Thiền
Sư Thích Nhất Hạnh nói về vô-ngã,
tương tức,
và
tình thương rộng mở đến vô cùng.
Là
biên tập viên của nguyệt san Shambhala Sun, một trong những
phần việc thú vị nhất của tôi là được vinh hạnh pháp
đàm một cách nghiêm chỉnh, thậm chí thân mật, với các
bậc thầy lớn. Là một người học Phật trước khi là một
phóng viên, những câu hỏi tôi đưa ra thường có ý nghĩa
sâu sắc với tôi với tư cách một con người và một hành
giả. Kết quả của những cuộc tham vấn này là một bản
đúc kết những lời dạy mà tôi đã tiếp nhận, hơn là một
bài phỏng vấn theo tiêu chuẩn thông thường. Đây là một
vinh dự và một đặc ân cho tôi, mong rằng bạn đọc cũng
được lợi lạc từ đó.
Tôi
gặp Thiền Sư Thích Nhất Hạnh tại Tu Viện Lộc Uyển gần
San Diego, một nơi hoà lẫn các yếu tố Đông và Tây, hiện
đại và tao nhã, chánh niệm và vui tươi. Tu viện nằm giữa
một thung lũng nhỏ, khéo tách rời khỏi khu vực ngoại ô
chỉ cách đó một dặm. Những dãy nhà trệt và thấp gợi
lên cảm giác tạm thời, dã chiến của một trại binh (đây
từng là khu trại của hội khoả thân và trung tâm huấn luyện
cảnh sát,) nhưng ngôi thiền đường thanh lịch mới xây lên
thì lại hết sức đồ sộ uy nghiêm. Bên ngoài, các sư chú
trẻ người Mỹ gốc Việt chơi bóng rổ trong khi các sư cô
lớn tuổi, đầu đội nón lá, đang quét sân, các thiền sinh
thì đang chăm chỉ pháp đàm. Thức ăn sáng được bày ra gồm
các món chay Việt Nam bên cạnh Corn Flakes (cốm bắp ăn với
sữa) và bơ đậu phụng. Khi có tiếng chuông đồng hồ, mọi
hoạt động đều dừng lại để mọi người thực tập quay
về với chánh niệm.
Tôi
được hầu chuyện với Thiền Sư Thích Nhất Hạnh độ hơn
một giờ, sau đó Thiền Sư đưa cho tôi các thư pháp (in trong
số này) mà thầy đã viết để làm quà cho tạp chí Shambhala
Sun. Mặc dầu Thiền Sư thường được biết đến nhiều nhất
qua các nhận định sâu sắc trong lĩnh vực chính trị và các
công tác xây dựng cộng đồng, tôi đã khám phá nơi Thầy
một vị Thầy bội phần hơn những gì mà người ta diễn
tả về Thầy. Tôi đã gặp một vị thầy thấy biết thật
nhiều trên mọi bình diện, thâm sâu và chứng đạt, chú trọng
cả tu tập lẫn xây dựng tăng thân, thấm nhuần vừa giáo
pháp truyền thống vừa biết rõ hướng đi thế giới ngày
nay. Lời nói của Thiền Sư đi thẳng vào trái tim tôi. Nếu
có cơ duyên để nghe Ngài giảng, xin bạn đừng bỏ lỡ. Chữ
nghĩa in trong sách báo không sao sánh được, không diễn tả
hết được con người thật của Ngài.
—Melvin
McLeod
Melvin
McLeod: Quanh tu viện này có nhiều câu cảnh tỉnh, nhắc
mọi người chánh niệm, trở về với thân và hơi thở, và
nhận ra nhân tánh của mình. Trong giờ ăn , mọi người đều
dừng lại khi chuông đồng hồ trong phòng ăn điểm để thực
tập hơi thở chánh niệm. Tại sao việc trở về với hơi
thở, đưa tâm về với thân, và thực tập sự có mặt lại
quan trọng như vậy?
Thích
Nhất Hạnh: Thiền tập nghĩa là quay về với chính mình.
Nhờ vậy mà mình biết chăm sóc những gì đang xảy ra bên
trong mình, cũng như những gì đang xảy ra chung quanh mình. Các
bài thiền tập đều nhằm đưa mình trở về với tự thân,
với quê hương đích thực của mình. Nếu không biết khôi
phục sự bình an nơi tự thân, không giúp thế giới khôi phục
sự bình an, mình sẽ không đi xa được trong sự tu tập.
Cái
ngã chân thật của mình
Melvin
McLeod: Cái ngã chân thật -- cái ta mà mình quay về, -- và
cái mà chúng ta thường cho đó là mình khác nhau như thế nào?
Thích
Nhất Hạnh: Cái ngã chân thật của mình là vô ngã, nhận
thức rằng cái mà mình gọi là ta, là ngã được làm bằng
những yếu tố không-phải- ta, không phải ngã. Không có sự
cách biệt giữa ta và người, mọi sự vật đều liên đới
với nhau. Một khi nhận thức được điều đó mình sẽ không
còn kẹt vào ý niệm mình là một thực thể riêng biệt.
Melvin
McLeod: Chuyện gì xảy ra khi mình nhận ra rằng tự tánh
của ta là vô-ngã, là không có cái ta riêng biệt ?
Thích
Nhất Hạnh: Nhận thức này đưa tới tuệ giác, đưa tới
một cái thấy thật thâm sâu. Mình biết rằng hạnh phúc,
khổ đau của mình tùy thuộc vào hạnh phúc, khổ đau của
kẻ kia. Tuệ giác này giúp mình không làm những việc đưa
tới khổ đau cho mình và cho người. Nếu mình tìm cách giúp
cho cha mình bớt khổ thì mình cũng được bớt khổ. Nếu
mình có thể giúp cho con mình bớt khổ thì mình cũng sẽ bớt
khổ. Nhờ nhận thức được rằng không có một cái ta riêng
biệt, mình nhận ra rằng hạnh phúc và khổ đau không phải
là vấn đề của cá nhân. Mình nhận ra tính tương liên tương
đới (tương tức), và mình biết rằng muốn bảo vệ mình
thì mình phải bảo vệ cả nhân loại.
