|
|
c
CẨM
NANG TU ÐẠO
Hòa
Thượng Quảng Khâm
Việt
Dịch: Ban Phiên Dịch Vạn Phật Thánh Thành
Chương
X: Lời Cuối
1.
Thời Ðại Ðã Thay Ðổi Rồi!
Thầy giáo
ngày nay và ngày xưa khác nhau xa lắm.
Thời Hán, thầy
giáo thì kính trọng đạo đức, lễ, nghĩa, liêm, sỉ. Thời
nay, thầy giáo bản thân không làm xong (không đủ đức độ).
Phật học ngày nay cũng kém xa ngày xưa.
Hồi xưa ai cũng
coi trọng lễ, nghĩa, liêm, sỉ; do đó mới có bậc Thánh Nhân
xuất hiện.
Ðời nay không
ai những điều ấy là giá trị, vì vậy xã hội ngày càng
hỗn loạn. Do đó mình phải có thái độ cung kính đối với
kinh điển.
Ngày xưa có người
họa sĩ có thể vẽ hình mặt trời hệt như thật, đến độ
người ta có thể đem lúa ra phơi dưới bức tranh! Có kẻ
vẽ con chim vô cùng sống động, đến độ nó có thể bay
thật sự! Sở dĩ họ làm như thế được là do tu luyện mà
ra.
Người thời nay
ai mà vẽ được con chim biết bay thực sự? Ai ai cũng ỷ lại
vào kỹ thuật máy móc hoặc hóa học chế biến cả!
Hiện nay, Phật-giáo
trên toàn thế giới đại thể thì có hoằng Pháp, truyền
bá. Song le, tuy đạo Phật phổ biến như vậy, nhưng lại rất
khó tìm được kẻ chân chánh tu hành. Cũng có kẻ sớm đến
với Ðạo, thiện căn khá tốt; song, kẻ xuất gia thì vẫn
ít.
Xưa kia, ở chùa
bên Ðại Lục (Trung Quốc), việc xuất gia không có dễ dàng
đâu. Hễ vừa đi tu là bạn phải làm việc lao động tay chân
ở chùa một thời gian (khổ công như cày ruộng, cuốc đất..),
rồi sau đó mới được phép làm những việc nhẹ trong chùa.
Ở Ðài Loan (Trung
Hoa), việc xuất gia rất phổ biến, rất bình thường; và
phần lớn là căn cứ theo học vấn mà xét việc xuất gia.
Ở Ðại Lục
xưa kia, xuất gia là để liễu thoát sanh tử: do đó, tu hành
cực khổ, học cái khổ hạnh của Phật, Bồ Tát để tu luyện
bản thân. Tại Ðại Lục, kẻ xuất gia phải chịu làm việc
lao tác cực khổ (khổ hạnh) trong ba năm; có chịu cực khổ
thì mới giải thoát được!
Người nay và
người xưa khác nhau xa: cổ nhân, Ðạo-tâm có mười phần;
người đời nay, Ðạo-tâm chỉ có một phần.
Người tại gia
hay xuất gia đời nay sinh hoạt sung sướng, tốt lắm. Khi cuộc
sống quá sung sướng thì sẽ sinh ra nhiều tai nạn. Chấp trước
vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, thì bịnh hoạn cũng
sẽ nhiều hơn.
Ăn cơm đạm,
mặc áo thô: tu hành là cứ ở đây mà dụng công. Song hiện
tại, ai ai cũng nghiên cứu việc ăn ngon, mặc đẹp. Cả ngày
bận rộn vì mấy chuyện ấy. Mình nguyện muốn tiêu nghiệp
chướng, nay biến thành tiêu hao mất phước huệ; rồi thì
nghiệp chướng cũng theo đó mà ùa tới thôi.
Xưa kia cơm, canh,
rau cải, thật giản dị - cứ việc bỏ hết vào luộc là
xong (gọi là La-hán thái). Giờ đây, ai cũng chú ý, kén chọn
việc ăn uống đến độ người xuất gia ăn còn ngon hơn cả
kẻ thế tục nữa!
