A.
Trừ Tướng
Hỏi: Thưa Thầy,
khi thực hành mới thấy không giản dị!
Ðáp: Ðừng nói
là "không giản dị." Bạn cứ làm thì sẽ hết sức giản
dị!
Hỏi: Song con
là kẻ phàm phu cho nên...
Ðáp: Nói mình
là "phàm phu", tức là chấp trước!
Hỏi: Song con
không có tu hành gì...
Ðáp: Ðừng nên
nói không có tu hành (rồi không tu). Bạn cần phải có lòng
tin, rằng: "Tôi cũng có khả năng thành Phật. Tôi cũng có
khả năng tu tới nơi tới chốn." Nghĩ như vậy thì bạn mới
tinh tấn hơn. Ðừng nên cứ thường nói: "Tôi, tôi..."; bởi
chính nó (quan niệm về "tôi") tác quái, làm chướng ngại
bạn đấy!
Xưa kia có một
vị quan từ chức, xuất gia tu hành. Ông ta sợ kẻ khác biết
được thân phận của mình do đó không hề tiết lộ thân
thế cao quý (kẻ có chức vị cao, ăn mặc đầy đủ, thì
rất dễ bị đọa lạc vì phú quý không thể vĩnh cửu). Ông
ta làm đủ thứ việc thấp kém như lau chùi, quét dọn...;
không ai biết thân thế của ông. Một ngày nọ, ông ta quét
dọn rồi khai ngộ! Ông ta biết ra là xưa kia mình đã từng
làm bể bao nhiêu cái chén cái bát của chùa, do đó cấp tốc
bồi thường cho chùa.
Chính vì ông ta
không có ý niệm về cái "tôi" (ngã tướng) nên mới được
khai ngộ. Bởi vậy, hãy trừ sạch ngã-tướng.
Cần phải không
có tâm phân biệt thì mới trừ nỗi ngã-tướng. Khi còn chấp
chặt vào ý niệm về "tôi", thì tu chẳng đến đâu. Trừ
được ngã-tướng thì trí huệ mới khai phát.
Tu hành, không
thể chấp trước. Chấp trước tức sanh phiền não.
Tu Ðạo là cần
trừ tham, sân, si; đạt tới thân, miệng, ý thanh tịnh.
Muốn trừ cái
cái chấp về "tôi" thì phải từ nơi mặc áo thô, ăn cơm
đạm mà dụng công - giảm bớt ham muốn, không có tâm phân
biệt, không suy nghĩ về mình, về người, về chúng sanh, hay
về thọ mạng.
Mọi thứ đều
là anh-tôi tranh chấp mà ra. Coi xem bạn có thể tu đến chỗ
chẳng còn anh-tôi, mình-người chăng?
Bạn cần tu nhẫn;
nhẫn nhục, nhẫn nại là căn bản, gốc rễ của việc tu.
Nếu bạn không thể tu nhẫn, thì chỉ uổng công mang ngoại
biểu, hình tướng kẻ xuất gia!
Ðừng nên cho
mình lúc nào cũng đúng. Thái độ như vậy không thể tu tâm.
Tu hành không cần
có ý niệm về "tôi." Không nên kể lể mình hồi xưa, lúc
chưa xuất gia, thì có chức phận thế này, địa vị thế
nọ; nếu làm vậy thì không thể buông bỏ mọi thứ, không
thể tu Ðạo. Khi đã xuất gia thì chẳng còn chức phận, địa
vị, học lực, bằng cấp, tài năng...; mọi người đều như
nhau cả.
Tốt thì mỉm
cười, xấu cũng mỉm cười; bởi tốt hay xấu đều do tâm
phân biệt đặt bày ra. Do đó, đừng phân biệt.
Khi gặp việc
khiến bạn cao hứng, vui vẻ, hãy tự hỏi: "Ai đang vui vẻ?"
Khi gặp chuyện phiền não, hãy tự hỏi: "Ai đang buồn lo?"
Khi bạn có ý
nghĩ không tốt, hoặc khi có phiền não, thì hãy hướng về
Ðức Phật A-Di-Ðà mà nói. Hễ những thứ ý niệm xấu ấy
đến, thì đập nát chúng ngay.
