|
.
CÁC PHÁP
HỘ QUỐC AN DÂN
Cư
sĩ Nguyên Giác
 |
 |
Việt
Nam vừa trải qua những trận bão lụt tàn khốc với nhiều
thiệt hại lớn. Một số ngôi làng trở thành bình địa.
Hàng trăm người chết và mất tích, hàng chục ngàn nhà đã
sập, và xã hội hoang mang, bất an… Chúng ta có thể hốt
nhiên khởi lên câu hỏi: Phật đã dạy những pháp nào
để giúp bảo vệ cho chúng sinh? Hay ở các trường hợp cá
biệt hơn, khi quý Tăng Ni Phật Tử gặp người nguy khốn,
bất an trong đời, có thể sử dụng pháp Phật nào để giúp
phòng hộ và cứu hộ cho các nạn nhân này?
Đối
với người đã sẵn tín tâm, chúng ta có thể lấy các kinh
nhật tụng và chỉ cách trì tụng kinh chú quen thuộc. Tuy nhiên,
câu hỏi có thể nêu lên rằng, khi tiếp cận với những người
tôn giáo khác, hay ngay cả khi gặp người vô tôn giáo, chúng
ta nên sử dụng pháp cầu an nào để họ có thể nghe, hiểu
và nhận được vào tạng thức một số chủng tử Phật Pháp
dễ dàng hơn? Đặc biệt khi hướng dẫn người khác ngôn
ngữ, thí dụ như khi tiếp cận người Mỹ hay Úc được sinh
và trưởng thành từ truyền thống tôn giáo khác, và khi họ
không thể trì tụng hay niệm âm, chúng ta nên chỉ dẫn phương
pháp hộ thân hay bảo vệ nào?
Tại
các nứơc theo truyền thống Phật Giáo Nam Tông, như Miến
Điện hay Thái Lan, một số phương pháp để hộ quốc
an dân có thể dùng cho các trừơng hợp như thế. Một trong
các pháp phổ biến là bài Kinh Ratana Sutta, mà Hòa
Thượng Thích Minh Châu dịch là Kinh Châu Báu, từ
Kinh
Tiểu Bộ Tập I, trong Kinh Tập, Chương 2 Tiểu Phẩm
(http://thuvienhoasen.org/kinhtieubo1-05-kinhtap-02.htm).
Bản dịch của Hòa Thượng Thích Minh Châu không nêu lên duyên
sự, cho nên hầu hết người đọc không biết rằng Đức
Phật đã dạy kinh này để hộ quốc an dân. Một phương pháp
bảo vệ khác cũng thường được Chư Tăng sử dụng cho các
trường hợp cá biệt, là dùng công đức trì giới để chú
nguyện -- như lời Phật dạy Ngài Angulimala là hãy chú nguyện
công đức giữ giới để cứu một phụ nữ thóat chết vì
sản nạn (Do Trưởng Lão Walpola Piyananda Thera ghi lại trong
sách Love in Buddhism, phần trích điện tử có ở
link: http://www.sinc.sunysb.edu/Clubs/buddhism/story/angulimala.html).
Bài
này sẽ trình bày về hai pháp hộ
quốc an dân này.
Nơi
đây, chúng ta sẽ dịch lại Kinh Châu Báu, có ghi
rõ duyên sự, dựa vào bản Anh ngữ của đại sư Piyadassi,
đồng thời tham khảo bản Anh ngữ của đại sư Thanissaro,
và bản Việt ngữ của Hòa Thượng Thích Minh Châu.
Trưởng
Lão Piyadassi Thera sinh năm 1914 tại Colombo, Sri Lanka,
xuất gia năm 1934, tốt nghiệp Đại Học Nalanda và Đại Học
Sri Lanka, từng là nghiên cứu sinh ở Harvard University, Hoa Kỳ.
Ngài đã đại diện cho quốc gia Sri Lanka trong nhiều hội nghị
tôn giáo quốc tế. Tác giả khoảng 60 cúôn sách viết bằng
tiếng Sinhala và tiếng Anh. Ngài viên tịch năm 1998 tại Colombo.
