Ba
mươi chín thiên uy nghi
Uy
nghi là vẻ đẹp biểu hiện ra trong những tư thế, động
tác, ngôn từ và cách tiếp xử của hành giả trong đời sống
hàng ngày. Sống trong chánh niệm, từ từ ta có thêm chất
liệu của sự vững chãi, thảnh thơi và an lạc. Uy nghi là
dấu hiệu của sự có mặt của những chất liệu ấy. Có
những chất liệu này, uy nghi mới thực sự là uy nghi, nếu
không thì đó chỉ là những ngụy trang mà ta gọi là giả
trang thiền tướng. Có ba mươi chín chương uy nghi mà ta cần
học hỏi và rèn luyện. Để thực tập các uy nghi này, ta
cũng cần học thuộc lòng những bài thi kệ trong phần I (Thi
Kệ Thực Tập Chánh Niệm) của sách.
Chương
I - Tôn kính Thầy và các bậc Thầy lớn.
không
nên gọi thẳng tên của Thầy. Nếu cần nói đến tên Thầy
thì nói: pháp hiệu của Thầy chữ trước là –– và chữ
sau là ––. Không được nghe lén những buổi thuyết giới
của các vị khất sĩ. Không nên nói và kể về những khuyết
điểm của các Thầy. Đang khi ngồi mà Thầy đến thì đứng
dậy, trừ những lúc đang tụng kinh, cạo tóc, thọ trai, chấp
tác hay bệnh. Địa vị của những người thọ giới lớn
sau năm năm là địa vị của giáo thọ (A xà lê), sau mười
năm là địa vị của thân giáo sư (hòa thượng), vị sa di
nên biết điều đó để tự lộ sự tôn kính, tôn kính như
tôn kính thầy của mình. Đối với người có hạ lạp cao,
nên xưng hô thầy con thật lễ phép, dù đó là người đồng
sư với mình.
Không
được cố ý lén nghe những gì các thầy lớn nói trong những
buổi họp của các vị. Không được nhái giọng nói và điệu
bộ của các vị. Thấy các vị đi ngang, nên đứng sang một
bên chắp tay để nhường bước. Đi ngang qua các vị, nên
cúi đầu và chắp tay. Không nói những khuyết điểm của
Thầy với bất cứ ai. Có ai chê bai Thầy thì tìm cách giải
tựa những hiểu lầm của họ về thầy. Nếu không đủ sức
thì nên nói: Người mà quý vị đang nói xấu là thầy tôi
(hoặc ngang hàng thầy tôi). Tôi không muốn nghe nói xấu thầy
tôi. Rồi tìm cách xin lỗi và bỏ đi nơi khác.
Lỡ
có khi đang ở một nơi mà có các thầy lớn tiếng với nhau
thì tìm cách im lặng rút lui khỏi nơi ấy. Khi các vị lớn
hạ lạp hơn mình bị thầy quở trách thì cũng tìm cách im
lặng rút lui.
Nếu
bắt buộc phải sống xa thầy, hoặc thầy sắp tịch, thì
phải lập tức thỉnh ý thầy là nên nương tựa vào thầy
nào và cư trú ở đâu.
Chương
II - Hầu thầy.
Làm
thị giả cho thầy là một cơ hội quý báu để được gần
gũi và học hỏi trực tiếp với thầy. Trong thời gian làm
thị giả, thầy trò có cơ hội để hiểu nhau hơn và do đó
thầy có thể ban cho ta những giáo huấn thích hợp với căn
cơ ta. Học với thầy không phải chỉ là học những điều
thầy giảng dạy và căn dặn; học với thầy còn là học
cách thầy đi, đứng, nằm, ngồi, nói năng, tiếp xử và động.
Vì vậy phải biết đem hết tâm ý mà học hỏi trong thời
gian được làm thị giả.
Nếu
thầy có răn dạy điều gì phải chắp tay lắng nghe cung kính
và tạ ơn thầy, đừng nên tìm cách nói lời minh oan và chống
trả. Trước khi vào phòng thầy, phải thở và gõ cửa ba tiếng
khoan thai. Đem đổ ống nhổ và chậu nước tiểu, nên giữ
nụ cười tươi, đừng tự vẻ khó chịu. Lễ lạy thầy,
phải xin phép trước; không nên lễ lạy khi thầy đang ngồi
thiền, đi kinh hành, thọ trai, nói pháp thoại, chải răng,
tắm rửa, nghỉ ngơi... Dâng thực phẩm lên thầy, phải nâng
bằng hai tay. Thầy thọ trai xong, nên thu dọn từ tốn. Hầu
thầy không nên đứng đối diện, ngồi chỗ cao hay đứng
quá xa. Đứng hay ngồi nơi nào mà dù thầy nói nhỏ mình cũng
vẫn nghe được, để thầy khỏi phí sức. Khi thầy bệnh,
nên hết lòng chăm sóc, chuẩn bị thuốc men, túi nước nóng,
bình nước nóng, lò sưởi và chỗ nằm của thầy cho chu đáo.
Làm thế nào để khi thầy cần đến mình là mình có thể
có mặt. Dù không phải là thị giả mà nếu thấy thầy cần
gì mình cũng nên tìm cách giúp thầy. Nếu thị giả đang bận
lo việc khác cho thầy thì mình nên thay thế thị giả làm
việc ấy. Nếu không có thì giờ thì phải đi tìm một vị
khác.
Đừng
để khách khứa đi vào khi thầy cần nghỉ ngơi. Nếu nhận
thấy thầy mệt và cần nghỉ ngơi thì tìm cách khéo léo để
những người khách ấy chấm dứt cuộc hội kiến sớm.
Được
thầy cho ăn cơm chung với thầy thì đợi thầy cầm đũa ăn
rồi mình mới cầm đũa. Ăn cơm như thế nào để khi thầy
ăn xong thì mình cũng ăn xong, như thế để có thể dọn dẹp
và đem trà cho thầy. Dừng nhai để lắng nghe mỗi khi thầy
có dạy bảo điều gì.
Thầy
lớn tuổi, nên học cách bấm huyệt và xoa bóp cho thầy.
Thầy
mặc áo, hay đắp y, nên giúp sửa y áo thầy cho thẳng thắn.
Làm
bất cứ điều gì mình có thể làm mà đừng đợi thầy sai
bảo.
Mỗi
ngày, đổ thùng rác trong phòng thầy và trong buồng tắm thầy
dù là thùng không đầy.
Mỗi
khi đi ngang nơi thầy ngồi, dù nơi ấy không có mặt thầy,
đều nên cúi đầu. Trước khi vào phòng thầy, dù thầy vắng
mặt, cũng nên gõ cửa và xá. Vào xong, đóng cửa rồi cũng
nên chắp tay xá chỗ thầy ngồi.
Khi
thưa hỏi, phải chắp tay lại một cách cung kính. Không hiểu
điều gì thì sau đó chắp tay để xin thầy lặp lại. Thầy
bảo lui thì lui, không nên nấn ná. Thầy nói chưa hết câu
không nên mở lời. Không nên ngồi vào chỗ thầy ngồi, nằm
vào chỗ thầy nằm hoặc sử dụng áo nón của thầy. Thư
từ của thầy gửi đi hay nhận tới không nên xem lén, cũng
không đưa người khác xem. Đi công việc cho thầy, không nên
ghé đâu cả, việc xong thì trở về ngay, đừng để thầy
trông. Nếu có việc bất thường xẩy ra, phải nhắn hoặc
gọi điện thoại về. Thầy tiếp khách, nên để ý xem thầy
có cần gì không. Khi thầy khai thị cho khách về đạo pháp,
nên lắng nghe để được học hỏi. Thầy có hỏi thăm về
tăng thân, phải thực lòng thưa cho thầy biết về những gì
mình đã trực tiếp thấy và nghe. Đừng sợ mang tiếng nói
xấu ai, nếu mình thực sự vì cung kính và vì tình thương
mà nói. Thầy hỏi về tình trạng học hỏi và tu tập của
mình, đừng cố ý che dấu. Phải nói hết những khó khăn
và những thành công của mình cho thầy nghe và cầu thầy soi
sáng. Những thư từ có liên hệ tới đời sống lý tưởng
và tình cảm của mình thì nên trình lên và chia xẻ với thầy
trước khi gửi đi hoặc sau khi nhận. Nếu thấy mình đã vì
thất niệm hoặc dại dột mà phạm vào những lỗi lầm thì
phải đến phát lộ với thầy, cầu xin sám hối và hứa với
thầy sẽ không lặp lại những lỗi lầm ấy trong tương lai.
Chương
III - Đi theo thầy.
Trước
khi đi phải chuẩn bị tất cả những gì thầy có thể cần
đến trong chuyến đi, như y, áo, thuốc men, túi nước nóng,
tọa cụ, tài liệu, kinh sách, pháp khí ... Đừng để thầy
khiêng nặng. Nếu thầy muốn tự xá chuyển hóa một cái túi
thì phải vâng lời thầy. Nên đi phía sau thầy một chút,
bước rất thảnh thơi, có chánh niệm, không nhìn ngang ngửa.
Đi theo sau thầy, không dụng lại và không nói chuyện với
người khác. Lái xe cho thầy phải để ý xem thầy có bị
nắng chiếu vào mặt hay bị gió thổi vào người không. Đến
nơi, trong khi thầy ngồi, nên đứng hầu sau lưng thầy, thầy
bảo ngồi xuống mới ngồi. Đến tự viện khác, khi thầy
lạy Bụt và lạy tổ, hoặc khi mình lạy, đừng tự ý sử
dụng chuông khánh. Khi vượt suối khe, phải cầm gđay dò thử
chiều sâu. Phải đi sát thầy để giúp thầy vượt qua những
nơi khó bước. Nếu có hẹn với thầy ở một nơi nào thì
phải cố gắng có mặt ở nơi ấy trước khi thầy đến.
