệng thở
phì, hơi độc xông ra, thị giả thỉnh Sư tránh chỗ khác.
Sư nói:
- Cái
chết có thể trốn được sao? Nó đem độc đến, tôi dùng
lòng từ để nhận, độc không thực tánh, kích phát thì nó
mạnh, còn lòng từ vô duyên, oán thân một đạo
Sư
nói xong, trăn cúi đầu từ từ bò đi, chốc lát không thấy
nữa.
Một
tối có ăn trộm đến, chó cũng cắn y của Sư. Sư bảo ăn
trộm:
- Nhà
tranh có vật gì ưng ý cứ việc lấy đi, ta chẳng tiếc gì.
Ăn
trộm cảm lời Ngài, cúi lạy giải tán.
45.
BẢO TÍCH
Ban
đầu tham Mã Tổ, làm nhai phường (*). Một hôm đi giữa chợ
gặp một người khách mua thịt heo, bảo hàng thịt rằng:
- Lựa
miếng ngon, cắt cho một ký.
Hàng
thịt buông dao vòng tay nói:
- Trưởng
Sứ! Có miếng nào mà không ngon?
Bảo
Tích có tỉnh. Lại một hôm Sư ra cửa gặp đám ma. Một người
cầm linh khua hát:
Mặt
trời nhất định lặn về Tây
Chưa
rõ linh hồn đến phương nào?
(Hồng
luân quyết định trầm Tây khứ.
Vị
thẩm hồn linh vãng na phương?)
Ngay
lúc đó tang gia đang kêu khóc bi ai dưới màn, Bảo Tích mừng
rỡ cả thân tâm, trở về kể lại cho Mã Tổ, Tổ ấn khả.
Sau trụ Bàn Sơn.
(*)
Nhai phường: Có nhiệm vụ vào chợ búa để xin vật dụng
cho đại chúng.
46.
THIỀN SƯ MINH TOẢN Thuyết pháp HÀNH NHẠC
Minh
Toản tức Lại Tàn, chấp dịch ở Hành Nhạc, nhặt đồ thừa
mà ăn. Tánh Sư lười biếng, ăn đồ thừa nên có hiệu là
Lại Tàn. Tể tướng Lý Bí đề cao đức hạnh của Sư lên
vua Ðức Tông, vua sai chiếu mời. Sứ giả đến hang đá tuyên
chiếu vua nói:
- Tôn
giả hãy đứng lên tạ ơn vua.
Toản
làm thinh, mũi dãi lòng thòng. Sứ giả trông thấy cười bảo
Ngài chùi mũi. Toản nói:
Ta
hơi sức đâu mà vì người đời chùi mũi.
Rồi
không chịu đi.
Thích
Sử sắp tế thần núi, lo sửa đường lên. Nửa đêm sấm
gió, một khối đá to rơi xuống chắn ngang đường. Người
sửa đường đem mười trâu đến kéo, lại thêm mấy trăm
người giup mà hòn đá không nhúc nhích. Sư cười nói:
- Chẳng
phiền nhiều sức. Rồi lấy chân đạp đá, đá lăn tròn rồi
rơi xuống, tiếng như sấm nổ. Ðường được khai thông,
mọi người xem Sư như thần. Ngoài cổng chùa, cọp beo chợt
họp thành bầy. Sư bảo chúng tăng:
- Tôi
sẽ đuổi sạch chúng cho các ông. Ðưa roi đây!
Chúng
lấy roi đưa, Sư vừa ra khỏi chùa. Một con cọp vội vàng
vâng lệnh Sư bỏ đi, hổ beo cũng theo đó mà dứt tuyệt dấu
vết.
Sư
thường có bài ca:
Ngơ
ngơ vô sự không cải đổi
Vô
sự đâu cần luận một đoạn
Trực
tâm không tán loạn,
Việc
khác chẳng cần đoạn.
Quá
khứ đã qua đi
Vị
lai vẫn chẳng tính
Ngơ
ngơ vô sự ngồi
Ðâu
từng có người gọi.
