CHƯƠNG
11
THỰC HÀNH PHẬT
PHÁP
PHẦN
THỨ NHẤT
TU THIỀN
Đạo
Phật là con đường đưa chúng sinh giải thoát khỏi mê lộ
để đi tới giác ngộ. Ngay lúc đang đi trên đường, người
Phật tử đã nếm được mùi vị của giải thoát, với điều
kiện là người đó phải thực hành những lời dậy của
đức Phật và chư Tổ.
Có
thể ví những lời Đức Phật và chư Tổ dạy Phật tử như
là những cuốn sách dạy cách nấu món ăn. Người đọc sách
nấu ăn hoài mà không bao giờ thực hành, không nấu, không
ăn, thì cơ thể vẫn đói, không bổ ích gì cả. Đã thế,
còn đem những hiểu biết qua sách vở để khoe khoang, chứng
tỏ là mình "biết nhiều cách nấu món ăn" thì chỉ là lý
thuyết suông, càng khoe càng làm tăng trưởng sự kiêu ngạo,
hoàn toàn không có ích lợi gì trong thực tế.
Đạo
Phật là con đường thực hành, không phải là những
đề tài triết lý để bàn suông, chẻ sợi tóc làm tư. Kinh
sách nhà Phật là ngón tay để chỉ lên mặt trăng chân lý.
Nương theo ngón tay, thấy được mặt trăng rồi thì phải
hành trì tu tập để đạt tới giác ngộ giải thoát, không
phải là để khoe khoang sự hiểu biết về cái ngón tay.
Như
vậy trước hết, người Phật tử theo lời Phật dạy qua
giai đoạn lý thuyết, hiểu thấu cách thức tu tập, rồi phải
tự mình "làm thuyền bè của chính mình" tự mình hành trì
các pháp môn tu, tự mình sẽ nếm được mùi vị của an lạc
giải thoát. Một trong những pháp môn tu đó là "Thiền".
Thiền
là đường lối để thực hiện sự buông bỏ. Khi hành thiền,
ta buông bỏ thế giới phức tạp bên ngoài, để có thể vươn
đến thế giới an tịnh bên trong. Trong tất cả các hệ thống
huyền học và trong nhiều truyền thống, hành thiền được
biết đến như là con đường đi đến tâm thanh tịnh và uy
lực. Kinh nghiệm về tâm thanh tịnh này, giải thoát ra khỏi
thế giới, rất là vi diệu và hỷ lạc.
Có
nhiều người ngồi thiền để tìm cho tâm sự an tịnh, tinh
thần không tán loạn, dao động. Nhưng tâm an tịnh
(samatha - thiền định hay thiền chỉ) chỉ là một trong hai
khía cạnh trọng yếu của thiền. Tuệ giác (vipassana
- thiền minh sát hay thiền quán) là khía cạnh thứ hai. Mục
đích của tu thiền là để được tuệ giác, còn thiền
định hay thiền chỉ chỉ là phương tiện giúp
ta đạt đến cứu cánh trên.
Thiền
định (samatha) là một phương pháp luyện tâm, chuyển
hoá tâm ô nhiễm thành tâm thanh tịnh, giảm từ từ, từ nhiều
niệm tưởng đến ít niệm tưởng và từ ít niệm tưởng
đến một niệm hay còn gọi là nhất tâm hay nói một cách
khác là gom tâm buông lung vào một điểm hay một đối tượng.
Kết quả mang lại là sự an tĩnh tâm hồn cũng như sức mạnh
tâm linh. Tâm an tĩnh không phải là mục đích, chỉ là cần
thiết để phát triển tuệ giác.
Thiền
Minh Sát (vipassana) là một phương pháp thiền quán giúp
điều phục tâm và phát triển trí tuệ, mà ai cũng có thể
thực hành được trong đời sống hằng ngày. Thiền Minh Sát
có nghĩa là thấy sự vật đúng như sự vật hiện hữu của
nó. Chủ yếu của việc hành thiền này là quán sát tâm
hay chú tâm, nhận ra và hay biết dòng tư tưởng của mình
mỗi khi nó phát sinh. Chỉ “biết suông” mà không có
sự phán đoán, không phân biệt và không dính mắc với chúng.
Có
thể nói là tu Thiền Chỉ (samatha) để được Ðịnh,
tu Thiền Quán (vipassana) để được Tuệ.
Trong đạo Phật thì Giới, Ðịnh và Tuệ là ba bộ môn học,
vì vậy nên Thiền, bao gồm Ðịnh và Tuệ, được coi là căn
bản trong việc tu theo đạo Phật vậy.
Nói
chung Thiền Phật giáo bao gồm các Thiền Nam Tông, Thiền Bắc
Tông, và Thiền Tông tức Thiền của các Tổ.
Trong
Thiền
Nam Tông cũng có nhiều phương pháp tu khác nhau, nhưng
có thể nói hai pháp thiền Anapanasati (niệm hơi thở) và thiền
Vipassana (thiền quán) là được áp dụng nhiều nhất. Thiền
Anapanasati đặt trọng tâm vào việc chú niệm hơi thở, đã
được Phật giảng dậy trong nhiều kinh nhưng riêng kinh Anapanasati
chỉ dẫn đầy đủ nhất nên thường được học tập kỹ.