Nếu cùng với các vị sa di khác đi theo thầy, thì anh em phải
điều hợp với nhau để tạo thành một tăng thân có hòa
hợp, có thương yêu và hạnh phúc, làm đối tượng tin cậy
cho những ai được tiếp xúc với thầy và với mình.
Chương
IV - Tiếp nhận lời dạy của thầy.
Khi
thầy dạy nên lắng lòng nghe mà đừng vội đem tâm phê phán
và kết luận đúng sai, dù có những điều thầy nói không
phù hợp với nhận thÌức mình. Nếu nghe với thái độ phê
phán và phản ứng ngay trong giờ phút nghe thì có thể ta không
hiểu và không tiếp nhận được ý thầy. Phải học nghe với
tâm không thành kiến. Sau vài ba hôm chiêm nghiệm, có thể
ta sẽ hiểu được ý thầy và thấy được những điều thầy
nói là quan trọng và đã phát xuất từ kinh nghiệm và tuệ
giác của thầy. Nếu có những điều gì thưa trình lại để
giúp cho thầy có đủ dữ kiện phán xét thì hãy đợi vài
ba hôm sau và tìm cách xin gặp mặt thầy. Trong khi thưa trình,
phải giữ thái độ khiêm cung, tĩnh lặng và sử dụng ngôn
ngữ hòa kính. Nếu đang có cảm xúc thì không nên mở lời.
Phải đợi cho cảm xúc lắng xuống mới nên nói. Đối với
các vị có giới phẩm và hạ lạp cao hơn, nên tiếp xử như
thế đã đành, mà đối với các vị tuổi tu và kinh nghiệm
ít ỏi hơn mình, cũng nên học xử sự như thế để hai bên
đều có lợi lạc. Bình tĩnh lắng nghe không thành kiến là
một phép thực tập rất quan trọng. Thầy và các bậc trưởng
thượng khác không đòi hỏi mình vâng lời không điều kiện,
vì vậy mình vẫn có cơ hội để thưa trình, tham vấn và
đóng góp ý kiến. Những gì thầy dạy mà mình chưa hiểu
rõ thì phải hỏi lại cho đến khi biết chắc rằng mình đã
hiểu rõ, mới chắp tay bái lĩnh và lui ra.
Chương
V - Ngồi uống trà với thầy.
Ngồi
uống trà với thầy có thể là một trong những giây phút
hạnh phúc nhất của người xuất gia. Nên trân quý những
giờ phút này. Có dịp nên tìm cách trình lên thầy những
tiến bộ và những hạnh phúc của mình trong quá trình tu học.
Nên trình lên thầy những thành quả tu học của các anh em
đồng tu, điều này sẽ làm cho thầy vui và có tác dụng nuựôi
dưỡng thầy. Nếu hoàn cảnh cho phép, nên xin thầy cho các
anh em đồng tu khác cùng được ngồi tham dự. Tránh nói về
những khó khăn trong chúng, hãy đợi những dịp khác để
thưa trình và để thỉnh ý thầy. Nên chắp tay lại mỗi khi
có điều gì muốn thưa trình, và trước khi nhận chén trà
hoặc cái bánh.
Chương
VI- Sinh hoạt với chúng.
Nghe
chuông tập chúng, nên khởi sự đến nơi hẹn ngay, không được
chần chừ. Sử dụng phép thiền hành trong khi đi. Không nên
dành chỗ ngồi. Ngồi xuống rồi, nên nhiếp tâm theo dõi hơi
thở, giữ thân cho ngay thẳng. Không được nói cười lớn
tiếng. Nên thường nói ra những điểm tốt đẹp mà đừng
nói đến những điểm tiêu cực của cá nhân. Phải tôn trọng
thời khóa. Phải tham dự vào tất cả những sinh hoạt của
tăng thân (đại chúng) trừ những lúc có bệnh hoặc được
giao phó một công tác đặc biệt phải làm cho xong trước
thời hạn. Không nên khạc nhổ, hỉ mũi và nôn oòe lớn tiếng,
bất cứ nơi nào. Phải sử dụng khăn túi và phải hướng
vào góc tường nếu cần làm những việc ấy. Khi đánh răng,
không nên đi qua đi lại và nói chuyện. Đứng yên một chỗ,
thực tập chánh niệm theo bài kệ đánh răng và an trú thảnh
thơi trong việc đánh răng. Làm việc gì cũng làm theo tinh thần
ấy. Uống nước nên nâng bằng cả hai tay, không nên vừa
uống vừa xá chào người. Được mời nước bánh hay trao
cho vật gì, trước phải chắp tay xá rồi mới nhận.
không
nên cười to làm động chúng. Muốn ngáp phải đưa tay che
miệng. Không nên chạy hay đi gấp gáp. Luôn luôn đi theo lối
thiền hành, tự lộ sự vững chãi và thảnh thơi, dù khoảng
cách chỉ là vài ba thước. Nếu làm trách vụ hương đăng,
dâng hoa cúng Bụt chỉ nên dâng hoa thật tươi đã nở tròn
hoặc còn hàm tiếu. Đừng cắt bông búp. Hoa héo thay ra phải
để vào nơi đã được quy định, không nên vứt bỏ bđay
bạ. Chân nhang cũng thÓế. Chỉ để lại một cây chân nhang
ngay giữa bát nhang. Cắm nhang nên cầm cây nhang bằng hai tay,
hoặc nếu cầm một tay thì bàn tay kia phải đặt trên cánh
tay của bàn tay này. ẴY nghĩa là đặt hết toàn diện thân,
khẩu và ý vào động tác cắm nhang. Mở cửa thiền đường
và chánh điện cũng phải như thế. Cầm chổi quét thiền
đường hay Phật đường không nên hất chổi để bụi bay
lên. Cuối mỗi lát chổi, giữ chổi cao hơn mặt đất một
chút và rảy nhẹ cho bụi rơi xuống. Nghe gọi tên mình, phải
niệm Bụt đáp lại, hoặc nói: có tôi đây. Thay tiếng tôi
bằng pháp danh mình. Nhặt được của rơi, nên đem đến cho
vị tri sự.
Dùng
điện nước phải hết sức tiết kiđem. Đừng bao giờ rời
phòng xá trước khi tắt đèn và lò sưởi. Không nên lấy
vật thưỲờng trú làm của riêng. Không nên ngồi không trong
khi đại chúng làm việc. Hãy nhận lãnh công việc tùy theo
sức lực và tài năng mình. Nhận một trách nhiệm đại chúng
giao phó, như tri xa, tri viên, tri khố ... đừng cho đó là một
quyền hành mà chỉ là một cơ hội để phụng sự tăng thân.
Trong
các buổi họp chúng, luôn luôn giữ thái độ khiêm cung, phát
biểu ý kiến một cách từ hòa, nhã nhặn. Tránh tạo ra thế
tam giác, nghĩa là đừng theo phe một người để chống lại
một người khác. Phải tìm mọi cách để đưa hai người
lại với nhau. Không nên tụ năm họp ba nói những chuyện
không có ích lợi hoặc nhắc tới những chuyện thị phi của
người cư sĩ. Tránh dùng chữ tôi, nên tự xưng bằng pháp
danh mình. Phải giữ bình tĩnh khi gặp chuyện không vừa ý.
Phải
học nhìn những người xuất gia đệ tử của thầy mình là
sư anh, sư chị và sư em của mình, và phải thiết lập liên
hệ anh em một cách chân thành với những vị ấy. Dù người
sư anh hay sư chị của mình có thể còn có những yếu kém,
người ấy vẫn đích thực là sư anh hay sư chị của mình.
Không được tự bảo: người ấy có hơn gì tôi đâu mà làm
sư anh hay sư chị của tôi. Nếu mình có may mắn thành công
hơn các vị ấy trên đường tu học thì phải tìm cách giúp
đỡ các vị ấy một cách khiêm cung và khéo léo. Mình có
quyền chơi thân với một người bạn tu, nhưng phải biết
căn cứ trên liên hệ ấy để phát triển sự thân tình rộng
ra với các vị khác, bắt đầu từ các vị dễ dãi rồi tiến
dần đến các vị khó tính hơn, cho đến khi mình có thể
sống hài hòa với tất cả mọi người trong đại chúng. Đây
là công trình xây dựng tăng thân rất cần thiết cho hạnh
phúc và sự thành đạt của một đời tu. Chơi thân với một
người bạn đồng tu không có nghĩa là vướng mắc vào nhau
và đi tới luyến ái không lành mạnh, dù đó là trường hợp
nam với nam, nữ với nỡữ. Tình thương đÌí chuyển hóa
thực trong đạo Bụt được làm bằng chất liệu Từ, Bi,
Hỷ và XỸả. Xả có nghĩa là bình đẳng và không vướng
mắc, không kỳ thị.
Chương
VII - Ăn cơm.
Nghe
chuông báo giờ thọ thực, hãy buông bỏ mọi việc để mang
bát đến thực đường, sắp hàng lấy thức ăn. Đừng lấy
cớ là hàng sắp còn dài, mình có thể đến sau. Sự có mặt
của mình ngay từ đầu trong đại chúng sẽ mang lại năng
lượng cần thiết cho mỗi người trong đại chúng. Theo dõi
hơi thở, mỉm cười và tiếp xúc với tăng thân bằng chánh
niệm, không nên nói chuyện, dù là thì thầm. Thực tập chánh
niệm khi để thức ăn vào bát, cũng không khác gì khi khất
thực. Chỉ nên lấy thức ăn vừa đủ, hoặc ít hơn một
chút. Từ nơi lấy thức ăn, ôm bát đi đến chỗ ngồi của
mình, thực tập đi thiền hành cho vững chãi và thảnh thơi.
