CHƯƠNG
5
CƯ SĨ VỚI
VẤN ĐỀ KINH DOANH LÀM GIẦU
Đạo
Phật chủ trương thiểu dục tri túc [14] , không
đặt nặng vấn đề của cải vật chất. Nhưng nhu cầu vật
chất lại là một trong những mục đích đấu tranh của con
người sống trong xã hội ngày nay, nhất là trong thế giới
tư bản, trong cơ chế thị trường. Một trong những mâu
thuẫn căn bản của thời đại mới là hễ đáp ứng được
nhu cầu vật chất này lại nảy sanh ra nhu cầu vật chất
mới khác và lúc nào cũng phải đầu tắt mặt tối với việc
làm giầu nhằm thỏa mãn những nhu cầu đó. Trong một môi
trường như vậy, người cư sĩ sẽ có một vị trí như thế
nào và phải ứng xử làm sao?
Trước
khi đi vào chủ đề chính, thiết tưởng cũng cần phải xác
định giới hạn cũng như đối tượng của vấn đề.
Đạo Phật trên danh nghĩa thiết yếu là đạo giác ngộ, giải
thoát con người ra khỏi khổ đau, đem lại một đời sống
hạnh phúc, an lạc cho mọi người và nếu muốn con người
có thể tiến xa hơn là gỉai thoát khỏi vòng sinh tử luân
hồi.
Mục
tiêu tối hậu là giác ngộ giải thoát hoàn toàn, nhưng giáo
lý nhà Phật đã chia con đường lớn ra thành từng con đường
nhỏ hay từng giai đoạn để mọi người, tùy theo hoàn cảnh,
cơ duyên, đều có thể tự mình đạt được từng bước
giải thoát trong đời sống hằng ngày.
Nhà
Phật theo con đường trung đạo. Mỗi Phật tử đều có thể
áp dụng giáo lý nhà Phật vào một hoặc cả hai giai đoạn
tu tập, giai đoạn thứ nhất là ứng dụng giáo lý vào đời
sống hàng ngày như là không làm các điều ác, làm các điều
lành, giữ năm giới cấm và mười điều thiện nhằm mục
đích đem lại niềm hạnh phúc, an lạc và giải thoát cho chính
mình, cho gia đình và cho xã hội và giai đoạn thứ hai là
dốc toàn tâm, toàn lực tu tập để giác ngộ giải thoát
triệt để. Giai đọan này dành cho những người có ước
muốn giác ngộ giải thoát hoàn toàn ra khỏi vòng sinh tử
luân hồi, thì phải nỗ lực giữ nhiều giới cấm hơn và
tự thanh tịnh hóa tâm ý, chấm dứt dòng suy nghĩ miên man
che mờ Chân Tâm, để Chân Tâm được hiển lộ. Những
người đi theo giai đoạn thứ hai này thường là những người
tự nguyện từ bỏ nếp sống gia đình, sống đời sống độc
thân thanh đạm, không tài sản, thành phần này được gọi
là giới tu sĩ.
Ngoài
hàng tu sĩ xuất gia còn có hàng cư sĩ tu tại nhà, thành phần
này chiếm đại đa số, là thành phần căn bản của gia đình,
xã hội và là nền tảng của đạo Phật. Do vì người
Cư sĩ có vợ chồng con cái, nên việc tu hành thường chỉ
giới hạn ở giai đoạn thứ nhất, cốt yếu đạt được
đời sống ấm no, hạnh phúc, an lành cho bản thân, gia đình
và giúp ổn định cho cộng đồng xã hội. Cho nên ước muốn
trở nên người giàu có và có địa vị trong xã hội, nhằm
xoá tan hay làm vơi đi nỗi khổ đau do đời sống vật chất
thiếu thốn đem lại, để từ đó thiết lập một đời sống
tâm linh an lạc, là một tâm lý thường tình.
Theo
các nhà xã hội học, nhu cầu căn bản của con người cần
phải có để tồn tại là ăn, uống, ngủ nghỉ, sự an ninh
và sự quan tâm của người khác. Đây là nhu cầu thiết
yếu nhằm duy trì sự tồn tại của con người, nên Phật
giáo thừa nhận nhu cầu căn bản này. Phật giáo cho rằng
chỉ khi nào nhu cầu căn bản này được đáp ứng thì con
người mới có thể tu tập và tiến cao hơn trong thế giới
tâm linh được.
