THƯ VIỆN HOA SEN
[Search][English][Mirrorsite]
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn  Index Tác-Giả

 
CHƯƠNG I- THIỀN LÀ TRÍ HUỆ CỦA SINH HOẠT
CHƯƠNG II - HƯỚNG CAO TĂNG HỌC TẬP THIỀN TÂM
CHƯƠNG III - LÀM SAO THỂ NGỘ ĐẠO LÝ “ĐƯƠNG HẠ TỨC THỊ” (ĐANG KHI ĐÓ CHÍNH LÀ)
.
BƯỚC VÀO THIỀN CẢNH
Tác Giả-HIROSACHIYA - Dịch Giả-Thích Viên Lý
Viện Triết Lý Việt Nam & Triết Học Thế Giới Xuất bản 1998
 

CHƯƠNG II
HƯỚNG CAO TĂNG HỌC TẬP THIỀN TÂM

DIỆU PHÁP THOÁT LY TAI NẠN
     ĐẠI NGU LƯƠNG KHOAN 

     
Lương Khoan thiền Sư, khi đề cập đến danh tánh ngài đã khiến cho người cảm thấy có gì hết sức thân mật. Trong truyền thuyết, vì thích hồn nhiên và tâm thơ trẻ vẫn còn, nên ngài thường hay đùa giỡn với những trẻ nít, có một lần cũng vì chơi trò cút bắt mà bị ngủ lùm cả đêm. Tóm lại, ngài là con người vui tính và rất hòa hài. 
     
Nhưng, thân thế của Lương Khoan thiền sư lại tương đối hiển hách, ngài là trưởng nam của quốc quân Sơn Bổn Gia Việt hậu quốc thời kỳ Giang Hộ. Khi 18 tuổi (có sách nói 22 tuổi) xuất gia làm tăng, chuyên tu theo Thiền Tào Động, có thể bảo ngài là vị thiền tăng xuất gia chánh thống. Đồng thời ngài cũng là một thi nhân kiêm thư pháp gia, viết chữ đẹp nổi tiếng. Thơ của ngài đơn giản dễ hiểu nhưng giàu tính triết lý, đặc biệt là có một thi pháp cao nhã không vẽ vời. Ở đây xin giới thiệu cùng quý vị mấy bài thi Hán của Lương Khoan thiền sư: 

          Hoa vô tâm chiêu Diệp 
          Diệp vô tâm tầm hoa 
          Hoa khai thời Diệp lai 
          Diệp lai thời hoa khai 
          Ngô diệc bất tri nhân 
          Nhân diệc bất tri ngô 
          Bất tri tùng đế tắc 
 
          Dư Hương hữu nhất nữ 
          Sĩ niên mỹ dung tư 
          Đông lý nhân triều ước 
          Tây lâm khách tịch kỳ 
          Hữu thời truyền dĩ ngôn 
          Hữu thời di dĩ tư 
          Như thị kinh tuế sương 
          Chí tế bất dữ di 
          Tùng bỉ thử hựu phi 
          Hứa thử bỉ bất khả 
          Quyết ý phó thâm uyên 
          Ai tai đồ nhữ vi 
     
Đọc xong bài Hán thi nầy, Khiến người ta liên tưởng đến hai mỹ nữ Chân Gian Thủ Nhi Nại và Thố Nguyên Xứ Nữ trong thi tập cổ điển “Vạn Diệp tập” của Nhật Bản. chân Gian chính là thị xã Thi Xuyên, huyện Thiên Diệp ở Nhật Bản hiện nay. Mỹ nữ Thủ Nhi Nại vì sợ làm phương hại đến lòng cầu ái của quá nhiều thanh niên nên nàng đã nhảy xuống sông tự tử. Còn Thố Nguyên Xứ Nữ thì theo truyền thuyết là mỹ nữ ở ngoại ô thị xã Lô Ốc, huyện Binh Khố hiện nay. Vây quanh bên người đẹp có hai chàng trai tên là Huyết Chiêu tráng sĩ và Thố Nguyên tráng sĩ, hai người nầy vì ghen tương nhau nên đã dùng kiếm để hướng vào nhau. Thố Nguyên Xứ Nữ vì do cảm thấy xuất thân từ một giai cấp thấp hèn, không bằng lòng việc hai người đàn ông chỉ vì mình mà làm thương tổn đối phươong, thế nên nàng đã quyết định dùng phương thức tự vận để giải quyết vấn đề ba góc, luyến ái tay ba. 
     
Câu chuyện đến đây vẫn chưa chấm dứt Vào đem nàng tự tử, Huyết Chiêu tráng sĩ nằm mộng thấy nàng tự vận nên tự kết thúc tánh mạng để được đi theo kề cận mỹ nhân. Thố Nguyên tráng sĩ hay tin cũng không chịu thua ông, đã sử dụng đoản kiếm thường mang bên mình để kết liễu mạng sống của mình. 
     
Bài Thu Lục trong “Vạn Diệp Tập” là bài truy điệu hai mỹ nữ. Có thể Lương Khoa hòa thượng đã lấy tài liệu từ hai truyền kỳ nầy mà viết thành bài Hán thi trên 
    
“Ái” xuất phát từ tâm. Nhân loại thường vì “Ái” mà lmà tổn hại đối phương. Ái thường khi không thể làm cho đối tượng mình “Ái” được bảo hộ, thăng hoa, trái lại còn làm cho người mình thương bị tổn hại, ràng buộc. Vì thế khi một người nói rằng: “Anh thương em”, kỳ thực lời nói đó ít nhiều có tương thông với ý “Em phải thành nô lệ của ta” 
     
Người Cơ Đốc giáo bảo phải thương thế nhân, nhưng Phật giáo lại bảo rằng “Ái” là không tốt. 
     
