8
KHÔNG
THẤY CÁI TÔI
ĐỂ
NUÔNG CHIỀU
Cái
tôi chỉ do
Giả
danh mà thành
Thật
chẳng có gì
Để
mà chấp bám
Để
mà nuông chiều
Sống
trong ảo tưởng
TOÀN
BỘ vấn đề của chúng ta đều nằm ở chỗ chúng ta không
thấy được chân tướng của thực tại.Vọng tưởng giống
như nấm độc hay thuốc phiện luôn khiến tâm chúng ta phát
sinh ảo tưởng. Chúng ta không có khả năng vận dụng tri giác
chứng biết thực tại – đó là, mọi hiện tượng duyên
sinh đều tạm bợ vô thường, và điều căn bản là, sự
vật tuy hiện ra như vậy, nhưng sự hiện hữu của nó
không phải như ta thấy.
Tâm
vô minh của chúng ta chấp thấy mọi sự hiện hữu tự tính,
khi nhìn vào cái tôi hiện hữu, đã chấp thấy nó là một
cái tôi hiện hữu tự tính, mà thực ra nó không phải vậy.
Cũng y như thế, những gì mà với vô minh chúng ta nhìn thấy–cái
tôi, thân, tâm, những người khác, sáu trần cảnh (đối tượng
của giác quan-ND)–mọi sự là hiện hữu, nhưng không đồng
với cách mà vô minh chấp thấy. Aûo tưởng là như vậy.
Hãy
nhìn vào tất cả vọng-tưởng-chấp-thấy-hiện-hữu-tự-tính.
Y như cái khăn thêu che phủ cái bàn, cái tôi hiện hữu tự
tính che phủ cái tôi đơn thuần. Trong mắt nhìn của bạn,
chủ thể - cái tôi – bị phủ kín dưới lớp hiện hữu
tự tánh. Cả hành động và đối tượng cũng y như vậy.
Tất cả chúng đều được phô bày sinh động bằng tướng
hiện của hiện hữu tự tánh. Hãy nhìn toàn bộ những sự
việc này, hãy tỉnh giác biết rằng chúng nó là không (không
có tự tánh –ND). Hãy tập trung chú tâm vào điều này: mọi
sự – chủ thể, hành động, đối tượng – đều là không.
Mỗi mỗi sự vật trên đời đều là không.
Hãy
tập trung chú tâm vào tánh Không. Trong tánh Không, không
ngã, không tha, không chủ thể, không đối tượng, không bạn,
không thù. Trong tánh Không, không tham, không sân. Trong tánh
Không không có tánh Không. Trong khi thiền định về tánh Không,
trong khi nhìn vào tánh Không, hãy nên nghĩ như vậy. Rồi bạn
sẽ hiểu. Không có một lý do, dù rất nhỏ, để tin rằng
mọi sự ø tồn tại hiện hữu một cách độc lập riêng
biệt (biệt lập).
Cái
tôi thuần là giả danh, là gán đặt cho ngũ uẩn, cái tôi
đó không hiện hữu theo cách mà vô minh chấp thấy. Vô minh
coi cái tôi không phải là giả danh mà chấp là đang hiện
hữu độc lập. Hiện hữu tự tánh mà vô minh chấp thấy
đó thì không có. Chúng ta phải tỉnh giác biết rằng cái
gì trông như hiện hữu độc lập riêng biệt thật ra không
hiện hữu độc lập riêng biệt.
Tất
cả những gì hiện hữu, bắt đầu với cái tôi này, hoàn
toàn không là gì cả, đơn thuần là giả danh là gán đặt.
Không có cái tôi nào khác ngoài cái tôi giả danh được gán
đặt. Ngoài giả danh không làm gì có uẩn, không làm gì có
thân, hay tâm. Tương tự như vậy, hành động, đối tượng,
bạn, thù, kẻ lạ, các vật sở hữu, các trần cảnh, tất
cả những thứ này chẳng qua chỉ là giả danh, do tâm gán
đặt lên chúng. Toàn bộ những thứ này đều là không, gần
như thể không hiện hữu.
Nhưng
toàn bộ những thứ này – tôi, hành động, đối tượng,
bạn, thù, người xa lạ, các vật sở hữu, sướng, khổ,
tốt, xấu, khen, chê, được, mất – tất cả đều không
phải không-hiện-hữu. Như thể chúng huyển ảo, như thể
chúng không hiện hữu; nhưng chúng lại không huyển ảo –
chúng có hiện hữu.
Hãy
nhìn thấy toàn bộ những thứ này như là huyển ảo. Những
gì hiển lộ trước mắt bạn – cái tôi chắc thật (chắc
chắn có thật), hành động chắc thật, đối tượng chắc
thật, bạn chắc thật, kẻ thù chắc thật, người lạ chắc
thật, vật sở hữu chắc thật – tất cả (những gì chắc
chắn có thật đó) chẳng liên quan gì với thực tại (chân
đế-ND). Sự hiện hữu chắc thật độc lập riêng biệt này
chẳng liên quan gì với thực tại. Thực ra, tất cả đều
toàn là không.
Sướng,
khồ, khen, chê, thuận tai, trái tai, vinh, nhục, lợi(được),
thiệt hại(mất)–những điều này hiện ra như là có thật,
như là hiện hữu độc lập riêng biệt, nhưng thật ra chúng
chẳng liên quan gì với thực tại. Chúng không hề hiện hữu
theo cách này. Thực ra, những điều này hoàn toàn là
không.
Vì
các tập khí do vô-minh-chấp-có-tự-tánh trong quá khứ đã
và đang còn lưu lại trên dòng tâm thức tương tục nên giờ
đây chúng ta chấp thấy mọi sự đều hiện hữu tự tánh,
trong khi, thực ra chúng chỉ thuần là giả danh là gán đặt.Hạt
giống này- còn gọi là tiềm năng - lưu lại trên dòng tương
tục tâm thức cứ như vậy mà thành thục trổ quả.
Nếu
như không lập danh thì không có gì hiện hữu. Cái tôi sẽ
không hiện hữu nếu không gán cho cái tên “ tôi”. Ngũ uẩn,
luân hồi, Niết bàn –nếu không lập danh thì không hiện
hữu. Do đó, mọi thứ đều là không. Mọi sự chúng ta trông
thấy hiện hữu độc lập riêng biệt– cái ngã, hành động,
đối tượng, bạn, thù, người xa lạ, trần cảnh –thật
ra đều toàn là không .
Từ
sáng đến tối, chúng ta nói toàn những điều chỉ là giả
danh là gán đặt, suy nghĩ toàn những việc chỉ là giả danh
gán đặt, ngắm nhìn toàn những thứ chỉ là giả danh gán
đặt. Từ sáng đến tối, từ khi sinh ra đến khi chết, từ
vô thỉ sinh tử cho đến khi giác ngộ, tất cả đều như
vậy cả.
Cho
nên chúng ta không có lý do nào cả để phát sinh tham, sân,
si. Chỉ là chuyện vô nghĩa, vô ích, vô lý. Ấy thế mà tâm
của bạn đã và đang tạo ra những chuyện vô tích sự như
vậy. Tâm của bạn đã dựng nên tham sân si. Chúng ta phải
khẳng định rằng không có lý do gì để cho những vọng niệm
sai lệch của tham, sân, si nổi lên.
Tìm
kiếm cái tôi
Không
uẩn nào trong năm uẩn là cái tôi. Ngay cả tổng hợp ngũ
uẩn cũng không là cái tôi. Thân không là tôi. Ngay cả tâm
cũng không là tôi. Hãy hiểu thấu đáo rằng không có thứ
nào trong những thứ này là tôi. Các ngũ uẩn là cơ sở lập
danh rồi danh từ “tôi” được gán lên đó, nhưng chúng
không phải là tôi, cái tôi là một cái gì khác hơn. Cái tôi
không tách rời khỏi ngũ uẩn, nhưng khác với ngũ uẩn.
Từ
trên đỉnh đầu xuống cho tới các ngón chân, chúng ta chẳng
tìm thấy cái tôi ở đâu cả. Tất cả những gì bạn chỉ
ra đều không phải là tôi. Tất cả những gì bạn có thể
sờ chạm từ đầu đến chân đó đều không phải là tôi.
Không có cái nào của cái (thân) này là tôi. Hãy thấu biết
rõ ràng rằng: cái tôi chẳng ở đâu cả. Hãy quán như vậy.
Nếu
có thể tìm thấy cái tôi nơi các uẩn, như vậy có nghĩa
rằng nó hiện hữu biệt lập, có tự tính. Bằng sự phân
tích khoa học không chỉ dựa vào lòng tin, bạn không thể
tìm thấy được cái tôi trên các uẩn này. Nhưng điều này
không có nghĩa rằng cái tôi không có. Không có cái tôi trên
các uẩn này – nhưng có một cái tôi. Có một cái tôi đang
ở trên thế giới này, trong tu viện Root Institute này ở Bồ
Đề Đạo Tràng.
Cái
tôi hiện hữu – tại sao? Bởi vì cái tôi đang chịu khổ
và có thể từ bỏ khổ đau bằng cách từ bỏ nhân của nó.
Vì khổ đau nên cái tôi đang tu tập Pháp.
Nếu
không có cái tôi, cuộc sống sẽ rất đơn giản – bạn đích
thị chẳng phải làm gì. Bạn không cần lo dậy vào buổi
sáng và vội vàng ra khỏi nhà đi làm. Bạn chẳng cần đi
tìm việc. Nếu không có cái tôi, tại sao bạn phải đi làm?
Hay đi vào đại học để lấy bằng cấp? Toàn bộ những
việc này không cần thiết. Không có cái tôi để hưởng hạnh
phúc tiện nghi sung túc, thế thì tại sao bạn phải mất công
đi làm những việc nói trên? Nếu không có cái tôi tại sao
bạn phải lo lắng việc này việc nọ? Bạn có thể vứt bỏ
tất cả ngay lập tức.
Nếu
không có cái tôi, sẽ không có hành động thiền định. Nếu
không có chủ thể, cái tôi, làm sao có hành động thiền định?
Và sẽ là nói láo khi nói “Tôi đang thiền định”. Sẽ
không có chủ thể, hành động, đối tượng.
Tuy
nhiên, vì có một cơ sở lập danh, vì cơ sở lập danh của
cái tôi hiện hữu nên không còn cách nào khác, mà phải nói:
cái tôi hiện hữu. Vì có một hành động mà nó gây khổ
đau nên không còn cách nào khác, mà phải nói: ác nghiệp hiện
hữu. Vì có tâm sở khuấy động tâm vương, nên không còn
cách nào khác, mà phải nói: phiền não hiện hữu. Bởi vì
có những cảm thọ không mong cầu, không thoải mái, không
an lạc nên không còn cách nào khác nữa, mà phải nói: khổ
đau hiện hữu.
Tìm
kiếm Lama Zopa
Khi
bạn nhìn tôi, dường như có một Lama Zopa có thật, đang hiện
hữu như một đối tượng tự hữu, độc lập riêng biệt
nhưng điều này hoàn toàn ngược lại với thực tại. Cách
hiện hữu của Lama Zopa như chúng ta thấy đó không phải là
cách mà Lama Zopa hiện hữu thật.
Cuộc
đời chúng ta đang sống là một ảo tưởng lớn. Chúng ta
không tỉnh thức biết rằng những gì chúng ta chấp thấy
chắc thật, độc lập riêng biệt đó, đều là ảo ảnh cả.
Nói Lama Zopa “có thật” là nói rằng có con người đó hiện
hữu độc lập riêng biệt. Khi chúng ta nói “có thật”,
điều chúng ta thực sự nghĩ tới là “hiện-hữu-tự-tánh”.
Nếu bạn không thấy được sự vật là như huyễn thì khi
nói “có thật” bạn hiểu là “hiện hữu tự tánh”.
Không
có Lama Zopa trên các uẩn này. Không tìm thấy Lama Zopa có thật,
độc lập riêng biệt đó. Từ trên đỉnh đầu tôi xuống
các ngón chân của tôi, chẳng có Lama Zopa ở đây. Lama Zopa
chẳng tìm ra ở đâu cả: trên thế giới này, ở Bồ Đề
Đạo Tràng, ở trên các uẩn này. Chẳng ở đâu cả.
Tổng
hợp cả năm uẩn – sắc, thọ, tưởng, hành, thức –
không phải là Lama Zopa, và từng mỗi uẩn cũng không là Lama
Zopa. Có thể diễn tả ý này theo cách sau: thân này không phải
là Lama Zopa mà ngay cả tâm này cũng không phải Lama Zopa. Không
tìm thấy Lama Zopa từ trên đỉnh đầu xuống tới ngón chân.
Đây là một phương pháp đơn giản, ngắn, hiệu quả để
thiền định về tánh Không.
Nhưng
Lama Zopa không phải không-hiện-hữu. Ngay lúc này, cái gọi
là “Lama Zopa” đang hiện hữu ở thế giới này, ở Ấn
Độ tại Bồ Đề Đạo Tràng, trong tu viện Root Institute. Ngay
đây, tại tu viện này, Lama Zopa đang thực hiện chức năng
nói chuyện, tiếng nói phát ra từ cửa miệng (và đôi khi
phát ra từ lỗ mũi!). nhưng sự hiện hữu của Lama Zopa là
điều hoàn toàn khác với những gì mà bạn thường nghĩ.
