CHƯƠNG
4
BỔN PHẬN VÀ
TRÁCH VỤ CỦA CƯ SĨ
Cư
sĩ, nói chung là một người có nhân cách, trách nhiệm và
bổn phận với bản thân, gia đình và cộng đồng xã hội.
Đối với Phật giáo, bất cứ một người nào, không phân
biệt hoàn cảnh xuất thân, mầu da hay địa vị xã hội, phát
nguyện theo Phật, Pháp và Tăng (Tam bảo), giữ năm giới (Ngũ
giới), hành 10 điều thiện và tu học tại gia được gọi
là Cư sĩ Phật giáo. Nói một cách đơn giản thì Cư sĩ Phật
giáo là những Phật tử chuyên tu học tại gia.
Cư
sĩ Phật giáo là một trong hai thành phần đệ tử của Đức
Phật: Xuất gia và Tại gia. Đệ Tử Xuất gia, giữ
10 giới gọi là Sa Di, giữ 250 giới gọi là Tỳ khưu. Nữ
tu sĩ giữ 348 giới gọi là Tỳ Khưu Ni.
Cả
hai hàng đệ tử, xuất gia và tại gia, đều có thể giữ
Bồ tát giới, nếu tự nguyện thực hành hạnh Từ, Bi, Hỷ,
Xả, Vô Ngã, Vị Tha, xả thân để cứu chúng sinh.
Hàng
xuất gia từ giã thân quyến và thế tục, cắt tóc vào chùa,
sống đời sống độc thân, có nhiệm vụ tu học, hoằng dương
Chánh Pháp, lãnh đạo tinh thần.
Hàng
tại gia có gia đình và bổn phận đối với cộng đồng xã
hội, có nhiệm vụ hộ pháp, cung cấp các nhu cầu, vật thực
cho hàng xuất gia.
Mỗi
bên đều có địa vị, nhiệm vụ và quyền hạn riêng biệt,
không dẫm chân lên nhau mà trái lại phải tương kính và ủng
hộ lẫn nhau. Đức Phật thường ví hai hàng đệ tử
xuất gia và tại gia như hai cánh của con chim, có đủ cả
hai thì mới hoạt động đắc lực được. Ngài nhấn
mạnh tinh thần bình đẳng của hai hàng đệ tử, không phải
chỉ có hàng xuất gia mới tiến tu và chứng ngộ, mà hàng
tại gia cũng có những người đắc đạo như cư sĩ Duy Ma
Cật, được tất cả các hàng Bồ tát, Thanh văn đều kính
trọng ngợi khen.
Dĩ
nhiên hàng xuất gia dễ tu, dễ chứng hơn hàng tại gia vì
có đủ điều kiện thuận tiện tu hành, còn hàng tại gia
thì còn nhiều chuyện ở đời phải lo như tìm kế sinh nhai,
dậy dỗ con cái, bổn phận công dân, thời gian dành cho việc
tu hành không bao nhiêu thật khó tu hơn hàng xuất gia nhiều
lắm. Do đó đã có câu: “Khó nhất là tu tại gia,
khó nhì tu chợ, khó ba tu chùa.”
Bổn phận của
cư sĩ sống trong gia đình
Kinh
Thiện Sanh hay còn gọi là Kinh Giáo Thọ Thi Ca La Việt [13]
(Singalovada Suttanta), đã nói lên sự quan tâm sâu sắc của
đức Phật đối với cách hành xử của người cư sĩ tu tại
gia, trong những mối dây liên hệ với gia đình và thân bằng
quyến thuộc, như sau:
Có
một chàng thanh niên tên Sigala, vâng theo lời dặn dò của
người cha trước khi qua đời, hằng ngày thường quay mặt
về sáu Phương là Ðông, Nam, Tây, Bắc, Trên, Dưới, để
lễ lạy. Ðức Phật bảo anh ta rằng theo Phật pháp, sáu Phương
có nghĩa khác.
Phật
pháp dạy rằng Phương Ðông là cha mẹ, Phương Nam là thầy
dạy, Phương Tây là vợ con, Phương Bắc là bạn bè, quyến
thuộc, láng giềng, Phương Dưới là người làm công và thợ
thuyền, Phương Trên là tu sĩ và đạo sư. Ngài dạy Sigala
phải tôn kính sáu Phương này. Ở đây chữ tôn kính
có ý nghĩa rất đặc biệt, vì người ta chỉ tôn kính cái
gì thiêng liêng, cao quý, đáng kính. Ðạo Phật coi sáu nhóm
người này như là những điều thiêng liêng, xứng đáng được
tôn kính.
