Trên
các tượng Phật và tòa tháp PG thường khắc “Pháp thân
kệ”, với nội dung: “Nhược pháp nhân duyên sinh, pháp dịch
nhân duyên diệt; thị sinh diệt nhân duyên, Phật đại sa môn
thuyết.”
1. Duyên khởi
Trên
các tượng Phật và tòa tháp PG thường khắc “Pháp thân
kệ”, với nội dung: “Nhược pháp nhân duyên sinh, pháp dịch
nhân duyên diệt; thị sinh diệt nhân duyên, Phật đại sa môn
thuyết.” Ở đây “Phật đại sa môn” là tôn xưng của
Phật Đà. Câu nói trên tuyên truyền ý: vạn pháp vũ trụ
đều dựa theo nhân duyên mà sinh diệt, kể cả ngoại cảnh
mặt vật chất và tâm thức mặt tinh thần, đều do “duyên”
mà sinh ra, tức sự hòa hợp nguyên nhân hoặc điều kiện,
duyên đến (“tập”) thì pháp sinh, duyên đi (“khứ”) thì
pháp diệt. Đây là tư tưởng cơ bản của thuyết Duyên Khởi.
Duyên
Khởi là tư tưởng, giáo lý cơ bản nhất của PG, thể hiện
quan điểm của PG đối với đời người, với tồn tại và
sinh mệnh, là cơ sở triết học của giáo thuyết cụ thể
và tư tưởng quan trọng của PG, như nhân quả, không hữu,
trung đạo, bình đẳng, từ bi, giải thoát v.v…
Nói
cách khác, các giáo thuyết cụ thể và tư tưởng quan trọng
của PG đều là sự triển khai của tư tưởng Duyên Khởi.
Thuyết Duyên Khởi khác với thuyết Vô Nhân (không có nguyên
nhân), thuyết Ngẫu nhiên, thuyết Thần tạo và thuyết Định
mệnh; nó là một luận thuyết tương đối hợp lý về sự
sinh thành diễn biến và về bộ mặt vốn có của thế giới.
Duyên Khởi luận là thế giới quan độc đáo của PG, là đặc
sắc lớn nhất và đặc trưng căn bản để phân biệt PG với
các tôn giáo khác.
Tư
tưởng Duyên Khởi chứa đựng hai tư tưởng quan trọng là
“quan hệ” và “quá trình”, là thế giới quan của thuyết
quan hệ, thuyết quá trình.
PG
Trung Quốc đã phát triển thuyết Duyên Khởi, như thuyết “Tính
cụ”, thuyết “Thập giới hỗ cụ” của Thiên Đài tông,
thuyết “Tính khởi”, thuyết “Sự vật vô ngại” và thuyết
“Một tức là tất cả, tất cả tức là một” của Hoa
Nghiêm tông, đều nhấn mạnh một sự vật thì có mối quan
hệ hàm nhiếp (thay mặt) mà vô ngại với các sự vật khác,
giữa các sự vật thì có mối quan hệ Duyên Khởi cùng là
Duyên của nhau. Xét về tầng nấc tư duy lý luận thì đây
là sự suy đoán mộc mạc mà thiên tài về nguyên lý thể
cộng đồng vũ trụ.
Duyên
Khởi là một mối quan hệ, cũng là một quá trình. PG cho rằng
do vạn vật trong vũ trụ đều là Duyên Khởi nên đều có
tứ tướng sinh, trú, dị, diệt, là một quá trình không ngừng
biến dị. Cũng vậy, con người sống trong quá trình sinh, lão,
bệnh, tử và sinh tử lưu chuyển. Cần thừa nhận tư tưởng
quá trình đó hàm chứa tư tưởng vận động, biến hóa, phát
triển, nên coi đó là biểu hiện của tư duy biện chứng.
2. Nhân Quả
Duyên
Khởi nói nhân duyên hòa hợp mà sinh ra “Quả”. Cái có thể
sinh kết quả là Nhân, cái do nguyên nhân mà sinh là kết quả.
Về thời gian thì Nhân trước, Quả sau. Nhân Quả tồn tại
trong diễn biến trước sau nối nhau, trong sự hòa hợp liên
quan đến nhau. Có nguyên nhân thì tất có kết quả; có kết
quả tất có nguyên nhân. Mọi sự vật đều biến đổi sinh
diệt theo phép Nhân Quả. Luật Nhân Quả là lý luận cơ bản
PG dùng để giải thích mối quan hệ tương hỗ của mọi sự
vật.