Đó
là mục đích của sự tu tập -- nhận ra được tính vô-ngã
và tương tức. Đây không phải là một ý niệm hay một điều
mình chỉ hiểu trên bề mặt ý thức. Mình phải áp dụng
tuệ giác này trong đời sống hằng ngày. Vì vậy mình cần
phải có định để duy trì tuệ giác vô-ngã để tuệ giác
ấy có thể soi sáng cho mình từng giây từng phút trong đời
sống hằng ngày. Bây giờ các nhà khoa học đã thấy được
tính vô-ngã nơi não bộ, nơi thân thể, và nơi mọi sự vật.
Nhưng khám phá ấy không giúp được gì cho họ, bởi vì họ
không áp dụng được tuệ giác ấy vào đời sống hằng ngày
của mình. Vì vậy họ vẫn khổ. Cũng vì lý do đó mà trong
đạo Bụt chúng ta nói đến Định. Nếu mình có tuệ giác
về vô-ngã, nếu mình có tuệ giác về vô-thường, mình phải
biến tuệ giác đó thành một cái Định mà mình thắp sáng
suốt ngày. Những gì mình nói, mình nghĩ, mình làm sẽ được
soi sáng bởi tuệ giác đó, và mình sẽ tránh gây ra lầm lỗi,
khổ đau.
Melvin
McLeod: Như vậy thực tập chánh niệm là để duy trì tuệ
giác vô-thường và tương-tức trong tất cả mọi thời.
Thích
Nhất Hạnh: Đúng vậy.
Melvin
McLeod: Con người chúng ta nói rằng tình thương là trên
hết. Chúng ta muốn thương; chúng ta muốn được thương. Chúng
ta biết tình thương là thuốc chữa lành mọi căn bệnh. Nhưng
làm sao để tìm thấy tình thương trong trái tim mình, bởi
vì thường khi mình không thể thương?
Thích
Nhất Hạnh: Thương là khả năng chăm sóc, bảo vệ, nuôi
dưỡng. Nếu mình không phát khởi được năng lượng đó
cho chính mình -- nếu mình không chăm sóc được mình, không
nuôi dưỡng được mình, không bảo hộ được mình – thì
khó mà chăm sóc cho kẻ khác. Trong giáo lý đạo Bụt, thương
mình chính là nền tảng để thương người. Thương yêu là
một sự thực tập. Thương yêu thật sự là một sự thực
tập.
Melvin
McLeod: Tại sao mình lại không thương được mình?
Thích
Nhất Hạnh: Chúng ta có thể có thói quen đi tìm hạnh phúc
ở một nơi nào khác với cái bây giờ và ở đây. Chúng ta
có thể thiếu khả năng để nhận ra rằng hạnh phúc là điều
có thể có được ngay bây giờ và ở đây, rằng chúng ta
đã có đủ các điều kiện để hạnh phúc ngay trong giờ
phút này. Tin tưởng rằng hạnh phúc không thể có được
ngay trong giờ phút này, rằng mình phải đi về tương lai để
có thêm những điều kiện hạnh phúc là một tập khí. Tập
khí này ngăn không cho chúng ta an trú được trong giờ phút
hiện tại, tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự
sống đang có mặt bây giờ và ở đây. Đó là lý do tại
sao mình không hạnh phúc được.
Trở
về với giây phút hiện tại, chăm sóc lấy tự thân, tiếp
xúc với những mầu nhiệm của sự sống đang thật sự có
mặt – đó đã là thương rồi. Thương là tử tế với chính
mình, có lòng xót thương với chính mình, làm phát khởi những
hình ảnh của niềm vui, và nhìn mọi người bằng đôi mắt
bình đẳng, không kỳ thị. Đó là điều mình phải trau dồi.
Vô-ngã có thể đạt được. Thực tại này có thể được
tiếp xúc từ từ. Chân lý có thể được trau dồi. Khi khám
phá một điều gì, ban đầu ta có thể khám phá được một
phần thôi. Nếu tiếp tục, ta có thể có cơ hội khám phá
nhiều hơn. Và cuối cùng ta khám phá ra toàn bộ sự vật.
Khi thương, nếu đó là tình thương chân thực, ta bắt đầu
thấy người kia là một phần của mình và mình là một phần
của người kia. Đạt tới nhận thức đó là đã bắt đầu
có tuệ giác vô-ngã đã đạt tới vô ngã. Nếu mình nghĩ
rằng hạnh phúc của mình là khác, hạnh phúc của người
kia là khác, thì mình chưa thực chứng được chút gì về
vô-ngã, và hạnh phúc không thể nào đạt tới được.
Khi
mình đi trên con đường của tuệ giác tiến tới vô-ngã,
hạnh phúc mang lại từ tâm thương yêu sẽ tăng trưởng. Khi
hai người thương nhau, những ngăn cách, phân chia, giới hạn
giữa họ bắt đầu tan biến, mình trở thành một với người
mình thương. Không còn ganh tị, giận hờn nữa, tại vì giận
người kia tức là mình tự giận mình rồi . Vì vậy vô-ngã
không phải là một học thuyết, giáo điều, hay một hệ tư
tưởng mà là một chứng đắc có thể mang lại rất nhiều
hạnh phúc.
Melvin
McLeod: Và hoà bình.
Thích
Nhất Hạnh: Hẳn vậy. Hoà bình là sự vắng bóng của
chia rẽ, kỳ thị.