Đại
Sư Thanissaro, sinh năm 1949, thế danh Geoffrey DeGraff,
sinh trưởng tại New York và Virginia, là một vị sư gốc Mỹ
tu theo hệ thống Lâm Truyền Thái Lan. Rời Oberlin College
năm 1971 với văn bằng Lịch Sử Trí Thức Âu Châu, du lịch
tới Thái Lan, học thiền định nơi đây với sư Ajaan Fuang
Jotiko, và ngài xuất gia năm 1976 tại Chùa Wat Dhammasathit, Thái
Lan. Năm 1991, sư về Mỹ, giúp xây tu viện Metta Forest Monastery
ở San Diego, Nam Calif., và được cử làm Viện Trưởng nơi
này năm 1993. Ngài đã viết nhiều sách về Phật Giáo.
Bản
của ngài Piyadassi có ghi các số thứ tự từng đọan, nhưng
bản của ngài Thanissaro không ghi số. Bản của Thầy Minh Châu
lại ghi số theo thứ tự khác của Tiểu Bộ. Nơi đây, bản
Việt dịch sẽ theo sát bản của ngài Piyadassi.
(Bắt
đầu phần dịch như sau. Ngài Piyadassi viết.)
Trường
hợp kinh này, nói ngắn gọn, theo bản chú giải, là như sau:
Thành phố Vesali gặp nạn đói, làm chết nhiều người, đặc
biệt là dân nghèo. Vì xác chết nằm hư rã nhiều, nên các
chúng sinh ác phi nhân bắt đầu tới ám thành phố; theo sau
đó là dịch bệnh. Bị khủng hỏang bởi ba nỗi sợ về đói,
phi nhân và dịch bệnh, dân chúng tới tìm xin giúp đỡ từ
Đức Phật, lúc đó Ngài đang ngụ ở Rajagaha.
Dẫn
theo một đòan đông chư Tăng, trong đó có Ngài Ananda, vị
đệ tử thị giả, Đức Phật tới thành Vesali. Nhờ uy lực
khi Phật tới, các trận mưa lũ đổ xuống và cuốn trôi các
xác chết hư thối. Không khí thanh lành, thành phố sạch sẽ
trở lại.
Rồi
Đức Phật giảng bài Kinh Châu Báu (Anh: Jewel Discourse; Pali:
Ratana Sutta) cho ngài Ananda, và chỉ dẫn ngài rằng hãy đi một
vòng quanh thành phố cùng với dân chúng Licchavi và đọc tụng
bài kinh này làm pháp bảo vệ cho dân thành Vesali. Đại Sư
Ananda theo lời dạy, và rải nước đã được thanh tịnh hóa
từ chính bình bát của Đức Phật. Nhờ đó, các chúng sinh
ác phi nhân được thanh tẩy, dịch bệnh hạ xuống. Sau đó,
ngài Ananda cùng dân chúng Vesali trở về hội trường, nơi
Đức Phật và các đệ tử đang chờ đợi. Rồi Đức Phật
đọc cùng bản Kinh Châu Báu đó cho đại chúng:
1.
Bất cứ chúng sinh phi nhân nào nhóm họp nơi đây, dù trên
mặt đất hay ở cõi trời, xin cho tất cả quý vị được
hạnh phúc, và hãy chăm chú lắng nghe những lời ta nói sau
đây.
2.
Hỡi các chúng sinh phi nhân, hãy lắng nghe kỹ đây. Tất cả
quý vị hãy khởi lòng từ mẫn với lòai người; ngày và
đêm, họ đều cúng dường [và hồi hướng tới] quý vị,
do vậy hãy cẩn trọng bảo vệ cho họ.
3.
Bất cứ tài sản nào, trong đời này hay đời sau, bất cứ
châu báu nào có trên các cõi trời, cũng không có gì so sánh
được với Như Lai. Đây cũng là một châu báu cực diệu
trong Đức Phật. Với sự thật này được tuyên thuyết, xin
nguyện cho an lành hạnh phúc.