Thực tại là một điều khác, hoàn toàn khác.
Thực
tại về cách thức Lama Zopa hiện hữu là một điều rất
vi tế (rất khó diễn đạt-ND), bình thường chúng ta không
bao giờ nghĩ đến. Cách thức mà bình thường chúng ta chấp
thấy về Lama Zopa thì hoàn toàn không liên quan gì với cách
Lama Zopa hiện hữu. Cách thức Lama Zopa hiện hữu là một điều
hoàn toàn khác.
Vậy
thì Lama Zopa hiện hữu như thế nào? Cái tôi này là gì? Nếu
bạn gán đặt tên “tôi”cho cái bàn, xe đạp, xe hơi, hòn
đá thì bạn thấy như thế nào? Nếu bạn gán cho máy truyền
hình cái tên mà bạn thường gán cho ngũ uẩn thì bạn thấy
thế nào?
Lấy
ví dụ, trên cánh đồng có một hình nộm bù nhìn dùng để
đuổi chim, không cho chúng đến phá hoại lúa. Từ xa không
nhìn thấy rõ, bạn cho rằng đó là một con người. Nhưng
khi đến gần hơn bạn thấy nó chỉ là một hình nộm bù
nhìn. Bạn nghĩ thế nào khi cái mà trước đó đã được
gán tên “một người” giờ đây chỉ là một hình nộm?
Bạn cảm thấy thế nào về cái giả danhø “một con người”
đã được gán ghép trước đó.
Bạn
nghĩ thế nào khi một người thân đã chết và để lại cho
bạn với chỉ một cái tên trống rỗng? Sẽ thấy thế nào
về cái tên đó? Người đã chết; thân xác không còn, chẳng
còn gì để cho bạn thấy nữa – vậy đó, bạn cảm thấy
thế nào về cái tên của họ? Trông giống như huyển mộng,
phải không?
Đây
là cách mà những ai thực chứng được tánh Không cảm
nhận về chúng sinh hữu tình hiện có. Đối với mọi sư
ï: cái tôi, vạn sự hiện ra trước mắt, luân hồi và niết
bàn, họ đều nhận biết như vậy. Hành giả giàu kinh nghiệm
thấy rõ mọi sự như huyễn – và đây là thực tại. Đây
là cách thức mà mọi sự hiện hữu trong cảnh giới thực
tại.
Cách
thức mọi sự hiện hữu thì cực kỳ vi tế, gần như thể
chúng không hiện hữu. Không thể nói rằng chúng hoàn toàn
không hiện hữu; nói không hiện hữu thì dễ đi đến chỗ
của thuyết hư vô. Đó là một điểm rất tế nhị. Bạn
có thể thấy tại sao nhiều người cảm thấy tri kiến duyên
khởi vi diệu của trường phái Trung đạo- Prasangika rất khó
để hiểu cho đúng.
Chúng
ta trở nên hồ đồ rồi. Vấn đề của chúng ta ở chỗ khi
chấp nhận rằng sự vật hiện hữu thì chúng ta có xu hướng
chấp thấy rằng nó hiện hữu độc lập riêng biệt. Rất
khó để hiểu được rằng sự vật có thể vừa hiện hữu
vừa không hiện hữu độc lập– tức là không-hiện-hữu-tự-tánh,
ngay từ bản chất. Rất khó để chấp nhận là: có hai cách
thấy (tri kiến) với cùng một sự vật.
Do
vì hai tri kiến này rất khó để hợp lại với nhau, nên nhiều
người rơi vào tri kiến cực đoan khi cho rằng sự vật không
hiện hữu. Họ không có khả năng đi vào cửa Trung Đạo.
Họ khư khư cho rằng nếu sự vật không hiện hữu độc lập
riêng biệt thì không có cách nào có thể hiện hữu. Những
người này chấp lấy chủ thuyết cho rằng không có gì là
hiện hữu, rằng cái gì trông thấy hiện hữu thì chỉ
là ảo ảnh.
Tri
kiến đúng thì cực kỳ vi tế. Bằng việc phân tách về thí
dụ Lama Zopa (vừa nói ở trên) bạn có thể thấy rằng tri
kiến này cực kỳ vi tế. Lama Zopa hiện hữu tùy thuộc vào
ngũ uẩn. Đơn giản như vậy đấy. Đây là lý do tại sao
Lama Zopa có mặt ở đây, ngay bây giờ trong căn lều này. Lama
Zopa tùy thuộc vào các uẩn mà hiện hữu; đó là lý do ông
ấy ở đây. Nhưng Lama Zopa là gì, điều này rất ư tế nhị,
đó là lý do mà tôi nói như thể không hiện hữu, như thể
một ảo ảnh.
Tìm
kiếm những thứ khác cái tôi
Tương
tự như khi quán về vô ngã của con người (nhân vô ngã-ND)
liên quan đến cái tôi, bạn có thể quán về vô ngã của
các uẩn, của mọi sự đang hiện hữu (pháp vô ngã-ND). Những
ai không quen với đề mục này sẽ không biết rằng từ ngã
trong vô ngã có thể ám chỉ bất kỳ cái gì, bất kỳ ai;
nó không chỉ dành riêng cho con người hay cho riêng bản thân
mình mà thôi. Các uẩn đồng thời cũng vô ngã.
Hãy
nhìn mọi vật quanh đây: cái bàn, khăn thêu, đèn, bức tường,
màn treo, hoa, hành động, đối tượng, trần cảnh. Bạn phải
hiểu rằng tướng hiện của tất cả mọi vật vừa nói ở
trên đều là ảo ảnh. Qua thí dụ quán sát Lama Zopa, bạn
có thể thấy, chúng ta hoàn toàn bị vướng kẹt trong ảo
tưởng nặng nề, chẳng liên can gì đến thực tại. Những
gì chúng ta thấy chẳng mẳy may liên quan đến thực tại.
Hãy
lấy ví dụ cái bàn. Chúng ta gán tên “cái bàn” cho một
vật mà chức năng là chỗ để đồ đạc lên nó. Chúng ta
gán tên “cái bàn” cho một hình thể đặc biệt này chủ
yếu vì chức năng này, hoàn toàn tùy thuộc vào chức năng
này. Tuy nhiên, bất cứ chỗ nào trên cái bàn mà chúng ta đưa
tay chỉ vào đều không phải cái bàn. Từng phần một, từng
mỗi miếng gỗ – mặt bàn, cái đáy, bốn chân – tất cả
đều không phải cái bàn; ngay cả cái tổng thể, tất cả
các phần gom lại với nhau mà nó dùng để cho ta đặt đồ
đạc lên nó, đều không là cái bàn. Tổng hợp các bộ phận
cũng chỉ là cơ sở lập danh (thể), chứ không phải cái bàn.
Cho
nên, trên vật này không tìm đâu ra cái bàn .Không có cái
bàn ở trên cái này. Nhưng có một cái bàn tùy thuộc vào
cơ sở lập danh. Có một cái bàn ở đây. Nhìn vào cơ sở
lập danh không thể tìm thấy cái bàn; nhưng cái bàn có đó,
bởi vì cơ sở lập danh có đó. Nhưng ngay trên cơ sở
lập danh không thể nêu ra cái bàn, không thể tìm thấy cái
bàn.
Ở
đây cũng vậy, thực tại của cái bàn hoàn toàn khác với
cái mà bình thường chúng ta thấy.Tướng hiện của cái bàn
và nhận thức của chúng ta hoàn toàn không liên quan gì với
thực tại của cái bàn. Thực tại là một cái gì khác hoàn
toàn. Khi phân tách xem cái bàn là cái gì, cố gắng thấy được
thực tại của cái bàn, cách thức nó hiện hữu trên thực
tế, chúng ta khám phá ra rằng cái bàn là một cái gì đó
khác hơn cái mà thông thường chúng ta chấp thấy nó. Từ
điều này bạn có thể nhận ra được ảo tưởng. Cái bàn
đơn thuần là giả danh, là khái niệm, ý muốn nói rằng
nó không có sự hiện hữu độc lập riêng biệt. Không có
cái bàn trên cơ sở lập danh này, nhưng bởi vì có cơ sở
lập danh nên có cái bàn ở đây.Cái bàn tùy thuộc vào cơ
sở lập danh này mà có. Cái bàn đơn giản là một ý tưởng,
cái tôi đơn giản là một ý tưởng; các uẩn đơn giản là
một ý tưởng.
Giờ
đây, ánh sáng mặt trời đã tắt. Đây là một ví dụ tốt
về sự hiện hữu tự tánh : bóng tối hiện hữu thật, bóng
tối không gán đặt giả danh, bóng tối độc lập riêng biệt.
Đây là một thí dụ tốt về đối tượng cần bác bỏ. Ánh
sáng, bóng tối. Có ánh sáng độc lập riêng biệt rồi
đột nhiên lại có bóng tối độc lập riêng biệt. Thực
ra, bóng tối chỉ là giả danh là gán đặt, nhưng chúng ta
lại không thấy như vậy. Cũng như cái bàn, như Lama Zopa,
khi chúng ta đột nhiên thấy bóng tối thì bóng tối hiện
ra sừng sững tự tánh.
Hãy
nhìn toàn bộ sự hiện hữu theo cách như thế này. Mọi sự
– cái tôi riêng của mình, các uẩn, các trần cảnh, luân
hồi, Niết bàn – tất cả đều giống như thế này. Cách
thức theo đó mọi sự – chủ thể, hành động, đối tượng,
toàn bộ sáu trần cảnh – thực tế hiện hữu
thì rất ư tế nhị.
Cơ
sở lập danh (thể) không phải là danh
Hãy
nhìn thấy bản chất của mọi sự như sau : Tên gọi được
gán lên cho cơ sở lập danh, và đến lượt cơ sở đó
cũng được dùng làm tên để gán lên cơ sở khác
. Như vậy, về bản chất, vạn sự đơn thuần là giả danh
là gán đặt. Vì vậy mọi sự đều như huyễn. Không
tự hữu nhưng lại hiện ra như thể tự hữu.
Chúng
ta gán cái tên “ngũ uẩn” lên cơ sở lập danh bởi
vì cơ sở này là cái mà nó không là ngũ uẩn. Trước
hết, bạn nghĩ đến nguyên do, rồi thì tâm trí đưa ra một
danh từ; nếu không thế, nếu không có cớ thì không thể
ngôn thuyết.Đối trước ngũ uẩn, bạn nghĩ đến nguyên do
trước tiên, bao gồm những đặc tính và chức năng của từng
uẩn, chẳng hạn, bạn gán cái tên “sắc” cho uẩn có màu
sắc, có hình tướng, có thể sờ mó được. Tương tự như
vậy, bạn gán tên: thọ, tưởng, hành, thức cho các uẩn
khác.
Hãy
lấy thức làm ví dụ. Bởi vì có chức năng nhận biết ý
nghĩa của sự vật, phân biệt vật này với vật khác nên
hiện tượng đặt biệt này được gán tên là “thức”
hay “tâm thức”. Hiện tượng này làm công việc ghi nhớ
mọi tiếp xúc với các trần cảnh (đối tượng giác quan)
(thông qua sự thấy, nghe, ngửi, sờ vân vân), lưu ký ấn tượng,
luân chuyển từ đời này sang đời khác, hiện tượng đó
được gán tên “thức”.
Một
thí dụ nữa. Có một người ở trong đám đông, bạn gọi
người đó“đây là cha tôi”. Trước hết, bạn dựa vào
nguyên do rồi sau bạn mới gọi như vậy: dựa vào tướng
dạng, dựa vào quan hệ người ấy với bạn. Nghĩ đến người
đàn bà có một sắc diện đặc biệt và mối quan hệ đặc
biệt với bạn, khác rất nhiều người khác, bạn gán tên
“mẹ” cho con người đặc biệt đó. Bạn cũng làm tương
tự như vậy khi bạn nói “đây là bạn tôi” hay “đây
là kẻ thù tôi”.
Chúng
ta có thể xem xét các vấn đề quanh mình theo cách này: Nếu
không có một người đầu tiên đã gán cho cái tên “đây
là bệnh SIDA” và tin tưởng vào cái tên gán ghép đó thì
đã không có cái gọi là bệnh SIDA. Chỉ việc gán đặt
tên mà thôi thì chưa đủ; còn phải tin tưởng vào cái tên
được gán đặt đó. Trước khi người bác sĩ đầu tiên
đã gán cái tên “SIDA” và tin vào cái tên đó, thì SIDA không
có. Sau đó, mọi người đều tin vào cái tên mà bác sĩù
đã gán cho, rồi họ cũng gán cái tên SIDA lên chứng bệnh
đó và tin vào nó. SIDA đơn giản chỉ là vậy.
Cũng
như cơ sở lập danh của cái bàn, các bộ phận của
nó không phải là cái bàn. Ngũ uẩn không phải con người.