Xây
dựng tăng thân
Melvin
McLeod: Thầy nổi tiếng với các lời dạy về xây dựng
sự hài hòa trong cộng đồng mà trong đạo Bụt gọi là xây
dựng tăng thân. Qua những thực tập như Mười Bốn Giới
Tiếp Hiện, Thầy định nghĩa chánh niệm trong chiều hướng
có tính cách xã hội, thậm chí chính trị. Thầy dạy về
các phương pháp truyền thông và sức mạnh của ái ngữ và
lắng nghe. Tại sao Thầy lại nhấn mạnh khía cạnh cộng đồng,
quan hệ giữa người với người?
Thích
Nhất Hạnh: Mình có những kinh nghiệm trong sự tu tập
– an lạc, chuyển hoá, và trị liệu -- dựa trên nền tảng
đó mà mình giúp cho người khác. Mình không chỉ tu với tư
cách cá nhân, vì trên đường tu mình sẽ sớm nhận ra rằng
mình cần phải tu với Chúng - nhiều người cùng tu- nếu muốn
sớm có sự chuyển hoá và trị liệu. Đó là nương tựa tăng.
Thực
tập chung với nhau, năng lượng của niệm, định, và niềm
vui sẽ hùng mạnh hơn. Đó là điều Bụt thích làm. Ngài đi
đâu cũng có nhiều đệ tử đi theo, nhờ vậy mà các vị
xuất gia này học được từ Bụt cách đi, cách ngồi, và
cách tiếp xử. Và Tăng Đoàn bắt đầu hoạt động như một
cơ thể, ai cũng góp phần vào năng lượng chung của bình an,
hỷ lạc, an tĩnh, và tình huynh đệ.
Đồng
thời, mọi người trong Tăng Đoàn đều nói thay cho Bụt, không
phải chỉ bằng lời mà qua cách họ hành động và cư xử
với mọi người. Đó là vì sao vua Ba Tư Nặc nói với Bụt:
“Bạch đức Thế Tôn, mỗi khi nhìn thấy Tăng thân của Ngài
con lại có thêm niềm tin nơi Ngài.” Vua muốn nói rằng Tăng
thân có khả năng đại diện cho Bụt. Bụt với Tăng Thân
của Ngài có thể thành tựu được nhiều điều. Tôi không
nghĩ rằng một vị thầy có thể làm được nhiều nếu không
có Chúng cùng tu; cũng như một nhạc sĩ không thể biểu diễn
được nếu không có nhạc cụ. Tăng thân rất quan trọng --
tuệ giác và sự tu tập của vị thầy có thể được nhìn
thấy qua tăng thân. Khi mình chia sẻ giáo pháp và sự thực
tập với tư cách một tăng thân thì hiệu quả sẽ lớn hơn.
Melvin
McLeod: Như vậy để giáo pháp thật sự có sức mạnh,
trên thực tế, chúng ta phải chuyển hoá không chỉ chính mình
mà cả xã hội?
Thích
Nhất Hạnh: Đúng. Đó là Đại Thừa (Mahayana), là cùng
đi với nhau trên một cỗ xe lớn. Đó là lý do vì sao đạo
Bụt phải luôn luôn nhập thế. Không phải bằng sự tách
mình ra khỏi xã hội mà mình có thể làm được điều đó.
Đó là vì sao cỗ xe lớn - Đại Thừa- đã được hiện rõ
ngay trong cái gọi là Tiểu Thừa (Hinayana.)
Melvin
McLeod: Thầy có nghĩ rằng một trong những lý do khiến
Thầy nhấn mạnh đến xây dựng tăng thân và xã hội như
một sự thực tập là cuộc chiến tranh khốc liệt mà Thầy
đã chứng kiến ở Việt Nam? Phải chăng việc chứng kiến
xã hội bị tàn phá bởi chiến tranh, những hy sinh mất mát,
đã làm tăng thêm mối quan tâm của Thầy đối với đời
sống cộng đồng?
Thích
Nhất Hạnh: Tôi nghĩ điều này có phần đúng. Đó là
tuệ giác mình có được- cái thấy sâu sắc khi tiếp xúc
với thực trạng. Nhưng điều đó cũng đã từng được chú
trọng trong truyền thống. Người Phật tử nào cũng biết
nói: ‘Con về nương tựa Tăng,” nhưng Tăng được làm bằng
những cá nhân có tu tập. Mình phải tự chăm sóc lấy mình.
Nếu không thì mình không có gì nhiều để đóng góp cho tăng
thân, vì mình không có đủ bình an, vững chãi, và tự do trong
lòng. Đó là vì sao muốn xây dựng tăng thân mình cũng phải
đồng thời xây dựng bản thân. Tăng thân có trong mình và
mình có trong tăng thân. Yếu tố này đi vào yếu tố kia. Đó
là lý do tại sao tôi chú trọng đến việc xây dựng tăng
thân. Điều đó không có nghĩa là mình không chú trọng đến
việc tự tu. Mình thấy rõ ràng nhờ chăm sóc tốt hơi thở,
thân tâm, cảm thọ của chính mình mà mình có thể xây dựng
một tăng thân tốt.
Mở
cánh cửa cho người Tây Phương
Melvin
McLeod: Thầy đã sống ở Tây phương nhiều năm. Thầy nghĩ
nên trình bày đạo Bụt theo cách nào để đáp ứng được
những nhu cầu, mong mỏi của người học Phật ở Tây phương?
Thích
Nhất Hạnh: Tôi nghĩ đạo Bụt nên mở ra cánh cửa của
tâm lý và trị liệu để đi vào xã hội Tây phương dễ dàng
hơn. Đứng về phương diện tôn giáo, phương Tây đã có nhiều
niềm tin nơi một đấng thần linh rồi. Mình không nên đi
vào địa hạt tâm linh của Tây phương theo nguyên tắc tín
ngưỡng, bởi vì Tây phương đã có nhiều rồi.