Hướng
ngoại tìm công phu
Ðều
là tên ngu ngôc.
Lương
chẳng chứa một hột
Gặp
cơm chỉ biết kêu.
Người
đa sự ở đời,
Ðuổi
theo mà chẳng kịp.
Ta
chẳng ưa lên trời,
Cũng
chẳng thích ruộng phước.
Ðói
đến ăn cơm,
Mệt
đến thì ngủ.
Người
ngu cười ta,
Mà
người trí biết.
Chẳng
phải si độn,
Thể
vốn như nhiên.
Cần
đi thì đi,
Cần
đứng thì đứng,
Thân
khoác manh áo rách,
Chân
mặc khố mẹ sanh.
Nhiều
lời và lắm lẽ
Chỉ
làm hiểu lầm nhau.
Nếu
muốn độ chúng sanh,
Không
gì hơn tự độ.
Chớ
báng Phật thiên chân
Chân
Phật chẳng thể thấy.
Diệu
tánh và linh đài
Ðâu
cần chịu rèn luyện.
Tâm
là tâm vô sư
Mặt
là mặt mẹ sanh.
Kiếp
thạch có di động,
Trong
đây không cải biến.
Vô
sự vốn vô sự
Ðâu
cần đọc văn tự,
Dẹp
trừ gốc nhân ngã,
Thầm
hợp ý trong này.
Các
thứ nhọc gân cốt,
Chẳng
bằng ngủ trong rừng
Ngơ
ngơ ngẩng đầu nhìn,
Mặt
trời lên cao.
Ăn
thức ăn thừa
Ðem
công dụng công,
Dần
dà mờ tối.
Nắm
lấy chẳng được,
Không
nắm tự thông.
Ta
có một lời,
Dứt
nghĩ, quên duyên,
Nói
khéo chẳng được,
Chỉ
đem tâm truyền.
Lại
có một lời,
Chẳng
qua cho thẳng,
Nhỏ
như mảy lông,
Lớn
không nơi chốn.
Vốn
tự viên thành,
Chẳng
nhọc thêu dệt.
Thế
sự mang mang,
Chẳng
bằng non núi,
Tùng
xanh che trời,
Suối
biếc chảy dài,
Mây
núi đang giăng,
Trăng
đêm làm móc,
Nằm
dưới dây leo.
Gối
đầu tảng đá.
Chẳng
chầu thiên tử.
Há
khoái vương hầu.
Sanh
tử chẳng lo,
Còn
lo gì nữa?
Trăng
nước không hình.
Ta
thường chỉ an,
Vạn
pháp đều vậy
Vốn
tự vô sanh.
Ngơ
ngơ vô sự ngồi,
Xuân
đến cỏ tự xanh.
Lửa
phân bò chỉ biết màu vàng đẹp mà thôi.
Móc
bạc đâu rành bùn tía mới
Còn
chẳng có tâm chùi mũi dãi
Há
có công phu hỏi người tục.
(Phẩn
hỏa đản tri hoàng độc mỹ
Ngân
câu na thức tử nê tân
Thượng
vô tâm tự thu hàn thế
Khởi
hữu công phu vấn tục nhân).
47.
ẨN SỸ LÝ NGUYÊN Thăm TỲ KHEO Viên Trạch
Xưa
An Lộc Sơn vây hãm Ðông Thành, Lý Ðăng bị cầm giữa đến
chết. Lý Nguyên là con, phẫn chí tự thề không làm quan, không
lấy vợ, không ăn thịt, bỏ nha làm chùa Huệ Lâm. Tăng trong
chùa là Viên Trạch, kết bạn với Nguyên rồi dẫn nhau đi
dạo Nga Mi. Nguyên muốn đi từ Kinh Châu qua sông Tố lên đường
núi, còn Trạch muốn đi theo đường Tà Cốc Trường An. Nguyên
nói:
Tôi
đã dứt việc đời, há trở lại đường kinh sư sao?
Trạch
làm thinh, hồi lâu nói:
- Ði
đứng cố nhiên chẳng do ý người.