Hồi xưa, ở Ðại
Lục, các thầy tu ở chùa mặc thì mặc áo vải bố (thứ
vải mặc làm đám tang) nhuộm thành màu xám; ăn thì ăn cháo
lỏng như nước lã (do đó chén bát không cần phải rửa kỹ),
cộng thêm một chút đồ ăn giản dị; chứ không phải như
các bạn bây giờ được ăn cơm trắng, lại có đủ món,
nhiều món ăn như vậy.
Chùa chiền ở
Trung Hoa xưa kia, hễ ai để đồ đạc bừa bãi thì chùa đều
gom góp, tịch thâu lại, bất kể là của ai. Nếu bạn muốn
tìm đồ mình mất thì phải đi hỏi Thầy Quản-lý.
Ở chùa bên Trung
Hoa khi xưa, khi có ai phạm lỗi lầm, Thầy Quản-lý không cần
phải nói dông dài gì cả, mà chỉ việc viết tên người
ấy lên bảng bố cáo; người ấy đọc được là tự động
rời chùa ngay.
Thời nay, Thầy
Quản-lý có tới nói lỗi lầm của bạn (để mời bạn cuốn
gói), bạn (chẳng những không thèm nghe) lại còn tranh chấp
cãi vã với thầy ấy nữa; thật là sai lệch quá xa!
2.
Khai Thị Ngộ Nhập
Tự mình
sanh phiền não, tự mình phải giải mở. Hãy đem lời Sư-Phụ
khai thị ra áp dụng.
Sư-Phụ khai thị
nhiều như vậy, giờ đây xem bạn thọ trì ra sao.
Kẻ biết nghe,
khai thị mới có ích. Kẻ không biết nghe, khai thị cũng vô
dụng.
Nghe giảng khai
thị, không luận là nghe nhiều hay nghe ít, mà là coi xem nghe
vào hay không vào (tâm). Nghe vào tâm rồi thì phải biết áp
dụng.
Bạn nghe lời
khai thị của Sư-Phụ hay quá. Song hay là Sư-Phụ hay (chứ
không phải bạn hay). Vẫn phải cần bạn đem thực hành.
Các bạn lạy
tôi làm Thầy; tôi dạy các bạn Phật Pháp. Khi tôi không còn
ở đời, các bạn phải theo thứ Pháp này mà tu hành thì Ðạo-tâm
mới kiên cố, con đường xuất gia mới viên mãn.
Khi học Phật
Pháp, bạn nghe Sư-Phụ khai thị cho một câu thì tự mình phải
làm sao giác ngộ, lãnh hội được câu ấy. Không phải cần
nhiều lời. Khi lời nhiều thì các bạn vẫn còn bị xoay chuyển.
Hỏi: Sau khi Sư-Phụ
viên tịch, nếu chúng con tưởng nhớ Sư-Phụ thì phải làm
sao?
Một thầy (Thầy
Truyền Vân) phát biểu: 'Chính Phật-tánh của Sư-Phụ nói
Pháp, khai thị cho chúng ta; chứ không phải là cái thân giả
hợp của Ngài. Có nhớ tưởng tới Ngài thì mình hãy phát
tâm dũng mãnh, tinh tấn tu hành!'
Lời tôi giảng
là nhắm thẳng vào các bạn. Ðừng nghĩ rằng tôi nói lỗi
xấu của riêng bạn hay của người nào đó, rồi sinh ra phiền
não, bực bội.
Nếu bạn có lỗi
thì hãy tự thừa nhận, sám hối, phản tỉnh, sửa đổi tánh
nết, hành vi.
Cứ thường chấp
trước thì dễ sinh phiền não. Bạn có phiền não, rồi lại
ảnh hưởng, làm kẻ khác cũng bực bội, rồi cả đại chúng
đều sinh loạn. Thế thì làm sao 'thống lý đại chúng' làm
cho mọi người hoà hợp? Phải sửa mình, tề gia trước, rồi
sau mới trị quốc, sửa người được.