Vậy
thì tâm học là cánh cửa tốt. Nền văn học A Tì Đàm (Abhidharma)
của đạo Bụt tiêu biểu cho sự hiểu biết rất phong phú
về tâm, đã được phát triển qua nhiều thế hệ Phật tử.
Nếu đến với người Tây phương bằng con đường tâm học,
mình có thể thành công hơn trong việc giúp người ta hiểu
được tâm họ, giúp người ta thực tập như thế nào để
chữa lành được thân tâm.
Thân
và tâm liên hệ mật thiết với nhau, và chúng ta có thể nói
thiền tập đạo Bụt có khả năng trị liệu thân và tâm.
Mình thấy điều này rất rõ khi học các kinh căn bản về
thiền tập như Kinh Quán Niệm Hơi Thở (Anapannasati Sutra) và
Kinh Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm. Thiền tập giúp ta thư giãn
những căng thẳng -- nơi thân thể, tâm hồn, cảm thọ -- để
tiến tới sự chữa lành thân tâm. Cho dù mình uống nhiều
thuốc đi nữa mà nếu thân, tâm còn quá nhiều căng thẳng
thì thuốc cũng sẽ ít công hiệu. Vì vậy Bụt đã đưa ra
những bài tập rất thực tế như: “Thở vào, tôi ý thức
toàn thân; thở ra tôi an tịnh toàn thân. Thở vào tôi ý thức
cảm thọ; thở ra tôi an tịnh cảm thọ. Tôi ôm lấy thân
và cảm thọ của tôi bằng năng lượng chánh niệm.”
Sự
thực tập buông thư những căng thẳng nơi thân tâm là nền
tảng của sự trị liệu. Ban đầu sự thực tập này giúp
mình vơi nhẹ. Rồi với nhiều niệm và định hơn, mình thực
tập nhìn sâu vào những đau nhức, căng thẳng đó và tìm
ra những gốc rễ sâu xa, nguyên nhân của bệnh. Mình khám
phá ra sự thật thứ hai của Tứ Thánh Đế. Mình có thể
nhận ra nguồn gốc của sự căng thẳng, trầm cảm, và bệnh
hoạn đó. Một khi đã nhìn ra nguyên nhân của khổ, tức sự
thực thứ hai, mình bắt đầu nhìn thấy sự thực thứ tư
của Tứ Thánh Đế, con đường dẫn đến sự chấm dứt bệnh
hoạn, căng thẳng, khổ đau. Thấy được con đường là phần
quan trọng nhất. Nếu mình đi theo con đường đó, chẳng bao
lâu bệnh hoạn biến đi, nhường chỗ cho sự lành mạnh, sự
thực thứ ba của Tứ Thánh Đế. Nguyên tắc của đạo Bụt
chính là nguyên tắc của Y Liệu.
Một
cánh cửa khác nên mở là cánh cửa sinh môi học, vì trong
đạo Bụt có sự tôn trọng sâu sắc đến cầm thú, cỏ cây,
và cả đất đá. Trong đạo Bụt Đại Thừa, chúng ta nói
ai cũng có Phật Tánh – không chỉ con người mà cả cầm
thú, cỏ cây, và đất đá. Học Kinh Kim Cang mình sẽ thấy
Kinh Kim Cang là văn kiện cổ nhất về bảo vệ sinh môi. Ý
niệm về ngã, về cái ta, được đánh đổ, vì cái ta được
làm bằng những yếu tố không phải ta, và ý niệm về loài
người được được đánh đổ, vì loài người được làm
bằng những yếu tố không phải người, chủ yếu là cầm
thú, cỏ cây, và đất đá v.v... Nghĩa là muốn bảo vệ con
người mình phải bảo vệ những yếu tố không phải người.
Điều đó rất rõ ràng.
Vậy
cánh cửa sinh môi học là cánh cửa rất tuyệt vời để mở.
Và rồi cánh cửa hoà bình, vì đạo Bụt là đạo của hoà
bình. Một Phật tử chân chính không thể từ chối làm việc
cho hoà bình. Tôi nghĩ còn cánh cửa nam nữ bình quyền, sự
không kỳ thị giới tính. Bụt đã mở cửa cho phụ nữ gia
nhập Tăng đoàn, đó là một hành động rất cách mạng của
Ngài.
Tôi
nghĩ những cánh cửa phương tiện này cần được mở rộng
để người Tây phương có thể tiếp nhận được giáo pháp
đích thực của Bụt. Những pháp môn này đều nằm sẵn trong
gốc rễ đạo Bụt, nhưng nhiều thế hệ Phật tử đã đánh
mất các giá trị ấy. Phật tử nên thực tập như thế nào
để khôi phục lại những giá trị ấy cho truyền thống để
có thể cống hiến lại cho người sau.
Đạo
Phật và khoa Học
Melvin
McLeod: Ngược lại, Thầy có thấy điều gì trong tư tưởng
và kiến thức Tây phương có thể đóng góp cho Phật giáo?