Ngồi xuống trên chỗ ngồi của mình, đặt bát ngay ngắn
phÌía trước mặt, ngồi giữ lưng thẳng và lập tức thực
tập phép quán niệm hơi thở, đừng để mất thì giờ tu
tập trong khi chờ đợi những người khác. Trước khi ăn nên
thực tập năm quán tưởng. Trong khi ăn không nói chuyện, không
suy nghĩ việc quá khứ, tương lai, chỉ nhiếp tâm tiếp xúc
sâu sắc với thức ăn và với tăng thân quanh mình. Ngồi ăn
như thế nào để có thể nuôi dưỡng sự hân hoan và hạnh
phúc trong suốt bữa ăn, như đang được với Bụt và tăng
đoàn nguyên thỉ ngồi ở tịnh xá Kỳ Hoàn cùng thọ trai.
Trân quÌý mỗi hạt cơm, mỗi lát thức ăn, không để động
tâm về chuyện ngon dở. Nhai thật kỹ thức ăn, từ ba mươi
tới năm mươi lần. Không nên chép miệng và nhai nhóp nhép
thành tiếng. Ngđam miệng lại mà nhai. Đừng ăn miếng quá
lớn. Tránh khua bát đũa. Không được đứng dậy giữa bữa
ăn. ắn xong chưa nên đặt bát xuống nếu những người lớn
tuổi tu hơn mình chưa ăn xong. Không nên ăn xong đứng dậy
trước. Không được ngồi ăn riêng một mình xa tăng thân,
và ngoài những bữa ăn của đại chúng, trừ trường hợp
ốm đau. Buổi chiều nên ăn thức ăn nhẹ và ăn ít.
Chương
VIII - Lễ lạy.
không
nên đÌứng ở khoảng giữa trước bàn thờ mà lễ lạy,
vì đó là chỗ của vị thủ tọa. Khi có người đang lạy,
không nên đi ngang qua trước mặt người ấy. Chắp tay phải
ngay ngắn, các ngón tay không so le. Nếu quán tưởng hai bàn
tay là búp sen, thì có thể có chỗ trống giữa lòng hai bàn
tay. Không nên đụng các ngón tay vào cằm hoặc vào lỗ mũi.
Thở nhẹ và sâu ba hơi rồi quán tưởng trước khi lạy. Khi
lạy, đưa búp sen hai tay lên ngang trán, rồi hạ xuống ngang
ngực trước khi xòe hai tay sang hai bên để lạy xuống. Đưa
tay lên ngang trán và đi ngang qua bình diện trái tim ngụ ý
đem cả tim và óc mình mà lễ lạy. Khi lạy xuống, năm vóc
phải thực sự sát đất. Trong tư thế năm vóc sát đất,
ngửa hai bàn tay ra hai bên đầu, tự ý trình bày hết con người
thật của mình lên Bụt, không dám dấu diếm một điều gì.
Lạy xuống, phải buông bỏ hoàn toàn cái ý niệm về ngã
của mình. Mình không là gì cả, mình không có gì cả, tất
cả cơ thể, sức khỏe, tài năng, thông minh, kiến thức của
mình đều là những gì của tổ tiên tâm linh và huyết thống
trao truyền lại. Lạy như thế nào mà hòa nhập được vào
dòng sống của tổ tiên và các thế hệ hậu lai, để không
thấy mình còn một cái ta riêng rẻ và khổ đau. Trong tư thế
năm vóc sát đất, nên thở thật thoải mái ba lần, để cảm
thấy thảnh thơi, nhẹ nhàng và không lo lắng gì trong giờ
phút ấy. Đây là một hình thức thực tập quay về nương
tựa nơi dòng sống bất diệt của tổ tiên.
Nếu
Phật đường đông người quá thì có thể chọn những lúc
vắng người để lễ lạy. Nên thực tập năm cái lạy hoặc
ba cái lạy mỗi ngày, vì lạy như thế giúp ta chuyển hóa
khổ đau và trị liệu tâm lý cô đơn và mặc cảm.
Chương
IX - Nghe pháp thoại.
Nghe
pháp thoại là một phép thực tập quan trọng. Nghe chuông báo
giờ pháp thoại phải đến pháp đường ngay, đừng bao giờ
vào pháp đường sau vị pháp sư. Ngồi thẳng và thoải mái
cũng như trong giờ thiền tọa. Đừng viết giấy chuyền tay
cho người khác, trừ khi đó là việc cấp tốc có liên hệ
tới sự an vui của đại chúng. Tránh việc nửa chừng pháp
thoại bỏ ra ngoài để đi tiểu; nên đi nhà vệ sinh trước
khi vào pháp đường. Không được nói chuyện với người
ngồi bên cạnh. Nghe pháp thoại không nên chỉ nghe với trí
năng mà phải biết sử dụng tâm không so sánh để nghe. Nghe
pháp thoại không phải là để chứa chất thêm kiến thÌức
về phđat pháp mà là để có cơ hội cho những lời thầy
nói đi thẳng vào chiều sâu của tâm thức, đánh động được
những hạt giống trí tuệ và từ bi chôn vùi trong chiều sâu
ấy; cũng như mưa xuân thấm được vào lòng đất và làm
cho các hạt giống có dịp nẩy mầm. Nếu nghe pháp thoại
mà chỉ dùng trí năng so sánh những điều đang nghe với những
điều đã học thì mưa pháp không thấm sâu được vào đất
tâm. Nên học nghe với tâm không so sánh và với tâm không
thành kiến. Có những người giác ngộ trong khi nghe pháp, đó
là nhờ họ đã nghe với phương pháp ấy. Nếu đã có máy
thu thanh đang ghi mà ta còn cố gắng ghi chép, thì ta có thể
đánh mất ít nhiều định lực của ta và mất cơ hội tiếp
nhận trực tiếp những lời khai thị quan trọng khác của
vị pháp sư. Nếu cần ghi chép thì chỉ nên ghi chép rất ít,
vài từ ngữ và vài ý tứ quan trọng mà thôi.
Chương
X - Học kinh và đọc sách.
Ngoài
những kinh được học chung với chúng, nếu muÓốn học thêm
kinh nào cũng nên hỏi ý kiến của thầy. Vấn đề không phải
là học cho thật nhiều kinh mà là được học những kinh căn
bản có liên hệ trực tiếp đến sự thực tập giới Định
Tuệ trong đời sống hàng ngày. Các kinh căn bản như Kinh Quán
Niđem Hơi Thở, Kinh Niđem Xứ, Kinh Người Bb Sống Một Mình,
Kinh Người Bắt Rắn ... cần được học cho thật thấu đáo
làm căn bản cho sự tu học. Những kinh lớn như Kim Cương,
Bát Nhã, Bảo Tích, Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Duy Ma, Viên Giác ...
đều có liên hệ mật thiết đến các kinh căn bản Óấy.
Khi học kinh nên luôn luôn tự hỏi: những tư tưởng siêu
việt trong các kinh này có liên hệ gì đến sự thực tập
trong đời sống hàng ngày ? làm sao áp dụng được giáo lÌý
các kinh này vào đời sống hàng ngày để chuyển hóa khổ
đau và đạt tới giải thoát? Học kinh không phải chỉ để
thưởng thÌức tư tưởng uyên áo của kinh và để diễn bày
lại những tư tưởng ấy cho kẻ khác nghe mà là để soi sáng
cho sự thực tập của mình.
Về
các bộ luận cũng như về các trước tác hiện đại của
đạo Bụt, nên tham vấn ý kiến của thầy trước khi đọc.
Đừng nên chứa chất quá nhiều sách, đừng làm con mọt sách.
Phải
có thái độ cung kính đối với kinh điển và băng giảng.
Cầm kinh luôn luôn phải cầm hai tay. Chỉ đặt kinh nơi chỗ
sạch sẽ và tôn nghiêm. Nếu có bụi bám trên kinh, không nên
dùng miệng thổi, mà phải dùng khăn sạch để phủi bụi.
Trên bàn kinh không nên để vật tạp. Khi bìa kinh hư hỏng
nên tu bổ liền, đừng để hư hoại thêm. Nghe pháp thoại
tỲừ băng giảng không được nằm hoặc ngồi không chỉnh
đốn. Phải ngồi nghiêm trang trong tư thế nghe pháp với tất
cả sự cung kính. Không được vừa làm việc vừa nghe pháp
thoại từ băng giảng.
Đọc
sách không được đọc tiểu thuyết, truyện kiếm hiđep, truyện
trinh thám, truyện hãi hùng, truyện tình và sách báo khiêu
dâm. Nên tham vấn thầy và các thiện tri thức về những sách
có thể đọc. Nếu có thì giờ ngoài việc học hỏi kinh luận,
chỉ nên đọc những sách về lợi chuyển hóa sử các nền
văn minh trên thế giới, về đại cương lợi chuyển hóa sử
và giáo lý các tôn giáo, về đại cương tâm lý học áp dụng
và về đại cương những khám phá hiện đại nhất trong lơinh
vực khoa học. Những sách này có thể giúp ta so sánh và quán
chiếu về những điều ta học trong kinh điển và giúp ta sau
này trong sự diễn bày giáo lý cho đời một cách khế cơ
hơn.
Chương
XI - Vào chùa, tháp.
Vào
chùa nên đi vào cửa trái hoặc phải, tránh đi vào cửa giữa.
Theo dõi hơi thở, bước đi chánh niệm, không nói chuyện.