Nhưng
làm thế nào để tỏ lòng tôn kính?
Ðức
Phật dạy rằng chỉ có thể tỏ lòng tôn kính chân thành
bằng cách làm tròn bổn phận đối với họ. Những bổn phận
này được đức Phật giảng giải rõ ràng cho Sigala như sau:
Thứ
nhất: cha mẹ là thiêng liêng đối với con cái. Cha
mẹ là Trời. Theo tư tưởng Ấn Độ, từ ngữ “Trời”
để biểu tượng sự cao quý và thiêng liêng nhất. Cho nên
ngay tại thời đại này, trong những gia đình theo đạo Phật
thuần thành, sáng chiều hằng ngày, con cái vẫn có những
hành động để tỏ lòng tôn kính cha mẹ. Họ phải làm một
số bổn phận đối với cha mẹ theo giáo lý nhà Phật: Săn
sóc khi cha mẹ già yếu, làm những điều cần thiết để
giúp đỡ cha mẹ, giữ gìn danh dự và truyền thống gia đình,
bảo vệ tài sản cha mẹ để lại, và khi cha mẹ qua đời
thì cử hành các nghi thức trong tang lễ của cha mẹ.
Về
phần cha mẹ, họ cũng có những bổn phận đối với con cái,
phải giữ gìn, dạy bảo cho con cái tránh xa những đường
tà, khuyến khích con cái làm những việc tốt lành và ích
lợi, cho con cái được hưởng một nền giáo dục chu đáo,
tìm những gia đình lương thiện cho con cái kết hôn và khi
con cái đã trưởng thành thì chia gia tài cho họ.
Thứ
hai: liên hệ giữa thầy và trò. Người học trò phải
kính trọng và vâng lời thầy, phải chú ý đến những sự
cần thiết của thầy, nếu thầy cần, phải chăm lo học hành.
Về phía thầy, phải tận tâm dạy bảo học trò một cách
chu đáo, giới thiệu bạn tốt cho trò và khi trò tốt nghiệp
thì cố gắng tìm việc làm để bảo đảm kế sinh nhai cho
trò.
Thứ
ba: liên hệ giữa chồng và vợ. Tình yêu giữa vợ
chồng được coi gần như một nếp sống đạo, có tính cách
thiêng liêng. Giữa vợ và chồng phải có sự tin cậy, kính
trọng, hy sinh, và có những bổn phận đối với nhau. Chồng
phải luôn luôn tôn trọng vợ, không được thiếu sự kính
nể đối với vợ, phải thương yêu và chung thủy đối với
vợ, phải bảo đảm vị trí và tiện nghi của vợ, và nên
làm vui lòng vợ bằng cách tặng nàng y phục và nữ trang.
(Sự kiện đức Phật không quên đề cập đến việc tặng
quà cho vợ khiến chúng ta thấy được sự mẫn cảm và tế
nhị đầy nhân bản của Ngài đối với niềm cảm xúc của
những con người bình thường). Về phía người vợ, phải
tề gia nội trợ chu đáo, làm vui lòng khách khứa, bạn bè,
thân nhân và người làm công. Vợ phải yêu thương và chung
thủy với chồng, phải biết giữ gìn gia sản, phải khôn
khéo và hoạt bát trong công việc.
Thứ
tư: liên hệ giữa bạn bè, bà con, hàng xóm láng giềng:
Mọi người phải niềm nở và tử tế đối với nhau, nói
năng vui vẻ, hòa nhã, phải làm việc có lợi ích cho nhau và
đối xử bình đẳng với nhau, không cãi cọ mà giúp đỡ
lẫn nhau khi cần và đừng bỏ rơi khi người ta gặp hoàn
cảnh khó khăn.
Thứ
năm: liên hệ giữa chủ và người làm công: người
chủ có nhiều bổn phận đối với người giúp việc hoặc
người làm công, phải lượng sức của người ta để mà
giao việc phù hợp, tiền lương phải tương xứng, phải cung
cấp thuốc men và thỉnh thoảng tặng thưởng cho người ta.
Về phía người làm công thì phải chăm chỉ làm lụng, không
lười biếng, phải lương thiện và vâng lời chủ, không ăn
gian nói dối và phải tận tụy trong công việc
Thứ
sáu: liên hệ giữa tu sĩ và cư sĩ: với niềm kính
quý, người cư sĩ phải quan tâm đến những nhu cầu vật
chất của tu sĩ, người tu sĩ phải truyền bá sự hiểu biết
cho cư sĩ với tấm lòng từ bi, lân mẫn và hướng dẫn họ
đi trên chánh đạo, không lạc vào tà đạo.