Thích
Nhất Hạnh: Tôi nghĩ dân chủ và khoa học có thể giúp
Phật giáo, nhưng không phải theo cách mà mọi người thường
nghĩ. Mình biết rằng sự thực tập dân chủ vốn đã có
sẵn trong truyền thống đạo Bụt. Nhưng nếu đem so với dân
chủ Tây phương, mình thấy dân chủ đạo Bụt đặt căn cứ
trên thật tế nhiều hơn, vì lá phiếu của một người thầy
có nhiều tuệ giác và kinh nghiệm có nhiều trọng lượng
hơn lá phiếu của một Sa Di ít tuệ giác và kinh nghiệm. Vì
vậy, trong đạo Bụt việc biểu quyết cần phải phối hợp
giữa hai nguyên tắc dân chủ và thâm niên. Đó là điều có
thể làm được. Chúng tôi đã làm điều này, với rất nhiều
thành công, trong cộng đồng của chúng tôi, bởi vì những
người trẻ và ít kinh nghiệm hơn thường tin tưởng và kính
trọng những vị lớn. Nhưng mình biết có nhiều cộng đồng
Phật giáo không theo cách đó; vị thầy quyết định tất
cả và họ đánh mất chế độ dân chủ. Bây giờ chúng ta
phải khôi phục lại chế độ dân chủ, nhưng không phải
theo cách người ta làm ở Tây phương. Chúng ta phải phối
hợp chế độ dân chủ với tinh thần thâm niên.
Riêng
tôi, việc học khoa học đã giúp tôi hiểu đạo Bụt sâu
hơn. Tôi đồng ý với Einstein rằng nếu có một tôn giáo
có thể đồng hành với khoa học thì đó là đạo Bụt. Bởi
vì đạo Bụt có tinh thần không chấp chặt vào giáo điều.
Mình có thể có một cái hiểu về khoa học mà mình cho đó
là sự thật, nhưng nếu mình chấp vào cái thấy đó thì mình
cũng thôi luôn việc khám phá thêm những cái thấy mới một
cách vô tư. Mình nên biết rằng với sự thực tập nhìn sâu
mình có thể thấy rõ sự việc hơn. Vì vậy mình không nên
có thái độ giáo điều đối với những gì mình từng thấy
biết; mình phải sẵn sàng buông bỏ cái thấy cái biết của
mình về khoa học để có được tuệ giác cao hơn. Rất là
thú vị.
Trong
Kinh dạy cho những người trẻ của bộ tộc Kalama, kinh Kalama,
Bụt nói: “Đừng vội tin vào một điều gì dù điều đó
đã được lập đi lập lại bởi nhiều người. Đừng vội
tin điều gì vì nó được các bậc thầy nổi tiếng thốt
ra. Đừng vội tin vào một điều gì dù điều đó đã được
viết trong kinh điển.” Mình phải quán sát, thử nghiệm và
thực hành, nếu như nó có hiệu quả, nếu như nó giúp mình
chuyển hoá khổ đau và mang lại an lạc, giải thoát thì mình
có thể tin tưởng vào nó một cách rất khoa học.
Tôi
nghĩ Phật tử không cần sợ khoa học. Khoa học có thể giúp
đạo Bụt hiểu sâu hơn lời dạy của Bụt. Chẳng hạn như
Kinh Hoa Nghiêm (Avatamsaka Sutra) nói rằng cái một được làm
bằng cái nhiều, và cái nhiều có thể tìm thấy trong cái
một. Điều này có thể chứng minh được bởi khoa học. Từ
một tế bào người ta có thể làm ra một bản giống y hệt
như toàn bộ một cơ thể. Toàn bộ di sản di truyển có thể
được tìm thấy trong một tế bào và từ một tế bào chúng
ta có thể làm lại một bản giống y hệt bản chính của
toàn bộ cơ thể. Trong cái một mình thấy có cái nhiều. Điều
này giúp mình hiểu giáo lý của Bụt một cách sâu sắc hơn.
Vì
vậy không có lý do gì để Phật tử phải sợ khoa học cả,
nhất là khi họ có khả năng buông bỏ cái thấy hiện có
của mình để đạt tới một cái thấy sâu hơn, cao hơn. Và
trong đạo Bụt cái thấy cao nhất là cái thấy vượt thoát
khỏi mọi cái thấy, vượt khỏi mọi ý niệm. Mình tưởng
sự vật là thường còn, là không đổi thay thì mình bị kẹt
vào một cái thấy sai lầm gọi là thường kiến. Và mình
dùng vô thường để chỉnh lại cái tưởng là sự vật thường
còn. Nhưng mình không để cho mình bị kẹt vào cái ý niệm
vô thường. Khi mình nhận diện được cái chân tánh của
sự vật, mình có tuệ giác, thì chẳng những mình buông bỏ
cái tưởng là mọi vật luôn thường còn mà cũng buông bỏ
được luôn cái ý niệm về vô thường. Cũng như khi mình
quẹt que diêm, cái ngọn lửa biểu hiện từ que diêm sẽ đốt
luôn que diêm. Khi mình quán chiếu thật sâu thì mình đạt
đến tuệ giác về vô thường; cái tuệ giác về vô thường
sẽ đốt cháy cái ý niệmvề vô thường.
Đó
là tại sao giáo lý không chấp vào Kiến, rất mầu nhiệm.
Vô ngã có thể xem là một Kiến , một ý niệm; vô thường
cũng là một ý niệm. Nếu mình bị kẹt vào một ý niệm
nào đó như vô ngã, vô thường, niết bàn và cho nó là chân
lý thì mình không thật sự tự do. Thế giới của bản môn
không còn Kiến, ý niệm. Vì thế niết bàn là sự tắt ngấm
những khái niệm, tắt ngấm những cái tưởng. – Dù là quan
niệm về niết bàn, về vô thường và về vô ngã - những
quan niệm trên có thể mang tới khổ đau nếu ta sử dụng
chúng để chống đối nhau.
Tương
đối và tuyệt đối
Melvin
Mc Leod : Tôi thật sự thích thú khi nghe thầy giảng về
những điều mà các truyền thống Phật giáo khác gọi là
sự thật tương đối và sự thật tuyệt đối. Thầy thì
gọi đó là bình diện tích môn và bình diện bản môn. Rất
nhiều điều thầy dạy chú trọng đến sự thật tương đối
hay bình diện tích môn, như là nguyên tắc tương quan tương
duyên mà Thầy hay gọi là tương tức (interbeing). Đó có phải
là cách thầy diễn tả thực tại toàn bộ hay không ? Hay là
còn một thực tại nằm ngoài cái tuệ giác là không có sự
vật nào có thể hiện hữu độc lập với nhau và mọi sự
vật đều tương duyên.