Do đó bạn cần
niệm Ðức A-Di-Ðà, tự nói rằng: "Phiền não! Hãy mau đi
khuất, chẳng có việc gì cho bây cả!" Ðó là dùng tâm trị
tâm vậy.
B.
Xả Bỏ Tâm Phân Biệt
Con đường tu
cần phải trải qua gian khổ; như vậy mới có thể khai ngộ.
Không nên hy vọng mọi người đối với mình tốt; nếu người
tu chẳng vậy thì không khác gì kẻ thế tục.
Tu hành thì phải
chịu thiệt thòi, thua lỗ; có vậy tu mới tiến bộ.
Tu hành là làm
những việc mà không ai chịu làm; luôn dũng mãnh, tinh tấn,
chứ không phải tính toán, so đo rằng: "Việc này đâu phải
để tôi làm!"; bởi đó là thái độ chẳng khác người đời.
Làm những việc
mà kẻ khác không làm, đó là cách tu phước huệ. Tu hành
không phải là làm việc tính toán so đo; không cần phải toan
tính, sắp đặt.
Ðiều tốt thì
góp nhặt để học; điều xấu thì vất qua một bên. Tự
mình trong lòng thông hiểu là đủ rồi; thuận theo đây mà
tu hạnh Nhẫn-nhục Ba-la-mật. Tu thì đừng hỏi "đúng" với
"sai", đừng kể "hữu lý" hay "vô lý."
Tu thì đừng nói
thị phi, ai đúng ai sai. Dù mình đúng lý mà người khác nói
mình sai, mình cũng cứ tiếp nhận ý kiến ấy. Hễ bạn tự
nhận mình sai - dù mình đúng - thì phiền não sẽ không khởi;
bằng ngược lại, tâm bạn sẽ không an, phiền não sẽ kéo
tới.
Trên đường tu,
có rất nhiều thứ không giống với đường đời, thế tục;
do đó, đừng nên tranh chấp "đúng" với "không đúng."
Xưa, có hai người
đồ đệ cùng tọa Thiền, một người ngồi rất nghiêm trang,
còn người kia thì nghiêng qua ngả lại; nhưng Sư-Phụ của
họ lại lấy roi quất người ngồi nghiêm trang. Nếu là người
thời nay thì có lẽ y đã nổi giận, sanh phiền não rồi;
song người đệ tử ấy thì lại vô cùng xấu hổ, thỉnh
vấn Sư-Phụ khai thị dạy bảo.
Tu hành không phải
là tranh chấp "đúng" với "sai." Tu hành cần phải có công
phu nhẫn nhục; dù mình đúng mà bị trách là sai, mình cũng
phải nhận chịu.
Nếu bạn thật
có lòng muốn tu, thì đó chính là phước của bạn; do vậy
cần tu cả phước lẫn huệ. Mỗi người cần trừ sạch hết
những nghiệp chướng đã tạo xưa kia, rồi đừng tạo thêm
nghiệp mới nữa; như vậy thì phước, huệ sẽ tăng gia.
(Phương pháp:
Niệm Phật, lạy Phật, phát tâm làm việc lao tác ở chùa,
không tính toán. Hễ tính toán thì sanh phiền não, tức là
tạo thêm nghiệp mới.)
C.
Tâm Kiên Cố
Khờ khạo mà
tu hành, ngốc nghếch mà ăn uống, niệm Phật cho nhiều.
Hôm nay là hôm
nay. Ngày mai là ngày mai. Chuyện gì cũng đừng rớ tay, xỏ
mũi vào. Ðó chính là tâm kiên cố, chính là tu hành.
Khi tu thì cứ
tu, cần gì phải suy nghĩ, tính toán nào là đi học Phật-học,
lấy bằng cấp, làm này làm nọ? Ðó đều không phải là
chuyện tu hành.
Sau này, khi tôi
(Hòa-Thượng Quảng Khâm) không còn, các bạn đừng buồn;
chỉ nghe theo lời tôi mà niệm Phật, tu Khổ-hạnh. Ðối với
hoàn cảnh tốt hay xấu, đều không nên chấp trước, cần
phải tùy duyên.