Như
vậy, chúng ta đã thấy rõ rằng dù là một người dân bình
thường sống trong gia đình, tham dự những sinh hoạt ngoài
xã hội, họ vẫn được thụ hưởng sự giáo hóa của đức
Thế Tôn, vẫn có thể tu tập, tạo sự an lạc trong nếp sống
của một người Phật tử.
Trách Vụ Hoằng
Pháp của Cư sĩ
Cư
sĩ là thành phần đông đảo trong hai hàng đệ tử của đức
Phật. Do đó, ngoài bổn phận trong gia đình, ngoài xã
hội và hộ trì Phật pháp người Cư sĩ còn có bổn phận
phải nỗ lực tu tập, thực hành để góp phần truyền bá
giáo pháp, tức là góp phần chuyển pháp luân để đem ánh
sáng giải thoát cho đời. Như vậy, trách vụ của người
Cư sĩ là vô cùng quan trọng trong việc phát triển Phật giáo
trong ý nghĩa độ tha cũng như chuẩn bị hoàn cảnh tốt đẹp
cho việc tự độ của mình. Trong lịch sử có nhiều
vị vua Phật tử có công lao lớn trong việc hoằng dương chánh
pháp mà điển hình là vua Asoka ở Ấn Ðộ, vua Trần Nhân
Tông của Việt Nam và Lương Võ Đế của Trung Hoa.
Trong
trách vụ góp phần truyền bá giáo pháp, người Cư sĩ Phật
giáo cần làm và phải làm là luôn giữ giới luật
vì giới luật nhà Phật nhằm tự ngăn ngừa các động lực
tham dục tác hại, giúp phát triển tâm từ bi nhằm bảo vệ
hạnh phúc an lạc cho mình và cho người khác, cũng như cho
cộng đồng xã hội. Một Phật tử tại gia luôn luôn
gìn giữ năm giới, không làm các điều ác, làm các việc
lành, giàu lòng cảm thông, vị tha, khiêm tốn và thường hay
giúp đỡ người khác, là một người có tư cách, một người
có phẩm hạnh đạo đức cao, là cách truyền giáo lý
tưởng nhất của hàng Cư sĩ cho những người xung quanh. Những
người xung quanh thường không rõ đạo Phật, họ không có
thì giờ tìm hiểu đạo Phật, nên thường có khuynh hướng
đánh giá Phật giáo qua cung cách cư xử của những người
có đạo mà họ tiếp xúc hàng ngày. Trong lời kết luận về
vai trò hộ pháp của người Cư sĩ Phật giáo, Hoà thượng
Thích Thanh Từ nhận định rằng: “Giờ rãnh rỗi, Phật
tử nói chuyện thân mật trong gia đình, hoặc đi thăm người
láng giềng đau yếu... đều là những buổi thuyết pháp linh
động của cư sĩ. Cách ăn ở trong nhà, sự đối xử
hàng xóm hợp đạo lý, ấy là bài thuyết pháp sống của
Phật tử tại gia. Phật tử tại gia thực hiện được
nhiệm vụ mình, mới thật là người hộ đạo chân chính”.
Trong
hàng ngũ Phật tử tại gia còn có hàng Cư sĩ thọ Bồ
Tát Giới, dành cho bất cứ ai nếu muốn phát tâm Bồ
đề: trên cầu Phật đạo, dưới cứu độ chúng sinh.
Đây là lực lượng Phật tử tại gia quan trọng, vừa tiếp
tay hỗ trợ quý Tăng Ni trong việc hoằng pháp, vừa là cây
cầu nối giữa quý thầy với khối đông đảo quần chúng
Phật tử. Hiện nay có nhiều địa phương không có chùa,
không có Thầy nên chủ yếu việc hoằng pháp những nơi này
là do giới này thực hiện. Hiện tại ở Việt Nam số
lượng Phật tử tại gia thọ Bồ Tát Giới không được đông
đảo, mỗi kỳ Đại Giới Đàn tổ chức ở Việt Nam số
lượng cầu thọ Bồ Tát Giới không quá con số 100 vị; cho
nên các Cư sĩ đã thọ Tam quy Ngũ giới có tâm ao ước muốn
đem đạo Phật đến với mọi nhà mọi nơi, có tâm ước
muốn góp bàn tay xoa dịu nỗi khổ đau của chúng sinh, cần
được khuyến khích gia nhập vào hàng ngũ này.