Guốc dép cần được xếp thật ngay ngắn trước khi vào chánh
điện. Trong chánh điện hay trong tháp miếu, nên đi vòng từ
trái sang phải. Tránh việc hỉ mũi, ho, ợ và nhổ nước bọt,
dù là trong khăn, trong thời gian ở chánh điện hoặc ở trong
tháp. Chiêm ngưỡng tôn tượng và tham khảo câu đối hoặc
văn bia một cách im lặng. Không nên đối thoại ồn ào hoặc
khoe khoang kiến thức của mình về lợi chuyển hóa sử tự
viện, tôn tượng, tổ sư và pháp khí.
Chương
XII - Vào thiền đường.
Nên
để nón, khăn quàng cổ, áo khoác ngoài và dày giép ở chỗ
đã được quy định. bước vào thiền đường, chắp tay hướng
về bàn thờ Bụt và tổ để xá, rồi mới thong thả bước
từng bước chánh niệm tới chỗ ngồi của mình. Đến chỗ
ngồi, nên đứng ngay thẳng trước tọa cụ, chắp tay xá trước
khi ngồi xuống. Ngồi xuống rồi, lập tức khởi sự điều
chỉnh thế ngồi và hơi thở, đừng đợi người khác, cũng
đừng đợi tiếng chuông. Hết sức tránh sự đến trễ sau
tiếng chuông khởi đầu buổi thiền tọa.
Ngồi
lưng thật thẳng, nhưng buông thư tất cả các bắp thịt,
từ các bắp thịt trên mặt xuống đến các bắp thịt trên
vai, lưng, cánh tay, bụng và chân. Ngồi cho vững trong tư thế
hoa sen hay nửa hoa sen, thật thoải mái, thật buông thư. Mắt
có thể mở hé nhìn xuống chừng một thước phía trước
mặt, đầu và sống lưng làm thành một đường thẳng. Thực
tập những bài có công hiệu nuôi dưỡng an lạc thân tâm
trước khi đi vào những đề tài quán chiựếu đã định
trước. Nếu có đau nhức thì cũng có quyền thay chân, miễn
là động tác được đặt trong chánh niệm và đừng tạo
ra tiếng động có thể làm động tâm người ngồi bên cạnh.
Tuyđet đối tuân theo hiệu lệnh của chuông khánh.
Nếu
đến phiên mình làm duy na, duyệt chúng hay hướng dẫn thiền
tọa, phải tới sớm để chuẩn bợi. Làm thiền hướng dẫn,
phải xướng các công thức thiền tập một cách rõ ràng rành
mạch, và đừng để cho tiếng chuông nhỏ quá hoặc chát quá.
Nên nhớ hạnh phúc và sự thành công của buổi thiền tập
tùy thuộc rất nhiều ở người hướng dẫn thiền tập.
Xả
thiền không nên thô tháo. Trước tiên, diêu động thân hình
về phía trÌái rồi sang phía phải. Từ từ tháo chân ra và
xoa bóp nhẹ nhàng cho máu huyết lưu thông. Đừng bẻ đốt
xương ngón tay kêu răng rắc. Nhòe đưa hai bỲàn tay ấp lên
hai mắt cho có sức ấm. Đừng xát hai tay lại thành tiếng.
Dùng tay này xoa bóp tay kia trước khi dùng cả hai tay xoa bóp
các bắp thịt trên mặt, vai và bắp chân. Luôn luôn thực
tập hơi thở ý thức trong khi làm các việc này. Muốn sửa
bồ đoàn và tọa cụ lại cho ngay ngắn thì cúi xuống dùng
tay, đừng bao giờ dùng chân.
Tụng
kinh, nên để tâm ý vào lời kinh, đừng nên chỉ chú trọng
vào kỹ thuật tán tụng và âm điệu. Niđem Bụt đừng niệm
suông bằng miệng, phải tiếp xúc với nội dung đại từ,
đại bi, đại trí và đại nguyện của Bụt. Nên biết sử
dụng mười danh hiệu Bụt để làm sống dậy trong tâm những
chất liệu ấy của Bụt. Khi thực tập kinh hành, chú tâm
tÌới sự xúc chạm giữa bàn chân và sàn chánh điện, đi
an lạc thảnh thơi như bước trên Tịnh độ không khác. Mỗi
bước chân phải đem lại thêm chất liệu chánh niệm, vững
chãi và thảnh thơi vào cơ thể và vào tâm thức.
Chương
XIII - Làm việc với tăng thân.
Nên
vâng theo ý của vị tri sự. Nhận việc xong phải làm với
tất cả tâm ý và khả năng mình. Phải thực tập chánh niệm
trong khi chấp tác. Làm việc chung với tăng thân cũng là một
cơ hội để hòa mình trong tăng thân, học hỏi với tăng thân
và tạo thêm những mối thiện cảm giữa mình với những
thành phần khác của tăng thân. Nên biết bảo quản dụng
cụ làm việc, dụng cụ từ đâu thì sẽ trả về ở đó,
không nên vứt bỏ ở nơi chấp tác. Nên xem công việc là
một cơ hội để tu tạo phước đức và phụng sự tăng bảo,
nhờ đó mà ta chấp tác với một niềm vui. Nên phối hợp
công tác với những vị khác, đừng lui cui làm việc một
mình trong một xó. Nên duy trì sự thảnh thơi và an lạc trong
khi làm việc, đừng hấp tấp muốn làm cho mau xong. Mỗi người
có kinh nghiệm và cách thức làm việc riêng, đừng ép người
khác phải làm theo giÓựống hệt cách mình làm, tuy nhiên
có thể chia xẻ với nhau cách thức làm việc để cùng được
học hỏi từ kinh nghiệm của nhau. Đừng đánh giá người
khác qua công việc. Phẩm chất tu học của người tu phải
được xem quan trọng hơn là số lượng công tác người ấy
có thể làm. Đóng góp quan trọng nhất cho tăng thân là uy
nghi, đÌức độ, an lạc và sự chuyển hóa của mình. Dù
được thầy hoặc tăng thân giao cho một công tác đặc biệt,
cũng đừng nên cho công việc mình quan trọng hơn công việc
của người khác. Nên biết tất cả các loại công việc được
làm để phục vụ tăng thân đều quan trọng như nhau. Nên
nhớ rằng nhờ những thành phần khác của tăng thân đang
phụ trách những công việc khác cho nên mình mới có thể
làm thành tựu được công tác mình đang làm, và như vậy
công tác đặc biệt của mình cũng đang do tăng thân thành
tựu. Mỗi khi một công tác đặc biệt được giao phó, không
được lấy cớ vì công tác đó mà bỏ những giờ sinh hoạt
với đại chúng. Nếu công tác có tính cách cấp bách, phải
thưa trình với đại chúng để xin một hoặc hai ngày được
vắng mặt trong những sinh hoạt khác để có thể hoàn tất
cho kịp thời. Thời gian này không được kéo dài quá ba hôm.
Nếu công tác không có tính cách cấp bá chuyển hóa thì nên
xin chỉ được làm mỗi ngày một hai giờ để mình còn có
thể tham dự những sinh hoạt khác với tăng thân như thiền
tọa, thiền hành, thọ trai, pháp đàm, pháp thoại ... Nếu
được giao công tác nhiều hơn sức mình có thể cáng đáng
thì phải biết thưa trình lại để công tác ấy cũng được
phân phối cho một người thứ hai, người mà mình đề nghợi.
Nên biết sử dụng việc chấp tác như những phương tiện
tu tập. Đừng say mê công việc đến mức tự đánh mất mình
trong công việc. Đừng tìm sự trú ẩn và quên lãng trong công
việc. Đừng vì công việc mà đánh mất liên lạc tốt giữa
mình và các thành phần khác trong tăng thân.
Chương
XIV - Vào nhà tắm.
Tắm
rửa và giặt giũ nên biết tiết kiệm nước và điện. Nên
duy trì sự nhẹ nhàng và chánh niệm trong khi tắm. Đừng vặn
nước quá mạnh khiến nước gương sen văng ra ngoài phòng
tắm. Không nên nói cười trong khi tắm. Không nên tiểu tiện
trong nhà tắm. Tắm rửa là một cơ hội để quán chiếu hình
hài mình, để tiếp xúc được với tổ tiên và con cháu,
để thấy mình là sự tiếp nối của dòng sinh mạng và để
ý thức được vai trò của mình trong sự nuôi dưỡng thân
tâm của tổ tiên và của con cháu mình nơi mình. Không nên
chiếm phòng tắm quá lâu, sợ người tới sau phải chờ đợi.
Xà phòng tắm và ộgi đầu phải được sử dụng vừa phải,
sử dụng xong phải để vào chỗ được quy định; nếu hết
thì sau khi tắm phải đi lấy sẵn cho người kế tiếp. Các
chậu thau sau khi được sử dụng cũng cần được rửa sạch
và úp lại. Nên có bình hoa nhỏ trong nhà tắm để nhắc nhở
rằng phòng tắm cũng là nơi thực tập chánh niệm và thiền
quán.
Chương
XV - Vào cầu tiêu.
Muốn
đi đại tiện hay tiểu tiện thì nên đi ngay, đừng chần
chờ, đừng đợi đến lúc bị thúc bá chuyển hóa mới đi.
Trước khi vào phải gõ cửa ba lần. Không nên thúc dục người
trong cầu ra nhanh. Trong thời gian ở cầu tiêu cũng phải thực
tập chánh niệm, và giờ phút ở đấy cũng quan trọng không
kém giờ phút ở pháp đường hay thiền đường. Phải có
vững chãi, thảnh thơi và an lạc trong nhà cầu. Không nên
khạc, nhổ. Dùng cầu xong, dội nước cẩn thận và đầy
đủ. Giấy vệ sinh dùng xong bỏ vào thùng cẩn thận, không
được vứt bừa bãi, không được bỏ vào cầu, sợ làm nghẹt
cầu. Không nên nói chuyện và cười giỡn với người ở
cầu bên. Không nên rặn ra tiếng. Đại tiểu tiện xong phải
rửa tay bằng xà phòng cho sạch. Nếu giấy vệ sinh hết thì
đi lấy cuộn mới lắp vào cho người đến sau. Đến phiên
mình lau chùi cầu tiêu, nên hết lòng lau chùi cho cầu tiêu
trở nên thơm tho. Nên cắm một bình hoa nhỏ trong cầu để
nhắc nhở rằng cầu tiêu cũng là nơi thực tập chánh niệm
và thiền quán.