Bệnh không phải là sida. Nếu bệnh đó là sida, vậy
cần gì phải đặt tên SIDA thêm một lần nữa? Tại sao chúng
ta cần gán đặt tên “SIDA” cho bệnh SIDA? Không có lý do
gì để gán đặt tên “cái bàn” cho cái bàn. Vì chủ đích
muốn gán tên nên bạn gán tên “cái bàn” cho một cái mà
nó không là cái bàn. Nói cách khác, nếu tự nó vốn là cái
bàn, thì tại sao bạn phải gán tên “cái bàn” cho cái bàn?
Như vậy là trùng lặp.
Bất
cứ khi nào chúng ta gán đặt tên cho một cái gì đó, thì
chúng ta gán đặt tên vào cái mà nó không phải tên đó. –
bằng không, việc gán tên chẳng có nghĩa lý gì cả. Hãy lấy
thí dụ về một đứa bé có tên gọi là Behram Singh. Cơ sở
lập danh ở đây là các uẩn của đứa bé, sự kết hợp
của thân và tâm. Nếu các uẩn đó là Behram Singh rồi, vậy
tại sao cha mẹ nó phải cho các uẩn đó một cái tên? Tại
sao cha mẹ phải suy nghĩ nên chọn tên gì? Tại sao họ đã
phải suy nghĩ và đưa ra cái tên “Behram Singh”? Nếu cơ sở
lập danh đã là Behram Singh vậy cần gì phải đặt tên nữa?
Việc đặt tên là vô dụng nếu một cái tên đã có sẵn
rồi ở đó. Cha mẹ nó đã cho cái tên “Behram Singh” bởi
vì cơ sở lập danh không phải là Behram Singh. Đây là lý do
tại sao cha mẹ đã gán đặt cái tên “Behram Singh”cho cơ
sở đó.
Nếu
nơi này, cơ sở lập danh này, nơi những bài Pháp này đang
được giảng, là Root Institute thì đâu cần phải gán đặt
cái tên “Root Institute” cho tu viện này. Một người nào
đó gán đặt tên “Root Institute” cho cơ sở này mà nó không
phải Root Institute. Cũng tương tự như vậy với SIDA. Cơ sở
lập danh, tức chứng bệnh, vốn không phải SIDA mà là cơ
sở lập danh. Cho nên, SIDA là gì? SIDA là cái tên được gán
đặt. Danh và cơ sở lập danh không thể là một. Các uẩn
và cái “tôi” không là một; các uẩn và cái “tôi” khác
nhau. Các uẩn và cái tôi không lìa, nhưng khác nhau, không đồng
nhất.
Cũng
tương tự như vậy khi nói tới SIDA. Vậy SIDA là gì? Nó khác
với cơ sở lập danh. Thực ra, sida không bao giờ là SIDA mà
người ta chấp là có thật, độc lập riêng biệt. SIDA
như vậy không hề có. Nó hoàn toàn là không, chỉ hiện hữu
qua cái tên mà thôi. Hãy quán về tánh Không của ung thư và
các bệnh khác theo cách này.
Danh
(tên được gán đặt-ND) không thể nẩy sinh nếu trước đó
không nghĩ tới các nguyên do. Sau khi trông thấy một “sắc”
đặc biệt, bạn gán đặt một danh đặc biệt. Khi lập danh
cho một sự vật, một người nào, bạn nghĩ tới những tính
chất đặc biệt của đối tượng đó hay con người đó,
và rồi bạn mới đặt tên. Cơ sở lập danh đã có trước.
Trước hết chúng ta nghĩ tới hay nhìn thấy cơ sở lập danh,
rồi chúng ta gán đặt một danh (tên) cho nó. Tiến trình này
chứng tỏ rằng cơ sở không phải là danh; danh đến sau. Nếu
cơ sở lập danh là danh thì gán đặt một danh cho nó lần
nữa là một chuyện điên rồ. Không có lý do gì để gán
đặt thêm một cái danh nữa cho nó. Như vậy là trùng lặp.
Suy
nghĩ, quán xét về sự khác biệt giữa cơ sở lập danh và
danh là một phương pháp đơn giản khác nữa để thiền quán
tánh Không. Đây là cách thức rất thiết yếu rất rõ ràng
để có được cảm nhận về tánh Không. Hãy phát huy sự
tỉnh thức về điều này.
Tánh
Không của ngũ uẩn
Ngũ
uẩn không phải là cái tôi; cái tôi chẳng qua chỉ là cái
được gán đặt cho ngũ uẩn. Do vậy, cái tôi là không, hoàn
toàn là không. Khi nói “ngũ uẩn”, chúng ta biết rằng cơ
sở lập danh của ngũ uẩn không phải là ngũ uẩn, vậy ngũ
uẩn là gì? Các uẩn chẳng qua chỉ là cái danh được gán
đặt, nên chúng hoàn toàn không.
Hãy
quán từng uẩn một. Cơ sở được gán danh “sắc” thì
không phải sắc, nên sắc là gì? Nó chẳng là gì cả, đơn
thuần là danh được gán đặt. Nên, sắc hoàn toàn là
không.
Kế
đến, thọ. Cơ sở được gán danh “thọ” không phải là
thọ, vậy thọ là gì? Nó chẳng là gì cả, đơn thuần là
danh được gán đặt. Nên, thọ hoàn toàn là không.
Tiếp
đến là tưởng. Ở đây cũng vậy, cơ sở được gán danh
“tưởng” không phải là tưởng, vậy tưởng là gì?
Chẳng là gì cả, ngoài cái danh được gán đặt.
Rồi
đến hành. Hành bao gồm tất cả các hiện tượng vô thường
không thuộc về các uẩn khác như sắc, thọ, tưởng và thức.
Các hiện tượng như tâm sở, con người, tập khí, thời gian
vân vân…..đều thuộc về hành uẩn.
Ở
đây cũng vậy, cơ sở được gán đặt danh “hành” ø không
phải là hành, vậy hành là gì? Chẳng là gì cả, ngoài cái
danh được gán đặt. Cho nên, hành hoàn toàn làkhông.
Cơ
sở được gán danh “thức” không phải là thức, vậy thức
là gì? Lúc nãy tôi đã định nghĩa về thức, đó là định
nghĩa về cơ sở lập danh, nhưng cơ sở lập danh của thức
không phải là danh “thức”.Tâm ta thường lẫn lộn giữa
cơ sở lập danh và danh, coi hai điều này là một. Đó là
cái cần bác bỏ, cái mà chúng ta phải nhận biết là không,
bỡi vì chúng là không. Cơ sở lập danh và danh hiện ra trong
tâm trí chúng ta như một, chỉ một, không tách biệt, nhưng
thực sự chúng không là một, chúng khác nhau.
Lại
nữa, các tính chất và chức năng đặc biệt của thức là
cơ sở lập danh, vậy thức là gì? Chẳng là gì cả,
ngoài cái danh được gán đặt. Ví dụ, cái tôi đi bộ, ăn,
ngủ, ngồi, xây nhà, nhưng như vậy không có nghĩa cái tôi
là các uẩn. Cũng có thể suy luận theo lô gích đó với thức.
Thức thực hiện chức năng nhận biết các đối tượng, vân
vân …, nhưng thức chẳng là gì cả ngoài cái danh được
gán đặt lên cơ sở lập danh đặc thù đó với các tính
chất và chức năng đặc biệt đó. Cũng như họat động của
ngũ uẩn được cho cái danh “tôi làm cái này cái kia”, tương
tự như vậy, hoạt động của uẩn này được gọi là “thức”.
Giống như tất cả các uẩn khác, thức hoàn toàn
là không.
Tánh
Không của sáu trần (đối tượng của các giác quan)
Trước
hết là sắc. Ở đây cũng vậy, cơ sở lập danh của sắc
không phải là sắc; sắc là cái khác với cơ sở lập danh.
Vậy, sắc là gì? Nó chẳng qua chỉ là cái tên được gán
đặt, nên sắc hoàn toàn là không. Tất cả những gì mà chúng
ta gọi là “sắc” ø hoàn toàn là không.
Đối
với tâm chúng ta, sắc không khác với cơ sở lập danh của
sắc.Nó và cơ sở lập danh của nó bị chấp thấy là một.
Khi nhìn thanh tre chúng ta gán danh “sắc” cho cây tre, đối
với chúng ta cơ sở lập danh tức cây tre, và sắc không khác.
Chúng ta thấy cơ sở lập danh và sắc là một, nhập chung
nhau. Đó là việc cần bác bỏ. Chúng ta không cảnh giác được
sự xuất hiện của hiện hữu có tự tánh: chúng ta thấy
sắc không phải được gán đặt mà sắc có sự hiện hữu
độc lập riêng biệt.
Khi
chúng ta nhìn hay nghĩ về cây tre, ngay tức thì cơ sở lập
danh và tre hiện ra làm một trong trí chúng ta. Tôi không nói
về những người không còn thấy sự vật hiện hữu
tự tánh; tôi chỉ nói về những người không thấy được
cơ sở lập danh của tre và tre khác biệt. Cho nên, đối tượng
cần bác bỏ hiện ra như thế đó.
Khi
chúng ta thấy sắc, thực ra chúng ta thấy cơ sở lập danh
chứ không phải thấy sắc, sắc chỉ là danh gán đặt. Cơ
sở lập danh không phải là sắc- cái hiện hữu được gắn
đặt. Vậy, sắc là gì? Chẳng là gì cả ngoài cái được
gán đặt; cho nên, sắc hoàn toàn là không.
Kế
đến là thanh (âm thanh. Ở đây cũng vậy, có cơ sở lập
danh, rồi chúng ta gán danh cho nó như là âm thanh dễ nghe, âm
thanh khó nghe, lời khen, tiếng chê. Lại nữa những lời mà
chúng ta gán danh “thanh”ø thực ra không phải thanh. Vậy
thanh là gì? Nó chẳng qua chỉ là cái được gán đặt bởi
tâm. Nên thanh hoàn toàn là không.
Tiếp
đến là hương. Đối tượng của khứu giác (mũi ngưởi),
được gán danh “hương”. Đối tượng của khứu giác này
là cơ sở lập danh, chứ không phải danh “hương”. Chúng
ta gán danh “hương” cho tất cả những gì lỗ mũi ngửi
được mà các giác quan khác không nhận biết. Đó là cơ sở
lập danhø, chứ không phải danh, không phải là hương- cái
hiện hữu được gán đặt. Vậy hương là gì? Chẳng
là gì cả ngoài cái danh được gán đặt bởi tâm. Vậy nên,
hương hoàn toàn là không.
Vị
cũng vậy. “Vị” được gán đặt lên tất cả những gì
giác quan của lưỡi cảm nhận được, mà các giác quan khác
không nhận ra. Cơ sở lập danh của vị vốn không phải vị,
vị là danh được gán. Do đó, vị là gì? Chẳng qua chỉ là
cái do tâm gán đặt; nên vị hoàn toàn là không.
Xúc
cũng vậy. “ Xúc” được gán đặt lên tất cả những gì
xúc giác cảm nhận mà các giác quan khác không thể nhận biết.
Xúc chỉ thuần là danh do tâm gán đặt, do đó cũng toàn là
không.
Tánh
Không của tứ diệu đế
Sự
thật về khổ - Khổ đế - bao gồm ba loại khổ: khổ khổ,
hoại khổ, hành khổ, tất cả đều do tâm gán đặt.
Do đó, Khổ đế hoàn toàn là không. Như thể nó không hiện
hữu.
Sự
thật về nhân của khổ -Tập đế - được gán đặt cho nghiệp
và phiền não (vọng tưởng). Do đó, Tập đế hoàn toàn là
không, như thể nó không hiện hữu.
Sự
thật về việc chấm dứt khổ - Diệt đế - hay là giải thoát,
là nơi, ở đó dòng tương tục tâm thức đã dứt bỏ được
những chướng ngại do loạn tưởng. Diệt đế này không là
gì cả, đơn thuần là danh do tâm gán đặt. Do đó, Diệt đế
hoàn toàn là không, như thể nó không hiện hữu.
Sự
thật về con đường - Đạo đế - được gán đặt lên trí
tuệ trực nhận tính Không. Bởi Đạo đế
không là gì cả, chẳng qua chỉ là danh do tâm gán đặt, nên
nó hoàn toàn khôngï hiện hữu độc lập riêng biệt.
Tất
cả – Khổ, Tập, Diệt, Đạo – chẳng qua chỉ là những
cái do tâm gán đặt; nên chúng hoàn toàn không hiện hữu độc
lập riêng biệt.
Khi
bạn thiền định về Tinh hoa của Trí Tuệ, bạn hãy thiền
định từng mỗi uẩn và mỗi trần cảnh (đối tượng của
giác quan). Hãy thiền định từng điểm một. Hãy áp dụng
lý luận rằng mỗi điểm đều là không vì nó chỉ là được
gán đặt; làm như vậy tự nhiên bạn cảm nhận được nó
là không. Hãy nhiếp tâm nơi tánh Không. Càng hiểu sâu hơn
ý nghĩa của duyên sinh vi diệu và giả danh thì càng hiểu
sâu hơn về tánh Không.