Tu hành cần phải
gạt bỏ cái thân. áo quần, ăn uống, chỗ ở đều phải
giản dị. Cần phải mặc áo thô, ăn cơm lạt. Nếu quá chú
trọng đến ăn, mặc, ở, thì bạn nào khác gì kẻ thế tục?
Khi bạn coi nhẹ việc ăn, mặc, ở, thì mới trừ nổi tham,
sân, si.
Khi những thứ
ấy (áo quần, ăn uống, nhà cửa...) quá sung túc, thì dục
vọng sẽ phừng phừng, lòng tham sẽ cao ngất. Do đó, muốn
buông bỏ thân tâm thì phải từ nơi ăn, mặc, ở hạ thủ
công phu.
Khi có chuyện
tốt xấu gì bạn cũng đừng để hiện ra ngoài mặt. Như
bạn sanh bệnh thì chớ để kẻ khác biết bạn bị bệnh.
Như tôi tuy có bệnh, song ai nhìn tôi cũng nói: "Trông Thầy
thân thể khỏe lắm"; không ai biết tôi lúc ấy có bệnh cả.
D.
Canh Gác Sáu Căn
a) Mắt
Khi thấy khuyết
điểm, lỗi lầm của kẻ khác, đừng nên khỏi tâm phân biệt,
so sánh. Hãy quán sát chính mình. Ai ai cũng có Phật tánh cả.
Không nên tối
ngày cứ dòm ngó lỗi xấu của người. Phải thường xuyên
tự nhìm xem mình có lỗi lầm, sai trái gì hay không. Tu như
vậy mới không đi ngược lại vời Ðạo.
Phàm thấy việc
gì cũng đừng quá chấp tướng. Thấy tướng mạo tốt thì
chớ sanh lòng vui thích; thấy tướng mạo xấu cũng chớ khởi
phiền não.
b) Tai
Tu hành cần phải
tự tại. Ðừng để tâm vào lời dư luận phê bình bạn này
nọ.
Nói bạn tốt,
phê bình bạn xấu: Ðây chẳng phải là người ta sai, mà thật
ra là bạn không an định.
Người khác phê
bình bạn: Chính đây là nơi bạn phải tu.
Tu hành cần có
cảnh giới tới thử thách thì mình mới tu đặng. Tự tu,
tự ngộ - phiền não là Bồ-đề. Tu hành chính là tu ở chỗ
đó. Khi có kẻ công kích mà tâm bạn vẫn an nhiên, bình lặng,
không nổi sóng gió; thì đó là tu.
Không phải nói
rằng: "Mỗi ngày tôi lạy Phật bao nhiêu lạy, niệm Phật
bao nhiêu chuỗi"và cho như thế là đủ; phải biết đó là
những nhân duyên thiết yếu (song phải biết tu trong những
lúc còn lại).
Khi bạn quét chùa
sạch sẽ rồi, có Thầy lại hằn học nói bạn quét chưa
sạch. Nếu lúc đó bạn cùng Thầy ấy biện bác, giải thích,
thì bạn còn tánh tình kẻ tục. Nếu bạn chấp nhận lời
mắng nhiếc, rồi trả lời: "Vâng, tôi sẽ quét sạch ngay";
thì đó là tu hành.
Khi tu tới chỗ
có chánh niệm, lòng sáng tỏ, thì tai bạn thích nghe lời tốt
hay lời xấu, bạn đều cảm nhận rất rõ. Khi tai bạn chỉ
thích nghe lời hay lời tốt, thì hãy đem lời xấu lại mà
tu.
c) Miệng
Khi nói, lời lẽ
cần phải tinh (chỉ nói điểm chính) và giản (đơn giản).
Khi lời không cần phải thốt ra, đừng nói!
Tu hành đừng
nên thị phi (chê bai, nói xấu người khác), đừng đặt điều.