4.
Rằng tịch diệt, rằng ly tham, rằng Bất tử [Niết Bàn] tối
thượng – Đức Thích Ca Mâu Ni đã chứng đạt các pháp đó.
Không có gì so sánh được với Pháp này. Đây cũng là một
châu báu cực diệu trong Chánh Pháp. Với sự thật này được
tuyên thuyết, xin nguyện cho an lành hạnh phúc.
5.
Đức Phật tối thắng đã ca ngợi con đường thanh tịnh [Bát
Chánh Đạo], gọi đó là con đường thẳng tới chánh định.
Không có gì so sánh được với chánh định này. Đây cũng
là một châu báu cực diệu trong Chánh Pháp. Với sự thật
này được tuyên thuyết, xin nguyện cho an lành hạnh phúc.
6.
Tám vị, tức bốn cặp, được tán thán bởi các bậc thiện
tri thức. Họ là đệ tử của Đức Phật và xứng đáng được
cúng dường. Phẩm vật cúng dường các vị đó sẽ có quả
lành lớn. Đây cũng là một châu báu cực diệu trong Tăng
chúng. Với sự thật này được tuyên thuyết, xin nguyện cho
an lành hạnh phúc.
7.
Với tâm kiên định, thuận theo lời dạy của Đức Phật,
xa lìa hư vọng, họ đã thành tựu những gì cần được thành
tựu, thể nhập Bất Tử, vui hưởng Niết Bàn Giải Thóat.
Đây cũng là một châu báu cực diệu trong Tăng chúng. Với
sự thật này được tuyên thuyết, xin nguyện cho an lành hạnh
phúc.
8.
Cũng như cột trụ cắm sâu trong lòng đất, không dao động
trứơc gió tứ phương, đó là các bậc thiện đã thâm nhập
được các Thánh Đế. Đó là lời ta nói với quý vị. Đây
cũng là một châu báu cực diệu trong Tăng chúng. Với sự
thật này được tuyên thuyết, xin nguyện cho an lành hạnh
phúc.
9.
Những vị đã thâm nhập được các Thánh Đế khéo giảng
bởi Đức Phật trí tuệ thâm sâu, dù cho sau này có bị phóng
dật sơ sẩy, cũng sẽ không tái sanh tới lần thứ tám (ghi
chú: Sơ thánh quả chỉ tái sinh bảy lần thôi). Đây cũng
là một châu báu cực diệu trong Tăng chúng. Với sự thật
này được tuyên thuyết, xin nguyện cho an lành hạnh phúc.
10.
Khi đạt được chánh kiến, vị ấy từ bỏ được ba pháp:
chấp ngã (thân kiến), nghi hoặc, giới cấm thủ. Vị ấy
cũng hòan tòan thóat được bốn đọa xứ (ghi chú: khỏi sinh
vào cõi thú, quỷ đói, a tu la, địa ngục), và không có thể
phạm vào sáu tội đại ác (ghi chú: giết mẹ, giết cha, giết
a la hán, làm Phật chảy máu, phá hòa hợp Tăng, quy y Tà Sư).
Đây cũng là một châu báu cực diệu trong Tăng chúng. Với
sự thật này được tuyên thuyết, xin nguyện cho an lành hạnh
phúc.
11.
Bất kỳ điều ác nào vị ấy còn có thể phạm bằng việc
làm, lời nói hay suy nghĩ, vị ấy không có thể che giấu nữa.
Vì che giấu như thế không thể xảy ra với người đã thấy
được Chánh Đạo. Đây cũng là một châu báu cực diệu trong
Tăng chúng. Với sự thật này được tuyên thuyết, xin nguyện
cho an lành hạnh phúc.
12.
Như vườn cây rừng, với hoa nở đầu ngọn, đó là Pháp
tối thắng do Đức Phật dạy để đưa tới Niết Bàn, an
lạc tối thượng. Đây cũng là một châu báu cực diệu
trong Đức Phật. Với sự thật này được tuyên thuyết, xin
nguyện cho an lành hạnh phúc.