Đây
là chân tướng của sự vật. Khi chúng ta thực hành tỉnh
thức về điều này chúng ta đi vào cảnh giới khác. Nhưng
khi chúng ta không thấy biết thực tại, chúng ta sống trong
một thế giới như sau: cái “tôi” hiện hữu tự tánh, sống
một cuộc sống hiện hữu tự tánh ở trong thế giới hiện
hữu tự tánh. Khi chúng ta không thấy biết thực tại, chúng
ta sống cuộc sống với cái tôi hiện hữu tự tánh (vốn
không từng có) với các uẩn hiện hữu tự tánh (vốn không
từng có) và các trần cảnh như sắc, thanh, hương, vị, xúc
cũng hiện hữu tự tánh (vốn không từng có). Chúng ta tin
vào sự hiện hữu tự tánh của Khổ (vốn không từng có)
và Tập (vốn không từng có). Chúng ta nghĩ đến nghiệp ác
chắt thật, độc lập riêng biệt (vốn không từng có), nghĩ
đến sự giải thoát chắc chắn có thật, độc lập riêng
biệt (vốn không từng có) nghĩ đến con đường tu tập chắc
chắn có thật mà chúng ta đang thiền quán (vốn không từng
có).
Hãy
luôn thấy biết thực tại
Bồ
tát Togme Zangpo có nói:
Mặc
dù tôi có thể ngồi ở đây trên một pháp tòa và nói nhiều
về tánh Không nhưng nếu có ai lên tiếng khen chê thì tâm
tôi liền loạn động ngay. Dù tôi có thể nói “mọi sự
hiện ra chẳng có gì có tự tánh” nhưng ưa ghét vẫn nổi
lên cho dù chỉ với ít lời khen chê. Chẳng một chút
công phu nào xứng đáng được gọi là con đường Trung Đạo.
Bạn
có thể có khả năng trì tụng thuộc lòng và giải thích rất
hay về toàn bộ Trung Đạo (Madhyamika) – toàn bộ luận giảng
tính Không của Ngài Long Thọ (Nagarjuna), toàn bộ luận giảng
sâu sắc về tuệ giác của Lama Tsong Khapa, hay tất cả những
giáo lý Ba La Mật – tất cả những lời dạy về Trí Tuệ
Siêu Việt. Nhưng trong đời sống hằng ngày, tâm bị dao động
khi nghe lời khen sơ hay tiếng chê nhẹ. Như vậy là không an
định: phiền não ưa ghét lập tức nổi lên. Nếu điều này
xảy ra trong tâm bạn hàng ngày, thì chứng tỏ bạn không có
sự tu tập đúng đắn, không hề đúng chút nào.
Hãy
tỉnh thức thấy rằng mọi sự “có thật” này, mọi sự
trông thấy hiện hữu độc lập riêng biệt này đều là không.
Hãy hiểu rằng tất cả chúng đều là ảo ảnh, có nghĩa
rằng tất cả đều là không. Nói tóm lại, tất cả các pháp
duyên sinh, ngay tự bản tính vốn tạm bợ vô thường, ngay
tự bản tánh vốn là không.
Trong
cuộc sống hằng ngày, nếu bạn không thực hành tỉnh thức
này thì tâm bạn sẽ bị ngập tràn bởi những ảo tưởng,
những ý niệm sai lầm, giống như thành phố ngập chìm trong
biển nước. Tâm bị vọng niệm, vọng cảnh, vọng kiến chiếm
đoạt.
Hễ
tâm còn bị vọng niệm nhận chìm thì an lạc chân chính không
thể phát sinh. Đời sống chìm trong ảo tưởng. Ảo tưởng
cơ bản là việc không thấy mọi sự đều như huyễn. Những
người không thấy biết tánh Không, không thấy mọi sự là
như huyễn, họ không những thấy mọi sự là hiện hữu tự
tánh - thực ra là huyễn ảo - mà còn mắc phải một vấn
đề rất nan giải là khư khư bám chấp rằng mọi sự
đúng là có thật. Vọng niệm này, vô mình này là nguồn gốc
của tất cả các mê lầm khác và rồi tác động lên nghiệp,
đến lượt nghiệp đó gieo chủng tử vào dòng tâm thức tương
tục, làm nhân cho luân hồi sinh diệt.
Tương
tự như vậy, tâm vô minh chấp mọi sự hiện hữu độc lập
riêng biệt, cái tâm đó luôn không ngừng cột chặt bạn vào
luân hồi, khiến bạn từ đời này sang đời khác cam chịu
ba loại khổ. Ngoài ra, nó còn ngăn cản bạn thành tựu giải
thoát và giác ngộ, không cho bạn có khả năng hoàn thành ước
nguyện cứu độ chúng sinh hữu tình, dẫn dắt họ tới hạnh
phúc tối thượng và giác ngộ viên mãn.
Chạy
theo tâm vô minh này chẳng được chút lợi lạc nào cho
mình, cho người, mà toàn là tai hại. Thật là ấu trĩ tin
vào vô mình này khi mà thực ra không hề thấy có các hiện
tượng hiện hữu tự tánh như vậy. Tự bản chất mọi sự
đều là không. Mọi sự đều không hiện hữu tự tánh, nên
hoàn toàn vô lý khi tâm bạn khư khư chấp rằng nó là
thật chỉ vì bạn trông thấy nó hiện hữu thật. Thật
là vô nghĩa, vô ích và quá ư sai lầm. Tác hại mà vô mình
này gây cho bạn thì thật là to lớn.
Chẳng
có lý do nào cả để chúng ta theo đuổi tâm vô minh khư
khư chấp thấy mọi sự là hiện hữu tự tính và tin
rằng tướng hiện đó là hiện hữu tự tính. Và
chẳng có ích lợi gì để cho phép những vọng niệm của
tham và sân nổi lên.
Không
có cái tôi để nuông chiều
Thực
ra, cái tôi hoàn toàn là không, nên chẳng có gì để nuông
chiều nó. Hãy nhìn thấy rằng cái tôi là không, rồi hãy
dò xét xem có gì để nuông chiều không. Bởi vì cái tôi hiện
hữu là đơn thuần được gán đặt nên chẳng có gì phải
nuông chiều, chẳng có gì phải khư khư bám giữ. Khi
bạn rà xét, sẽ thấy thái độ vị kỷ làhoàn toàn ngu xuẩn
và chỉ tạo ra vấn đề mà thôi. Dù bạn không muốn có vấn
đề, nhưng bạn lại tạo ra vấn đề.
Vị
kỷ là độc đoán. Vì độc đoán mà cố bảo vệ cái tôi,
vì bảo vệ cái tôi mà đưa đến hàng loạt vấn đề cùng
những thất bại. Như vậy không hợp lý chút nào. Hãy soát
xét xem “vì sao tôi nuông chiều bản thân? Vì sao tôi cho rằng
tôi là quan trọng hơn tất cả vô lượng chúng sanh hữu tình
khác? Vì sao tôi cho rằng cá nhân tôi quý báu đến như vậy?”
Không hề có một lý do chính đáng nào cho thái độ vị
kỷ. Chúng ta có thể đưa ra rất nhiều lý do tại sao chúng
ta nên chăm sóc người khác, trong khi đó chúng ta không thể
tìm thấy một lý do nào để chúng ta cưng chiều bản thân
mình.
Cái
tôi không có gì quan trọng hay quý báu cả. Cũng như bạn,
các chúng sinh hữu tình khác cần hạnh phúc và không muốn
khổ đau. Chúng sinh thì vô lượng còn mình thì chỉ có một.
Tầm quan trọng của bản thân sẽ biến mất khi bạn nghĩ
tới vô lượng chúng sinh khác. Cái tôi chẳng là gì cả. Cho
dù sinh vào địa ngục thì cũng chỉ là một, nên chẳng tuyệt
vọng. Dù được giải thoát khỏi luân hồi thì cũng chỉ
là một, nên chẳng có gì để háo hức. Khi nghĩ tới vô lượng
chúng sinh khác - cũng như mình -muốn hạnh phúc và không muốn
khổ đau, bạn sẽ thấy cá nhân một người trở nên hoàn
toàn vô nghĩa.
Do
vậy trong cuộc sống, sẽ không có gì cần làm hơn là phục
vụ cho người khác, chăm lo cho tất cả họ. Với thái độ
này, bạn hãy mang hết thân, ngữ, ý phục vụ cho chúng sinh.
Trong cuộc sống, không có gì quan trọng hơn điều này.
9
THƯƠNG
YÊU CHĂM SÓC MỌI NGƯỜI 
Hạnh
phúc chân thật trong cuộc sống bắt đầu có được khi bạn
bắt đầu thương yêu chăm sóc mọi người.
Trao
đổi mình với người
TƯ
TƯỞNG BỒ ĐỀ TÂM thật vĩ đại không gì so sánh nổi. Bồ
Đề Tâm làm nên mọi sự và khiến cho mọi người ưa thích,
hài lòng. Bồ đề tâm đích thực là điều mà ta quan tâm
trong cuộc sống này. Ngoài ra, bất cứ cái gì khác đều vô
nghĩa, trống rỗng, vô ích.
Hạnh
phúc chân thật và sự mãn nguyện chân thật sẽ xuất hiện
khi bạn bắt đầu sống một cuộc sống vì người khác. Bạn
nhập thất ẩn tu vì người, làm việc ở cơ quan cho người,
nấu ăn cho người. Khi thái độ của bạn thay đổi nhằm
để làm mọi việc, vì người khác, giúp dẹp bỏ khổ đau
và tích luỹ hạnh phúc cho họ, lúc đó bạn sẽ có được
sự mãn nguyện và bình an chân thật trong tâm.
Khi
bạn đang nuông chiều bản thân, đang nghĩ về mình như “làm
sao tôi được sung sướng?” hay “làm sao tôi tránh được
các vấn đề?” lúc đó bạn sẽ không có được hạnh phúc
trong tâm, mà chỉ là phiền muộn lo sợ. Bạn chỉ thấy các
vấn đề và tâm bạn không thảnh thơi thoải mái. Nhưng ngay
sau đó chỉ một giây lát khi bạn thôi không nghĩ đến mình
mà quay sang quan tâm đến chúng sinh khác, dù chỉ quan tâm đến
một chúng sinh mà thôi, thì lập tức tâm bạn sẽ được
giải thoát khỏi sự trói buộc của vị kỷ, giống như tay
chân thoát khỏi xiềng xích. Ngay khi đối tượng quan tâm không
phải bản thân mình mà là một người nào đó thì tâm bạn
cũng sẽ được thoát khỏi gông cùm của tư tưởng vị kỷ.
Ngay khi bạn quan tâm đến người khác, lập tức có một sự
bình an trong tận đáy lòng mình. Ngay trong khoảnh khắc
không nghĩ đến mình, mà quan tâm chăm sóc những người khác,
thì sẽ có ngay sự giải phóng, tức là thoát khỏi gông cùm
của tâm vị kỷ siết chặt mình.
Khi
nhận ra rằng các hoàn cảnh bất hạnh đến từ những mê
lầm của tâm chưa được thuần phụcï thì các hành giả
Phật Pháp sẽ dùng cách giải quyết này để phá tan mê lầm
của họ. Bạn không nhận vào những gì mà suy nghĩ vị kỷ
đưa lại cho bạn. Bạn có thể nhận vào mình các khổ đau
và các vấn đề của những người khác. Thay vì đổ lỗi
cho ai đó để mình được thoải mái nhẹ nhõm, thay vì để
mặc ai đó chịu đau đớn, mất mát, thiếu thốn, gian khổ,
bị mang tiếng xấu, bị phê bình, bị phạt, hay gì gì nữa
thì bạn hãy nhận vào mình tất cả những điều tệ hại
đó và để cho họ được đắc thắng. Đây đích thực là
giáo huấn thực hành của Đại thừa về việc hoán đổi
mình với người, buông bỏ cái ngã và yêu thương chăm sóc
mọi người.
Ngay
ở đây, với toàn bộ những vấn đề do suy nghĩ vị kỷ
mang đến cho bạn, bạn hãy trả những vấn đề đó cho suy
nghĩ vị kỷ này. Cũng giống như vậy, bạn dùng các vấn
đề của bạn để phá hủy nguồn gốc các khổ đau của
bạn, những vọng tưởng và mê lầm của chính bạn. Như trong
Lama Chopa có nói:
Xin
khẩn cầu ban phước sao cho con thấy được rằng bệnh vị
kỷ mãn tính này là cửa ngõ dẫn tới mọi đau khổ, và con
đổ lỗi tất cả cho suy nghĩ vị kỷ để con diệt cho được
con quỉ vị kỷ to lớn này.
Chỉ
biết chăm lo cho bản thân mình là đầu mối của mọi bất
hạnh và các chướng ngại xảy ra như bệnh tật, thất bại
trong công việc, trong học hành và trong tu tập Pháp. Theo đuổi
những suy nghĩ vị kỷ chỉ mang tới các vấn đề và cácï
thất bại. Thay vì đổ lỗi cho hoàn cảnh bên ngoài hay ôm
giữ trong lòng toàn bộ các ác niệm do suy nghĩ vị kỷ đưa
tới, bạn hãy sử dụng chúng để “diệt tận gốc con quỷ
vị kỷ to lớn” của bạn. Bạn không chỉ đổ lỗi cho suy
nghĩ vị kỷ mà còn hơn thế nữa, bạn trả các vấn
đề lại cho nó, sử dụng chúng như là dược phẩm để chữa
lành bệnh vị kỷ kinh niên, các vọng tưởng, các mê
tín.