Dựa
vào phép Duyên Khởi, PG tiến thêm một bước đưa ra tư tưởng
Nhân Quả Báo Ứng nhằm giải thích mối quan hệ giữa hoạt
động thân tâm (thể xác và tinh thần) của các chúng sinh
với kết quả. Về luân lý, nó trình bày thuyết thiện có
thiện báo, ác có ác báo, tức thiện Nhân lạc Quả, ác Nhân
khổ Quả, cho ta cơ sở tư tưởng vững chắc và hữu hiệu
để quảng đại tín đồ tu trì đạo đức bỏ ác theo thiện.
PG
cho rằng hoạt động thân tâm của chúng sinh không những đem
lại quả báo cho chính mình mà còn mang lại quả báo cho không
gian, môi trường sinh tồn của sinh mệnh; từ đó lại chia
quả báo ra làm hai loại “Chính Báo” và “Y Báo” (“y”
: dựa vào, theo).
Chính
Báo là nói thân tâm chúng sinh chiêu cảm được dựa theo nghiệp
nhân trong quá khứ, tức sự tồn tại sinh mạng cụ thể là
chủ thể, là chính thể của quả báo trực tiếp.
Y Báo
là nói sự tồn tại sinh mệnh chúng sinh chiêu cảm được
dựa theo túc nghiệp trong quá khứ; sự tồn tại đó dựa
vào ngoại vật, hoàn cảnh, gồm quần áo, nhà ở, đất đai
sông núi và toàn bộ thế giới xung quanh.
Tóm
lại, Chính Báo chỉ chúng sinh, chúng sinh thế gian; Y Báo chỉ
nơi chốn chúng sinh dựa vào, tức quốc thổ thế gian. PG còn
cho rằng bối cảnh thời đại, môi trường sống, quốc thổ,
núi sông đều là quả báo do đa số chúng sinh cùng chiêu cảm
được, gọi là “Cộng Báo”.
Các
tư tưởng quả báo này của PG thể hiện sự hiểu rõ mối
quan hệ Duyên Khởi đối với mối quan hệ tương hỗ giữa
thế giới chủ thể và thế giới khách thể, thế giới chủ
quan và thế giới khách quan, thể hiện sự quan tâm đối với
kết quả hoạt động của các loại chúng sinh, sự quan tâm
đối với môi trường tự nhiên, môi trường sống.
Thiên
Đài Tông còn từ góc độ tu trì thực tiễn đề ra thuyết
“Nhân Quả bất nhị” , tuyên truyền: con người ở Nhân
vị và Phật ở Quả vị, về bản chất không có gì khác
biệt, khuyến khích người thường tu thành Phật. Lại đề
xuất thuyết “Y chính bất nhị”: Phật thân là Chính Báo,
Phật thổ là Y Báo, Phật thân và Phật thổ bất nhị, Chính
Báo và Y Báo bất nhị, hai cái đó cùng thay mặt cho “Nhất
niệm tam thiên”, mà quy về nhất tâm.
3. Trung Đạo
Là
con đường chính giữa không lệch về bên nào, vượt trên
sự cực đoan, lệch về hai bên hữu vô (“không”), nhất
dị, khổ lạc, yêu ghét. Trung Đạo là lập trường căn bản
và đặc sắc cơ bản của PG. Thích Ca Mâu Ni phản đối thuyết
Thần Ngã của đạo Bà La Môn; về lý luận đề xuất phép
Duyên Khởi “Thử hữu bỉ hữu, thử sinh bỉ sinh”, “Thử
vô bỉ vô, thử diệt bỉ diệt”, từ đó nhấn mạnh “Ly
vu nhị biên, thuyết vu Trung Đạo”. Cũng là nói dựa theo
thuyết Duyên Khởi bất hữu bất vô, bất nhất bất dị,
bất thường bất đoạn, bất lai bất khứ.
Trong
thực tiễn, Thích Ca Mâu Ni đề xuất “Bát Chính Đạo”,
vừa phản đối chủ nghĩa khoái lạc lại phản đối chủ
nghĩa khổ hạnh, đề xướng Trung Đạo Hạnh bất khổ bất
lạc, tức tư duy, lời nói, hành vi, ý chí, đời sống …
của con người đều nên vừa phải, giữ ở mức ở giữa
không lệch bên nào.
Không
và Hữu (có) là hai cách nhìn cơ bản của PG đối với vũ
trụ nhân sinh. PG dạy Pháp có thể không nói ra Không (“thuyết
bất xuất không”), là có hai nghĩa; sau khi có đức Thích
Ca, nội bộ PG dần dần diễn hóa thành hai tông Không Hữu.
Trong PG Tiểu thừa, hệ Câu Xá là Hữu Tông, hệ Thành Thực
là Không Tông. PG Đại thừa cũng chia làm hai hệ thống lớn.