Bèn
đi theo đường Kinh Châu, thuyền đến Nam Phổ, thấy một
người đàn bà mặc quần gấm múc nước. Trạch chỉ và khóc
nói:
- Tôi
không muốn đi đường này cũng vì bà ta.
Nguyên
cả kinh hỏi. Trạch nói:
- Bà
này họ Vương, tôi sẽ làm con bà. Bà mang thai ba năm rồi,
vì tôi không đến nên không sanh được. Nay đã thấy thì
không còn trốn thoát được. Ông nên dùng phù chú nguyện
giúp tôi sanh mau. Ba ngày sau, lúc tắm đứa bé, mong ông đến
với tôi, tôi sẽ cười để làm tin. Và sau mười ba năm,
dưới trăng Trung thu, phía ngoài chùa Thiên Trúc ở Hàng Châu
sẽ cùng ông tương kiến. Tôi đã ba đời làm Tỳ kheo tu tập
Thiền, ở sông Tương phía Tây chùa Nhạc Lộc có hòn đá
to, tôi tọa thiền trên đó.
Nguyên
nghe xong thương xót hối hận. Ðến chiều thì Trạch chết.
Người đàn bà sanh được ba ngày thì Nguyên đến xem, đứa
bé quả nhiên cười. Sau đến kỳ hạn, Nguyên đến chỗ hẹn
ước, nghe bên bờ sông Cát Hồng có mục đồng gõ sừng trâu
mà ca rằng:
Ba
năm trên đá tinh hồn cũ
hưởng
trăng, vịnh gió chẳng cần bàn
Hổ
thẹn tình người xa đến viếng
Thân
này tuy khác tánh còn nguyên.
(Tam
sinh thạch thượng cựu tinh hồn
Thưởng
nguyệt, ngâm phong bất yếu luận
Tàm
quý tình nhân viễn tương phỏng
Thử
thân tuy dị tánh thường tồn).
Nguyên
bèn gọi:
- Trạch
Công mạnh không?
Ðáp
rằng:
- Chân
tín sĩ Lý Công! Ông duyên tục chưa hết, cẩn thận chớ gần
nhau, chỉ chuyên cần tu thì chẳng đọa. Rồi sẽ gặp nhau
nữa.
Lại
ca ràng:
Thân
trước thân sau sự mịt mùng
Muốn
nói nhân duyên sợ điếng lòng
Ngô
Việt núi sông tìm đã khắp
Khua
chèo trở lại đến Cù Ðường.
(Thân
tiền thân hậu sự mang mang
Dục
thoại nhân duyên khủng đoạn trường
Ngô
Việt sơn xuyên tầm dĩ biến
Khước
hồi yên trạo thướng Cù Ðường).
Rồi
ẩn mất không thấy nữa. Nguyên ở chùa hơn ba mươi năm,
chết lúc hơn tám mươi.
48.
THIỀN SƯ PHÁP KHÂM
Pháp
Khâm họ Chu ở Côn Sơn, theo Nho nghiệp. Lúc mẹ Ngài mang thai,
nằm mộng thấy hoa sen mọc ở then cửa, bà lấy một bông
cột vào thắt lưng. Tỉnh giấc, không ưa ăn mặn và sanh ra
Ngài. Ngài hình dung kỳ vỹ, thần sắc sáng rỡ, ưa lấy Phật
sự để nô đùa. Năm 22 tuổi về kinh ứng thí. Vì đi đường
bộ nên ghé nghỉ ở chùa Hạc Lâm. Huyền Sách trông thấy
lấy làm kinh dị hỏi:
- Ông
làm gì?
- Mong
lên kinh đô làm quan.
- Tuy
có tước ngũ đẳng đâu bằng làm bậc tôn quý trong tam giới.
- Học
được chăng?
- Xem
thần khí của ông thì ông thuộc loại sanh ra đã biết. Nếu
chịu xuất gia, sẽ ngộ tri kiến của Như Lai.