Dùng
các vấn đề để huỷ diệt vị kỷ
Để
đạt được hạnh phúc tối thượng bạn phải huỷ diệt
vọng tưởng. Giáo Pháp, con đường Đạo, chư Phật, các vị
thầy, vân vân, tất cả đều là phương tiện để huỷ diệt
vọng tưởng của bạn, để phá hủy suy nghĩ vị kỷ
của bạn và để điều phục tâm bạn.
Chịu
đựng, chấp nhận sự phê bình sự bất kính hay sự đối
xử tệ hại cũng giúp bạn phá huỷ suy nghĩ vị kỷ, suy nghĩ
về bát phong. Điều này là tốt chứ không phải xấu. Do đó,
phá hủy suy nghĩ vị kỷ và bát phong là cách tu tập Pháp.
Thông
thường trong cuộc sống hằng ngày chúng ta nhận xét suy diễn
rằng ai đó đã cư xử xấu, tệ bạc với chúng ta, nhưng
thực ra những sự cư xử đó là tốt, là có lợi. Nó trở
thành thuốc chữa bệnh vị kỷ và nhữngï suy nghĩ bát phong
của chúng ta. Người nào mà cư xử tệ bạc với chúng ta
là đang giúp chúng ta huỷ diệt vọng tưởng, gây tổn thương
các suy nghĩ vị kỷ, bát phong, các ham muốn của chúng ta,
đích thực giống như Pháp.Bằng cách cản trở mong ước của
chúng ta, người đó ngăn chặn sự an nhàn mà chúng ta tìm
kiếm trong các suy nghĩ bát phong. Điều này chính xác
y hệt như Pháp. Hành động của họ trở thành y dược thật
sự để chữa lành tâm bệnh dai dẳng mà chúng ta đã bị
đau từ vô thỉ, bệnh mãn tính của ba tâm độc.
Cũng
giống như vậy với bất kỳ vấn đề hay tình huống bất
hạnh nào mà bạn phải chịu đựng như bị ung thư bị sida,
đó là kết quả của việc nuông chiều theo những suy nghĩ
vị kỷ và ba tâm độc trong đời này cũng như trong các đời
quá khứ. Suy nghĩ vị kỷ khiến ta không muốn có những bệnh
tật này, ngược lại bệnh tật đích thị là thuốc chữa,
là đường đạo, là Pháp.
Việc
coi những người cư xử tệ bạc với chúng ta hay các tình
huống bất hạnh (như bệnh tật) là không tốt sẽ không giúp
gì cho chúng ta cả, trái lại nó còn hại cho ta và người
khác. Hãy coi những người cư xử tệ đó, những tình huống
bất hạnh đó là tốt, là có lợi cho sự tịnh hoá. Điều
này sẽ giúp bạn làm tiêu hao cạn kiệt những ác nghiệp
nặng ngay lúc này mà lẽ ra chúng ta phải kinh qua ở địa
ngục trong vô vàn kiếp sau.
Thay
vì cho là xấu, bất lợi khi có điều gì làm tổn thương
tính vị kỷ và bát phong thì hãy coi nó là có lợi, là tốt.
Hãy sử dụng nó để huỷ diệt vọng tưởng của bạn và
để đạt tới giải thoát, giác ngộ. Và dù có hay không có
cách giải quyết các vấn đề của bạn và đặc biệt nếu
không có cách chữa trị thì bạn cũng có thể rút ra những
lợi lạc từ các vấn đề của bạn đang khi bạn mắc phải.
Trong
một luận giảng về chuyển hóa suy nghĩ, đã có một ý nêu
ra rằng: “Khổ đau là cây chổi quét sạch ác nghiệp và
che chướng”.Việc bạn đang chịu đựng đang trải nghiệm
các vấn đề nào đó sẽ là cây chổi, máy hút bụi để
làm sạch các ác nghiệp, tẩy trừ các nhân của chúng.
Luận
giảng cũng có nói: “Bệnh tật cũng là cây chổi quét sạch
ác nghiệp và các che chướng”. Ở đây bệnh tật được
nêu ra như một trong nhiều thí dụ, điều này có thể
áp dụng cho bất kỳ vấn đề nào. Các vấn đề trong cuộc
sống có thể trở thành lời dạy của đức Phật. Nếu các
vấn đề được nhìn với góc độ tích cực thì bạn có
thể sử dụng chúng để huỷ diệt suy nghĩ vị kỷ của bạn.
Trong
phép tu chod, bạn cố ý tạo ra một tình huống khiếp sợ
và khẩn cầu các sinh linh phẫn nộ để giết cái ngã của
bạn. Đối với các hành giả đã chứng ngộ cao và đã thành
công trong phép tu chod thì thật dễ dàng trong tình huống như
vậy để thấy rõ đối tượng cần bác bỏ tức là cái tôi
hiện hữu chắt thật. Bạn càng nhận ra nó nhanh hơn thì bạn
càng có khả năng hơn để chứng ngộ bản chất tối thượng
tức là tính Không của cái tôi, và của ngũ uẩn, vân vân.
Tuy
nhiên bạn không cần phải dựa vào chod để tạo ra tình huống
màbạn có thể chứng ngộ tánh Không . Bất kể tình huống
bất hạnh nào như bị bệnh, bị phê bình hay bị tổn thương
bởi ai đó…cũng là tình huống y như chod . Những người
gây phiền hà trong cuộc sống hằng ngày của bạn thì y hệt
như các sinh linh mà bạn khẩn cầu đến để quấy nhiễu
bạn khi bạn đang thực hành chod. Khi có người như vậy đang
gây khó khăn cho bạn, thay vì nổi lên sự tức giận uất
ức và tạo ra ác nghiệp, bạn hãy dùng họ để nhận ra đối
tượng cần bác bỏ và chứng ngộ tính Không . Bạn có thể
sử dụng các hoàn cảnh hằng ngày mà bạn đã đang kinh qua
để chứng ngộ tánh Không và tu tập bồ đề tâm, điều
này đồng nghĩa với việc huỷ diệt tính vị kỷ.
Vì
những người mà họ gây bực tức cho bạn là người (gián
tiếp) huỷ diệt tính vị kỷ của bạn và các vọng tưởng
khác, đích thị như Pháp, Phật, và vị thầy đã dạy, nên
trên thực tế họ không phải hại bạn mà đang giúp bạn.
Giống như một cái gương soi, họ bày ra cho bạn thấy những
lỗi lầm của bạn và như vậy là giúp bạn bằng phương
thức cốt lõi nhất. Bằng việc chỉ cho bạn thấy những
vọng tưởng của bạn và giúp bạn loại trừ chúng, bằng
việc phá huỷ vọng tưởng và bát phong, theo cách thức đó,
họ đang ban phát cho bạn hạnh phúc tối thượng.
Bằng
việc huỷ diệt tính vị kỷ của bạn, những người này
mang giác ngộ đến cho bạn, bởi vì chướng ngại to lớn
nhất ngăn chận giác ngộ là suy nghĩ vị kỷ, chỉ biết lo
cho mình. Và chướng ngại chính ngăn cản giải thoát là những
ham muốn đang cột chặt bạn với luân hồi. Về phương tiện
điều phục tâm, người nào huỷ diệt bát phong của bạn
thì được coi là quý báu, vĩ đại như một vị Thầy, một
vị Phật. Thông qua việc tạo ra nhân để bạn phát triển
đường đạo trong tâm, họ giúp bạn có thể đạt giác ngộ.
Con người này được coi là quý báu như Phật, như Pháp.
Con
người này không có động cơ làm lợi cho bạn, lại hoá ra
là quý báu, là tử tế như vậy đấy. Một ví dụ nữa chẳng
hạn, Trí tuệ chứng ngộ tánh Không giúp bạn ngừng dứt
vọng tưởng nhưng tự nó không có động cơ nào. Dược phẩm
cũng rất quý báu vì nó chữa lành bệnh tật nhưng bản thân
dược phẩm không hề có động cơ giúp ai.
Bạn
không phải vì muốn tử tế với bản thân mình mà tự chăm
sóc cho mình. Không có lý do đó. Do vậy, chăm lo một ai đó
không cần phải vì họ đã tử tế với bạn. Tại sao không
chăm sóc những người khác y như bạn chăm sóc bản thân mình?
Tại sao không thương yêu chăm sóc cho kẻ thù là người (gián
tiếp) giúp bạn tu tập Pháp, phát triển đường đạo và
đạt giác ngộ? Con người này (kẻ thù) quý báu vô cùng,
đích thực y như vị Thầy, vị Phật và Pháp. Có vô lượng
lý do tại sao bạn nên thương yêu chăm sóc một người như
vậy.
Chúng
sinh hữu tình là vô lượng
Bạn
chỉ là một người. Ngay cả nếu bạn bị sinh vào địa ngục
bạn cũng chỉ là một chúng sinh, nên không có gì để thấy
quá tuyệt vọng về điều đó. Ngay cả nếu bạn đạt được
giải thoát khỏi luân hồi, bạn cũng chỉ là một chúng sinh,
nên không có gì để quá phấn khởi về điều đó. Tất cả
chúng sinh hữu tình vô lượng, những ai được gọi là “chúng
sinh khác” họ đích thực giống như bạn trong sự mong
cầu hạnh phúc và không mong muốn khổ đau. Những mong ước
của họ chính xác y như của bạn, và họ là vô lượng. Bạn
cho rằng bạn quan trọng và quý báu như thế nào thì từng
mỗi chúng sinh đó cũng quan trọng và quí báu như thế đó,
và họ là vô lượng. Bạn chỉ là một người, hoàn toàn
không quan trọng. Bạn chẳng là gì cả nếu so sánh với toàn
bộ chúng sinh vô lượng rất quý báu rất quan trọng. Bạn
chẳng phải quý báu, quan trọng (khi so với số đông-ND). Ví
dụ, ngoài bạn ra có hai người, hai người này về số lượng
mà tính thì nhiều hơn bạn, do vậy quan trọng hơn. Điều
này cũng giống như sự khác biệt giữa một rupee (tiền Ấn
Độ) và hai rupee: hai rupee thì giá trị lớn hơn một rupee.
Và một trăm rupee thì giá trị hơn một rupee. Một ngàn rupee
thì giá trị nhiều hơn một rupee. Để bạn chọn giữa một
rupee và hai rupee bạn sẽ lấy hai rupee. Nếu chọn giữa một
trăm rupee và một rupee dĩ nhiên bạn lấy một trăm. Nếu được
chọn thì sẽ ngu xuẩn khi lấy một rupee. Tự nhiên bạn sẽ
chọn lấy số lượng lớn hơn. Tương tự, khi bạn so sánh
bản thân mình với một trăm, hay một ngàn hay một triệu
người hay với vô lượng chúng sanh hữu tình thì bạn chẳng
quý báu, chẳng quan trọng gì cả.
Nếu
so sánh với tất cả chúng sanh hữu tình số lượng không
kể xiết thì bạn chẳng nhằm nhò gì, chẳng đáng kể. Cũng
vậy, từng cõi trời, a tu la, súc sanh, ngã quỉ, địa ngục
chứa đựng số lượng chúng sanh không thể đếm được.
Chỉ riêng số lượng loài kiến là đã không thể đếm được.
Nên giữa bạn và chúng, chúng quan trọng hơn. Trong một phòng
tối, thậm chí trong một góc phòng, đã có rất nhiều muỗi,
chúng quan trọng và quý báu hơn. Nếu tính chi tiết, hãy nghĩ
đến từng cõi, từng loài sinh vật. Có rất nhiều chúng sinh
trong chỉ một cõi súc sinh : bướm, sâu, ruồi. Nếu bạn tính
kỹ thì có vô số không thể tưởng tượng. Chỉ trên quả
đất này, ngay cả trong một quốc gia cũng đã có vô số.
Cũng như bạn, tất cả những chúng sinh này muốn hạnh phúc
và không muốn khổ đau. Trong cuộc đời của bạn không có
gì quan trọng hơn là làm việc cho chúng sinh hữu tình : xoa
dịu các nỗi đau của họ và mang lại hạnh phúc cho họ.
Không có gì quan trọng hơn điều này. Ngoài việc sống cuộc
đời phụng sự chúng sinh hữu tình, mọi việc khác đều
vô nghĩa, trống rỗng.
Cá
nhân mà chúng ta gọi là “tôi” thì hoàn toàn không đáng
kể khi so sánh với không biết bao nhiêu người, với loài
vật vô lượng và các loài chúng sinh hữu tình khác vô lượng
å. Mỗi khi chúng ta phát nguyện Bồ Đề Tâm với suy nghĩ
“tôi sẽ đạt Giác Ngộ vì lợi ích cho tất cả chúng sinh
hữu tình” chúng ta phải hiểu chúng sinh này bao gồm tất
cả, dĩ nhiên kể cả toàn bộ kiến và muỗi. Hãy nghĩ tới
có bao nhiêu sinh vật đang chịu khổ đau ở một nơi trên
núi, như sâu, như ruồi; Bồ đề tâm mà chúng ta phát nguyện
bao gồm toàn bộ các loài đó. Bồ đề tâm cũng bao gồm toàn
bộ các con cá và toàn bộ các con vật ăn thịt cá. Bồ đề
tâm cũng bao gồm từng riêng mỗi con của vô số sinh vật
sống trong nước, lớn cũng như nhỏ, ăn thịt lẫn nhau. Mỗi
khi chúng ta phát nguyện bồ đề tâm, mong ước vị tha đem
lại hạnh phúc cho chúng sinh, mong ước đó bao gồm không phân
biệt toàn bộ loài người có giòng giống chủng tộc khác
nhau, bao gồm từng mỗi sinh vật sống ở nước, ở trên cạn,
ở không trung. Bồ đề tâm gồm cả từng mỗi chúng sinh hữu
tình không có sự thiên lệch thành kiến.