Thích
Nhất Hạnh : Trong đạo Bụt có hai cách diễn tả thực
tại : bình diện tướng và bình diện tánh. Tông phái Trung
Quán(Madhyamika) và thiền Tào Động, đều hướng dẫn thiền
giả đi thẳng vào tánh chân thật của mình. Còn trường phái
A Tỳ Đàm thì thiền giả được dạy tùng tướng nhập tánh
nghĩa là tiếp xúc thật thâm sâu với tướng thì mình sẽ
đồng thời đi vào tánh. Sống thật thâm sâu trong tích môn
sẽ tiếp xúc được đồng thời với bản môn. Cũng như một
lượn sóng. Mình có thể thấy sự phát sinh và sự chấm dứt
của một lượn sóng. Có những lượn sóng to, có những lượn
sóng nhỏ, lượn sóng cao, lượn sóng thấp. Nhưng lượn sóng
cũng đồng thời là nước. Dĩ nhiên là lượn sóng có thể
chỉ sống được đời sống của một lượn sóng thôi. Nhưng
một lượn sóng có thể thấy và đi sâu hơn. Thấy mình vừa
là sóng vừa là nước. Sóng thì có sanh ra và có bị tan biến
(chết đi) nhưng nếu lượn sóng chịu nhìn sâu hơn và thấy
rõ mình vừa là sóng mà cũng vừa là nước thi sóng sẽ mất
hết sợ hãi. Sinh ra, tan biến, đến, đi không làm cho sóng
sợ hãi vì sóng biết mình vừa là sóng mà cũng vừa là nước.
Nước thi không sinh ra không chết đi, không đến không đi
đâu hết. Khi nhân duyên đầy đủ sóng biểu hiện, khi nhân
duyên không đầy đủ, sóng ẩn tàng.... Vì thế sóng cũng
có hai bình diện: tích môn thì có sanh có diệt, có đến có
đi có cao có thấp, mà bản môn thì không sanh không diệt,
không cao, không thấp.... Hai bình diện mà là một, không chia
chẻ. Khi mình tiếp xúc với bình diện này(tướng - tích môn)
đủ thâm sâu thì đồng thời cũng tiếp xúc luôn bình diện
kia (tánh - bản môn).
MelvinMc
Leod: Tôi có nói chuyện với một số người mà hình như
đã hiểu rằng khái niệm về tương tức là một lời tuyên
bố rằng tất cả vốn là một. Đó cũng vẫn là một khái
niệm (kiến) . Thế thì có lẽ ngay cả cái khái niệm - tất
cả là một- cái kiến đó chúng ta cũng không nên nắm giữ
phải không?
Thích
Nhất Hạnh: Đúng thế. Một là một khái niệm mà nhiều
cũng là khái niệm. Cũng như có (hiện hữu) hay không ( không
hiện hữu) cũng là khái niệm. Anh nói rằng Thượng Đế là
nền tảng của hữu thể (being) nhưng nếu thiên hạ hỏi :
Thế thì ai là nền tảng của vô thể (non-being) ? (cười).
Thành ra cái khái niệm về hiện hữu hay khái niệm về không
hiện hữu cũng chỉ là những khái niệm, không phải là thực
tại . Khái niệm khác (dị) và khái niệm một (đồng) , cũng
là khái niệm. Là một hay là khác cũng là khái niệm. Niết
bàn là sự tắt ngấm mọi khái niệm, kể cả khái niệm về
một và khái niệm về khác. Vì thế tương tức không có nghĩa
là mọi sự vật là một. Nó giúp ta lấy ra hết những cặp
khái niệm: một -nhiều, có- không, dị - đồng. Mình buông
bỏ hết những khái niệm, những cái thấy chia chẻ.
Melvin
McLeod : Thầy nói Bụt là một con người. Nhưng Đại Thừa
nói có vô lượng Bụt và Bồ Tát ở trong mọi cõi đang trải
lòng từ đến mình. Làm sao những người Tây phương duy lý
chúng tôi có thể hiểu những vị Bụt và Bồ Tát này? Làm
sao chúng ta có thể mở lòng ra với họ khi chúng ta không thể
nhận biết họ qua năm giác quan?
Thích
Nhất Hạnh : Trong đạo Bụt, Bụt được xem như một vị
thầy, một con người, chứ không phải một vị thần linh.
Ta cần phải nói cho mọi người biết cái điều thật quan
trọng đó. Chúng ta không cần Bụt là một đấng thần linh.
Ngài là một vị đạo sư, như vậy là đủ lắm cho chúng
ta rồi! Tôi nghĩ chúng ta cần phải nói cho các bạn ở Tây
phương biết như vậy. Và chính vì Bụt là một con người,
cho nên vô lượng người mới thành Bụt được.
Melvin
McLeod : Bụt có chết không?
Thích
Nhất Hạnh : Đương nhiên. Đã là một con người thì phải
có sinh và có tử. Đó là bình diện tích môn. Nhưng rồi mình
phải tiếp xúc với Bụt một cách sâu sắc để tiếp xúc
cho được bình diện bản môn của Ngài. Anh nên tập tiếp
xúc với một con người thường – không phải là Bụt - như
anh hay tôi. Nếu mình nhìn sâu vào tự thân, mình thấy mình
có tích môn – có sinh và có tử. Nhưng nếu mình nhìn sâu
hơn nữa, mình sẽ thấy bản chất đích thực của mình là
vô sinh, bất diệt. Mình cũng giống như Bụt: chưa bao giờ
từng sinh và cũng sẽ không bao giờ chết. Vậy thì trong anh,
tôi thấy một vị Bụt; trong mỗi người tôi đều thấy Bụt
bản môn. Đó là lý do vì sao mình có thể nói đến vô lượng
Bụt. Chính bởi Bụt là một con người nên mới có thể có
vô lượng Bụt.