Trong đạo Phật,
sợ nhất là nói thị phi. Kẻ nói chuyện thị phi là kẻ thị
phi (không đáng tin cậy), chỉ tạo khẩu nghiệp. Tu hành chính
là ở chỗ này mà tu thành; nếu không thì là kẻ chỉ biết
ăn ngày ba bữa!
Ðừng nói thị
phi; vì nói thị phi thì sẽ dẫn tới thất bại, và khiến
kẻ khác không được yên ổn.
Muốn nói gì về
người khác, trước hết hãy tự hỏi lương tâm mình.
Ðừng phê phán
người khác là sai, là có lỗi. Lời nói một khi thốt ra,
bạn đã sai trái rồi. Do đó, cái miệng thật quan trọng lắm!
Mỗi ngày phải
tự huấn luyện để lòng đừng tham, đừng nói lăng nhăng.
Khi mở miệng,
hãy nói về Phật Pháp, cầu sanh Tây Phương. Chủng tử "thói
quen thế tục" bạn đã trồng trong tâm quá đủ rồi; do đó,
đừng nên tiếp tục nói những lời thế tục, thi phi nữa!
Có kẻ khi nói
thường làm cho người nghe phiền não, tâm không thể an định;
khiến người nghe không biết phải xử lý làm sao cho đúng.
Ðã vậy, y còn làm người ta phải nghe y mà chẳng biết y
có nghe cho họ chăng? Kết quả là người nghe phiền não, buồn
bực, không cách gì giải khai nổi.
Trong chùa, không
được hai, ba người tụm lại nói chuyện lăng nhăng; hoặc
kết bè đảng, phê bình người này kẻ nọ, thị phi đúng
sai, trong lúc họ không hiện diện. Nếu làm vậy sẽ dễ gây
ra sự bất an trong chúng, phạm vào giới quấy nhiễu đại-chúng.
Tu hành cần phải
trong ngoài nhất trí, không tự mâu thuẫn; nghĩa là không được
"khẩu thị tâm phi" (miệng nói một đằng, tâm nghĩ một ngả).
Tu hành phải chú
ý đến khẩu nghiệp. Miệng tốt thì tâm mới tốt. Ðừng
cho rằng: "Tôi miệng tuy không tốt, song lòng tốt!"
Sau khi xuất gia
rồi, trong chùa vẫn có kẻ nói chuyện thị phi. Song le, bạn
đừng cùng bọn họ nói thị phi là đủ. Ðừng nên cứ mở
miệng là thị phi hoài. Kẻ nào nói phiếm, lẻo mép về chuyện
người khác, thì y là kẻ thị phi.
Hễ có thời giờ
rảnh rỗi, bạn hãy lạy Phật, niệm Phật.
Khi bạn khởi
phiền não, buồn lo, chớ nên kiếm kẻ khác nói này nói nọ.
Nói lui nói tới, thế nào bạn cũng mắc vào thói thị phi
lăng nhăng. Tốt nhất là hãy lạy Phật cho nhiều để giải
trừ phiền não.
Hỏi: Nghe Thầy
giảng (về tiết thực) nên con không dám ăn nhiều quá, ăn
no quá; song sức lực yếu ớt, con phải làm sao đây?
Ðáp: Cần ăn
cho đủ. Chủ yếu là không tham, không chấp trước.
Không phải là
hễ thức nào ngon thì ăn nhiều một chút, thức nào dở thì
ăn ít một tí. Ðừng tham cầu hương, vị, xúc, pháp.
Khi bạn khởi
ý nghĩ xấu, đừng chấp trước nó; hãy tự nhủ thầm: "Mình
không nên nghĩ ác!" Không thể dùng hình phạt, bởi vì hình
phạt chỉ làm tổn hại chính mình mà thôi.
Sự vật có tướng
trạng thì dễ thấy. Việc vô hình vô tướng thì khó thấy
(như nói thị phi...); ta cần có lòng cứng rắn, đừng để
bị chúng lôi kéo.
Hỏi: Có nghiệp
mang theo thì làm sao khai trí huệ?
Ðáp: Niệm "Nam
mô A-Di-Ðà Phật" cho nhiều.