Tư
tưởng vị tha này nhằm đạt giác ngộ vì lợi ích cho tất
cả chúng sinh hữu tình là một thái độ, một tâm nguyện
không thể nghĩ bàn. Khi bạn phát tâm bồ đề bạn nghĩ tới
việc đem lại lợi lạc cho từng mỗi người. Không kể là
họ đang có vấn đề gì, họ sống ở đâu, phương Đông
hay phương Tây, hay ở Trung Đông, hay ở một thế giới khác,
bạn hãy nghĩ tới tất cả. Không thể bỏ sót dù một chúng
sinh hữu tình.
Tại
sao chúng ta cần có tâm giác ngộ (Phật tâm-ND)
Mỗi
chúng sinh hữu tình có một căn cơ và tính cách khác nhau và
bạn phải biết phương pháp nào thích hợp chính xác cho từng
người. Bạn nên có khả năng chỉ nói một lời cùng một
lúc cho hàng triệu người mà lại thích nghi được cho từng
người nghe. Mỗi người nghe sẽ hiểu khác nhau tuỳ theo căn
cơ và nghiệp khác nhau; nhưng trong cùng một lúc tuỳ theo nghiệp,
những gì họ nghe sẽ giúp họ tụ tập theo một con đường
đúng đưa tới giải thoát và giác ngộ.
Nhưng
giờ đây chúng ta không có khả năng biết được căn cơ và
nghiệp của thậm chí một chúng sinh hữu tình. Để có khả
năng dẫn dắt một chúng sinh một cách trọn vẹn không lỗi
lầm dù nhỏ nhất, cũng như để đem lợi lạc đến cho họ
một cách lớn lao, chúng ta cần biết đủ mọi chi tiết về
căn cơ và cá tính từng người.
Cũng
vậy, để dẫn dắt dù chỉ một chúng sinh hữu tình từng
bước đến giác ngộ, chúng ta cần hiểu biết cái gì cơ
bản của toàn bộ con đường đạo. Chúng ta không chỉ triển
khai một phương pháp mà thôi. Chỉ một phương pháp thì không
thể thích hợp cho mọi người. Phải có nhiều phương pháp
khác nhau phù hợp căn cơ của nhiều người. Ví dụ: Khi bảo
với Ajatashatru (tiếng Tạng: Makyeda) kẻ đã giết cha mẹ,
rằng “cha và mẹ là những đối tượng bị giết” Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni đã khiến cho ông ta cảm thấy vui sướng.
Trong cơn tuyệt vọng và lo sợ, lời nói trên đã có ích lợi
cho Ajatashatru. Trên thực tế, nó giúp ông ta nhận ra vô ngã
về con người và vô ngã về ngũ uẩn và ông ta hiểu được
rằng hai vô minh (nhân ngã và uẩn ngã – ND) cần được loại
bỏ. Những lời nói này đã là nhân cho Ajatashatru nhận ra
tánh Không. Thay vì kẹt trong nghĩa đen của lời nói, ông ta
đã hiểu những lời dạy đó có nghĩa rằng hai loại vô minh,
cái tôi và ngũ uẩn, trước đã chấp là hiện hữu chắc
thật, giờ đây cần được loại bỏ.
Nói
rằng mọi sự là hiện hữu chắc thật, sẽ có thể thích
hợp đối với tâm của một số người. Nghe được như vậy
là họ sẽ tu tập tốt hơn và sẽ đạt hạnh phúc. Dù cho
không thể có một chút xíu hiện hữu chắc thật, nhưng đối
với những người này, người mà không có khả năng nhận
thức rằng không có một hiện hữu chắc thật nào cả, ta
cần giảng với họ rằng Đức Phật nói có hiện hữu chắc
thật, bởi vì việc giảng dạy như vậy sẽ là phương tiện
từng bước dẫn dắt họ đến giải thoát và giác ngộ.
Để
dẫn dắt chúng sinh từng bước đạt tới hạnh phúc và giác
ngộ, người thầy phải thấy được từng mỗi nghiệp riêng
lẻ, từng căn cơ và cá tính của mỗi người đồng thời
phải biết nhiều phương pháp khác nhau thích hợp cho từng
người. Và khả năng này chỉ có thể có được với tâm
giác ngộ (Phật tâm). Ngay cả các vị Arhat, đấng đạt được
những năng lực tâm linh vô biên cũng không thể thấy được
từng mỗi nghiệp riêng lẻ. Mặc dù đã thoát khỏi những
che chướng quấy nhiễu tâm, nhưng các vị Arhat vẫn chưa cởi
bỏ hết những che chướng rất vi tế để đạt Phật tâm
cho nên các vị đó không thể thấy được các nghiệp quả
vi tế hay các hành động bí mật của chư Phật. Các
vị Arhat không thể dẫn dắt chúng sinh hữu tình một cách
trọn vẹn mặc dù bản thân họ đã thoát khỏi luân hồi.
Do
đó, để hành động trọn vẹn trong việc làm lợi lạc cho
tất cả chúng sinh hữu tình, ta phải thành tựu trạng thái
tâm giác ngộ tối thượng cho dù mất bao nhiêu đại kiếp,
bao nhiêu gian khổ. Không còn cách nào khác. Chừng nào chưa
đạt tâm giác ngộ thì những chứng ngộ của tâm mình chưa
hoàn chỉnh và ta không thể cho chúng sinh hữu tình những gì
họ cần, đó là hạnh phúc vô thượng, vĩnh cửu. Thành tựu
giác ngộ là điều có ý nghĩa nhất mà ta có thể làm để
có được lợi lạc cho mình và các chúng sinh khác.
Chúng
ta có trách nhiệm
với
tất cả các chúng sinh hữu tình
Chúng
ta có thể hiểu được ý tưởng về hạnh phúc tối thượng
từ mỗi một thí dụ hằng ngày. Nếu được chọn thì ngay
cả súc vật cũng sẽ chọn lấy thức ăn ngon nhất và không
lấy thức ăn ít ngon hơn. Con chó cũng làm như thế. Khi đi
mua sắm hay đi làm kinh doanh người ta cố gắng có cái tốt
nhất bằng cách mua hàng hoá chất lượng tốt nhất, bền
nhất. Dù họ không biết có thể đạt được một mục tiêu
như sự giác ngộ, nhưng hằng ngày tất cả mọi người đều
mong ước điều tốt nhất. Nếu không phải vì quá nghèo,
thì ai cũng vậy, khi có điều kiện sẽ cố gắng có cái tốt
nhất, xây được ngôi nhà bền nhất và đẹp nhất. Dù cho
không hiểu biết gì về giác ngộ nhưng ai cũng nghĩ đến
việc có được hạnh phúc tốt nhất. Chỉ vì thiếu con mắt
trí tuệ Pháp mà người ta không biết rằng giác ngộ là việc
chính đáng nhất họ cần phải đạt nhưng lại không
được chú ý tới trong cuộc sống của họ.
Cũng
như bạn, mỗi chúng sinh luôn cố gắng có được hạnh phúc
tốt nhất. Điều mà mọi người cần phải thấy hạnh phúc
tốt nhất là giác ngộ viên mãn, trạng thái thoát khỏi tất
cả che chướng và hoàn tất mọi chứng ngộ
Đang
có được thân người hoàn chỉnh, gặp được vị thầy quý
báu dẫn dắt chúng ta trên đường đạo tới giải thoát và
giác ngộ, gặp được Phật Pháp, đặc biệt là giáo lý Đại
thừa nên mỗi người trong chúng ta có cơ hội giúp chúng sinh
thoát khỏi toàn bộ che chướng và khổ đau, dẫn dắt họ
tới trạng thái giác ngộ viên mãn. Chúng ta có cơ hội này
để giúp họ, bởi vì chúng ta đã nhận được toàn bộ những
điều kiện cần thiết để phát triển tâm, để triển khai
con đường đạo từng bước đến giác ngộ và để thành
tựu tâm giác ngộ, đó là tâm có được lòng đại từ
đại bi vô lượng đối với tất cả chúng sinh hữu tình
cũng như có khả năng dẫn dắt họ. Do đó chúng ta có trách
nhiệm giúp chúng sinh hữu tình thoát khỏi mọi khổ đau và
nhân khổ đau, loại bỏ chướng ngại, dẫn dắt dọ tới
trạng thái giác ngộ viên mãn. Tôi thường dùng thí dụ này:
Nếu bạn thấy một người mù đang bước tới mép sườn
dốc đứng, bạn phải lập tức giữ họ lại trước khi họ
bị rơi xuống vực. Không cần thiết phải xem coi họ có cần
bạn giúp hay không. Nếu bạn có đủ các điều kiện cần
thiết, có mắt để thấy, tay chân để chạy đến giữ họ
lại, lời nói để kêu họ và như vậy bạn có khả năng
giúp người mù. Thật đơn giản, vì có đủ điều kiện,
bạn có trách nhiệm giúp người đang có nguy cơ sắp rơi xuống
vực.
Thật
là hổ thẹn và kinh tởm nếu ai đó có khả năng giúp khi
thấy người khác có hoàn cảnh hiểm nguy mà lại không ra
tay. Dù gì đi nữa cũng không hoàn thành được chức năng
của mắt và tay chân, vì mắt và tay chân dùng để giúp người.
Nếu sự việc tồi tệ như thế xảy ra thì thật tội nghiệp
cho người sắp bị rơi xuống vực và thật kinh tởm cho người
có đủ điều kiện giúp người mà không giúp.
Và
thật là tệ hại và độc ác nếu bây giờ chúng ta có đủ
điều kiện cần thiết mà chúng ta lại không tu tập bồ đề
tâm, tinh hoa của giáo lý Đức Phật, đặc biệt là giáo
lý Đại thừa, nếu chúng ta không nuôi dưỡng thiện tâm tối
thượng này, nếu chúng ta không phát triển khả năng dẫn
dắt chúng sinh, nếu chúng ta không đạt được giác ngộ để
phụng sự chúng sinh một cách trọn vẹn, và thay vào đó chúng
ta sống với những suy nghĩ vị kỷ chỉ biết lo cho bản thân
mình, cho hạnh phúc riêng của mình mà thôi. Như vậy thật
là ích kỷ và độc ác. Thực ra, chúng ta hoàn toàn có trách
nhiệm để dẫn dắt các chúng sinh hữu tình đến giác ngộ.
Phải
biết hy sinh mình
Thái
độ quan tâm đến chúng sinh sẽ phát sinh một ước muốn
tự nhiên là mang hạnh phúc đến cho họ và không làm hại
họ. Bạn không muốn đưa họ đến khổ đau. Hãy nhớ lại
câu chuyện một vị Bồ tát làm thuyền trưởng đã hoàn toàn
hy sinh mình, cam tâm đi vào địa ngục khi giết một người
có ý định sắp giết năm trăm thương gia. Để giúp người
đó tránh khỏi tạo ra ác nghiệp nặng, vị thuyền trưởng
bồ tát chấp nhận sinh vào địa ngục. Nhưng thay vì trở
thành ác nghiệp nặng và là nhân để sinh vào địa ngục,
hành động giết người của vị thuyền trưởng đã rút ngắn
thời gian sống trong luân hồi một trăm ngàn kiếp. Bằng việc
phát sinh bồ đề tâm, thương và lo lắng cho kẻ định giết
người này, bằng việc hoán đổi mình với chúng sinh này,
vị thuyền trưởng Bồ tát đã tích luỹ công đức vô lượng
và đã đến gần giác ngộ.
Có
một câu chuyện về ngài Vô Trước (Asanga). Trong mười hai
năm, ngài cố gắng hoàn thành quả Đức Phật Di Lặc trong
thiền định, nhưng ngài đã thất bại không thấy được
Đức Phật Di Lặc. Vào một ngày trên đường về hang động
nơi ẩn cư, ngài thấy con chó bị thương với những con giòi
bao khắp thân. Ngài cảm thấy bi mẫn đến mức không thể
chịu nổi, Trước tiên ngài cắt thịt ở chân và rải trên
mặt đất quanh con chó để dụ các con giòi rời khỏi con
chó và đến chỗ các miếng thịt. Sau đó vì tránh dùng tay
bốc con giòi ra sợ làm chúng chết, ngài cúi người xuống
với ý định dùng lưỡi nhẹ nhàng đưa các con giòi ra khỏi
con chó. Khi cúi người xuống với đôi mắt nhắm lại, ngài
biết không thể chạm trúng con chó. Nên ngài mở mắt ra và
bất ngờ thấy được Đức Phật Di Lặc ngay đấy chứ không
phải con chó. Lòng bi mẫn và các hành động hy sinh mình để
cứu con chó bị thương đã trở thành sự tịnh hoá rất mãnh
liệt; và chỉ sau sự hy sinh này ngài Vô Trước mới thấy
được Đức Phật Di Lặc.