Chúng
ta nên nhớ rằng trong tích môn có chứa đựng bản môn. Chúng
ta không thật sự có sinh và diệt. Giống như một đám mây.
Đám mây không thể nào chết được; đám mây chỉ có thể
trở thành mưa, tuyết hay nước đá thôi chứ không thể nào
trở thành hư vô. Đó là thực tánh của đám mây. Vô sinh
bất diệt. Bụt cũng có cùng tự tánh vô sinh bất diệt ấy,
và mình cũng có cùng một tự tánh vô sinh bất diệt ấy.
Chúng
ta biết trên trái đất này có nhiều người đầy từ bi và
trí tuệ. Họ là những vị Bụt. Đừng nghĩ rằng Bụt ở
đâu xa trên trời. Mình tiếp xúc với Bụt ở trong mình; mình
tiếp xúc với Bụt nơi những người chung quanh. Điều này
có thể làm được ngay bây giờ và ở đây, mầu nhiệm như
vậy.
Bụt
ở ngay đây. Nếu mình biết thực tập thiền hành thì mình
có thể thưởng thức Tịnh Độ ngay bây giờ và ở đây.
Đây không phải là nói về Tịnh Độ, đây là thực sự nếm
Tịnh Độ. Trong truyền thống của chúng tôi, mình phải đi
như thế nào để mỗi bước chân giúp mình tiếp xúc được
với Tịnh Độ. Tịnh Độ có mặt cho mình bây giờ và ở
đây. Vấn đề là mình có có mặt cho Tịnh Độ hay không.
Mình có bị vướng vào những ganh tị, giận hờn, lo sợ của
mình hay không? Nếu thế thì Tịnh Độ không thể có. Với
Niệm và Định, mình có thể tiếp xúc với thế giới cực
lạc của chư Bụt và Bồ Tát ngay bây giờ và ở đây. Đó
không phải là lý thuyết. Đó là cái mà chúng tôi sống mỗi
ngày, thực tập mỗi ngày. Đó là điều ai cũng làm được.
Nhiều
người trong chúng tôi có khả năng làm được việc đó. Khi
nói chuyện với những nbạn Cơ Đốc Giáo, tôi nói Nước
Chúa phải là đây hay là sẽ không bao giờ có cả. Khi mình
có tự do, Nước Chúa có đó cho mình. Nếu mình không có tự
do, Nước Chúa sẽ không bao giờ có mặt, kể cả trong tương
lai. Đồng một giáo lý và thực tập có thể được chia sẻ
giữa nhiều truyền thống khác nhau.
Melvin
McLeod: Thầy đã sống một cuộc sống dài qua một thế
kỷ đau thương hơn bất cứ thế kỷ nào, trên một quê hương
thống khổ hơn bất cứ quê hương nào. Tôi nghĩ nhiều người
đang nhìn vào thế kỷ này, và một lần nữa, nhận ra những
mầm mống thảm hoạ trên cả hai phương diện -- con người
và thiên nhiên. Theo Thầy, thế giới đang đi về đâu?
Thích
Nhất Hạnh: Tôi nghĩ trong thế kỷ hai mươi điều nổi
bật nhất là chủ nghĩa cá nhân, hơn một trăm triệu người
đã chết vì chiến tranh. Có quá nhiều bạo động, có quá
nhiều tàn phá sự sống và thiên nhiên. Nếu chúng ta muốn
thế kỷ 21 khác hơn, nếu chúng ta muốn trị liệu và chuyển
hoá, thì mọi người cần phải nhận thức rằng chúng ta là
những phần khác nhau của cùng một cơ thể, rằng sự an nguy
của những thành phần khác cũng là sự an nguy của chính mình.
Nhận thức này rất thiết yếu. Sinh vật học hiện đại
đã thấy rằng con người chính là một cộng đồng của hàng
tỉ tế bào. Không có tế bào nào là chủ cả; mỗi tế bào
trong cơ thể hợp tác với các tế bào khác để tạo ra năng
lượng cần thiết giúp cho cơ thể được bảo vệ và phát
triển. Chỉ có sự tỉnh thức đó, chỉ có tuệ giác đó
-- rằng sự an nguy, hạnh phúc, khổ đau của chúng ta không
phải là một cái gì riêng rẽ mà là một vấn đề chung --
mới có thể ngăn ngừa tác hại phát sinh từ chủ nghĩa cá
nhân của thế kỷ hai mươi.
Tuệ
giác vô-ngã, không có cái ta riêng biệt, tuệ giác cọng sinh
này rất thiết yếu cho sự sống còn của chúng ta và của
hành tinh này. Không nên để cho cái thấy nầy chỉ là những
khái niệm sách vở; tuệ giác này phải được sống linh động
trong đời sống hằng ngày của mọi người. Trong trường
học, trong ngành doanh thương, trong Quốc Hội, trong hội đồng
thành phố, trong gia đình chúng ta phải thực tập để nuôi
dưỡng tuệ giác rằng chúng ta là các phần khác nhau của
cùng một cơ thể , rằng bất cứ chuyện gì xảy ra cho các
tế bào kia cũng đồng thời xảy ra cho mình. Tuệ giác này
hoàn toàn đi đôi với khoa học cũng như đi đôi với tinh
thần đạo Bụt. Chúng ta cần học để sống với nhau như
một cơ thể.