13.
Đức Phật là Đấng Tối Thắng, Tòan Giác [về Niết Bàn],
Ban Phát Bậc Nhất [trao cho Niết Bàn], Mang Tới Bậc Nhất
[Thánh Đế] , đã dạy Chánh Pháp bậc nhất. Đây cũng là
một châu báu cực diệu trong Đức Phật. Với sự thật này
được tuyên thuyết, xin nguyện cho an lành hạnh phúc.
14.
Nghiệp cũ đã đọan tận, nghiệp mới không khởi dậy
nữa, tâm các vị ấy không dính mắc vào tái sinh tương lai.
Chủng tử tái sinh đã chết, các vị ấy không còn muốn trở
lại đời này. Các vị ấy đã nhập diệt y hệt như ngọn
đèn này phụt tắt. Đây cũng là một châu báu cực diệu
trong Tăng chúng. Với sự thật này được tuyên thuyết, xin
nguyện cho an lành hạnh phúc.
15.
Bất cứ chúng sinh phi nhân nào nhóm họp nơi đây, dù trên
mặt đất hay ở cõi trời, chúng ta hãy đảnh lễ Đức Phật,
đã như thực tới đây, được tôn kính bởi trời, người.
Xin nguyện cho an lành hạnh phúc.
16.
Bất cứ chúng sinh phi nhân nào nhóm họp nơi đây, dù trên
mặt đất hay ở cõi trời, chúng ta hãy đảnh lễ Chánh Pháp,
đã như thực tới đây, được tôn kính bởi trời, người.
Xin nguyện cho an lành hạnh phúc.
17.
Bất cứ chúng sinh phi nhân nào nhóm họp nơi đây, dù trên
mặt đất hay ở cõi trời, chúng ta hãy đảnh lễ chúng Tăng,
đã như thực tới đây, được tôn kính bởi trời, người.
Xin nguyện cho an lành hạnh phúc. |
(Hết
phần dịch)
Điều
đặc biệt là trong bản của Ngài Piyadassi có ghi chú rằng
ba đọan cuối bài kinh, tức các đọan ghi số 15, 16 và 17,
là phần đọc tụng bởi Sakka, vị vua cõi trời. Bản của
Ngài Thanissaro và Ngài Minh Châu không có ghi chú đó.
Điều đặc biệt nữa, bản kinh trên cho thấy là Ngài Ananda
và dân chúng phải đi một vòng quanh thành phố, nơi đang bị
tai họa, đọc tụng trong khi Ngài Ananda rải nứơc thanh tịnh
lấy từ bình bát Phật. Có lẽ, đây là khởi đầu cho các
pháp cầu an sau này của các chùa.
Một
trường hợp khác cũng cho thấy uy lực của sức chú nguyện,
hay hồi hướng công đức. Đó là khi Ngài Angulimala
được Đức Phật chỉ dạy về lời chú nguyện để cứu
một sản phụ. Ngài Angulimala
là kẻ đã giết 999 người để xâu ngón tay làm tràng hoa,
và đã rượt theo Đức Phật để tìm giết người thứ 1,000
cho đủ số thì được Đức Phật cảm hóa và cho theo thọ
học giáo pháp. Tòan văn ghi rõ trong Trung
Bộ Kinh, Angulimala Sutta, kinh thứ 86.
Nơi
đây sẽ trích dịch từ bản văn của Ngài Walpola Piyananda
Thera như sau.
(Bắt
đầu dịch)
| Ngài
Angulimala không an tâm, bởi vì ngay cả khi thiền định đơn
độc ngài vẫn thường nhớ tới quá khứ và những tiếng
kêu khóc thảm thương của các nạn nhân của ngài. Vì ảnh
hưởng nghiệp dữ của ngài, trong khi đi khất thực trên đường
ngài vẫn cứ trở thành mục tiêu cho dân chúng chọi đá và
đánh gậy, và rồi ngài trở về tu viện Jetavana với đầu
thương tích, máu chảy, mình đầy vết cắt, vết bầm, và
được Phật nhắc nhở: “Con ta, Angulimala. Con đã xa lìa các
ác pháp rồi. Hãy kiên nhẫn. Đây là ảnh hưởng các ác pháp
con đã làm trong kiếp này. Nghiệp dữ của con lý ra sẽ làm
con đau khổ xuyên qua vô lượng kiếp, nếu ta không gặp con.”