Ngoài
nhu cầu căn bản ra, con người còn có một ham muốn khác đó
là tham dục. Tham dục có thể là hiện tượng
báo trước của tội ác vì nó vượt quá nhu cầu căn bản
của con người, là ham muốn quá mức nên không thể đạt
được trọn vẹn. Vì để thoả mãn lòng tham dục, nên con
người đã bất chấp mọi hành vi thủ đoạn, nhằm đạt
được lòng tham dục của mình, nhưng lòng tham dục lại không
bờ bến. Tệ nạn tham nhũng và tội ác xã hội một mặt
đến từ đói khổ, mặt khác cũng xuất phát từ lòng tham
dục của con người. Do vậy Phật giáo không chấp nhận
cả hai thứ đói nghèo và tham dục.
Thời
Phật tại thế Ngài rất chú trọng đến đời sống gia đình,
quan hệ vợ chồng cùng việc nuôi dạy con cái. Có nhiều
kinh điển đề cập đến việc kết hôn, mang thai, sanh con
và cuộc sống gia đình... Sự kiện này cho thấy Phật Giáo
không nằm ngoài thế gian, không cách ly với thế gian. Ngay
cả việc làm giầu chân chính đạo Phật cũng không chống
lại, có thể nói như vậy là vì Phật giáo chống lại cái
nghèo, từ cái nghèo vật chất đến cái nghèo tinh thần. Đức
Phật đã từng cho rằng nghèo khổ là một tai ương.
Có
lần Đức Phật hỏi các đệ tử “Đối với người đời,
nghèo đói có phải là tai ương không?” Đệ tử đáp: “thưa
phải”. Phật lại hỏi “Đã nghèo còn mang thêm nợ thì
có phải là tai ương không?”. Đệ tử đáp “Thưa phải”.Phật
lại hỏi: “người đang mắc nợ lại vay thêm nợ nữa thì
có phải là tai ương không?” Đệ tử đáp: “Thưa phải”.Phật
nói: “Đến lúc đó chủ nợ đến đòi nợ, người ấy không
trả nổi bị chủ nợ làm nhục thế có phải là tai ương
không?”. Đệ tử đáp: “thưa phải”.
Cho
nên, đối với Phật giáo, có đầy đủ những nhu cầu tối
thiểu về vật chất cho đời sống hàng ngày là một điều
cần thiết hơn là nhu cầu tâm linh. Ngày xưa, có một người
nông dân bị mất bò đi tìm suốt ngày vẫn không thấy, khi
đi ngang nơi Phật đang thuyết pháp và muốn được nghe pháp,
Phật biết anh ấy suốt ngày chưa được ăn uống gì nên
Ngài gọi đệ tử đem cơm canh cho anh ấy ăn trước rồi
sau mới nghe pháp. Điều này chứng minh rằng Đức Phật biết
rất rõ, khi con người đang bị đói khát thì không thể nói
đến vấn đề tâm linh được.
Không
những thế sự nghèo khổ luôn gắn liền với tệ nạn xã
hội và tội phạm. Trong kinh Chuyển luân thánh vương Sư tử
hống và kinh Cứu-la-đàn-đầu thuộc Kinh Trường Bộ, có
ghi rằng nghèo khổ do thiếu thốn về vật chất và do thiếu
thốn về vật chất nên phát sinh ra tệ nạn xã hội như trộm
cắp, giết người, làm mất sự ổn định xã hội. Ðức
Phật khuyên nếu muốn cho con người từ bỏ cái ác tính phạm
tội, các tổ chức cộng đồng xã hội cần phải giúp
dân chúng cải thiện tình trạng kinh tế gia đình, như
giúp hạt giống và nông cụ cần thiết cho người làm ruộng,
cho các nhà buôn vay tiền không lãi làm vốn, trả tiền công
thích đáng cho các công nhân làm việc. Việc trị tội bằng
hình phạt như ở tù hay tử hình các tội phạm đều không
mang lại kết quả tốt.