Tôi
đã dành nhiều thời gian để xây dựng các cộng đồng và
tôi đã học được nhiều từ đó. Ở Làng Mai chúng tôi tập
sống như một cơ thể. Không ai có xe riêng, sổ ngân hàng
riêng, điện thoại riêng. Ấy vậy mà vẫn hạnh phúc. Thực
tập căn bản của chúng tôi là xem mỗi người như một tế
bào của cơ thể, và đó là vì sao tình huynh đệ trở nên
hiện thực. Khi mình được nuôi dưỡng bởi tình huynh đệ
thì hạnh phúc có mặt, và nhờ vậy mà mình có thể làm không
biết bao nhiêu là việc để giúp cho người ta bớt khổ.
Điều
này có thể thấy được, sờ mó được. Đây không phải
là điều nói suông. Đây là sự hành trì, sự thực tập;
mỗi hơi thở, mỗi bước chân đều nhắm đến thực hiện
cái chung này. Sống trong một cộng đồng như vậy rất mầu
nhiệm, vì sự an lạc của người kia cũng chính là sự an
lạc của mình. Mang lại hạnh phúc cho một người, mình cũng
đem lại hạnh phúc cho từng người trong Chúng. Đó là vì
sao tôi nghĩ rằng xây dựng cộng đồng, xây dựng tăng là
công việc quan trọng nhất, cao quý nhất mà chúng ta có thể
làm.
Cũng
giống như trong lớp học, nếu cô giáo biết cách tổ chức
lớp học như một gia đình, học sinh sẽ khổ ít hơn và có
nhiều niềm vui hơn. Trong hội đồng thành phố hay trong một
thương nghiệp cũng vậy. Những người lãnh đạo thương nghiệp
có thể tổ chức công ty như một gia đình trong đó mọi người
xem nhau là những tế bào trong cùng cơ thể.
Chúng
ta biết trong cơ thể mình có nhiều loại tế bào: tế bào
gan, tế bào phổi, tế bào thần kinh. Tế bào nào cũng làm
hết sức mình. Không có sự ganh tị về địa vị với các
tế bào khác, vì không có sự phân biệt. Làm một tế bào
gan cho tốt là mình đã nuôi dưỡng các tế bào khác rồi.
Tế bào nào cũng đóng góp cái hay nhất của mình để mang
lại sự hài hoà, khoẻ mạnh cho toàn cơ thể. Không có sự
kỳ thị, không có chiến tranh giữa các tế bào, đó là điều
mình học được từ ngành sinh học hiện đại. Chúng ta có
thể tổ chức theo cách này trong gia đình, lớp học, hội
đồng thành phố, Quốc Hội. Đó là điều có thể làm được,
bởi vì nếu các tế bào của chúng ta có thể làm chuyện
đó thì con người chúng ta cũng có thể làm được chuyện
đó
Tình
yêu thương
Melvin
McLeod : Hy vọng Thầy không phiền tôi hỏi câu này, Thầy
cũng không cần phải trả lời nếu không tiện. Nhưng tôi
rất cảm động khi đọc những gì Thầy viết về mối tình
Thầy từng có với một người mà rõ ràng Thầy đã yêu thương
rất nhiều và rồi đã từ bỏ người đó. Bây giờ thì Thầy
thấy chuyện đó ra sao? Chuyện đó, ở thời điểm này của
đời Thầy, có phải là điều đáng tiếc không?
Thích
Nhất Hạnh : Tình yêu đó chưa bao giờ mất. Nó tiếp tục
phát triển. Đối tượng thương yêu của tôi được mở rộng
ra mỗi ngày, mỗi ngày, mỗi ngày, cho đến khi tôi có thể
ôm được tất cả mọi người. Thương một người là một
cơ hội mầu nhiệm để mình thương mọi người. Nếu như
đó là tình thương đích thực. Trong tuệ giác vô-ngã, mình
thấy đối tượng của tình thương mình luôn có đó, và tình
thương của mình tiếp tục phát triển. Không có gì mất đi
cả, và mình không hối tiếc điều gì, bởi vì nếu mình
có tình thương đích thực trong lòng thì mình và tình thương
ấy cùng đi về một hướng, và mỗi ngày mình đều có thể
thương thêm được nhiều hơn và nhiều hơn. Vì vậy, thương
một người là cơ hội lớn để mình thương được nhiều
người hơn.
Melvin
McLeod : Thế nhưng trong đời sống xuất gia, Thầy khuyến
khích những người muốn trở thành tu sĩ từ bỏ tình yêu
ấy. Tại sao lại nên từ bỏ cơ hội thương yêu này?
Thích
Nhất Hạnh : Trong đời sống xuất gia, mình nguyện phát
triển hiểu biết và thương yêu. Mình phát triển khả năng
ôm trọn tất cả mọi người trong tình thương của mình.
Vì vậy, như tôi đã nói, thương một người là cơ hội để
mình biết thương được thật nhiều người. Nhất là khi
người kia , những người kia có cùng lý tưởng với mình,
thì càng thương càng giàu có và càng hạnh phúc, không có
khổ đau gì hết. Là một người xuất gia, mình sống đời
sống phạm hạnh và ở với Chúng cùng tu với mình. Nếu người
mình thương biết vậy thì người đó sẽ không khổ mà mình
cũng sẽ không khổ, bởi vì tình thương chân thật rộng lớn
và thâm sâu hơn là việc quan hệ giới tính. Bởi vì trong
một tình thương lớn mình có thể hy sinh khía cạnh đó của
tình yêu, và tình thương của mình trở nên cao cả hơn, thâm
sâu hơn. Tình thương đó nuôi dưỡng mình, nuôi dưỡng người
kia, nuôi dưỡng mọi người chung quanh và cuối cùng tình thương
đó không còn biên giới nữa. Đó là tình thương của Bụt.
Người
gửi: Pháp Hiền (Văn Hoá Phật Giáo Số 16 15-5-2006)