Một
buổi sáng, trong khi đi khất thực tại Savatthi, ngài Angulimala
nghe có người khóc đau đớn. Tới gần, ngài thấy một sản
phụ đang lên cơn đau sản nạn, và gặp trở ngại khi sinh
nở, thì ngài mới phản ánh rằng tất cả chúng sinh đều
chịu khổ cả. Xúc động vì lòng từ bi, ngài tới gặp Đức
Phật và kể về cơn đau của phụ nữ tội nghiệp kia. Đức
Phật mới khuyên ngài đọc tụng các lời sự thực sau đây,
và sau này các lời này được gọi là Angulimala Paritta (Hộ
Kinh Angulimala). Tới trứơc người phụ nữ đang đau đớn
kia, ngài ngồi trên một chỗ cách biệt sản phụ bởi một
bức màn, và nói lên những lời sau này:
“Chị
ơi, từ ngày tôi trở thành một a la hán,
Tôi
đã không cố ý hủy diệt
Sinh
mạng của bất kỳ chúng sinh nào.
Với
sự thật này, xin nguyện cho chị an lành,
Và
xin nguyện cho em bé chưa sanh của chị an lành.”
Ngay
tức khắc, sản phụ sinh ra bé sơ sinh dễ dàng. Cả mẹ và
con đều an lành và khỏe mạnh. Ngay cho tới bây giờ, nhiều
vị vẫn còn đọc hộ kinh này, như tụng đọc thần chú.
Ngài
Angulimala ưa thích sống trong đơn độc và ẩn dật. Về sau,
ngài viên tịch bình an. Là một bậc a la hán, ngài đã thể
nhập đại bát niết bàn. |
(Hết
phần dịch)
Cũng
cần ghi nhận, rằng bản dịch của ngài Piyadassi có
hơi khác nghĩa ở câu đầu bản hộ kinh trên do ngài Walpola
Piyananda dịch, khi nói chỉ cần gia nhập Tăng chúng thôi, chứ
chưa cần chứng quả a la hán. Bản của ngài Piyadassi lưu truyền
trong cuốn The Book of Protection do dòng Lâm Truyền
Thái Lan phổ biến, dịch như sau:
“Từ
ngày tôi sinh vào dòng thánh (ghi chú: gia nhập Tăng Đòan),
Chị
ơi, tôi đã không cố ý hủy diệt
Sinh
mạng của bất kỳ chúng sinh nào.
Với
sự thật này, xin nguyện cho chị an lành,
Và
xin nguyện cho em bé chưa sanh của chị an lành.” |
(Hết
phần dịch)
Đó
là hai bài kinh hộ quốc an dân thường dùng ở Phật Giáo
Nam Tông. Điều chúng ta có thể ghi nhận rằng trong khi bản
Kinh
Châu Báu nêu lên cách tiếp cận và truyền thông với
chư vị phi nhân, nhưng căn bản vẫn nơi người đọc tụng
trứơc hết là phải có chánh tín và chánh kiến (quy y Tam
Bảo, không quy y Tà Sư), có tâm từ bi (cúng dường và hồi
hứơng tới chúng sinh các cõi), ca ngợi chánh pháp (Tứ Thánh
Đế)…
Trong
khi đó, bản kinh của ngài Angulimala chủ yếu dựa vào uy lực
giữ giới sát của một vị sư để hồi hướng cứu sản
phụ.
Qua
hai bản kinh này, chúng ta có thể tin tưởng rằng, nếu tất
cả Tăng Ni Phật Tử cùng giữ được chánh tín, chánh kiến,
và giới đức thì tất nhiên là hộ quốc an dân dễ dàng.
|