Do
đó, Ðức Phật thường khuyên nhủ hàng cư sĩ nên cố gắng
làm việc bằng chính công sức của mình để cải thiện
tình trạng kinh tế gia đình, làm cho gia đình sung túc, giầu
có của cải. Ðiều ấy không có nghĩa là Ðức Phật
chấp nhận cho mọi người tích trữ của cải với lòng tham
dục, vì đó là trái với giáo lý căn bản của Ngài. Ngài
cũng không tán đồng bất cứ phương tiện làm ăn sinh sống
nào. Có vài nghề sản xuất và mua bán khí giới có tính cách
tàn hoại sự sống bị Ngài cấm chỉ, xem như là những phương
tiện sinh sống không chân chính.
Ngoài
ra, Ngài cũng nói tới bốn điều hạnh phúc hay bốn niềm
vui của người học Phật tại gia: (1) Được thụ hưởng
một nền kinh tế vững chắc hay một tài sản dồi dào do
tự mình tạo ra một cách công minh và hợp pháp, (2) Được
tự do chi tiêu cho mình, cho gia đình, cho thân bằng quyến thuộc
của mình và cho những việc làm phước thiện, (3) Không có
nợ nần, và (4) Sống một cuộc đời ngay thẳng, trong sạch,
không tạo các việc ác bằng tư tưởng, lời nói và hành
động [15].
Để
đạt được bốn niềm vui hạnh phúc này Ngài đã chỉ dạy
bốn điều kiện cho người cư sĩ tu tại nhà là: (1) chăm
chỉ, cố gắng đạt tới một nghề nghiệp tinh chuyên, (2)
phải bảo vệ tài sản kiếm được một cách chính đáng
bằng mồ hôi, nước mắt, (3) kết bạn với những người
đạo đức, học rộng biết nhiều, thông minh và phóng khoáng,
để giúp mình tiến bộ trên con đường học chính đạo,
xa lánh ác nghiệp và (4) tiêu tiền trong khả năng có và dành
một phần cho những việc từ thiện xã hội, không hà tiện
mà cũng không hoang phí [16] .
Kế
đó Ngài nêu ra bốn đức tính cần có để đem lại hạnh
phúc đích thực cho tương lai của con người: (1) phải có
lòng tin vững chắc vào những giá trị đạo đức, tinh thần
và trí tuệ, (2) không sát sanh, không trộm cắp, không lường
gạt, không tà dâm, không nói dối và không uống các chất
say, (3) thực hành hạnh bố thí, mở lòng quảng đại và không
tham luyến, và (4) phát triển trí tuệ để tận diệt nguồn
gốc của sự khổ hầu tiến đến đạo quả Niết Bàn [17]
.
Như
vậy chúng ta thấy rằng giáo lý của Đức Phật nhắm vào
đơn vị nền tảng của xã hội là gia đình để
tạo ra sự ổn định kinh tế và từ đó đưa
đến sự ổn định cộng đồng xã hội và phát
triển kinh tế quốc gia mang lại ấm no hạnh phúc
cho dân chúng. Vì thế, một người cư sĩ Phật giáo chân
chính vẫn có thể làm giầu trong cương vị một nhà buôn
bán nhỏ, một nhà thương mại hạng trung hay một nhà kinh
doanh lớn nếu chúng ta biết ứng dụng những lời dạy của
Đức Phật nói trên vào công việc kinh doanh, từ việc sáng
tạo sản phẩm đến việc đưa sản phẩm tới người tiêu
dùng đều với mục đích trong sáng, không xuất phát
chỉ vì lòng tham dục cho riêng cá nhân mình mà phải vì người
khác, vì lợi ích chung của cộng đồng xã hội và môi trường
sống chung quanh. Không gian tham, không đầu cơ tích trữ
hàng hóa, không bóc lột nhân công, không tranh đoạt sự sống
của kẻ khác và không cạnh tranh thương mại bất chính
là những điều cần thiết cho người cư sĩ Phật giáo chân
chính trên thương trường. Có được như vậy thì chắc chắn
chúng ta sẽ có một thứ hạnh phúc tinh thần lớn lao mà không
một thứ hạnh phúc nào có thể so sánh được vì chúng ta
đem lại phúc lợi cho số đông, cho cộng đồng xã hội
và cho dân tộc đất nước.