Nếu các bạn
noi gương đức hạnh của Sư-Phụ (Hòa-Thượng Quảng Khâm)
thì đi đâu cũng yên ổn cả.
Thân thể giả
dối của chúng ta khó tránh bệnh tật; song, thân bệnh là
bệnh nhỏ.
Có vọng tưởng,
tham, sân, si mới là bệnh lớn. Còn vọng tưởng là còn tiếp
nối chuỗi luân hồi, không dứt được vòng sanh tử.
Ðể bảo đảm
có được chánh niệm ở giây phút lâm chung, bình thường
mình cần phải uống thuốc "A-Di-Ðà Phật"; nếu không, chết
rồi chẳng biết về đâu!
Lúc đi, đứng,
nằm, ngồi, phải luôn thể hội Phật pháp, giác ngộ đạo
lý; vậy mới không uổng phí thời gian. Thời gian qua rất
chóng, phải tận dụng nó để thể nghiệm. Nếu tu như vậy,
ý nghĩ xấu mới không có cơ hội nảy sanh; không làm vậy,
sẽ không có được chánh niệm.
Khi miệng không
nói thì tâm suy nghĩ; song đừng suy nghĩ những thứ có sắc
tướng, hình bóng; phải suy nghĩ thư ra ngoài sắc tướng.
E.
Tâm Trường Viễn (bền bĩ lâu dài)
Bạn cho tu hành
dễ lắm sao?
Bây giờ, việc
chúng ta làm chỉ là thứ khổ công, khổ tu mà thôi. Bởi vì
hiện tại chúng ta chưa đoạn được tham, sân, si, do đó đây
là giai đoạn tu luyện tâm trí. Chờ khi những thứ ấy bị
đoạn không còn một mảy may, thì mới gọi là nhập Ðạo.
Tu hành không phải
là việc dễ "ăn" như đậu hủ, bỏ vô miệng là có thể
ăn ngay!
Các bạn cần
để 10 năm, 20 năm trì một câu "A Di Ðà Phật" không buông
lơi, cộng thêm công phu Tín, Nguyện, Hành mới được.
Nếu các cô có
Ðạo-tâm, từ từ tu tới 40, 50 tuổi, không có quái ngại,
trở thành "lão sư bà", thì lúc đó các cô mới có đặng
một chút xíu tự tại; song không phải là tự tại gì lắm.
Nếu các cô không ngộ Ðạo, thì dù đến 40, 50 tuổi, phiền
não sẽ vẫn tràn ngập, dễ thành điên đảo.
Tu hành cần giữ
Trung Ðạo (trạng thái cân bằng). Ðừng quá gấp, đừng chậm;
phải như "tế thủy trường lưu", nước chảy từ từ mà
không ngừng.
Tu hành, phải
giữ Trung Ðạo bằng công phu buông bỏ và nhìn thủng. Cần
mặc áo thô, ăn cơm đạm, và không chấp trước vào sắc,
thanh, hương, vị, xúc, pháp. Song le, phải hành trì một cách
tự nhiên; không phải miễn cưỡng, bày đặt không ăn cơm,
không mặc áo dù trời lạnh, hay không ngủ nghỉ để chứng
tỏ mình là một tay tu hành cừ khôi! Khi tu tới một trình
độ nào đó, tự nhiên bạn sẽ không còn biết đói, không
còn cần ngủ nghỉ nữa.
Hãy tinh tấn,
dũng mãnh tu hành. Tu tới lúc bạn không còn nhu yếu về ăn,
mặc, ở, thì khi ấy bạn có thể lên núi bế quan; như thế
thì may ra bạn có thể thành tựu. Nếu tu chưa tới trình độ
như vậy mà bế quan, thì sau này sẽ gặp chướng ngại.
Trong quá trình
tu hành, nảy sanh phiền não là việc không tốt. Cần phải
không có phiền não, lo âu, buồn vui, thì mới tốt.
Nếu có thể mỗi
ngày yên ổn, bình tĩnh để niệm Phật, lạy Phật, tu trì,
không có chuyện gì xảy ra, là tốt rồi; chớ nên vọng tưởng
chuyện này chuyện nọ.