Trung Quan học phái là Không Tông, Du Già (Yoga) hành phái là
Hữu Tông.
Hai
tông Không Hữu đều thừa nhận lập trường lý luận cơ
bản Duyên Khởi tính Không; chỉ là triển khai theo lý luận
cơ bản này; nói một cách tương đối thì Không Tông tương
đối nhấn mạnh mặt tính Không của chư pháp, Hữu Tông thì
tương đối nhấn mạnh mặt Hữu của chư pháp với tư cách
là hiện tượng Duyên Khởi.
Vì
vạn pháp là Duyên Khởi, được xác định trong mối quan hệ,
cho nên có tính “Vô Ngã”, tức vừa không có Tự tính, không
có tính thực thể, cũng tức là bản tính, bản chất là Không.
Đây là bản nghĩa của Không. Vạn pháp nếu đã xác lập
trong mối quan hệ cũng tất nhiên là một quá trình biến đổi
hỗ động, có tính “Vô thường”, sinh diệt vô thường,
cũng là Không. Từ đó có thể nói do Duyên Khởi mà tính Không,
Duyên Khởi tức tính Không, Duyên Khởi và tính Không là đồng
nghĩa ngữ.
Không
lại chia làm hai loại Nhân Không và Pháp Không. Nhân (người)
Không còn gọi là Ngã Không, là sự nhân vô tự tính của
chủ thể; Pháp Không là sự pháp vô tự tính của khách thể.
Về vấn đề chư pháp có hay không có thực thể, tức cách
nhìn mối liên hệ và phân biệt Duyên Khởi với Thực hữu,
sự vật với tự tính, hiện tượng với bản chất. Đây
là vấn đề vô cùng phức tạp. Tuy rằng nói về tổng thể
thì các phái PG đều thừa nhận thuyết Duyên Khởi tính Không.
Từ
các điều nói trên có thể hiểu: xét về mặt hiện tượng,
Duyên Khởi pháp là tồn tại, là có (“hữu”); xét về mặt
bản chất của Duyên Khởi pháp, là không tồn tại, là Không.
Có (“hữu”) và Không là cách nhìn hai mặt với một sự
vật.
4. Bình đẳng
a)
Bình đẳng giữa người với người
“Tăng
nhất A hàm kinh” cho rằng 4 hạng người (“Tứ chủng tính”)
trong xã hội Ấn Độ cổ là Bà La Môn, Sát Đế Lợi, Khuyển
Xá và Thủ Đà La nên bình đẳng với nhau, phản đối dựa
vào chủng tính và đẳng cấp để bàn luận sự cao quý, hạ
tiện, cao thấp của con người; nhấn mạnh phải dựa vào
sự cao thấp về đạo đức, sự nông sâu về trí tuệ để
đánh giá thành tích của con người; chủ trương tu trì tố
chất, nâng cao đạo đức, trí tuệ để tiến lên cõi lý
tưởng của đời người. Bình đẳng tứ chủng tính của
PG thể hiện tư tưởng bình đẳng nhân quyền, là phong trào
nhân quyền đặc biệt phản đối sự phân biệt chủng tính
và áp bức giai cấp, nó nhất trí với yêu cầu bình đẳng
nhân quyền của xã hội hiện đại.
b)
Bình đẳng chúng sinh
Thông
thường PG coi 9 giới từ Bồ Tát tới địa ngục (trong 10
giới không kể Phật) nhất là lục đạo từ Trời đến địa
ngục, là chúng sinh. PG cho rằng chúng sinh khác nhau tuy có tính
khác biệt nhưng bản chất sinh tồn và sinh mệnh của chúng
sinh thì bình đẳng; PG đặc biệt nhấn mạnh mọi chúng sinh
đều có Phật tính. Kinh Niết Bàn khẳng định mọi chúng
sinh đều có Phật tính, tức là bình đẳng với nhau về nguyên
nhân, căn cứ và khả năng thành Phật.
c)
Bình đẳng giữa chúng sinh với Phật
PG
tuyên truyền tư tưởng “sinh Phật bất nhị, sinh Phật nhất
như”, cho rằng chúng sinh và Phật, về bản chất đều có
đủ Chân như Phật tính; chúng sinh mê vọng hoàn toàn không
diệt Chân như Phật tính; Phật giác ngộ cũng hoàn toàn không
tăng thêm Chân như Phật tính, mà đều như nhau, có khả năng
thành Phật. Nói theo ý nghĩa đó thì chúng sinh và Phật là
bình đẳng bất nhị. Điều này khác hẳn với cách nói của
tôn giáo khác, coi “nhân thần vi nhị” (người và thần
là hai thể khác nhau), nói người là do thần tạo ra hoặc
từ thần mà ra.