Chương
XVI - Giặt áo, phơi áo.
Giặt
áo nên sử dụng những cái chậu chỉ dùng để giặt áo,
đừng bao giờ dùng những chậu dùng để rửa thức ăn. Đừng
đổ nước xà phòng vào những nơi có thể làm ô nhiễm và
ứ đọng. Dùng máy giặt, nên chọn những thứ bột giặt
không làm ô nhiễm sinh môi. Hãy biết tiết kiđem điện và
nước. Đừng giặt bằng máy nếu số lượng áo quần cần
giặt quá ít. Chọn giờ điện rẻ, và chọn giờ không làm
náo động sự yên tĩnh cần có của đại chúng.
Phơi
áo nhớ dùng kẹp để áo khỏi bay. Phơi cho gọn và khéo.
Không nên phơi áo quần nơi có nhiều người đi ngang. Phơi
quần nên kéo hai ống lại gần nhau. Không nên phơi quần cao
quá đầu người
Chương
XVII - Ngủ nghỉ.
Nằm
nghiêng bên hông phải mà ngủ, đó là thế nằm an lành nhất.
Bụt thường nằm như thế. Không được ngủ cùng giường
với bạn đồng tu. Trong trường hợp đặc biđđet thiếu giường
thì cũng có thể tạm ngủ chung, nhưng không nên cùng đắp
một chăn. Nếu bất đắc dĩ phải đắp chăn chung thì phải
mặc áo đầy đủ. Nên đi ngủ đúng giờ và dậy đúng giờ.
Đừng thức khuya đọc sách hoặc nghe băng. Đừng tìm cách
dỗ giấc ngủ bằng cách đọc sách hoặc nghe băng. Đừng
chong đèn vì như thế làm cho người kia khó ngủ. Mở đèn
hoặc tắt đèn, nên hỏi ý hoặc báo tin cho người cùng phòng
biết. Nằm vào giường, có thể bắt đầu thực tập phép
buông thư toàn thân. Sau đó có thể thực tập các bài thi
kệ như Vào, ra, sâu, chậm hay Quay về nương tựa hải đảo
tự thân. Không nên suy tưởng về những dự tính tương lai.
Đừng cởi trần khi ngủ. Không nên thắp nến trên bàn ngủ,
sợ ngủ quên dễ gây ra hỏa hoạn. Nếu có ác mộng, đừng
ngủ lại ngay. Nên ngồi dậy, xoa bóp cho máu chảy đều hoặc
bước ra ngoài đi thiền hành năm hoặc mười phút trước
khi nằm xuống ngủ lại. Nếu có chất hữu cơ tiết ra trong
giấc ngủ, nên dậy sớm để tắm và thay quần áo để kịp
giờ
đi công phu. Nhớ ăn chiều ít và nhẹ. Khi đã thức giấc,
rủ người bạn tu cùng thức dậy, cùng đi rửa mặt đánh
răng và đi công phu.
Chương
XVIII - Đốt lò sưởi.
Tránh
sử dụng lò điện, trừ khi hết củi hoặc hết khí đốt.
Nên sử dụng nhiên liệu có chừng mực, không nên để phòng
quá nóng, tối đa là hai mươi độ. Đi ra khỏi phòng nên hạ
thấp độ sưởi, nếu cần vắng mặt nửa ngày trở lên thì
nên tắt lò. Chất củi cho gọn gàng sạch sẽ, đốt lò đừng
để khói xông vào phòng. Tránh dùng củi mục vì sẽ tàn hại
nhiều loại côn trùng. Đừng nên phơi bít tất, bao tay, khăn
và áo quần trên lò sưởi.
Chương
XIX - Ở trong phòng .
Nên
ở chung với ít nhất là một bạn đồng tu. Thường hỏi
thăm nhau bằng ngôn ngữ từ ái. Nên cùng nhau chịu trách nhiệm
về sự ngăn nắp và sạch sẽ của căn phòng. Được ở chung
phòng với một vị đã có kinh nghiệm tu học lâu hơn mình
là một sự may mắn lớn, vì mình có thể học hỏi thêm rất
nhiều từ người ấy, nhất là về uy nghi và cách tiếp xử
với các bạn đồng tu. Tuy nhiên trong thời hạn sáu tháng
nên xin ở với một vị khác. Điều này là để tránh sự
thân thiết quá đáng hay là sự vướng mắc với một người
và làm mình xa cách với những người khác trong tăng thân.
Nếu ở với một người mà kinh nghiệm tu học còn ít, nên
làm sao để người ấy có thể học hỏi được từ mình
về chánh niệm, uy nghi và cách tiếp xử. Nếu thấy người
kia thiếu uy nghi thì tìm cách nhắc nhở một cách khéo léo
và đầy khiêm cung. Nếu người ấy có tập khí nặng, chưa
có khả năng tiếp nhận sự soi sáng và nhắc nhở của mình
thì đừng vội thất vọng, phải học kiên nhẫn thêm. Nếu
được ai chỉ bảo cho mình những chỗ sơ sót trong sự hành
trì uy nghi thì nên chắp tay tạ ơn, đừng tìm cách bào chữa
loanh quanh hoặc so sánh phân bì với những người khác.
Có
việc vắng mặt hơi lâu nên báo cho người bạn cùng phòng
biết. Thay áo quần hoặc treo phơi áo quần nên kín đáo và
có ý tứ. Nên đi ngủ đúng vào giờ đã được quy định.
Nếu thật sự cần học hoặc làm việc thêm, nên đi tìm một
nơi khác như thư viện, và thắp đèn riêng.
Chương
XX - Đi đến chùa khác phái.
Sa
di nam đến ni viện hoặc sa di nữ đến tăng viện, ít nhất
là phải hai người cùng đi. Đi bên nhau trong uy nghi, giữ gìn
chánh niệm, không được nói cười tíu tít. tất cả những
trao đổi phải nằm trong phạm vi tu học và lý tưởng xuất
gia. Đừng ở lại lâu quá, xong việc phải trở về. Thư từ
qua lại, nếu cần, chỉ được nói về đề tài tu học và
lý tưởng xuất gia, không nên trao đổi thư từ về phương
diện tình cảm. Tránh hiến tặng quà cáp có tính cách riêng
tư và kỷ niệm. Không nên than phiền túng thiếu để được
cúng dường. Lúc trở về viện, mình không nên nói những
chuyện thị phi về nơi mình đã thăm viếng.
Chương
XXI - Đến nhà đàn việt.
Luôn
luôn cùng đi ít nhất là hai người Đến nơi chỉ ngồi vào
đúng chỗ đã được chuẩn bị cho mình. Nếu cần nói pháp,
thì nói cho đúng thời, đúng căn cơ, và đừng nói dài quá.
Tránh sự phựô bày kiến thức để cầu sự khâm phục của
người. Bài pháp phải có tính cách thực tiễn, giúp người
đương sự vượt thoát những khó khăn hiện thời của họ
bằng phương pháp thực tập. Chỉ nói pháp khi người nghe
pháp ngồi nghiêm chỉnh và ăn mặc chỉnh đốn. Không nên
cười lớn, cười khúc khích với nhau. Ngồi thọ trai phải
giữ uy nghi, như ăn cơm trong đại chúng. Không nên đến nhà
đàn việt vào buổi tối, không nên tìm cách ở lại đêm.
Không nên cùng người khác phái ngồi riêng ở chỗ không có
người thứ ba. Phải nhìn thẳng phía trước, mắt không được
láo liêng. Nói chuyện với người khác phái, không nên nói
nhỏ hoặc thầm thì. Không được ngồi vào một bàn ăn có
rượu và các thức ăn mặn. Không nên khen những vật dụng
trong nhà khiến người ta có thể nghĩ đến việc cúng dường
những vật ấy cho mình.
Về
thăm gia đình cũng nên mời một vài bạn đồng tu cùng đi.
Vào nhà trước tiên là lạy Bụt rồi lễ bàn thờ tổ tiên,
sau đó mới thăm hỏi cha mẹ, anh em và bà con. Không nên nói
về những khó khăn gặp phỸải trong đời sống xuất gia,
sợ gia đình lo cho mình. Nên biểu lộ tính cách tươi mát,
vững chãi, thảnh thơi và an lạc của mình để gia đình cùng
được lợi lạc và tăng tiến niềm tin nơi nếp sống giải
thoát. Nên nhớ người xuất gia có bổn phận độ cho được
gia đình mình. Trong thời gian thăm viếng, giữ gìn đầy đủ
phong động xuất gia, chánh niệm trong mọi câu nói, động
tác và cách hành xử. Ngồi trong tư thế hoa sen để trình
bày cái thấy của mình về tình trạng gia đình và đề nghị
những pháp môn và những giải pháp giải quyết các tình trạng
ấy. Sắp đặt để cả gia đình cùng được thực tập ăn
cơm chánh niệm, thiền tọa, thiền hành, tụng giới và pháp
đàm với mình trong thời gian thăm viếng. Giữ công khóa giống
hệt như ở thiền viện. Về thăm gia đình, không nên hết
xin cái này đến xin cái khác. Được gia đình hiến tặng
gì cũng nên đem về chia đều cho tăng thân. Nên viết thư
đều về gia đình để có thể chia xẻ hạnh phúc và thành
quả tu học của mình để gia đình có thêm đức tin và hạnh
phúc .