Pháp
Khâm bèn xé bỏ sách vở, khắc khổ thân cận, nương theo
Huyền Sách tu tập. Sách thầm nhậm là pháp thí, bảo với
môn nhân Pháp Cảnh rằng:
- Gã
này sẽ hoằng dương rộng lớn pháp của ta, là bậc Thầy
người.
Pháp
Khâm ngày đêm gắng gỏi, tam học đều tinh thông. Một hôm
thỉnh Huyền Sách chỉ dạy pháp yếu. Huyền Sách bảo:
- Không
người nào được pháp của ta.
- lấy
gì để truyền.
Pháp
Khâm chóng dứt các nghi trệ. Sau từ giã ra đi. Huyền Sách
nói:
- Ông
theo dòng mà đến, gặp “kính” thì dừng.
Pháp
Khâm bèn đi về Nam, thọ đại giới ở chùa Long Tuyền Dư
Hàng, rồi đến Lâm An ở phía Ðông Bắc một ngọn núi, hỏi
tiều phu rằng:
- Ðây
là núi gì?
- Ðây
là núi Kính Sơn.
Sư
bèn trụ ở đây. Có tăng hỏi:
- Thế
nào là đạo?
Pháp
Khâm bảo:
- Trên
núi có con cá Lý Ngư, dưới đáy nước có bụi dấy.
Mã
Tổ sai người đem thư đến. Trong thư vẽ một vòng tròn.
Pháp Khâm mở xem, vẽ vào vòng tròn rồi gởi trả.
Mã
Tổ lại sai Trí Tạng đến hỏi:
- Trong
mười hai giờ, lấy gì làm cảnh?
- Ðợi
lúc ông đi về, ta sẽ có tin.
- Về
ngay bây giờ.
- Nhắn
lại phải hỏi Tào Khê.
Vua
Ðại Tông lưu tâm đến Không môn khiến các đạo sĩ sanh
lòng đố kỵ. Tháng 9 niên hiệu Ðại Lịch năm thứ ba (768).
Ðạo sĩ Sử Hoa tâu xin cùng họ Thích đấu phép. Bèn ở Ðông
Minh Quán, đặt giá dao làm thang, Sử Hoa leo lên đi như trên
đường đá. Các tăng lữ nhìn nhau không dám bước lên. Khi
ấy Sa môn Sùng Huệ ở chùa Chương Kính vâng lịnh vua, ở
trên cây trong sân chùa, dựng một cái thang, bậc toàn mũi
nhọn, sắc trắng như sương, cao hơn thang ở Ðông Minh Quán
cả trăm thước. Sùng Huệ đi chân không mà lên, đến mút
thang dừng lại, leo xuống như đi trên đất bằng rồi đạp
trên lửa hừng, thử dầu sôi, ăn miếng sắt, nuốt đinh.
Các đạo sĩ trông thấy toát mồ hôi ướt áo bỏ chạy. Mọi
người hoan nghinh, tiếng đồn như sấm. Vua càng thêm kính
trọng xuống chiếu ủy lạo, khen ngợi mấy lượt, ban tử
y và gọi là Hộ Quốc Tam Tạng, vời vào cung hỏi:
- Sư
đệ tử ai?
- Cao
tăng Pháp Khâm núi Kính Sơn là thầy của hạ thần. Thần
chưa đủ giới pháp, không dám nhận tử y.
Vua
đặc biệt ra lệnh mở đàn giới. Vừa Yết ma, Sùng Huệ
ẩn thân trên đàn, không biết ở đâu. Vua càng kinh dị, bèn
lễ Pháp Khâm làm thầy, sai nội thị cầm chiếu chỉ đi thỉnh.
Sư đến, vua đích thân đi đón và hỏi pháp, làm lễ đệ
tử.
Pháp
Khâm một hôm ngồi trong sân trong, thấy vua đến liền đứng
lên. Vua hỏi:
- Vì
sao Sư đứng lên?
Sư
đáp:
- Ðàn
việt đâu được ở trên bốn oai nghi mà thấy bần đạo.