Thiền Vipassana còn được gọi là Thiền Quán hoặc Thiền
Minh Sát. Pháp hành thiền này không được ghi rõ trong kinh
nào mà được đặt trên nền tảng kinh Tứ Niệm Xứ, tuy
nhiên về phương cách hành có một số điểm khác nhau và
do đó không có một pháp thiền Vipassana thống nhất.
Thiền
Bắc Tông hay còn gọi là Thiền Ðại thừa cũng gồm
nhiều pháp thiền lấy ra từ các kinh Bắc Tông, như pháp Quán
Như Huyễn, trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, Kim Cang và Viên Giác,
Tuy vậy, không có một pháp thiền nào nhất định vì tùy
căn cơ mỗi người mà tu theo pháp thiền thích hợp.
Thiền
Tông tức là thiền của chư Tổ, cũng được gọi là
Thiền Tổ Sư được bắt đầu từ Phật Thích Ca truyền lại
cho ngài Ma Ha Ca Diếp, đến ngài A Nan rồi truyền tới Tổ
thứ 28 là ngài Bồ Đề Đạt Ma. Sau đó ngài Bồ Đề
Đạt Ma truyền sang Trung Quốc. Bồ Đề Đạt Ma được
tôn làm sơ Tổ Thiền Tông Trung Hoa, truyền cho nhị Tổ Huệ
Khả, tam Tổ Tăng Xán, tứ Tổ Đạo Tín, ngũ Tổ Hoằng Nhẫn
và lục Tổ Huệ Năng. Sau đó chia thành năm phái:
Lâm Tế, Tào Động, Pháp Nhãn, Quy Ngưỡng và Vân Môn.
Mỗi phái đều có phương tiện cơ xảo riêng để khế hợp
với từng cơ duyên của đệ tử. Tuỳ mỗi đương cơ
mà chư Tổ, hoặc nói, hoặc nín, hoặc dùng gậy đánh hay
dùng tiếng la, tiếng hét..v..v.. Các phương tiện cơ xảo ấy
giống như chuyện vô lý nhưng lại có tác dụng làm ngưng
suối nguồn ý thức của người đệ tử lúc bấy giờ.
Mục đích là để đệ tử, ngay sát na đó khai ngộ.
Các ngài không muốn đệ tử sa lầy trong văn tự chữ nghĩa,
chỉ cần ngừng dòng tâm ý thức để trực thấy bản tâm,
bản tánh của mình.
Trong
phần thực hành Thiền này, chúng tôi chỉ giới thiệu một
vài pháp thiền: (1) Pháp Thở Đơn Giản [21] do Cư sĩ Nguyên
Giác dịch từ nguyên tác Anh ngữ “A Simple Breathing Meditation,”
một cẩm nang về bước đầu tập thiền của Kadampa, một
tông phái Phật giáo Tây Tạng đang có hơn 700 tự viện tại
36 quốc gia, (2) Thực Tập Thiền Minh Sát [22] của Hòa thượng
Mahasi Sayadaw do Tỳ khưu Khánh Hỷ chuyển ngữ và Hoà thượng
Thiền sư Kim Triệu hiệu đính, và (3) Đường Lối Thực Hành
Tham Tổ Sư Thiền của cố Hoà thượng Thích duy Lực. Cả
ba bản văn được ghi lại trong phần phụ lục để độc
giả tham khảo và học hỏi.
THỰC HÀNH PHẬT
PHÁP
PHẦN
THỨ HAI
TU TỊNH ĐỘ
HAY TU NIỆM PHẬT
Chân
Tâm hay bản thể tâm của chúng ta vốn thanh tịnh. Từ xưa
không biết bắt đầu từ lúc nào tâm bị ô nhiễm bởi ái
dục, tham, sân, si và trở nên ô nhiễm. Do tâm ô nhiễm
mà chúng ta phải đi trong luân hồi sinh tử hết kiếp này
sang kiếp khác. Ô nhiễm muốn nói ở đây không chỉ là biểu
hiện thô thiển của tâm tham, sân và si mà bao gồm tất cả
những bè bạn và thân hữu xa gần của chúng, như tâm phân
biệt, chấp trước, ưa thích, ghét bỏ và mong cầu. Chúng
là những vọng tưởng hoạt động không ngừng nghỉ từ sáng
đến chiều làm cho tâm chúng ta không được an ổn.
Làm
thế nào để tâm được thanh tịnh là mục đích chung của
các pháp hành Phật giáo. Các tông phái, các pháp môn, dù cho
có những khác biệt về phương cách thực hành nhưng mục
tiêu vẫn là phải tu sao cho tâm không còn ô nhiễm, đạt được
thanh tịnh. Tịnh Độ Tông gọi tâm thanh tịnh là “nhất
tâm bất loạn”, cũng như Thiền Tông gọi là “thiền định”,
bên Giáo Tông gọi là “chỉ quán”, còn như Mật Tông gọi
là “tam mật tương ứng”. Toàn bộ những danh từ ấy chỉ
là tên gọi khác nhau của tâm thanh tịnh.