Chương
XXII - Vào thành phố .
Nếu
không có lý do chánh đáng, không nên vào. Dù đi bộ, đi xe
đạp, xe gắn máy hay xe hơi, cũng phải có uy nghi và nhớ luôn
luôn an trú trong chánh niệm. Không nên đánh đồng xa trong
khi đi. Không nên liếc nhìn hai bên phải trái. Không nên cười
giỡn. Không nên đi gần người say và người điên. Gặp những
đám đánh nhau, cãi nhau, múa võ hoặc trò chơi ảo thuật,
không nên dụng lại xem. Gặp một vị tôn túc, phải dụng
lại, chắp tay thăm hỏi. Gặp người xuất gia, dù là đạo
khác, cũng làm như thế. Đừng để bị những hào nhoáng bên
ngoài của thành phố cám dỗ. Sự có mặt chánh niệm của
người xuất gia giữa đám đông phải là một bài thuyÓết
pháp không lời về nếp sống thảnh thơi, vững chãi của
người có giải thoát. Phải thấy được sự may mắn của
mình được sống trong thiền viện an tĩnh, tươi mát, có không
khí trong lành và có tăng thân che chở và yểm trợ. Xong việc,
phải lập tức rời thành phố trở về tu viện.
Chương
XXIII - Đi chợ.
Trước
khi đi chợ phải biết trước mình cần mua những gì và số
lượng thực phẩm cần mua. Phải mặc áo nhật bình chỉnh
tề; không nên mặc áo ngắn vào chợ. Luôn luôn hộ trì sáu
căn. Cẩn thận về việc cất giữ tiền bạc. Không nên kỳ
kèo trả giá. Đừng bỉu môi chê bai phẩm chất hàng hóa và
chê đắt. Có thể nhẹ nhàng xin người bán tính một giá
đặc biệt cho chùa. Nên nhẹ nhàng trong khi chọn hàng, đừng
làm đổ xuống và bầm dập hoa quả, hư vỡ hàng hóa. Nên
dành ưu tiên cho những hóa phẩm hữu cơ và dễ dàng chuyển
hóa trở lại. Tránh sử dụng chai, hộp và bọc làm bằng
chất ni-lông. Đã hứa mua cho người này rồi thì không được
vì bên kia rẻ hơn mà không mua. Không được mua chịu. Không
nên vì quảng cáo hay mà mua những phẩm vật không cần thiết.
Không nên nói đùa với các cô bán hàng. Nên dành ưu tiên
cho những hàng rau trái trồng bằng phương pháp tự nhiên,
nghĩa là không sử dụng thuốc độc trừ sâu và phân bón
hóa học có thể làm ô nhiễm trái đất.
Chương
XXIV- Làm việc trong bếp.
Phải
xem bếp như một đạo tràng. Đi đứng khoan thai, duy trì uy
nghi và chánh niệm. Tuyệt đối không nói chuyện trong khi làm
việc. Nếu cần hỏi hay nói gì về công việc với người
anh em đồng tu, nên sử dụng những câu ngắn. Phải làm việc
với tình thương, nhớ rằng mình đang phụng sự cho tăng thân
của mình. Xay đậu, gọt khoai, nấu súp, xào bắp cải... tất
cả các việc như thế cần được làm khoan thai và nhẹ nhàng.
Phải theo dõi hơi thở và mỉm cười trong khi làm việc. Phải
tính toán thì giờ cho rộng rãi để có thể hoàn tất công
việc một cách khoan thai, không phải hấp tấp. Làm việc chung
với người anh em đồng tu trong bếp cũng là một dịp để
hiểu nhau hơn và thương nhau hơn. Nên luôn luôn hội ý với
nhau để công việc được điều hợp tốt đẹp. Các dụng
cụ làm bếp sau khi sử dụng phải được lau chùi sạch sẽ
và để lại chỗ cũ. Rửa rau nên rửa ba nước, và chỉ sử
dụng những chiếc chậu dùng để rửa rau. Đừng sử dụng
chén bát của đại chúng để đựng thức ăn của các con
vật được nuôi trong chùa. Không gãi đầu, ho và khạc nhổ
trong nhà bếp. Luôn luựôn giữ hai tay cho sạch. Đi vệ sinh
xong, phải rửa tay trước khi tiếp tục công việc.
Chương
XXV- Nghe và nói điện thoại.
Nghe
chuông điện thoại nên phát khởi chánh niệm, thở ra và thở
vào và mỉm cười có ý thức như khi nghe chuông báo chúng
hoặc gia trì. Trong khi thở, ngưng mọi suy nghĩ và nói năng.
Khi chuông điện thoại reo lần thứ ba, từ từ đi tới máy
nói với từng bước chánh niệm, trong khi vẫn duy trì hơi
thở và nụ cười. Nhấc ống nghe lên, lập tức xưng danh
tu viện, nói lời đón chào và hỏi xem mình giúp được gì
không. Nếu cần năm phút để đi gọi một người, thì xin
người ở đầu giây gọi lại trong vòng mười lăm phút. Duy
trì chánh niệm trong khi nói điện thoại. Trả lời gọn gàng
và chỉ nói những điều cần thiết.
Sử
dụng bài kệ điện thoại trước khi bấm số gọi. Khi nghe
chuông điện thoại reo bên đầu giây kia, thực tập thở vào
thở ra có chánh niệm theo bài kệ nghe chuông. Sử dụng ngôn
ngữ từ ái khi nói. Không được nói những chuyện không cần
thiết. Đứng hoặc ngồi nghiêm chỉnh trong khi nói. Nếu người
ở đầu giây kia nói những câu chuyện không cần thiết thì
kiếm cách xin lỗi trước khi gác ống nói.
Chương
XXVI - Đối trị cơn giận.
Người
xuất gia phải biết đối tròi cái giận của mình. Cái giận
là ngọn lửa có thể thiêu rụi tất cả mọi công trình xây
dựng, là cái búa có thể đạp cho vỡ tan tình thân hữu.
Khi thấy cái giận bắt đầu phát khởi, phải dụng lại tất
cả mọi nói năng và hành động, để quay về với hơi thở.
Nên
sử dụng bài tập ‘‘Thở vào tôi biết tôi đang giận,
thở ra tôi biết việc quan trọng nhất tôi cần làm bây giờ
là điều phục cơn giận của tôi’’ hoặc bài kệ ‘‘Cái
giận làm tôi xấu, biết vậy tôi mỉm cười, quay về thủ
hộ ý, từ quán không buông lơi’’, mỗi câu đi theo một
hơi thở. Đừng tiếp tục nghe và chú ý tới người mà mình
cho là nguyên do của cơn giận mình. Nếu có thể thì đi ra
ngoài để thực tập thiền hành. Đi thiền hành một hồi,
tâm sẽ lắng lại. Lúc ấy mới quán chiếu để thấy rằng
người làm ta giận cũng có khổ đau và vụng về, giống hệt
như ta vậy. Người ấy cần được giúp đỡ chứ không cần
được trách phạt. Thấy như thế thì lòng ta sẽ dịu lại,
và ta sẽ thấy tâm từ bi phát hiện. Lại quán chiếu để
thấy rằng hạt giống của sự giận hờn trong ta còn lớn
quá, và đó là nguyên do căn bản của nỗi khổ ta. Ta phải
thực tập hàng ngày để chuyển hóa gốc rễ của cái giận
trong ta thì ta mới thật sự có an lạc .
Ngọc
kia chẳng giũa chẳng mài
Cũng
thành vô dụng, cũng hoài ngọc đi
Con
người tu có khác gì
Sống
cho tươi mát, sân si hư đời
Hiểu
thương chẳng trách móc người
Hiện
thân bồ tát giữa nơi đạo tràng
Chương
XXVII - Làm mới.
Sám
hối tức là làm mới trở lại, hoặc bắt đầu trở lại.
Ngoài những buổi sám hối thực tập với đại chúng, nên
biết thực tập làm mới mỗi ngày. Nếu đã vì thiếu chánh
niệm mà nói hay làm một điều gì gây khổ đau và đổ vỡ
trong ta và nơi người thì phải biết thực tập làm mới trở
lại, để xóa bỏ những đổ vỡ cũ và làm lành vết thương
đã gây ra. Phải cam kết với thầy và với tăng thân là khi
mình có vấn đề với một sư anh, sư chòi hay sư em của mình,
mình sẽ cố tâm hóa giải vấn đề ấy trong vòng ba ngày,
nhiều lắm là bảy ngày. Phải tìm cơ hội gặp gỡ và giải
tựa với người ấy. Nếu bảy ngày đã đi qua mà mình chưa
hóa giải được và làm mới được thì phải đi tìm một
sư anh hoặc một sư chị lớn mà cả hai đều tin cậy để
cầu xin sự giúp đỡ. Nếu không tìm ra thì phải cùng nhau
đến với thầy để nhờ thầy. Không nên tìm cách giấu thầy
và giấu tăng thân về những khó khăn của mình với người
anh em đồng tu. Phải biết sức khỏe và hạnh phúc của thầy
cũng như của tăng thân tùy thuộc nơi sự hòa thuận và an
vui của mình với những thành phần khác của đại chúng.
Phải học và nắm cho vững phương pháp ái ngữ và lắng nghe
để có thể thành công dễ dàng trong công việc làm mới.
Phải tập nói và tập nghe với tâm từ bi. Đừng bao giờ
cắt lời người khác. Để cho họ có cơ hội nói ra những
điều đau khổ trong lòng họ. Đừng vội phản ứng và phán
xét.
Chương
XXVIII - Nương tựa tăng thân.
