CHƯƠNG
7
CƯ SĨ VỚI
VẤN ĐỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Trong
một bài pháp thuyết giảng tại Mã Lai, Thượng tọa Sayadaw
U. Sumana cho biết Phật giáo là một tôn giáo có số lượng
tín đồ ít ỏi nhất trong bốn tôn giáo lớn trên thế giới
và cảnh giác rằng: “Phật giáo hiện nay được thí dụ
như là một con cá trong hồ nước cạn và nước sẽ tiếp
tục bốc thành hơi nếu không có cây che mát hồ để tránh
đi ánh nắng nóng bỏng của mặt trời. Con cá đó sẽ cố
gắng tiếp tục sống với cái hy vọng là cơn mưa sẽ đến,
nếu như cơn mưa kịp lúc đến thì cá sẽ được sống cho
đến khi mãn kiếp. Những người Phật tử thông thường được
ví như là cơn mưa làm cho hồ được đầy nước trở lại
và do vậy mà Phật giáo được tồn tại dưới sự bảo tồn
của Phật tử”.[19]
Những
người Phật tử thông thường mà hoà thượng Sayadaw muốn
nói đến là những người học Phật tại gia. Hoà thượng
muốn nhấn mạnh đến vai trò của giới cư sĩ trong tình thế
hiện nay. Đạo Phật bị suy thoái, tồn tại hay được
phát triển phần lớn là do giới cư sĩ chúng ta. Trọng trách
này đòi hỏi chúng ta phải vận dụng trí tuệ, đến sự
hiểu biết và nhất là đến từ tấm lòng từ bi của người
Phật tử. Là một thành viên trong cộng đồng xã hội,
chúng ta phải đối diện với tất cả mọi vấn đề liên
quan đến con người và xã hội, thế nên người cư sĩ Phật
giáo không thể thụ động, đứng riêng lẻ ngoài cộng đồng.
Chúng ta là một thực thể trong mọi hoạt động xã hội của
cộng đồng nói riêng và của dân tộc nói chung.
Cư
sĩ sống trong lòng dân tộc và luôn luôn mang hai trọng trách,
trách nhiệm tinh thần đối với Phật Giáo và bổn phận đối
với cộng đồng xã hội, với quốc gia dân tộc. Cả hai đều
nặng nề như nhau vì sự tồn vinh của cộng đồng dân tộc
cũng là sự tồn vinh của Phật Giáo và sự tồn vinh của
Phật giáo cũng là sự tồn vinh của hàng Cư sĩ. Cho nên,
muốn bảo tồn, duy trì và phát triển Phật giáo, người Cư
sĩ Phật Giáo phải tích cực trong nhiệm vụ chung là
phụng sự con người, phụng sự xã hội và đồng hành cùng
dân tộc trong công cuộc cải tiến xã hội và phát triển
đất nước.
Muốn
công việc cải tạo xã hội có kết quả tốt đẹp thì trước
tiên cư sĩ phải tự cách mạng bản thân, sống có đạo
đức. Mọi việc làm đều với mục đích trong sáng,
không xuất phát vì lòng tham dục cho riêng cá nhân mình mà
phải vì người khác, vì lợi ích chung của cộng đồng xã
hội và môi trường sống chung quanh. Luôn luôn lấy
phúc lợi cho số đông, cho cộng đồng xã hội và cho dân
tộc đất nước làm mục tiêu hành động.
Cư
sĩ nên tích cực tham gia các công tác thuộc xã hội, y tế,
giáo dục, truyền thông và văn hóa, ngay cả chính trị.
Tích cực tham dự vào các sinh hoạt cộng đồng từ thôn xóm
đến vùng sâu vùng xa, từ thành thị đến trung ương. Có
như thế, Cư sĩ mới có cơ hội tiếp cận với đồng
bào của mình mà phụng sự họ để cải tạo xã hội, làm
cho xã hội tốt đẹp hơn. Phụng sự xã hội là
giúp đỡ và chia xẻ với người khác từ tinh thần đến
vật chất và đem tấm lòng từ bi và ánh sáng Phật pháp đến
với mọi người, làm cho mọi người hiểu và sống an lạc
hạnh phúc.
Người
Cư sĩ Phật giáo làm công việc xã hội với mục đích mang
niềm an vui đến cho mọi người và vì mọi người chứ không
phải để gây ảnh hưởng tôn giáo của mình đến với tôn
giáo khác hay tạo thanh danh cho cá nhân. Tuỳ khả năng
mà sẵn sàng giúp đỡ những người chung quanh mình khi họ
gặp những hoàn cảnh khổ đau, như cung cấp cho họ những
gì cần thiết trong đời sống thường ngày hoặc tốt hơn
nữa là chỉ cho họ cách để làm đời sống họ được thịnh
vượng hơn. Sau đó mới chỉ cho họ con đường thực hành
Phật pháp.
Cứu
hộ người là hành động cao đẹp khiến người ta cảm mến
với mình, mà về với Phật giáo. Gặp người đau khổ, chúng
ta nên đặt mình trong hoàn cảnh của họ để cùng thông cảm
và chia xẻ nỗi khổ đau với họ. Sự giúp đỡ nhiều hay
ít tuỳ theo điều kiện kinh tế của mỗi người, nhưng quan
trọng là ở tấm lòng.
Chia
cơm sẻ áo, nói bằng những lời dịu dàng, hành động bằng
tấm lòng không vụ lợi và gần gũi với những người cần
giúp, chính là bốn nguyên tắc thâu phục lòng người, là
nghệ thuật dìu dắt người, hướng dẫn người về với
chính pháp, tiến đến việc cải tạo xã hội và xây dựng
đất nước.
Đạo
Phật là đạo cứu khổ. Khổ có mặt khắp mọi miền đất
nước. Cho nên, cư sĩ cần phải đi vào xã hội nhiều hơn
nữa để thể hiện tinh thần từ bi của đạo Phật. Chúng
ta nên cố gắng gây quỹ cho những công cuộc cải tiến xã
hội của người dân nghèo ở khắp mọi nơi, lập bệnh xá,
xây nhà tình thương, nuôi trẻ mồ côi, lo cho người già neo
đơn. Chúng ta nên nhắc nhở người giàu là họ sẽ tiếp
tục có đời sống giàu có bằng cách làm giầu chân chính,
bằng cách bố thí nhiều hơn.
Trong
các hoạt động công tác từ thiện xã hội, cư sĩ chúng ta
phải quan niệm như là một con đường tu tập, một con
đường lý tưởng để phụng sự chúng sinh, thể hiện giáo
lý từ bi của đạo Phật, chứ không phải là phương tiện
truyền đạo. Người cư sĩ Phật tử không thể tìm
phúc lợi cho cá nhân mình mà không quan tâm đến người khác.
Phúc lợi của mình luôn gắn bó với phúc lợi của chúng
sinh. Sự tồn tại của đạo Phật không ở nơi sự nguy nga
tráng lệ của chùa chiền và uy quyền của tổ chức giáo
hội mà ở sự thực hành giáo pháp hầu đem lại
sự sống an lạc hạnh phúc của Phật tử, của dân chúng
và sự thanh bình của cộng đồng xã hội.
Có
rất nhiều cách để bảo tồn, duy trì và phát triển Phật
giáo ngay trong thời đại này. Nhưng dù cho ý định hay kế
hoạch thực thi có xuất sắc cách mấy đi nữa mà không có
tấm
lòng vị tha, không có sự hợp tác chân thành
và thống nhất ý chí giữa những cư sĩ thì Phật
giáo sẽ bị đẩy lùi ra sau và ra xa những tôn giáo khác trong
một tương lai rất gần.