Trong
kinh Pháp Cú Đức Phật dạy: “Chư ác mạc tác. Chúng thiện
phụng hành. Tự tịnh kỳ ý. Thị chư Phật giáo [23] .” Nghĩa
là: “Không làm các điều ác. Siêng làm các việc lành. Giữ
tâm ý thanh tịnh. Là lời dạy chư Phật”. Câu “Tự
tịnh kỳ ý” có nghĩa là tự làm cho tâm thanh tịnh.
Đây là quá trình tu tập của mỗi người chúng ta.
Bằng
cách nào để tâm được thanh tịnh? Trong tạng Pàli, kinh Tăng
Chi Bộ, phẩm Một pháp, Đức Phật dạy như sau:
“Có
một pháp, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho
sung mãn, đưa đến nhứt hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt,
an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết -bàn. Một pháp ấy là
gì? Chính là niệm Phật. Chính một pháp này, này các Tỷ-kheo,
được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhứt hướng
nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ,
Niết-bàn.”[24]
Tương
đương với kinh Tăng Nhất A Hàm trong tạng Sanskrit:
“Hãy
tu hành một pháp. Hãy quảng bá một pháp. Các ngươi
sẽ thành tựu thần thông, loại bỏ các loạn tưởng, đạt
được quả Sa-môn, tự thân đạt đến Niết-bàn. Một
pháp ấy là gì? Đó là niệm Phật. Hãy khéo tu hành.
Hãy quảng bá. Các ngươi sẽ thành tựu thần thông, loại
bỏ các loạn tưởng, đạt được quả Sa-môn, tự thân
đạt đến Niết-bàn. Cho nên, các Tỳ-kheo, hãy tu hành
một pháp, hãy quảng bá một pháp. Vì vậy, này các
Tỳ-kheo, hãy học điều này.” [25]
Rồi
Đức Phật giải thích cách thực hành pháp môn Niệm Phật
như sau:
“Nếu
có Tỳ kheo nào chánh thân, chánh ý, ngồi bắt tréo chân, chuyên
tinh niệm Phật, không có niệm tưởng nào khác. Quán hình
của Như Lai, mắt không hề rời. Trong khi mắt không rời,
niệm tưởng công đức Như Lai”[26] .
Đoạn
kinh trích dẫn trên nêu rõ hai phương pháp niệm Phật cơ bản
là: trì danh niệm Phật và quán tưởng niệm Phật. Trong phương
pháp thứ hai, tức nhớ nghĩ đến hình tướng và công đức
của Như Lai, Đức Phật giải thích về thể, tướng, huệ
và pháp thân của Phật:
“Thể
của Như Lai được thành tựu từ kim cương, đầy đủ
mười lực, bốn vô sở úy, dõng mãnh giữa đại chúng.
Gương mặt của Như Lai đoan chánh vô song, nhìn không chán
mắt. Giới đức thành tựu giống như kim cương không
thể phá hoại, trong sạch không tỳ vết cũng như lưu ly.
Tam-muội của Như Lai chưa từng sút giảm, đã tĩnh chỉ,
vĩnh viễn tịch tĩnh, không có niệm khác. Các thứ tình
kiêu mạn, ngang bướng đã vắng im ý tham dục, tưởng sân
hận, tâm ngu hoặc, mạn kết do dự, tất đều tận trừ.
Huệ thân của Như Lai, trí không bờ đáy, không bị chướng
ngại. Thân Như Lai, được thành tựu từ giải thoát,
các cõi đã hết, không còn sinh phần để nói ‘Ta sẽ
đọa nơi sinh tử.’ Thân Như Lai được vượt qua thành
trì của tri kiến, biết căn cơ người khác đáng được
độ hay không đáng được độ, chết đây sinh kia, xoay
vần qua lại trong ngằn mé sinh tử, có người giải thoát,
người không giải thoát; Như Lai thảy đều biết tất
cả. “Đó là tu hành niệm Phật, liền có danh dự,
thành tựu quả báo lớn, các điều thiện đủ cả,
được vị cam lồ, đến chỗ vô vi, liền được thần
thông, trừ các loạn tưởng, được quả Sa-môn, tự đến
Niết-bàn. Cho nên, này các Tỳ-kheo, luôn phải tư duy không
rời niệm Phật, liền sẽ được những thứ công đức
thiện này. Như vậy, các Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
[27]
Như
vậy, Niệm Phật mà Đức Phật dạy trong kinh tạng Pali và
Sankrit dẫn chiếu trên chính là một trong các pháp hành
căn bản nhằm chuyển hóa tâm của chúng sinh, bằng cách không
để cho tâm ấy duyên với vọng niệm, với lục trần, với
thức phân biệt. Ngài dạy, “nếu chúng sinh nào đem
tâm của mình mà niệm tưởng Phật, nhớ nghĩ đến công đức
của Phật, duyên với Phật thì tâm của người ấy trở nên
thanh tịnh, được pháp hỷ lạc, và tất cả mọi tâm lý
bất thiện đều được chuyển hóa”[28] .
***
Pháp
môn Niệm Phật là một trong nhiều pháp môn được chính Đức
Phật dạy cho các đệ tử xuất gia và tại gia hiện còn lưu
lại trong các bản kinh cổ, cả tạng Pàli lẫn tạng Sanskrit.