Ngoài
sắc thân, tức là hình hài của mình, ta còn Phật thân, Pháp
thân và Tngthàng ngày của ta. Nhờ công đức tu tập mà ba
thân ấy từ từ hiển lộ. Tngthàng ngày là đoàn thể tu học
của ta, đó cũng là thân thể của ta. Tngthàng ngày của ta
có mặt trong mười phương, nhưng đoàn thể các vị xuất
gia đang tu học với ta tức là tăng thân gần gũi nhất. Quy
y Tăng nghĩa là nương tựa nơi đoàn thể tu học của mình,
trong đÌó có thầy, có các sư anh, sư chợi, sư em mình và
có mình.
Phải
nguyện hết lòng thực tập nương tự Tăng. Cần phải tin
tưởng ở tuệ giác của tăng thân, bởi vì cái biết và cái
thấy của tăng thân lớn hơn cái biết và cái thấy của mỗi
người trong đại chúng. Nên biết rằng thầy và đại chúng
cũng cần đến tuệ giác của mình và mình cũng rất cần
đến tuệ giác của đại chúng. Chính thầy mình cũng nương
tựa vào cái thấy của tăng thân để quyết định những
gì cần quyết định. Phải tin tưởng vào sự giáo huấn và
soi sáng của tăng thân và phải vui lòng nhận chịu tất cả
những quyết định của tăng thân về ngày giờ xuất gia của
mình, ngày giờ thọ giới lớn của mình, về ngày truyền
đăng đắc pháp của mình, và về những quyết định khác
về cư trú, thực tập và đi hành đạo của mình. Ta có quyền
và có bổn phận trình bày cho thầy và cho tăng thân biết
những gì ta biết và thấy về ta và về những thành phần
khác của tăng thân, nhưng ta cũng nguyện sẽ chấp nhận mọi
quyết định của tăng thân mà không oán trách và giận hờn.
Chương
XXIX - Thỉnh chuông và nghe chuông.
Phải
nghe chuông như nghe tiếng của đức Thế Tôn gọi mình về
với chánh niệm. Mỗi khi có tiếng chuông, nên dụng lại mọi
câu nói, mọi động tác và mọi suy tư, trở về hơi thở
và thực tập bài kệ nghe chuông. Thở nhẹ, sâu và mỉm cười
và trở về có mặt nơi giây phút hiện tại trong trạng thái
thân tâm nhất như. Nếu đây là đại hồng chung tiếng này
nối tiếp tiếng khác trong một thời gian lâu thì có thể
tiếp tục công việc chấp tác, nhưng phải đồng thời theo
dõi hơi thở và thực tập chánh niệm trong khi làm việc. Nghe
tiếng chuông không được duy trì tư thế nằm, phải ngồi
dậy hoặc đứng dậy, trừ khi mình đau ốm.
Nếu
là tri chung thì phải thực tập thở theo bài kệ thỉnh chuông
trước khi khai chung. Thân tâm có hợp nhất và niệm định
có mặt, ta mới có quyền thỉnh chuông. Trong thời gian thỉnh
đại hồng chung buổi sáng và buổi tối, ta có thể xướng
kệ lớn tiếng, nhưng sau mỗi tiếng chuông ta cũng phải thở
chánh niệm, đợi cho cường độ âm thanh dịu bớt thì mới
nên xướng kệ. Trước khi thỉnh chuông, nên xá chuông và
thực tập hơi thở, bởi vì chuông đóng vai trò của vị bồ
tát đi đến thức tỉnh mỗi người trong chúng ta.
Chương
XXX - Đi, Đứng, Nằm và Ngồi.
Trong
bốn tư thế đi, đứng, nằm và ngồi, chánh niệm của người
sa di phải được hiển lộ. Khi đi, mỗi bước chân đều
phải có chánh niệm. Nên học phối hợp hơi thở với bước
chân. Đi như thế gọi là thực tập thiền đi, mỗi bước
chân có thể đem lại cho ta sự an lạc, vững chãi và thảnh
thơi. Đừng đi hấp tấp như bị ma đuổi. Đừng chạy, trừ
khi có nguy biến. Đi như thế nào để ta có cảm giác là mỗi
bước chân ta đều như bước ở tịnh độ. Đi ở đếu mà
có vững chãi, thảnh thơi và an lạc tức là đang đi trong
tịnh độ, bởi vì kinh dạy tịnh độ nằm trong tâm người
Khi đi, không đánh đồng xa, không lết guốc, không dẫm lên
nền đất thành tiếng lộp cộp. Khi đứng, nên đứng thẳng,
đừng nghiêng mình dựa vào tường hoặc thân cây, dù là đang
đứng sắp hàng chờ mua vé hoặc lên xe. Đừng chắp tay sau
lưng mà đứng. Đừng đứng ở những cảnh tượng ồn ào,
rối loạn hoặc phi lễ. Khi ngồi, dù là ngồi chơi, cũng phải
giữ lưng cho thẳng. Ngồi đâu, dù là trên cỏ, trên một
phiến đá, trên một chiếc rễ cây, cũng phải ngồi thanh
thản như ngồi dưới cội bồ đề. Đừng ngồi chò hỏ.
Đừng ngồi giữa một đám người đang chửi mắng, cợt nhã
hay nói xấu kẻ khác. Đừng ngồi giữa một đám người đang
uống rượu, ăn thịt hoặc cờ bạc. Đừng ngồi nghe những
câu chuyện tục tĩu và phi lễ. Ngồi trên ghế hoặc trong
tư thế hoa sen, nhớ phủ tà áo nhật bình lên cho thẳng thắng
và kín đáo.
Chỉ
nên nằm trong phòng dành riêng cho mình. Chỉ nên nằm khi thật
sự cần nghỉ ngơi hay buông thư. Đừng nằm chỗ có người
qua lại. Nên tập nằm nghiêng bên hông phải. Đừng nằm chung
với người khác, nhất là người cư sĩ. Đừng ngủ trong
phòng riêng của người cư sĩ khác phái, trừ trường hợp
bệnh nặng và được tăng thân cho phép.
Chương
XXXI- Dự pháp đàm.
Nghe
chuông báo giờ pháp đàm, nên đến ngay nơi chốn đã được
quy định, không nên chậm trễ. Nên lắng nghe để thấy được
quan điểm của kẻ khác mà học hỏi. Nếu có những kiến
giải có thể đóng góp vào kinh nghiệm tu tập của người
khác thì nên chia xẻ, nhưng không nên nói chỉ vì muốn phô
bày kiến thức của mình, hoặc để chê bai quan điểm của
kẻ khác. Mục đích của pháp đàm là học hỏi từ kinh nghiệm
tu học và từ cái thấy của tăng thân, cũng như chia xẻ kinh
nghiệm tu học và cái thấy của mình. Nếu có khó khăn gì
trong cái hiểu hoặc sự tu tập thì phải đưa ra để nhờ
tăng thân soi sáng. Phải chắp tay mỗi lần được có người
soi sáng cho mình. Không nên tìm cách bắt bí kẻ khác để
chứng tỏ mình đa văn hoặc thông minh hơn. Nếu làm phận
sự chủ tọa pháp đàm, nên khéo léo đưa đại chúng về
với đề tài pháp đàm, đừng để đi xa. Đừng để sự
đàm luận trở nên lý thuyết suông không lợi ích cho sự
thực tập. Phải biết sử dụng chuông chánh niệm để nâng
cao phẩm chất của buổi pháp đàm. Nên nói lời cảm tạ
trước khi kết thúc.
Chương
XXXII - Y, bát và tọa cụ.
Y và
bát thân thiết với người xuất gia như hai cánh chim thân
thiết với con chim, người xuất gia đi đâu cũng cần đem
theo y và bát.
Ngày
xưa y có ba thứ: Thứ nhất là y tăng già lê (sanghati), có
khi gọi là đại y, có chín điều, hoặc hai mươi lăm điều,
do đó cũng được gọi là y chín điều, hoặc y lớn. Y này
được sử dụng khi được mời vào cung vua, trong các lễ
lớn hoặc khi đăng đàn thuyết pháp. Thứ hai là y uất đa
la tăng (uttarasanga) đó là y bảy điều, hoặc là y trung. Y
này được sử dụng trong lúc lễ tụng, bố tát, sám hối,
nghe pháp. Thứ ba là y an đà hội (antarvasa) là y năm điều,
hoặc gọi là y hạ. Y này được sử dụng trong sinh hoạt
hàng ngày như chấp tác hoặc đi chợ.
Ngày
nay người xuất gia có thường phục, tương đương với y
an đà hội, giáo phục, tương đương với y uất đa la tăng
và lễ phục, tương ưng với y tăng già lê. Thường phục
là áo năm thân hoặc áo nhật bình ngắn, giáo phục là áo
tràng hay áo nhật bình dài, và lễ phục là y và áo hậu.
Y của các vị sa di là man y, là y trơn chưa có điều. Trước
khi đắp y, vị sa di phải nâng y ngang trán và quán niệm theo
bài kệ khoác y.
Bát
hay bình bát là vật dụng chứa đựng thức ăn của người
xuất gia. Bình bát thường được gọi là ứng lượng khí,
nghĩa là vật dụng mà mầu sắc, chất liệu và dung lượng
thích ứng với chánh pháp. Chất liệu thì bằng đất, bằng
sành, bằng nhôm hay bằng nhựa, không bao giờ bằng vàng hay
bằng ngọc, mầu sắc là mầu nâu, mầu lam, không bao giờ
là mầu tươi chói, dung lượng thì biểu trưng cho sự biết
đủ, không ham hố tham lam. Nâng bát, vị Sa di sử dụng tay
trái đỡ bát phía dưới và tay phải đỡ phía ngoài với
ngón tay cái đè lên nắp bình. Cầm bình bát đi thành hàng,
vị Sa di nhìn thẳng xuống phía trước mặt, và phải chừa
khoảng trống chừng một thước cách người đi trước, đừng
liên tiếp nhìn sang phải và sang trái, giữ gìn chánh niệm
trong từng bước chân.