d)
Bình đẳng giữa chúng sinh với vô tình
“Vô
tình” tức là không có ý thức tình cảm, là thứ không có
tính tinh thần. Như Thiên Đài tông của PG Trung Quốc tuyên
truyền thuyết “Vô tình hữu tính”, cho rằng cây cỏ, núi
sông đất cũng có Chân như Phật tính, mọi thứ trong thiên
nhiên đều là thể hiện của Phật tính. Xét về điểm cùng
có Phật tính như nhau, thì vật vô tình và chúng sinh không
có khác biệt bản chất, bình đẳng vô nhị với nhau. Cần
nói đây là sự xác nhận tôn nghiêm đối với các sinh vật
và vô sinh vật trong giới tự nhiên, là sự kính trọng đối
với muôn vật.
Quan
niệm bình đẳng của PG dựa trên học thuyết Duyên Khởi,
xây dựng trên sự bình đẳng Nhân Quả. Chúng sinh và Phật
đều như nhau cùng có Chân như Phật tính, bình đẳng về
mặt nguyên nhân thành Phật, chúng sinh và Phật đều có khả
năng thành tựu Phật quả, tiến lên cõi Niết Bàn lý tưởng
cao nhất, là sự bình đẳng về mặt kết quả. Chúng sinh
và Phật bình đẳng Nhân Quả, không có gì khác biệt. Tư
tưởng bình đẳng Nhân Quả này của PG là nói về khả năng,
có tính phi hiện thực, nó cung cấp cơ sở lý luận cho thuyết
giải thoát.
Quan
niệm bình đẳng của PG thể hiện sự thống nhất sinh mệnh
quan, tự nhiên quan và lý tưởng giá trị quan. Quan niệm bình
đẳng cận đại coi trọng bình đẳng nhân quyền, nó có mối
quan hệ bổ sung với quan niệm bình đẳng về mặt giải thoát
con người do PG đề xướng.
5. Từ Bi
Trên
cơ sở tư tưởng Duyên Khởi, Bình Đẳng, PG cho rằng trong
đại hoàn lưu sinh thái vũ trụ, mọi chúng sinh đều có thể
từng là người thân của ta. Ta nên có tâm thái bình đẳng,
tình nghĩa báo ơn, tâm nguyện từ bi để đem lại cho chúng
sinh sự an lạc, trừ bỏ sự đau khổ của chúng sinh. PG tuyên
truyền tư tưởng “Tam Duyên Từ Bi”, chia đối tượng từ
bi làm 3 loại, từ đó quy kết thành 3 lọai từ bi: - chúng
sinh duyên bi; - pháp duyên bi; - vô duyên bi. Trong 3 loại đó,
“Vô duyên từ bi” là loại cao nhất. Từ bi là tư tưởng
đặc thù của PG, nó không hoàn toàn giống với nhân ái, bác
ái do các giáo phái khác đề xướng. Từ bi không bị hạn
chế bởi đẳng cấp, giai cấp, nó cũng loại trừ tính thiên
tư hẹp hòi.
6. Giải thoát
PG
lấy giải thoát làm lý tưởng cuối cùng cho chúng sinh. Giải
thoát là không có ô nhiễm, không có chấp trước, là được
“Đại tự tại”, tức cõi tự do tự tại, cũng gọi là
cõi Niết Bàn. PG cho rằng chúng sinh có nhiều phiền muộn,
như ba cái độc “tham” (tham dục), “sân” (sân huệ), “si”
(ngu si), chúng trở ngại cho sự thành trưởng thiện căn, làm
cho chúng sinh lưu chuyển trong nỗi khổ sinh tử không bao giờ
hết. Giải thoát là thoát ra khỏi nỗi khổ phiền muộn và
sự trói buộc của lưu chuyển sinh tử, được giải phóng,
được siêu việt, được tự do, tiến lên cõi lý tưởng.
PG
cao độ coi trọng đạo giải thoát. PG thời kỳ đầu lấy
Bát Chính Đạo, thời kỳ sau lấy sự lĩnh hội chân lý làm
con đường giải thoát. PG còn đề xướng “Mọi thứ đều
do lòng người tạo ra” cho rằng sự lưu chuyển luân hồi
hoặc giải thoát Niết Bàn của chúng sinh đều quyết định
ở lòng người. Giải thoát không phải là việc của cá nhân,
chỉ có tự giác ngộ và người khác cùng giác ngộ thì mới
được giải thoát thật sự.
Hồ
Anh Hải (dịch)
03-21-2008
11:23:46