Sau đó được truyền qua Trung Hoa vào giữa thế kỷ thứ 4
và được phát triển thành tông phái Tịnh Độ bởi Đại
sư Huệ Viễn (334-416). Từ Trung Hoa, Tịnh Độ tông được
truyền qua Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam. Đối tượng
niệm Phật mà kinh Pali và Sanskrit nói đến là Đức Thế Tôn,
nên thời đó nói đến niệm Phật, là niệm Đức Phật Bổn
sư Thích Ca Mâu Ni. Sau này, khi Phật giáo phát triển, tin tưởng
rằng trong ba thời mười phương có vô số chư Phật. Cho nên,
pháp môn niệm Phật cũng có nhiều danh hiệu Phật để niệm,
nhưng phổ thông nhất là niệm Phật A Di Đà. Vì vậy, mỗi
khi nói đến pháp môn niệm Phật hay Tịnh Độ Tông, người
ta đều nghĩ ngay đến niệm Phật A Di Đà.
Ðức
Phật A Di Ðà được Đức Phật Thích Ca giới thiệu là một
vị Phật siêu việt thời gian và không gian (vô lượng quang,
vô lượng thọ), Ngài nguyện cứu độ tất cả những ai có
lòng tin chân thành xưng niệm danh hiệu Ngài. Ngài dùng vô
lượng hào quang nhiếp thọ và gia hộ những người có lòng
tin chân thành đối với Ngài và tiếp dẫn họ sanh về cõi
Tây phương Cực lạc của Ngài. A Di Ðà là âm dịch của Amita,
Amita là tiếng cổ Ấn Ðộ (Sanskrit). A Di Ðà cũng là cách
viết tắt của Amitabha (Vô lượng quang) và Amitayus (Vô lượng
thọ). Vì thế người Tây phương rất quen thuộc với hai danh
từ tiếng Sanskrit Amitabha và Amitayus.
Hạnh
nguyện cứu độ chúng sanh của Ðức Phật A Di Ðà được
hai Đức Bồ tát là Quán Thế Âm và Ðại Thế Chí phò trì.
Tượng Ðức Phật A Di Ðà và hai Đức Bồ tát này rất được
phổ biến tại các nước Á Châu thịnh hành tư tưởng Tịnh
độ.
Tịnh
Độ tông cốt lấy niệm Phật làm đầu, và niệm Phật chính
là gột sạch những tư tưởng vẩn đục. Mỗi câu niệm Phật
là một tư tưởng xấu lắng xuống, một niệm trong sạch
dấy lên, nhiều câu niệm Phật thì nhiều tư tưởng xấu
được đoạn trừ. Và niệm Phật đến “nhất tâm bất loạn”
thì ô nhiễm không còn.
Kinh
điển của Tịnh Độ tông là các kinh Vô Lượng Thọ, kinh
Quán Vô Lượng Thọ, kinh A Di Đà, và luận Vãng sinh Tịnh
độ. Phương pháp tu học gồm ba nguyên tắc: Tín, Nguyện và
Hành. Đây là một trong các tông phái tương đối dễ tu tập
nên ở Đông Nam Á châu cũng như những quốc gia có nhiều
di dân đến từ Á châu có rất nhiều Phật tử theo tông này.
Ðể
thực hành Pháp môn Niệm Phật, ngài Trần Thái Tông, vị vua
sáng lập ra triều đại nhà Trần đã lập lại câu nói của
Thiền sư Vĩnh Gia như là xác định mục tiêu của pháp Niệm
Phật là "Ai không có niệm thì không có sinh"[29]
và ngài nhận định rằng đời sống con người là một dòng
niệm tưởng sinh diệt liên tục và trôi chảy không ngừng
từ tâm thức. "Nếu là một niệm thiện, thì có một thiện
nghiệp tương ứng. Nếu là một niệm ác, thì có ác nghiệp
tương ứng. Giống như ảnh hiện, tựa bóng theo hình"[30]
. Chặt đứt dòng niệm tưởng này tức là ngưng được dòng
sinh diệt và do đó thoát khỏi khổ đau và sinh tử luân hồi.
Cho nên, niệm Phật có công năng chuyển hoá thân khẩu ý bất
tịnh thành thân khẩu ý thanh tịnh. Cách thục hành niệm Phật
của Ngài được sắp xếp từ thấp đến cao tùy theo trình
độ và căn cơ của mỗi người. Tuy nhiên, ngài cho rằng dù
với căn cơ nào cũng có thể đạt đến cùng một mục tiêu
và ngài khuyến khích nên bắt đầu từ trình độ của người
có căn cơ thấp. Ngài nói, "giống như xây một cái nhà ba
tầng, người ta phải bắt đầu xây với tầng dưới cùng".
Tầng
dưới cùng là gì? là " Miệng siêng lời niệm Phật,
lòng muốn thấy tướng Phật, thân nguyện sinh ở nước Phật.
Ngày đêm siêng tu, không có thối lui, sau khi chết rồi, đựơc
theo niệm thiện mà sinh ở nước Phật. Sau được các Phật
tuyên cho chính pháp, chứng được Bồ đề, cũng vào chính
quả." (KHL, 105)
Tầng
giữa là gì? Ngài dạy “siêng năng niệm danh hiệu Phật
trong tâm, niệm niệm không quên cho đến vô niệm, đạt được
chính đạo. Ðến lúc lâm chung được cảnh giới an lạc Niết
Bàn tịch tịnh, tịch diệt”.