Vua
đẹp lòng ban hiệu là Quốc Nhất. Chẳng bao lâu Sư muốn
từ biệt đi. Vua nói:
Chúng
sanh ở đây có người đáng độ, chúng sanh kia há có khác
sao?
Pháp
Khâm đáp:
- Thực
không có pháp để độ chúng sanh.
Pháp
Khâm ở kinh đô chỉ một năm. Vua Ðại Tông mỗi lần ban
tơ lụa, dọn ngự tuyển Sư đều không nhận, chỉ mặc áo
vải, ăn rau, đồ dùng bằng sành như lúc thường. Tướng
Quốc Dương Oản thấy thế khen:
- Ðây
là bậc cao sĩ phương ngoại, khó được danh như thế.
Thôi
Triệu Công Quần thường hỏi Ngài:
- Ðệ
tử xuất gia được chăng?
Ngài
đáp:
- Xuất
gia là việc của đại trượng phu. Há dũng tướng mà làm
được.
Quần
khen ngợi lời này. Rồi Ngài từ giã trở về núi cũ.
Sư
từ Trường An trở về Kính Sơn. Về sau Thích Sử mời về
chùa Long Hưng ở Hàng Châu. Pháp Khâm bèn qua lại nơi đó,
chẳng chọn chỗ ở nhất định. Ngày 28 tháng 12 niên hiệu
Trinh Nguyên năm thứ tám (792) Sư thị tịch ở Long Hưng. Trước
đó ba ngày, Sư bảo chúng:
Nên
chôn ta ở hố đất ngoài sân phía Nam, đừng làm quan tài
sợ làm trở ngại đất trồng rau của tăng đồ.
Sư
thọ 92 tuổi, 70 tuổi hạ. Bi nguyện của Sư sâu rộng, ai
thấy mặt nghe danh đều như con được mẹ. Vì thế phía Ðông
đến núi Thái Sơn giáp biển, phía Tây đến Lũng Thục, phía
Nam tiếp Giao Quảng, phía Bắc đến tận phương Bắc (Sóc
Phương). Người học đạo thảy đều kính mộ quay về. Người
tham học đều coi Sư là Công Ðức Sơn, đến cả trời rồng
cùng quy kính hướng về loài khác quy y, đất mọc cỏ Linh
Chi, trên trời mưa Cam Lộ. Ðèn Thánh soi đêm, mây gấm sáng
vờn, mãnh thú ở một bên, chim chóc tụ đầy thất đến
ăn trên tay Sư. Có hai thỏ trắng quỳ lạy trong phương trượng,
một gà thường theo nghe pháp, chẳng ăn vật sống. Khi Ngài
đến Trường An, nó kêu suốt ba ngày mà chết. Một con vượn
cũng thường ở trong thiền thất, chẳng đi đâu khác. Khi
Sư tịch, ba ngày sau cũng chết theo.
49.
PHONG CAN – HÀN SƠN - THẬP ÐẮC Thị hiện THIÊN THAI
Phong
Can, chẳng biết người ở đâu. Niên hiệu Trinh Quán đời
Ðường, Sư đến ở chùa Quốc thanh núi thiên Thai, cắt tóc
ngang mày, mặc áo vải rách, có ai hỏi lý Phật, chỉ đáp
hai chữ “tùy thời”. Thường xướng đạo, cưỡi cọp ra
vào, chúng tăng đều kinh sợ chẳng ai dám nói chuyện với
Sư. Có Hàn Sơn, Thập Ðác cũng chẳng biết dòng họ, người
đời cho là đồ điên khùng, chơi thân với Phong Can. Hàn Sơn
ở núi Hàn Nham cách huyện Ðường Hưng bảy mươi dặm về
phía tây, nhân đây thành tên. Thập Ðắc thì do Phong Can khi
đến Xích Thành, nghe tiếng trẻ con khóc ở bên đường, hỏi
thì nói: “Mồ côi bị bỏ ở đây”. Do đó đặt tên Thập
Ðắc, đem về giao cho khố ở sau viện. Khố tăng (Tăng coi
kho) tên là Linh Tập coi nh