Kỳ thực Cơ Đốc giáo và Phật giáo đối với định nghĩa của ái đã chẳng giống nhau. Chữ “Ái” Phật giáo đề cập đó là sự thương yêu được xuất phát từ trong bản vị của tự ngã. Ái này chẳng phải cho và vì đối phương, mà ái chính là cho và vì dục vọng của bản thân mình. Vì có ái, mới có chấp trước và nảy sinh vọng niệm muốn người mình ái hoặc sự vật mình ái vĩnh viễn thuộc về sở hữu của mình, có thể nói ái kỳ thực là một loại dục vọng ích kỷ. 
     
Ở trong Phật giáo, thay thế ái là “Từ Bi” 
     
Tương đối với “Ái” xuất phát nơi bản vị tự ngã là tâm “từ bi” lấy đối tượng làm bnả vị. Từ Bi có ý nghĩa: “Bạt khổ dữ lạc”, nghĩa là “cứu người khổ từ trong bể khổ, và ban phát hạnh phúc an lạc đích thực cho mọi chúng sanh”, đó là Từ Bi. 
     
Vì thế, Phật giáo là tôn giáo phủ định “Ái” nhưng khẳng định “Từ Bi” 
     
Trong Hán thi của Lương Khoan thiền sư, chúng ta có thể thấy được sự khẳng định tư tưởng nầy của ngài. Đương nhiên ngài đã không vì muốn biểu đạt tư tưởng của Phật giáo mà cố ý làm bài thi nầy, mà có thể nói bài thi này đã bộc lộ một cách tự nhiên tâm lượng từ bi của ngài. Dẫu sao, mong độc giả đừng quên định nghĩa về “chân ái: của Phật giáo. Chân ái cũng có thể là một loại “Bi Tâm” và chính qua bài thi nầy mà ta có thể cảm và thấy được “Bi tâm” đó. 

     
Tiếp theo chúng tôi xin giới thiệu thêm bài Hán thi khác: 

          Gia hữu miêu dữ thử 
          Tổng thị nhứt mông bì 
          Miêu bảo bạch trú miên 
          Thử cơ huyền dạ chi 
          Miêu nhi hữu hà năng 
          Thứ sanh lữ trung cơ 
          Thử tử hữu hà nhất 
          Xuyên khí dã thái phi 
          Khí xuyên nhi khả bổ 
          Thệ giả bất phục quy 
          Nhược vấn tội khinh trọng 
          Xưng khả khuynh Miêu nhi 
     
Vào ngày 12 tháng 11, 1828, lúc Lương Khoan thiền sư vừa đúng 71 tuổi, tại xứ Tam Điền, kiến phó của Việt Hậu quốc đã xảy ra một trận động đất lớn, kết quả 9,800 nhà cửa bị sụp đổ, thiêu huỷ 1,200 nóc gia và con số tử thương hơn 1,440 người. Căn cứ theo sách “Lý Khoa niên biểu” thì trận địa chấn lúc ấy ở cấp 6.9. Sau cơn động đất, Lương Khoan thiền sư gởi thư cho bạn là Sơn Điền Đỗ để thông báo là ngài vẫn bình an: 
     
“Động đất thật đáng sợ, may là thảo am của bần tăng vô sự, người nhà cũng an nhiên vô sự, may thật! may thật! 
     
Nhưng, khi tai nạn đến tuỳ theo cảnh ngộ mà an lạc, và lúc đối đầu với tử vong thì vui vẻ thản nhiên mà chấp nhận, đây là diệu pháp thoát ly tai nạn, Viết vào ngày 8-8. 

     Cẩn chí, 
     Sơn Điền Đỗ Cao Lão 
     Lương Khoan.” 
     
Phàm con người khi gặp tai nạn, chẳng khác nào những con trùng nhỏ đang rơi vào lưới nhện, rất đau khổ sợ sệt nhưng không biết phải làm sao. Tuy biết rõ dù sợ sệt nhưng không biết phải làm sao. Tuy biết rõ dù sợ sệt cũng chẳng ích lợi gì, nhưng không thể tự chủ được. Đây là điểm ngu muội của phàm nhân. Bởi vì càng cảm thấy sợ hãi thì càng quýnh quáng, kết quả càng bị cái lưới tơ đau khổ ràng chặt không thoát nổi... 
     
Nhưng Lương Khoan thiền sư đã nói “Khi tai nạn đến tuỳ theo cảnh ngộ mà an lạc, chết chóc xảy ra thì vui vẻ thản nhiên mà chấp nhận, đó là diệu pháp thoát ly tại nạn”. Khi tai nạn đến tuyệt đối không nên để tư tưởng bi rối loạn, chỉ cần nội tâm không tương ứng với tai nạn thì tự nhiên sẽ không khổ vì nó, đó tức là thiền. Lời nói này của thiền tăng Lương Khoan quả xứng đáng là một thiền sư đích thật... 
     
Theo truyền thuyết thì vào ngày 06 tháng 01 năm 1831 Đại Ngu Lương Khoan thiền sư đã an nhiên thị tịch trước sự chứng kiến của rất nhiều người, ngài hưởng thọ 74 tuổi. Trước giờ lâm chung ngài còn làm một bài kệ từ giã trần thế, ngài đã thực thi câu nió của chính ngài đó là “Khi sự chết đến thì chấp nhận một cách vui vẻ tự nhiên”. 

          Đổng triệt lý biên 
          Dã chiếu kiến ngoại biên 
          Hồng Diệp phiêu lạc mãn thiên 
          Tạm Dịch 
          Thấu suốt tận nguồn tâm 
          Nhận chân muôn hiện tượng 
          Lá vàng rơi rụng khắp muôn phương 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap
Xx
Xx