Còn
tầng thứ ba, tức căn cơ của những người đã tự mình
buông xả hết, không còn chấp trụ thì "tâm tức Phật,
không cần tu thêm. Niệm cũng là bụi, không dung một mảy
may. Niệm bụi vốn sạch cho nên nói rằng như như không động
chính là thân Phật. Thân Phật tức là thân ta, không có hai
tướng. Các tướng đều không hai, lặng lẽ có thường, có
mà không biết, đó là Phật sống". (KHL, 105)
Các
tầng được nói đến, được xem là mức độ chấp trước
hay mức độ buông xả của một người. Chúng ta là những
người có căn cơ thấp vì chúng ta chấp và trụ quá nhiều
về vật chất lẫn tinh thần. Chúng ta không chịu buông xả
dù chỉ là chiếc áo cũ hay ý kiến riêng của mình. Tuỳ theo
mức độ chấp trước, ngài Trần Thái Tông đã khuyên bảo
chúng ta nên, hoặc là xưng danh hiệu Phật bằng miệng với
ước nguyện sanh về cõi Phật, hoặc là niệm danh hiệu Phật
trong tâm, niệm niệm không quên cho đến vô niệm. Cả hai
lối đều dùng danh hiệu Phật làm đối tượng và Phật hiệu
này được xem như một sự thể tượng trưng cho tất cả
những gì chứa đựng trong khái niệm về đức Phật, không
những chỉ riêng về Phật A Di Ðà, mà hết thảy vô số chư
Phật, hay nói rộng ra, chính là bản chất giác ngộ của mọi
chúng sinh.
Với
phương pháp xưng danh hiệu Phật cùng với tâm nguyện sanh
về nước Phật sẽ đưa đến kết quả là được vãng sanh
về cõi tịnh độ theo như ý sở nguyện khi lâm chung, ở nơi
đó, chúng ta sẽ không còn bị ngoại cảnh xấu lôi kéo, tâm
thức sẽ được tịnh hóa mau lẹ, sớm thành đạo quả.
Còn phương pháp thứ hai, áp dụng cho người có căn cơ trung
bình, mức độ chấp giữ không nặng, thâm hiểu lý khổ,
vô thường, vô ngã, hiểu được tam giới duy tâm, cõi tịnh
độ và thế gian cùng một bản thể như tự thể của chúng
ta, nên vua Trần Thái Tông đã khuyên bảo chăm chỉ niệm Phật
trong tâm, tất cả tư tưởng phải chuyển hoá thành niệm
Phật, niệm niệm không rời cho đến chỉ còn một niệm Phật
hiệu thôi, ngoài ra không còn có người niệm, không còn có
cái được niệm, tức trở thành vô niệm đạt thành chính
đạo ngay hiện tiền, không còn sinh tử luân hồi. Phương
pháp tu này còn đựơc gọi là thực tướng niệm Phật, chủ
yếu là trì danh hiệu Phật trong tâm, đạt được thiền định,
thấy được bản tâm chân thật tức Di Ðà tự tánh.
Khi
lập lại lời của ngài Vĩnh Gia "Ai không có niệm thì không
có sinh" ngay nơi phần mở đầu của chương nói về pháp
môn Niệm Phật, vua Trần Thái Tông đã xác định mục tiêu
của pháp môn này là chuyển hoá tất cả tư tưởng thành
niệm Phật, rồi biến thành vô niệm. Ðối với người áp
dụng lối tu đầu tiên sẽ được sanh về cõi Tịnh độ
khi lâm chung vì còn có ý nguyện tức ý lực, tức
là cái mà đức Phật gọi là "cetana", là nghiệp lực.
Ðiều
quan trọng của niệm Phật là phải nỗ lực kiên trì, bền
bỉ, niệm đến nhất tâm, rồi đến vô niệm. Trong thời
gian đầu có thể niệm mãi, mà tâm vẫn tán loạn, vẫn những
chuyện nhà cửa, chuyện luyến tưởng đến con cháu chồng
vợ, theo chư Tổ dạy về Tịnh Độ, nên áp dụng biện pháp
ghi nhớ từ một đến mười câu, đến khi thấy đỡ rồi,
nên bắt đầu chú tâm ngay vào danh hiệu "A Di Ðà Phật" hay
chỉ chú tâm vào một chữ "A" đầu câu. Khi chữ A còn thì
danh hiệu Phật còn, nếu mê mờ để cho nó mất, thì cả
danh hiệu cũng mất. Cứ chú tâm mãi vào chữ A, sẽ được
nhất tâm, tâm cảnh đều tiêu tan, dung hợp thành một khối,
lượng rộng lớn như hư không, Phật và mình cũng đều mất,
chữ A cũng không còn.
Sở
dĩ niệm bốn chữ "A Di Ðà Phật" thay vì sáu chữ "Nam Mô
A Di Ðà Phật", theo ngài Ấn Quang Ðại sư, thì có điều lợi
là dễ dàng nhiếp tâm hơn.