Khi không tạo
tội lỗi, thì đó là công đức rồi!
Hôm nay là hôm
nay. Ngày mai là ngày mai.
Hôm nay không xảy
ra chuyện bất tường, có thể niệm Phật qua ngày, là đủ
lắm rồi.
Việc ngày mai,
để ngày mai - chớ quái ngại, chớ âu lo.
Trừ bỏ
nhân-ngã tướng (ý niệm và sự chấp trước vào quan niệm
có mình và người) là việc mà người tu phải làm cho thấu.
Làm được, đó gọi là công phu thiệt. Nếu không làm được,
bạn đi tới chỗ nào, chùa nào tu cũng vô ích. Tu tới trình
độ như vậy, công phu của bạn mới thành tựu.
Chuyện gì cũng
là do "tôi, anh", mình, người" tranh chấp, phân tranh mà ra.
Xem bạn có khả năng tu tới chỗ không còn "mình, người"
chăng?
Cứ nhậm vận
mà làm, tùy duyên qua ngày, thì chuyện gì cũng chẳng quấy
nhiễu được tâm bạn. Mọi thứ: ăn, uống, ngủ, nghỉ, mặc,
ở, thị phi, vinh nhục... hãy lạnh lùng buông bỏ chúng đi.
Khi quét sạch được những ngoại duyên ấy, thì trí huệ
trong tâm sẽ tự nhiên khai phát.
Tâm bình thường
chính là Ðạo: Mỗi ngày cứ giữ cho tâm đừng khởi phiền
não, âu sầu, cũng không vui vẻ thái quá. Ðối đãi với mọi
người thì không tốt cũng không xấu; cứ tùy duyên mà kết
mối giao hảo với họ. Song, chớ phan duyên, tức là đừng
lợi dụng họ để thủ lợi.
Lúc nào cũng phải
chú ý đến sự khởi tâm động niệm, sự suy nghĩ của mình.
Khi có ý tưởng xấu thì phải lập tức thức tỉnh, dẹp
đi.
Tu hành, cần tu
với thái độ vô ngại, ví như con hạc làm tổ vậy. Con hạc
không lo lắng gì về ăn uống cả; nó thích chỗ nào thì làm
tổ chỗ đó. Khi nào muốn, nó lại tung cánh bay đi nơi khác.
Ðó là giống chim tự do, tự tại nhất.
Khi tu, bạn phải
có thái độ "vô quái ngại" ở mọi nơi, mọi chốn. Ðược
vậy, thì tâm mới an tĩnh, mới như như bất động.
Tu hành, cần tu
tới mức không còn quái ngại trong hoàn cảnh động hay tĩnh.
Thế nào là "động
và tĩnh không còn quái ngại?" Tức là ở trong hoàn cảnh động
mà tâm bạn không động: Bạn không bị hoàn cảnh động bên
ngoài ảnh hưởng làm tâm bạn lay chuyển, nghĩ ngợi. Và khi
ở trong hoàn cảnh tĩnh lặng, bạn không có ý nghĩ là yên
lặng.
Phải dùng tiếng
niệm Phật để quét sạch hai trạng thái bụi bặm đó, khiến
liên hoa khai mở; như vậy mới đắc chánh niệm. Khi niệm
Phật, bạn cần phải chuyển niệm - chuyển hóa, biến ác
niệm thành chánh niệm!
Việc gì cũng
phải buông bỏ. Buông bỏ chính là công phu.
Bình thường,
đối đãi với việc gì cũng buông xả hết; không có vướng
mắc, quái ngại vào việc gì. Ðó là để tránh trường hợp
lúc lâm chung, giây phút tối hậu, vọng tưởng nổi lên lôi
kéo mình vào vòng luân hồi bất tận.
Mục đích việc
tu là để lúc chết, bạn không còn vướng bận, không còn
quái ngại chuyện gì cả; chỉ thảnh thơi đem theo linh quang
(công đức trí huệ sáng suốt) của chính mình mà thôi!
Tu hành, cần phải
ở chỗ nào cũng tu như nhau; đâu đâu bạn cũng có thể tự
tại. Tu là tu ở chỗ này đây.