Kẻ có tánh thẳng
thắn thì tuy lời nói không êm tai, không dễ nghe cho cho lắm,
song bạn chớ cho là lời xấu ác. Có kẻ ăn nói hay ho lắm,
song tâm thì không tốt gì cả. Do đó, bạn phải chú ý, phải
hiểu suốt tâm lý nhân tình.
Nhiều khi kẻ
trực tâm lời nói không có ý xấu gì cả, song người nghe
thì cong vạy, khúc mắc, xuyên tạc; thậm chí còn cho rằng
anh ta suy nghĩ phức tạp lắm nữa!
Ðừng nên nghe
người bừa bãi. Ðừng nghe bên này nghe bên nọ rồi không
biết ai đúng ai sai. Khi tâm bạn không tự làm chủ thì dễ
thành tán loạn, dấy vọng tưởng, sinh phiền não.
Nghe cũng phải
biết cách: cần nghe Phật Pháp, chớ nghe chuyện thế tục.
Nghe Phật háp
thì được giải thoát, không còn ngã tướng, không còn cái
'tôi'. Nghe chuyện trần tục tức là có chuyện thị phi, phát
sinh ra tướng ngã (có 'tôi', có 'anh'; có 'đúng', có 'sai').
Ðó là chủng tử xấu, về sau khó tẩy trừ.
Lời nói đúng
sự thật thì bạn mới nên nghe. Lời không đúng chân lý mà
bạn nghe vào, thì có thể gieo ảnh hưởng xấu cho kẻ khác,
mà tự mình phải gánh chịu quả báo.
Kẻ biết nghe,
thì chỉ một hai lời nói là y hiểu ngay; không cần phải
kể lể rườm rà.
Khi xưa mấy thầy
giảng kinh, họ đều dành lại một phần để người nghe
tự tìm hiểu và thể hội. Họ không giảng hết, cũng không
kể chuyện cổ tích dài dòng.
Kẻ có căn cơ,
thì bạn nói gì là y nghe ngay. Kẻ không có căn cơ thì khi
nghe bạn nói, y liền tán dóc, lép nhép không ngừng.
Tự mình phải
giác ngộ bản lai diện mục của mình. Nghe (giảng khai thị)
chỉ là cảnh giới của Lục trần mà thôi.
3.
Pháp Ngữ
Hỏi: Mỗi
ngày trì Chú, lạy Phật, lại tu thêm Pháp-Hoa Tam-Muội, song
tâm vẫn còn lăng xăng, tạp nhạp là vì sao?
Ðáp: Mình không
tự chủ thì không xong. Chuyên tâm niệm Phật, trì Giới, lạy
Phật là đủ!
Hễ công việc,
sự tình càng nhiều thì bạn càng chấp trước, tâm càng không
an định. Ðừng chấp trước vào cái hay cái tốt của kẻ
khác. Kẻ có căn cơ thì khi nhìn điều xấu xa của người,
y biết vận dụng (tránh phạm cùng lỗi) để tu tiến bộ
hơn. Kẻ không có khả năng thì chỉ sinh thêm phiền não.
Muốn định tâm,
rất khó. Do đó phải tìm cái tâm bất sanh bất diệt, đừng
tìm những thứ sanh diệt bên ngoài. Cần tìm cái mà xưa nay
tự-tánh sẵn có. Tất cả mọi thứ nghe được, thấy được,
ở bên ngoài, đều không dính dấp gì tới mình (chân-tánh)
cả.
Hình tướng người
Tỳ-Khưu là hình tướng Phật. Hễ thấy thầy Tỳ-Khưu tới,
bạn nên lập tức chắp tay đón chào, lễ lậy. Không cần
phải phân biệt, đánh giá thầy này có tu hành, thầy kia không
tu hành.