Tưởng
cũng nên ghi chú thêm ở đây là khi áp dụng phương pháp trì
danh niệm Phật nên niệm trong tâm, không quán tượng Phật
hay quán tưởng Phật. Trong tâm chỉ chú tâm vào danh hiệu
"A Di Ðà Phật" một cách đều đặn, liên tục, không nhanh,
không chậm. Mục đích niệm niệm liên tục là để tâm duyên
với danh hiệu "A Di Ðà Phật", mà tự lìa xa các vọng niệm.
Còn chú tâm vào danh hiệu A Di Ðà Phật để ngăn không cho
tình trạng mê tâm do nhớ tưởng viển vông gây ra, giữ cho
tâm luôn luôn tỉnh thức và dễ dàng định tâm. Hãy niệm
liên tục không gián đoạn, đi đứng nằm ngồi đều niệm,
niệm mãi mãi lâu bền, niệm cho thành thói quen, cho đến khi
nào không muốn niệm cũng không được, tâm vẫn cứ niệm.
Phật tức là giác. Ngài Hư Vân Hòa Thượng nói: "Nếu
niệm đến độ trong mộng cũng có thể niệm, tức là thường
giác không mê, nếu quên mất Phật tức là chẳng giác. Hiện
tại, nếu tâm này không mê, thì lúc lâm chung, tâm này cũng
chẳng u muội. Nơi tâm không u muội, tức là được giải
thoát".
Kết
quả của việc niệm Phật lớn lao không thể nào nói được,
không những không còn tạo tội, mà còn đem lại nhiều phước
báu cho hiện tại cũng như tương lai, xa lìa được chốn trầm
luân khổ ải, và nhất là cắt đứt dòng sinh tử luân hồi.
Tín
và Nguyện là hai điều kiện quan trọng trong Pháp Môn Niệm
Phật, nhưng điểm cao siêu nhất của Pháp Môn Niệm Phật
là cho rằng ngay đến tín tâm và nguyện tâm cũng không cần
thiết nữa, và chỉ có việc duy nhất là chú tâm niệm danh
hiệu Phật thì cũng đủ rồi, vì còn tin về hay nguyện về
một cái gì đó thì vẫn là ý lực, vẫn còn là nghiệp lực.
Niệm Phật đến vô niệm, đến không còn có người niệm,
không còn có cái được niệm, và không còn danh hiệu Phật
niệm, là phá tan tất cả nghiệp lực. Tự lực và tha lực
cũng không còn vì tự lực và tha lực đều xuất phát từ
ý lực mà ý lực là nghiệp lực (cetana). Một khi nghiệp lực
đã không còn thì làm gì còn có sinh tử, còn có trầm luân
khổ ải [31] .
Nhất
Biến thượng nhân (Ippen Shonin), một trong các vị cao tăng
Tịnh Ðộ Tông Nhật Bản đã dạy các đệ tử và có nhắc
lại lời của Không Dã thượng nhân (Kũya Shonin): "có
người hỏi ngài nên niệm Phật như thế nào? Ngài chỉ trả
lời: "Buông Bỏ" và không nói thêm lời nào nữa." Nhất
Biến thượng nhân cho rằng đó là lời vàng ngọc: "Buông
Bỏ" là tất cả những gì cần thiết nhất cho người
hành trì pháp môn niệm Phật, và tất cả các pháp môn khác
của đạo Phật [32] .
Trôi
lăn trong sanh tử là do nắm giữ. Nắm giữ từ cái thô như
danh vọng, của cải, vật chất, thân xác.... đến cái vi tế
như tư tưởng, tri kiến, và ngay cả đến cái khái niệm về
sự buông bỏ...Cho nên bước vào đạo Phật, đạo Giác Ngộ
thì bước đầu tiên là buông bỏ, bước giữa cũng buông
bỏ và bước cuối cũng buông bỏ. Buông bỏ hết tất cả
mọi sự, buông bỏ thiện và ác, buông bỏ giác ngộ và vô
minh, buông bỏ thiên đường và địa ngục và mọi loại say
mê về chứng ngộ.
THỰC HÀNH PHẬT
PHÁP
PHẦN
THỨ BA
CẦU NGUYỆN
và TỤNG KINH
Đạo
Phật trên ý nghĩa thiết yếu là “biện chứng giải thoát”
hay là con đường gỉai thoát. Gỉai thoát khỏi khổ đau, sinh
tử luân hồi. Tuy cùng đi trên một con đường, nhưng vì con
người có nhiều tâm tính, trình độ, khả năng và căn cơ
khác nhau, lại vì tùy hoàn cảnh, tùy phong tục, tập quán,
luật lệ thay đổi theo từng địa phương và tùy thời điểm,
cho nên Ðức Phật đã đưa ra vô số phương tiện khác nhau,
thường được tiêu biểu bằng con số 84 nghìn pháp môn, để
hướng dẫn mọi người đạt đến cứu cánh giác ngộ, giải
thoát. Cầu nguyện và tụng kinh, tuy không phải là cứu cánh,
nhưng cũng là một trong 84 nghìn pháp môn.
CẦU
NGUYỆN
Thời
Đức Phật tại thế, có chàng trai trẻ đến xin Phật làm
lễ cầu siêu cho người cha vừa quá vãng. Biết rằng chàng
trai trẻ tràn ngập nỗi đau khổ chắc khó có thể hiểu được
những lý lẽ trong lúc này, nên Ðức Phật đã phải dùng
phương tiện bằng hình ảnh cụ thể với những đặc tính
đối lập, một hòn đá và một lon dầu, cả hai được ném
xuống hồ, đá nặng chìm xuống và dầu nhẹ nổi lên.