Tu hành, cần không
để cho ngoại cảnh bên ngoài ảnh hưởng, lôi kéo tâm mình.
Bạn cần chú
ý tự tâm: Cần phải có niềm vui khởi dậy từ nội tâm
chứ không phải là cái vui do hoàn cảnh tốt đẹp bên ngoài
đưa đến. Do đó, bạn phải luôn quan sát tự tâm, xem xét
sự suy nghĩ của mình, và đừng chú ý tới ngoại cảnh. Phải
tu tới độ "tôi chẳng có gì cả" mới được!
Tu hành là tu ở
phước lẫn huệ. Tu tới lúc bạn lớn tuổi, "lão" rồi, thì
phước và huệ sẽ đầy đủ; bấy giờ, mọi người sẽ
cung kính bạn (đừng tham được cung kính khi còn trẻ, lúc
còn thiếu phước huệ).
Khi bạn tu chân
thật, đúng đắn, thì dù bạn ở đâu người ta cũng sẽ
tìm đến; ai ai cũng vui vẻ muốn cùng bạn đàm đạo.
Cần tu đến chỗ
chánh niệm lúc nào cũng hiện tiền. Có chánh niệm thì mới
có khả năng phân biệt thế nào là đúng, thế nào là sai;
rồi từ đó mà hành động.
Tu hành, là tự
mình tu. Tu tới lúc thể ngộ - ngộ cái khổ ở Ta-bà, cái
khổ phải luân hồi. Hễ ngộ một việc thì một chút trí
huệ xuất hiện.
Tu hành, cần tu
tới lúc có trí huệ. Chuyện gì tới tay, bạn đều biết
vận dụng nó. Khi nói, cần phải biết nói sao cho viên dung.
Khi mình đã đứng vững rồi thì mới có thể khiến cho người
khác tin theo và vui vẻ tiếp nhận.
Có trí huệ mới
không tạo ác nghiệp. Do đó, phải tập nuôi dưỡng tâm từ
bi và thực hành hạnh Bồ Tát.
Tu hành, cần tu
cho có tướng mạo từ bi. Tu làm sao để người khác có thể
thấy được vẻ hiền hòa, từ bi trong ánh mắt của mình!
Khi một người
tu hành thành tựu thì những kẻ khác sẽ được nhờ phước.
Lúc đó, ai ai cũng khởi tâm dũng mãnh, tinh tấn học theo gương
người ấy.
Khi ai cũng muốn
tu hành thì hãy cùng nhau khuyến khích, cùng nhau tu. Nếu không
vậy thì mọi người sẽ khởi chuyện thị phi, sanh lòng đố
kỵ, tranh chấp, và trở nên ngu si; bấy giờ, việc tu ở chùa
sẽ không còn yên ổn nữa.
Tu cho tốt thì
tự nhiên có người ủng hộ; chứ không phải bắt ép người
ta mà được.
Ðừng nên hy vọng,
mong cầu thí chủ lại cúng dường này nọ. Ðừng ỷ lại
vào thí chủ. Bạn chỉ cần nỗ lực tu hành; khi tu thành tựu
thì Thiên, Long, Bát Bộ đều tới ủng hộ bạn.
Khi ngồi Thiền,
thấy cảnh giới tốt hay xấu đều đừng chấp trước; cũng
đừng nói về nó.
Phật Pháp thì
không dính mắc, ngưng trệ nơi cảnh giới Lạc, Minh và Không.
Khi thân khinh an,
nhẹ nhàng, thì tâm sẽ hoan hỷ (Lạc); khi trong lòng ít vọng
niệm thì tâm sẽ sáng suốt (Minh); và khi chẳng có một ý
nghĩ hay vọng niệm sanh khởi thì đạt tới trạng thái không.
Nếu bạn vướng
mắc ở cảnh giớ Lạc thì đọa và Dục-giới Thiên, chấp
trước vào cảnh giới Minh thì kẹt trong Sắc-giới Thiên,
và bám chặc vào cảnh giới Không thì mắc ở Vô-sắc-giới
Thiên.