Có
rất nhiều câu chuyện như vậy. Việc hy sinh mình để bảo
vệ, dù chỉ một chúng sinh hữu tình thoát khỏi khổ đau
và dẫn dắt họ tới hạnh phúc, là một sự tịnh hoá cực
kỳ mãnh liệt. Nó không chỉ tịnh hoá được ác nghiệp trong
nhiều đại kiếp mà còn giúp tích tụ rất nhiều công đức,
mang bạn đến gần giác ngộ.Ta có thể đạt giác ngộ nhanh
chóng bằng sự hy sinh mình để chăm lo cho dù chỉ một
chúng sinh , đó là lý do để thương yêu chăm lo người khác.
Tính
vị kỷ chỉ biết chăm lo cho mình, là một chướng ngại cho
sự phát triển tâm, cho sự phát triển các chứng ngộ của
đường đạo. Nếu bạn chỉ biết chăm lo cho mình thì sẽ
không có sự giác ngộ, nhưng nếu bạn biết chăm lo chúng
sinh dù chỉ một thì sẽ có giác ngộ. Việc chăm lo người
khác dù chỉ có một cũng có thể đạt giác ngộ
Cho
nên có sự khác biệt lớn. Sẽ không có hy vọng giác ngộ
nếu chăm lo cho bản thân mình, nhưng nếu biết chăm lo người
khác dù chỉ một, sẽ đưa bạn đến giác ngộ vì nó tịnh
hoá các chướng ngại và tích luỹ vô lượng công đức. Từ
những câu chuyện và những lý lẽ này ta có thể kết luận
rằng một chúng sinh mà thôi cũng đã là quan trọng hơn bản
thân mình. Dù không để ý tới việc toàn bộ chúng sinh là
quý báu với số lượng không thể tính được bạn cũng có
thể thấy được rằng chỉ một chúng sinh hữu tình cũng
đã quý báu vô vàn. Có rất nhiều cách giải thích giá trị
của một người khác và tất cả lợi lạc bạn có thể có
được từ họ.
Cái
gọi là “tôi” là đối tượng cần loại bỏ mãi mãi, cái
gọi là “ những chúng sinh khác” dù chỉ một chúng sinh
hữu tình là đối tượng cần yêu thương chăm lo mãi mãi.
Đây là lý do tại sao bạn sống để làm lợi cho người khác,
tận hiến cuộc sống của bạn cho dù chỉ một chúng sinh
hữu tình, việc này sẽ đem lại sự hưởng thụ to lớn nhất
và cuộc sống vui thích nhất. Hạnh phúc chân thật sẽ phát
sinh một khi bạn chăm lo người khác. Sống vì mọi người
chăm sóc người khác với lòng từ ái và bi mẫn là cửa ngõ
đi tới hạnh phúc, cửa ngõ đi tới giác ngộ.
10
CHỈ
CÓ MỘT LỰA CHỌN
LÀ
TU TẬP PHÁP
Bởi
vì bạn không muốn có vấn đề, chỉ có một sự chọn lựa
là bạn phải tu tập Pháp.
ĐỨC
DALAI LAMA thường khuyên rằng cách tốt nhất để sống cuộc
đời này là: ở một nơi vắng vẻ cô lập, từ bỏ cuộc
đời thường này với bát phong, nhất tâm thiền định về
con đường đạo từng bước đưa đến giác ngộ. Phát triển
các chứng ngộ của đường đạo đưa tới giác ngộ là tốt
nhất. Nhưng không phải ai cũng làm được điều này.
Đối
với những ai không thể sống được nơi cô độc như vậy
nhưng có được kiến thức về Pháp thì sự chọn lựa thứ
hai là dạy Pháp cho người khác. Mặc dù với trường hợp
này họ không thể tu tập sự buông bỏ trọn vẹn, nhưng họ
có thể tu tập càng nhiều càng tốt theo khả năng đồng thời
giảng dạy các người khác. Trường hợp thứ ba nếu có người
không có kiến thức về Pháp đủ sức để dạy những người
khác, họ có thể tu tập càng nhiều càng tốt trong khả năng
và phục vụ các người khác trong xã hội .
Không
còn có sự chọn lựa. Bởi vì bạn không thích có vấn đề,
sẽ không có sự chọn lựa nào khác, bạn phải tu tập Pháp.
Đây là điều chắc chắn. Pháp là phương tiện duy nhất để
chấm dứt các vấn đề và mang lại an lạc trong tâm. Không
có giải pháp nào khác, nếu bạn không thích bị khổ đau,
ngoài việc tu tập Pháp sẽ không còn cách nào khác. Tu tập
Pháp có nghĩa là từ bỏ các nhân của các vấn đề đến
từ tâm và tạo ra các nhân của hạnh phúc cũng đến từ
tâm.
Tất
cả các vấn đề của cuộc sống này và của các kiếp sau
đều đến từ nghiệp phi đạo đức và những suy nghĩ vị
kỷ, và từ cái gốc tức là những suy nghĩ bám chặt cái
ngã, sự vô minh khư khư coi cái tôi là hiện hữu
chắc thật. Nếu bạn muốn chấm dứt việc đương đầu các
vấn đề ngay bây giờ và trong tương lai, bạn phải tịnh
hoá các nghiệp xấu ác đã tạo ra rồi, đồng thời từ bỏ
việc tạo thêm nữa các nghiệp xấu đó. Đó là tu tập Pháp.
Đó là cách thức bạn giải quyết các vấn đề của cuộc
sống.
Ví
dụ có một người bị bệnh nan y và không có cách chữa lành
được. Điều này có nghĩa các chướng ngại là rất lớn
và thông thường người đó chỉ có thể phục hồi sức khoẻ
bằng việc tu tập Pháp bền bỉ, tập trung cao độ. Nếu ông
ta có được nghiệp tốt là gặp một vị lạt ma có thể
ban những lời dạy phù hợp cho việc thiền định và tu tập
Pháp thì ông ấy có thể phục hồi. Có rất nhiều trường
hợp đã xảy ra, những bệnh nhân không được chữa lành
bằng thuốc men trong một thời gian bị bệnh rất lâu, sau
đó họ tu tập Pháp và đã phục hồi. Có người đã tự
chữa lành bệnh ung thư bằng thiền định.
Một
trong những anh em của cha mẹ tôi (tạm dịch người chú –
ND) bị bệnh trong nhiều năm. Ông đã đi Tibet, khám và chữa
bệnh ở các bác sĩ nhưng không có kết quả. Cuối cùng ông
ta đến gặp một hành giả thiền định ở Charok gần hang
động Lawudo, nơi tôi thỉnh thoảng về thăm. Vị hành giả
nói với ông chú rằng bệnh của ông ta là do nghiệp chướng
nặng nề cần được thực hiện nhiều sự tịnh hoá. Ông
chú nhận những chỉ dẫn của những phép tu tập tiên quyết
như sám hối bằng lễ lạy, qui y, vân vân, từ vị hành giả
đó và cũng từ vị hành giả khác lớn tuổi cũng ở Charok.
Khi
thực hiện các phép tu tập tiên quyết này, ông chú của tôi
dần dần phục hồi bệnh. Ông ta đã lễ lạy bảy trăm ngàn
lần. Trong lúc tu tập ông còn phải chăm sóc bà của tôi đã
bị mù. Ông ta chuẩn bị thức ăn cho bà cụ, dẫn đi vệ
sinh ngoài nhà và còn nhiều việc nữa. Ông ta đã làm nhiều
việc như thế trong nhiều năm để chăm sóc cho bà tôi.
Có
rất nhiều câu chuyện tương tự như vậy. Khi các biện pháp
bên ngoài như sử dụng thuốc men vân vân không giúp giải
quyết các vấn đề thì chúng ta dùng biện pháp nội tâm như
qui y, tu tập Pháp. Chúng ta phải tu tập Pháp không chỉ để
khỏi phải kinh qua các vấn đề trong tương lai nhưng cũng
còn để chấm dứt các vấn đề đó ngay bây giờ. Nói tóm
lại chúng ta phải tu tập Pháp.
Dù
bạn là Phật tử hay không, thì sẽ không có cách nào khác
nữa để giải quyết các vấn đề và để làm cho chúng không
thể xảy ra trở lại. Bạn phải tu tập Pháp bất kể là
bạn gặp phải bao nhiêu vấn đề. Dù bạn không có thể đủ
thời gian nhập thất ẩn tu thật lâu hay nghiên cứu sâu rộng,
nhưng bạn cũng phải làm gì đó để tu tập Pháp bởi vì
bạn không muốn có vấn đề và không muốn bất hạnh. Dù
bạn có thể gặp phải các vấn đề như bị bệnh, hay bị
phiền muộn vì người thân, bạn không thể coi đó là cái
cớ để bỏ tu tập Pháp. Bạn phải cố gắng hết sức, bạn
phải tu tập Pháp.
Cho
dù giờ đây bạn không có được nghiệp tốt là được sống
ẩn dật giống như các hành giả để từ bỏ cuộc đời
này, nhưng hãy luôn mong ước được sống như thế. Đừng
có nghĩ rằng: “Tôi không thể sống như thế nên việc nghe
những lời giảng này đâu có tác dụng gì cho tôi?” Có nhiều
lợi lạc. Mặc dù bây giờ bạn chưa thể tu tập ẩn dật
nhưng việc phát sinh ước mong có điều kiện tu tập như vậy
trong tương lai sẽ là hạt giống tạo nhân để việc tu tập
Pháp thanh tịnh sẽ trở nên hiện thực, để sống cuộc sống
ẩn dật, để từ bỏ bát phong. Với cách này bạn có thể
thành công trong việc làm cho đạo lộ đưa tới giác ngộ
trở nên hiện thực.
Đọc
và nghiên cứu Lamrim rất quan trọng cho dù bạn có nghiên cứu
rất kỹ kinh Madhyamakavatara (luận giảng do Ngài Nguyệt Xứng
viết về Trung Đạo), Abhisamayalankara (luận giảng do Ngài
Di Lặc viết về tánh Không, các phẩm hạnh của một vị
Phật và các giai đoạn đến Phật quả) và các luận giảng
triết lý khác, nhưng nếu không quan tâm chú ý đến Lamrim
bạn sẽ không biết ý nghĩa của các pháp thế gian. Bạn sẽ
gặp lỗi lầm nghĩ rằng chỉ một số ít hành động là hành
vi thế tục -trừ phi bạn đã nghiên cứu các loại luận giảng
như Khai mở Cánh cửa Pháp, nó cho những giáo huấn về phép
thực hành tiên khởi đơn giản này. Nhất định sẽ rất
hữu ích cho việc tu tập của chúng ta khi có sự hiểu biết
về giáo huấn này. Trong từng ngày chúng ta có rất nhiều
cơ hội để thực hành sự từ bỏ, tích luỹ công đức và
thành tựu giác ngộ. Mỗi ngày chúng ta có thể tích luỹ rất
nhiều công đức khi chúng ta thực hành phép tu tập hộ pháp
bổn tôn. Có rất nhiều việc liên quan đến: động cơ vào
lúc bắt đầu, các lễ vật cúng dường, phát hiện vị hộ
pháp bổn tôn từ trong tánh Không. Chúng ta tích luỹ rất nhiều
công đức ngay cả khi thực hành xong một nghi quỹ.
Thiền
định về tánh Không dù chỉ một giây lát cũng tịnh hoá
được nghiệp ác nặng từ trong mười điều bất thiện.
Người ta nói rằng, riêng mỗi ước muốn thiền định về
tánh Không cũng đã tịnh hoá được những ác nghiệp nói
trên và tích luỹ rất nhiều công đức. Chỉ như ước muốn
nghe kinh Bát Nhã (Prajnaparamita) cũng tịnh hoá được các nghiệp
ác nặng đã tạo ra trong nhiều kiếp quá khứ và cũng đã
nêu ra trong tác phẩm Bồ Tát Hạnh là thiền đình về bồ
đề tâm có lợi lạc vô lượng cho sự tịnh hoá, đó là
một trong những phương tiện tịnh hoá mãnh liệt nhất. Về
phương diện tích luỹ công đức vô lượng, thì bồ đề
tâm là phương pháp thiện xảo nhất. Tôi cho rằng các phép
tu tập Pháp được giải thích trong Khai mở Cánh cửa Pháp
rất quan trọng. Chúng là sự nương tựa chính trong cuộc sống
và cực kỳ hiệu quả cho tâm. Chúng giúp ngăn chận từng
mỗi loại vấn đề. Đọc, suy nghĩ kỹ và đặc biệt là
thực hành theo Khai mở Cánh cửa Pháp là giải pháp để giải
quyết các vấn đề.
Đối
với người tu tại gia, cuốn luận giảng này phát họa tâm
lý học cần thiết để giải quyết các vấn đề, đặc biệt
vào những thời điểm bạn cảm thấy cuộc sống như địa
ngục, bạn đang trải qua nỗi bất hạnh tới mức bạn muốn
tự tử. Là người tu tại gia bạn không nên và không thể
giành trọn thời giờ cho những ham muốn liên tục. Một cuộc
sống như thế sẽ quá mức chịu đựng. Bạn sẽ liên tục
không hạnh phúc nếu bạn để cho mọi sự bị khuất phục
bởi ham muốn và bát phong, làm như vậy sẽ chỉ gây cho cuộc
sống cực kỳ bất hạnh cho mình và cho những người khác.