Đức Phật trả lời, như một hòn đá nặng được thả chìm
xuống đáy hồ, cho dù với sức cầu nguyện của số đông,
hòn đá vẫn không thể nổi lên mặt nước. Qua đó, Đức
Phật khẳng định nếu con người tạo nghiệp xấu thì chịu
quả báo xấu và tạo nghiệp tốt thì được hưởng quả
báo tốt, cầu nguyện không thể làm thay đổi được nghiệp
lực, nhất là khi nghiệp đã chín muồi. Rõ ràng, cầu nguyện
để mong giải tội, xóa sạch ác nghiệp đã tạo, phó thác
hoàn toàn vào tha lực như các Bà la môn hằng tin tưởng là
một việc làm vô ích [33] .
Tuy
nhiên, trong một vài trường hợp khác, cũng trong kinh Pali,
Đức Phật cho thấy sự cầu nguyện có ảnh hưởng đến
người khác và môi trường sống chung quanh. Điển hình
là trường hợp Tỳ kheo Angulimāla, ông vốn là một tay cướp
giết người nổi tiếng, nhưng Angulimāla được Phật hoá
độ, trở thành Tỳ kheo. Một hôm, Angulimāla đi khất thực,
gặp một người đàn bà sắp lâm bồn đang rên siết đau
đớn bên đường. Không biết làm thế nào, Angulimāla trở
về hỏi Ðức Phật. Ðức Phật khuyên Angulimāla đem lời
sau đây nói với người đàn bà: "Này cô, từ ngày được
sanh vào Thánh tộc (nghĩa là từ ngày tôi xuất gia), tôi chưa
hề có ý tiêu diệt đời sống của một sinh vật nào. Do
lời chân thật này, ước mong cô được vuông tròn và con
của cô được bình an vô sự."[34] Angulimāla học thuộc
lòng bài kinh, rồi đi đến nơi, ngồi cách người phụ nữ
một bức màn che, đọc lại. Người mẹ đau đớn liền sanh
được dễ dàng.
Đến
nay bài kinh Angulimāla Paritta [35] này vẫn còn được lưu
hành ở một số quốc gia Phật giáo Nam Truyền. Điều này
cho thấy năng lực nội tại (qua tâm từ và giữ giới) của
hành giả có thể có tác dụng đến ngoại giới, đến môi
trường chung quanh và ảnh hưởng ấy lại được chuyển tải
bởi ngôn ngữ (lời kinh). Sức mạnh của tâm từ và
năng lực trì giới của Tôn gỉa Angulimāla đã chuyển hoá
tai họa của sản phụ, khiến cho mẹ con được an lành.
Cũng
vào thời Phật, có một số tỳ kheo sống trong rừng sâu bị
rắn độc cắn bị thương nhiều có khi gây tổn hại đến
sinh mệnh, nên Phật đã dạy các tỳ kheo ấy hãy rải tâm
từ đến các loài rắn độc thì sẽ tránh khỏi. Phật dạy
bài kệ. Nội dung bài kệ không phải là những câu thần chú
bí hiểm, mà chỉ là những lời ước nguyện, mong cho tâm
từ của hành giả lan toả đến chúa tể các loài rắn độc,
các sinh vật không chân, hai chân và bốn chân; ước nguyện
chúng sinh các loại đều được an lành, không làm hại đến
tỳ kheo. Văn ước nguyện này được gọi là “hộ chú“
(parittam)[36] .
Trong
thời cận đại, một vị bác sĩ người Pháp qua Việt
Nam làm các việc từ thiện ở những năm đầu thập niên
thế kỷ 20 cũng xác nhận rằng nhờ “tâm từ” mà ông đã
thoát được nạn rắn độc. Đó là trường hợp bác sĩ Yersin:
“Năm 1894 bác sĩ Yersin đi từ cao nguyên Lang Bian đến Darlac
rồi từ Darlac đến Attopeu, một bữa nọ bác sĩ đang đi trong
rừng, mắt chăm chú nhìn lên các ngọn cây cao, thì bỗng nghe
sau lưng có tiếng động. Quay lại thì ngó thấy một con rắn
hổ mang to lớn đứng thẳng lên trên đuôi, phùng mang le nọc
độc. Bác sĩ Yersin đứng yên, thái độ hoàn toàn bình
thản. Rắn lắc lư chiếc đầu dẹp muốn nhảy đến chụp,
nhưng lại trù trừ. Hồi lâu hạ mình xuống vụt phóng vào
bụi rậm rồi đi mất. Nghe được câu chuyện, có người
đến hỏi bác sĩ có phải nhờ thuật thôi miên mà thoát nạn
chăng? Bác sĩ cười đáp: “Rắn độc cũng như thú dữ, cắn
người chỉ để tự vệ. Chúng đều có linh tính. Một khi
nhận biết rằng mình không có ác tâm, ác ý đối với chúng
thì không bao giờ chúng làm hại mình”[37] .