Biết tụng niệm,
gõ khánh, đánh chuông là việc rất tự nhiên; không cần để
tâm học tập. Khi trí huệ khai mở thì tự nhiên bạn biết
làm ngay.
Trong Tam Giáo (Nho,
Lão, Phật), thì Nho-giáo dạy đạo đức, lễ, nghĩa, trung,
hiếu. Lão giáo tuy cũng dạy tu Ðạo, song không dạy Phật-lý
(chân lý cứu cánh), nên không giải thoát. Cuối cùng chỉ
có quy nạp về Phật-môn Tịnh-Ðộ (của Phật-giáo), cầu
vãng sanh, thì mới liễu thoát sanh tử.
Phật-giáo và
Lão-giáo (Ðạo-giáo) rất khác biệt nhau. Tu đạo Phật là
vì liễu sanh tử. Tu đạo Lão là để trường sanh bất lão.
Song, dù sống tới trăm ngàn tuổi vẫn không phải cứu cánh,
vì không thoát được sanh tử.
Trong đạo Lão
cũng có nhiều người tu rất tinh tấn, chứng được thân
La-hán (như Lã-Ðông-Tân, Hán-Chung-Ly); song, thân La-Hánh của
họ không phải cứu cánh. Các vị La-hán bên Phật giáo thì
đã đoạn được hai thứ kiến-hoặc và tư-hoặc (Kiến và
Tư hoặc là hai thứ si mê của cái nhìn và của tâm tư khiến
mình không thấy được Phật-tánh. Hai thứ si mê này rất
thâm sâu vì được hình thành và nuôi dưỡng từ nhiều đời
nhiều kiếp bởi thói quen và chủng tử ô nhiễm lầm lẫn
rằng thật có cái 'ta' và vạn pháp), siêu thoát luân hồi.
Bên Ðạo-giáo, nhiều vị được thân La-hán cũng không phải
chết, có khi họ sống trong núi đến hàng trăm năm.
Chúng ta cốt yếu
cần tu để giải thoát sanh tử. Do đó, mình cần phải xả
thân, đừng sợ cái thân này cực khổ. Phải nhớ rằng, tu
đạo Phật là tu để ba nghiệp (thân, khẩu, ý - hành động,
lời nói, ý nghĩ) được thanh tịnh, sáu căn được trong sạch,
thoát khỏi cái khổ cả sanh, già, bệnh, chết.
4.
Lời Của Thầy Truyền Văn
Ðừng
chấp trước tốt, xấu. Ðừng rớt vào cực đoan (nhị biên:
vui-buồn, hay-dở, đúng-sai...), Nếu chấp trước vào chuyện
xấu, thì vĩnh viễn bạn sẽ bị tắc nghẽn ở chỗ ấy,
không thể tiến bộ. Ví như bạn có làm lỗi lầm gì, trong
tâm cảm thấy rất thống khổ, hối hận; rồi cứ âu sầu
mãi, không thể mở rộng tấm lòng. Nếu bạn cứ mãi ôm chặt
chuyện dĩ vãng, thì không thể nào an tâm tu Ðạo được.
Mọi việc đều
là huyễn hóa (như hình ảnh, cảnh tượng hiện ra trong bọt
xà-bông), đều là không thật. Việc đã qua rồi thì thôi.
Cứ chấp chặt, ôm ấp mãi thì chỉ phiền não.
Nguyện thì phát
ở trong lòng: không phải đem ra nói. Lòng cần nghị lực,
theo nguyện mà làm.
Gặp cảnh tốt
hay xấu, chớ có phản ứng ra ngoài mặt: trong lòng biết là
đủ.
Sư-Phụ dạy rằng
Ngài giống như một cây cầu. Ngài đã đi trước, dựng lên
cái cầu để mình đi qua. Ngài không dám tự cho rằng Ngài
dạy ai cả. Ngài nói Ngài chỉ kể lại những kinh nghiệm
trong quá trình tu hành cho mình nghe, để mình nghiên cứu, học
hỏi mà thôi!

|