Và ngay đây, ở cõi người, bạn đã tạo ra một loại địa
ngục trước khi bị tái sinh vào cõi địa ngục. Và không
chỉ bản thân bị bất hạnh bạn còn mang theo nhiều chúng
sanh khác vào địa ngục, bạn gây cho những người khác nhiều
vấn đề.
Dĩ
nhiên không còn nghi ngờ về việc tu tập Pháp là sự nương
tựa thật sự trong cuộc sống. Sự huấn luyện tâm thức
sẽ mang lại an lành không những cho tâm của bạn mà còn cho
tâm của nhiều người khác. Khi bạn được an lành, sống
hoà hợp, bạn sẽ không gây trở ngại cho cuộc sống và sự
tu tập của người khác. Sự huấn luyện tâm cũng rất quan
trọng cho người nào muốn tu tập Lam rim, bởi vì nếu không
luyện tâm thì sẽ không có sự triển khai đạo lộ đến
giác ngộ. Khi bạn luyện tâm dứt bỏ bát phong, sự phát triển
tâm trong đường đạo Lamrim sẽ tự động đến. Tôi cho rằng
điều này rất quan trọng cho những ai đang nhập thất ẩn
tu dù với thời gian ngắn hay dài. Luyện tâm là sự yểm trợ
tuyệt vời cho việc nhập thất, bằng cách giúp cho tâm được
yên tĩnh, cắt đứt chướng ngại, nó sẽ khiến cho việc
nhập thất ẩn tu thành công .
Đối
với tăng ni, tôi cho rằng luyện tâm là phép tu căn bản. Nếu
không luyện tâm tăng ni không thể tiếp tục sống giữ giới,
họ sẽ thấy khó duy trì giới hành. Và không chỉ có thế,
việc tu tập này là một trong những yểm trợ chính để phát
triển tâm, để hiện thực hoá đường đạo Lamrim. Và đặc
biệt cho tăng ni, giáo lý này là nền tản tu tập, cần được
nghe và đọc nhiều lần và ghi nhớ. Đây là chỗ dựa, chỗ
che chở chính.
Để
kết luận chúng ta phải coi trọng việc tu tập Pháp, không
để cho vọng tưởng choáng chỗ trong tâm. Dù bạn có ít hay
nhiều vấn đề, bạn vẫn phải tu tập Pháp. Bạn phải tu
tập Pháp. Bạn phải cố gắng. Bằng việc loại bỏ ham muốn
một, hai, ba, hay bốn lần trong một ngày bạn sẽ không tạo
ra ác nghiệp đó, sẽ cho phép tất cả những suy nghĩ tiêu
cực khác nổi lên. Bạn cần tu tập Pháp dù chỉ để được
bình yên trong cuộc đời này trong từng giây phút. Hãy thiền
định về vô thường và chết, coi đây là nền tảng, và
luyện tâm theo Lamrim. Hãy cố tâm tích luỹ công đức và tịnh
hoá nghiệp xấu ác càng nhiều càng tốt.
Quyết
tâm tu tập
Ngay
cả khi chúng ta có được thời gian dành để thực hiện một
Pháp hành nào đó, chính suy nghĩ về bát phong sẽ không cho
phép thực hành tu tập của chúng ta trở thành Pháp thanh tịnh.
Bởi vì nó sẽ tạo ra sự lười biếng, nó làm cho chúng ta
không thể tu tập Pháp hay khiến cho chúng ta trì hỗn tu tập.
Nó làm suy yếu tâm, khiến cho chúng ta không có ý quyết tâm
tu tập. Toàn bộ sự việc chính là sự quyết tâm. Nếu không
có sự quyết tâm sẽ không có sự phát triển. Thầy dạy
học vỡ lòng của tôi có pháp danh là Aku Lekshe, người tôi
đã đề cập, đã từng bảo tôi rằng toàn bộ vấn đề
ở chỗ là đã không quyết tâm tu tập Pháp. Ông ta đã dạy
tôi như vậy khi tôi mới bắt đầu học chữ. Và lần
cuối chúng tôi gặp nhau trước khi ông ta qua đời, ông ta
lập lại điều này khi nói về Pháp. Việc không quyết tâm
tu tập sẽ trở thành nguồn gốc cho mọi vấn đề và chướng
ngại. Chính tâm của bạn tạo ra các rắc rối khó khăn. Chính
tâm của bạn ngăn cản việc tu tập, tạo các khó khăn cho
việc phát triển các chứng ngộ của đường đạo. Nếu bạn
xác lập sự quyết tâm thì sẽ không có những khó khăn. Nếu
bạn không xác lập sự quyết tâm, thì sẽ có khó khăn. Không
có khó khăn từ phía con đường đạo, từ Pháp. Không có
khó khăn từ bên ngoài. Các khó khăn trong việc tu tập Pháp
đến từ chính tâm của bạn, từ việc bạn không có sự
quyết tâm cần thiết. Và suy nghĩ bát phong đã khiến cho bạn
không thể xác lập sự quyết tâm.
Khi
bạn tách mình ra khỏi suy nghĩ xấu ác của bát phong thì sẽ
không có những khó khăn trong việc tu tập của bạn. Khi bạn
sống cùng suy nghĩ này, khi bạn là thân hữu của bát phong
thì sẽ có khó khăn. Không có Pháp nào mà tự nó nó là khó,
không có sự khó khăn hiện hữu thật. Chính tâm bạn tạo
ra khó khăn. Không có khó khăn nào ngoài việc bạn không thể
quyết tâm tu tập.
Nếu
bạn có khả năng xác lập sự quyết tâm không theo đuổi
ham muốn mà tu tập Pháp ngay bây giờ thì sẽ có bình an. Ngay
trên ghế ngồi này, đích thị trong thời điểm này nếu bạn
quyết tâm, lập tức có sự bình an. Khi bạn không quyết tâm
thì không có bình an. Nếu bạn xác lập được sự quyết
tâm, sự bình an là một điều mà bạn có thể kinh qua ngay
lập tức, ngay vào giây phút này. Không có sự chọn lựa khác,
không có giải pháp nào khác nữa.
11
CÚNG
DƯỜNG CÔNG ĐỨC
Cúng
dường công đức với Bồ Đề Tâm giống như nhỏ một giọt
nước vào biển, chừng nào biển còn hiện hữu thì giọt
nước vẫn còn hiện hữu.
Cúng
dường với Bồ Đề Tâm
HÃY
CÚNG DƯỜNG với lời cầu nguyện rằng, bằng việc nghe từng
chữ của luận giảng này bạn có khả năng chứng ngộ
ngay tức thì, toàn bộ đường đạo đến giác ngộ, đặc
biệt là bồ đề tâm. Hãy cầu nguyện rằng, mỗi chữ trong
các lời dạy này có khả năng điều phục ngay lập tức tâm
của tất cả chúng sinh hữu tình, cầu nguyện rằng toàn bộ
con đường đạo đưa đến giác ngộ nhất là bồ đề tâm
sẽ nãy sinh trong tâm của họ.
Trong
Bồ tát hạnh Ngài Shantideva, vị Bồ tát vĩ đại, đã
nói:
Tất
cả các phước đức khác thì giống như cây chuối. Khi quả
chín thì cây tàn lụi. Nhưng chỉ có cây Bồ Đề Tâm cho quả
không bao giờ ngưng.
Cúng
dường công đức để chỉ mong đạt hạnh phúc các đời
sau hay giải thoát cho riêng mình thì chẳng đáng kể nếu so
sánh với việc cúng dường công đức cầu mong giác ngộ với
bồ đề tâm. Việc cúng dường công đức với bồ đề tâm
cũng giống như nhỏ giọt nước vào biển. Chừng nào biển
còn hiện hữu thì giọt nước vẫn còn. Khi chúng ta cúng dường
với bồ đề tâm thì dù công đức nhỏ hay lớn, nó vẫn
không thể cạn kiệt. Chúng ta không ngừng hưởng kết quả
của công đức cho đến khi đạt giác ngộ. Và thông qua công
đức này, sau khi chúng ta đạt giác ngộ, đến lượt chúng
ta có thể từng bước dẫn dắt chúng sanh đến giác ngộ.
Chúng
ta phải cúng dường cho sự phát triển bồ đề tâm. Đây
là lý do tại sao vào cuối thời khoá giảng, chúng ta đều
tụng :
“jang-
chub sem- chog rin-po-che
ma-
kye- pa- nam kye- gyur- chig
kye-
pa nyam- pa me- pa- yang
gong-
ne gong- du pel- war shog”
(nghĩa
là- ND)
Nguyện
cho Bồ Đề Tâm,
Bây
giờ chưa phát triển,
Sẽ
nảy sinh lớn mạnh,
Không
bao giờ thoái chuyển.
Thật
quan trọng khi cúng dường để phát triển bồ đề tâm, nguồn
gốc của mọi hạnh phúc cho bạn và cho chúng sinh. Và năng
lực cầu nguyện là một trong năm năng lực của tu tập. Bồ
đề tâm là cửa ngõ đưa tới thành công, ngăn ngừa mọi
điều không thích, và mang tới mọi điều ưa thích. Bồ đề
tâm sẽ giúp hoàn thành ước muốn của bạn và của những
người khác. Do đó rất quan trọng khi cúng dường với sự
khẩn cầu phát sinh bồ đề tâm trong tâm của bạn và của
tất cả chúng sinh hữu tình đồng thời làm tăng trưởng
bồ đề tâm của những người đã có tâm đó rồi để không
bao giờ thoái chuyển.
Cúng
dường với tánh Không
Song
song với việc cúng dường công đức với bồ đề tâm, bạn
hãy cất giữ thật kỹ sự cúng dường với tánh Không
bằng cách suy nghĩ rằng người cúng dường, hành động cúng
dường và đối tượng được cúng dường, tất cả đều
là không. Với cách thức này công đức sẽ không bị phá
huỷ bởi sân hận hay những thiên vị thành kiến. Sân hận
và thành kiến hay thiên vị không chỉ là nhân tái sinh vào
các cõi thấp mà cũng còn làm trì hỗn việc đạt được
các chứng ngộ trong nhiều đại kiếp.
Như
Geshe Sopa Rinpoche đã nói rằng, công đức được xác lập
bỡi tánh Không thì sẽ không bị sân hận và ganh tị làm
hư hại bỡi vì sân hận và ganh tị nổi lên từ vô minh chấp
có hiện hữu chắc thật, nhưng vô minh này đã bị loại trừ
bỡi trí huệ thấy biết tánh Không . Bởi vì trí huệ này
loại trừ được gốc rễ của vọng tưởng và vô minh khư
khư tin vào sự hiện hữu thật, cho nên công đức cúng dường
sẽ không thể bị hư hại bởi sân hận và ganh tị nếu nó
được xác lập bởi tánh Không .
Nếu
bạn không có chút hiểu biết gì về tánh Không, về các duyên
sinh vi diệu, ngài Pabongka Dechen Nyingpo khuyên rằng ít nhất
bạn cũng nên nghĩ rằng bạn đang mơ, bạn đang cúng dường
công đức trong mơ. Với cách này bạn sẽ không còn chấp
coi cái tôi, công đức, chúng sinh hữu tình và sự giác ngộ
như là hiện hữu chắc thật. Sự chấp bám này sẽ giảm
bớt. Nhận biết mọi sự như thể trong mơ, kiểu cách này
sẻ cung cấp cho bạn ý tưởng rằng đây này không phải cái
tôi thật, một cái tôi hiện hữu tự tánh. Nó cho bạn
một ý tưởng sơ khởi rằng toàn bộ những điều này là
giả, rằng không có sự hiện hữu tự tánh. Cùng với sự
tỉnh thức này, hãy cúng dường công đức.
Mặt
khác nếu bạn có được hiểu biết nào đó về tánh Không,
bạn hãy nhớ đến thực tại vi diệu về cách thức mọi
sự hiện hữu. Hãy nhớ rằng cái tôi- người cúng dường,
đích thị là gán đặt là giả danh, giác ngộ là đích thị
gán đặt giả danh, chúng sinh hữu tình mà chúng ta cúng dường
cho, cũng đích thị gán đặt giả danh. Khi bạn nghĩ tới giác
ngộ, sự hiểu biết trong lòng bạn phải là: chẳng qua chỉ
là cái đích thị được gán đặt giả danh. Và cái mà nó
mang lại quả của hạnh phúc, chúng ta gọi nó là “công đức”,
cũng đích thị được gán đặt giả danh. Do đó tất cả
những điều này: cái tôi, hành động cúng dường, công đức,
giác ngộ đều hoàn toàn là không.
Với
sự tỉnh thức vi diệu này, nhìn thấy mọi sự đều hoàn
toàn là không, và với tâm bồ đề bạn hãy cúng dường công
đức khi đã lắng nghe những lời giảng dạy này.
*
* * *
Dịch
xong tiếng Việt, ngày 3 tháng 3 năm