Trên
đây là một số trường hợp cầu an cứu hộ có tính cách
cá nhân cho mình hoặc cho người, nương nhờ vào năng lực
từ tâm và trì giới. Trong trường hợp số đông chúng
sinh như các vùng bị thiên tai, bão lụt làm mất tích và chết
nhiều người, dẫn đến các bệnh dịch tàn phá khác. Phật
giáo, ngoài những nỗ lực cứu giúp bằng các phương tiện
vật chất còn có biện pháp cứu hộ khác bằng năng lực
cầu nguyện của số đông với tâm từ bi, với chánh tín
và chánh kiến qua việc đọc tụng kinh Châu Báu [38] như
tại các quốc gia theo truyền thống Phật giáo Nam truyền thường
áp dụng.
Như
thế có thể nói rằng ngoài tự lực, trong Phật giáo còn
có tha lực và cầu nguyện, vẫn là một trong 84 ngàn pháp
môn tu tập trong đạo Phật. Sự cầu nguyện có thể được
giải thích như là một ý lực mạnh mẽ muốn chuyển hóa
nghiệp lực đối với tự thân đồng thời hỗ trợ cho tha
nhân chuyển hóa nghiệp lực của chính họ, mà chủ yếu là
sức mạnh của tâm từ bi và giữ giới luật.
TỤNG
KINH
Tụng
kinh là cách hành trì rất phổ biến của cả hai trường phái
Phật giáo Nam Truyền và Bắc Truyền.
Kinh
có nghĩa là những lời Phật dạy, bao gồm những bài thuyết
pháp của Đức Phật từ buổi thuyết pháp đầu tiên tại
Ba La Nại cho đến lúc Phật nhập Niết Bàn.
Tụng
kinh là để ôn lại những lời Phật dạy và để tự nhắc
nhở mình ứng dụng lời của Phật dạy vào cuộc sống hằng
ngày là không làm các việc ác, làm các việc lành và tự
thanh lọc tâm ý. Khi tụng kinh, do chú tâm vào lời kinh
nên cả ba nghiệp là thân, khẩu và ý không có cơ hội tạo
tác. Do đó xa lìa được các gốc rễ của khổ đau như
tham lam, sân hận, si mê, đem lại lợi lạc cho mình và người.
Nhiều
bài kinh quan trọng từ giáo lý căn bản của Đức Phật được
chọn ra từ các bộ kinh. Tên những bộ kinh nguyên thủy bằng
chữ Pali được chọn ra là: Trường Bộ Kinh (Digha Nikaya),
Trung Bộ Kinh (Majjiima Nikaya), Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikaya),
Tăng Chi Bộ Kinh, (Anguttara Nikaya) và Tiểu Bộ Kinh (Khuđaka
Nikaya). Các Kinh nguyên thủy bằng chữ Sanskrit gồm có
các bộ A Hàm (Agamas) như Trường A Hàm, Trung A Hàm, Tăng Nhất
A Hàm, và Tạp A Hàm (tương đương với các bộ Trường Bộ
Kinh, Trung Bộ Kinh, Tương Ưng Bộ Kinh, Tăng Chi Bộ Kinh, và
Tiểu Bộ Kinh thuộc văn hệ Pali). Ngoài ra còn có các kinh
thuộc Phật giáo Bắc Truyền như: Kinh Diệu Pháp Liên Hoa,
Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Kim Cang, Kinh Đại Bát Nhã, Kinh Đại Bát
Niết Bàn, Kinh Đại Bảo Tích, Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Viên Giác,
Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh, Kinh Duy Ma Cật, Kinh A Di Đà,
và còn rất nhiều nữa.
Những
kinh mà người Phật tử tụng trong truyền thống Phật giáo
Nam Truyền để cầu an là Kinh Châu Báu và Kinh Phật Lực.
Cầu siêu là Kinh Vô Ngã Tướng và Kinh Hồi Hướng Vong Linh.
Đối với Phật giáo Bắc truyền kinh Cầu an là Kinh Phổ Môn
và cầu siêu là Kinh A Di Đà và Kinh Địa Tạng.
“Cầu
An” có nghĩa là ước nguyện cho chính chúng ta hay cho người
khác tránh khỏi các hình thái của ma quỷ, bất hạnh, đau
ốm, và ảnh hưởng xấu của những sự thay đổi môi trường
sống trong hệ thống hành tinh cũng như để đặt tin tưởng
nơi tự tâm bằng chính tâm từ bi, chánh tín, chánh kiến và
năng lực giữ giới hạnh của chúng ta. Còn “Cầu Siêu”
là nguyện cầu cho những người thân quá cố hoặc bạn bè
quen hay không quen của chúng ta, nhưng vì tâm từ, vì họ mà
làm những việc từ thiện để hồi hướng cho họ được
nương vào phước lành đó mà vượt thoát khỏi ba đường
ác.
Việc
tránh ác, làm thiện và giữ giới của mỗi cá nhân và của
số đông, hợp với sức mạnh gia hộ của thanh tịnh đại
hải chúng Bồ Tát, của chư Phật và các vị thiện thần
có thể đem lại kết quả, đạt được mục đích cầu an
như ý lực mong muốn. Sự gia hộ mà trong kinh sách thường
nói đến như là một tha lực, là điều rất khó giải thích,
chỉ có thể cảm nhận được bằng kinh nghiệm bản thân.