Tọa
cụ là vật dụng để trải ngồi. Tiếng phạn là ni sư đàn
(nisadana). Người xuất gia trải tọa cụ để phòng ngừa gai
góc, các loài côn trùng, và những gì có thể bám vào y và
thân thể. Sắc mầu của tọa cụ cũng cần đi đôi với y
phục. Không nên dùng mầu tươi, phải dùng các mầu như xanh
đđam, nâu, hoặc khói hương. Tọa cụ cũng không được quá
lớn, chỉ nên khoảng trên dưới một thước vuông.
Chương
XXXIII - Du phương cầu học.
Chỉ
nên xin thầy và chúng đi học khi thấy trong hoàn cảnh tu học
hiện tại mình không có đủ điều kiện tu tiến. Đi học
chỉ đi với mục đích tìm cầu pháp môn tu học chứ không
đi với mục đích có bằng cấp hoặc có kiến thức, nhất
là kiến thức không phải Phật học. Nên chọn học viện
trong đó có tăng thân tu học hài hòa và hạnh phúc. Đừng
nên xin đi du học ở các nơi trong đÌó mình không được
ở và tu học với tăng thân. Không được ở nhà người cư
sĩ mà đi học. Không được học ngành kỹ sư, nha sĩ, y sĩ
và các ngành chuyên môn khác của thế học, bởi vì đó không
phải là mục đích của người xuất gia. Môn học chÌính
phải là Phật học, nhưng kiến thức Phật học phải có tác
dụng soi sáng cho sự tu học của mình chứ không phải để
giúp mình trở thành một nhà học giả. Ngoài môn Phật học,
có thể học thêm một trong những cổ ngữ có liên hệ tới
Phật học như Nam Phạn (Pali), Bắc Phạn (Sanskrit), chữ Hán
hay chữ Tây Tạng. Cũng có thể học thêm căn bản các môn
tâm lý học áp dụng, lợi chuyển hóa sử các nền văn minh
thế giới và lợi chuyển hóa sử tôn giáo. Các môn này có
thể giúp ta hiểu thêm về Phật học và giúp ta sau này trong
việc giảng dạy Phật pháp cho khế cơ.
Chương
XXXIV - Dự thiền trà .
Thiền
trà là một cơ hội rất tốt để có mặt với tăng thân
trong một bầu không khí vừa trang nghiêm vừa thân mật. Thiền
trà có hai phần: phần đầu là nghi lễ, phần thứ hai là
trao đổi. Phần nghi lễ gồm có đón tiếp, dâng hương, lễ
bái, pha trà, chuyền trà, chuyền bánh và uống trà: tất cả
đều được diễn ra trong sự trang trọng của nghi lễ và
chánh niệm. Trong phần này mọi người theo dõi hơi thở, thực
tập có mặt thật sự trong tăng thân và nhận diện sự có
mặt của mỗi người trong tăng thân. Hơi thở, ánh mắt, nụ
cười và mọi động tác được đi theo với chánh niệm: đây
đích thực là thiền tập. Phần thứ hai gồm có trao đổi
những lời thăm hỏi kÌính ái, những kinh nghiệm tu tập và
có khi có cả những bài thơ, bài hát hay câu chuyện. Phần
này tuy ít có tính cách nghi lễ hơn, nhưng vẫn được đặt
trong chánh niệm. Nội dung phần này có thể bồi đắp tuệ
giác, niềm vui, sòư hiểu biết lẫn nhau và sự tương thân
tương kính. Nếu là trà chủ hay người pha trà hoặc người
phụ tá, thì nên thực tập trước để khỏi vấp váp. Mm
động tác phải từ tốn, khoan thai, đi theo chánh niệm. Vị
trà chủ nên nói những lời chào hỏi và chúc tụng trân trọng,
lúc bắt đầu và kết thúc phần hai. Phát biểu hoặc chia
sẻ, chỉ nên vắn tắt năm phút là nhiều nhất, để những
người khác có cơ hội. Không nên đưa những câu chuyện không
lợi lạc để nói trong thiền trà. Trà vị phải đi đôi với
thiền vị.
Thiền
trà đừng nên đông quá. Theo truyền thống số người đông
nhất tối đa là mười sáu vị, như thế để duy trì sự
thân mật và để mọi người có cơ hội đóng góp. Bất đắc
dĩ mới có những thiền trà đông người, gọi là đại thiền
trà. Thơ mời, số tọa cụ và số chén trà, người tổ chức
phải nắm vững, tránh việc đợi đến lúc cần thiết mới
đứng dậy đi lấy thêm. Nên sử dụng khăn vải hoặc những
chiựếc lá để đặt bánh. Tránh dùng khăn giấy để giúp
bảo vệ sinh môi. Trà chủ và các vị phụ tá nên đứng chắp
tay tại cửa để vái chào từng vị thiền khách, khi đón
khách vào cũng như khi đưa khách ra.
Chương
XXXV - Lái xe.
Nên
nhớ luôn luôn mang theo bằng lái và giấy tờ xe. Kiểm tra
các bộ phận, biết chắc là có đủ an toàn, trước khi cho
máy nổ. Quán niệm theo bài thi kệ lái xe trước khi rồ máy.
Không lái quá tốc độ đã được ấn định trên xa lộ,
không phóng nhanh, vượt ẩu; chỉ qua mặt xe khác khi không
thể không qua mặt, nhưng phải biết chắc là qua mặt sẽ
không có nguy hiểm. Sử dụng hộp số cẩn thận, không nên
sang số bừa. Lái vào phố chợ hoặc qua nơi đông người
nên đi chậm lại và rất cẩn thận không nên nói chuyện
để đừng bị phân tâm. Nếu đi đường dài thì cũng có
thể nói chuyện để tránh hôn trầm đưa đến ngủ gục.
Trời mưa, nhất là khi đường có đóng băng, nên đi chậm
để được an toàn. Không nên vừa xem bản đồ vừa lái xe.
Nên kiếm chỗ dụng lại để nghiên cứu bản đồ, thấy
đường rồi mới lái xe đi. Đường xa, nếu thấy hơi mệt
thì hãy đổi tay lái. Nếu không có người lái thế thì dụng
lại để ngủ cho đến khi hồi phục được sự tỉnh táo.
Nên nhớ sinh mạng người ngồi trên xe nằm trong sự thận
trọng của mình. Không nên bực bội hoặc tức giận nếu
có xe khác đi ẩu. Không được bóp còi để trách móc xe kia.
Duy trì chánh niệm, sự tươi mát và an lạc trong suốt thời
gian lái xe. Đậu xe phải đậu thật ngay ngắn và đúng phép.
Nếu dùng xe của người khác, nên kiểm lại xăng, dầu, nhớt,
nước và các bộ phận xe để xem có đủ an toàn không trước
khi lái xe đi. Trước khi trả xe cũng thế. Đi xe đạp hoặc
xe gắn máy cũng phải mặc áo nhật bình và nhất là phải
thực tập uy nghi. Đừng đạp xe quá mau, đừng phóng. Đừng
đi song song với người khác, như vậy chiếm đường quá nhiều.
Tránh sự đèo theo một người khác sau xe.
Chương
XXXVI - Sử dụng máy điện toán.
Nên
học cho thông cách sử dụng và chăm sóc máy. Không biết sử
dụng thì không nên động tới máy. Không để tự đánh mất
mình trong sự ham mê sử dụng máy. Gài bộ phận cảnh tỉnh
mỗi mười lăm phút để có cơ hội dụng lại, thở và mỉm
cười trong thời gian làm việc. Ngồi lưng phải thẳng, hai
bàn chân đặt vững trên mặt đất, máy đánh chữ phải ngang
tầm bụng. Khi sử dụng, nếu thấy hơi mệt thì nên dụng
lại, hoặc để đi thiền hành hoặc để tập các động tác
chánh niệm ngoài trời khoảng mươi phút trước khi làm tiếp
công việc. Dùng máy xong, cho máy vào vị trí shut down trước
khi tắt điện. Nên tắt toàn bộ hệ thống điện của máy
để bảo trì máy. Khi rời máy, nhớ dọn dẹp nơi làm việc
cho gọn và sạch. Không nên cho công việc của mình là quan
trọng hơn các công việc khác.
Chương
XXXVII - Hướng dẫn các khóa tu.
Ít
nhất cũng phải được thực tập ba năm tại tu viện, mới
nên nhận lời đi hướng dẫn một khóa tu. Trong thời gian
thực tập tại tu viện, phải học và nắm cho được kỹ
thuật tổ chức những khóa tu, khóa bảy ngày, khóa năm ngày,
khóa cuối tuần, khóa một ngày. Khóa một ngày được gọi
là Ngày Quán Niệm. Các pháp môn thiền ngồi, thiền đi, thiền
nằm, thiền trà, thiền lạy, pháp đàm, ăn cơm chánh niệm,
hơi thở ý thức, phải nắm cho thật vững và phải có kinh
nghiệm. Không được chỉ dạy lý thuyết, phải đem kinh nghiệm
tu chứng của mình ra để hướng dẫn người
Đi
hướng dẫn khóa tu không nên đi một mình, trừ trường hợp
bất khả kháng. Nên đi với ít ra là ba bạn đồng tu khác.
Trong thời gian đi mở các khóa tu, mình và các vị cộng tác
mỗi ngày phải gặp gỡ nhau ít nhất một lần để trao đổi
và cùng quyết định về cách thức tổ chức và hướng dẫn.
Không nên tự ý một mình quyết định, dù mình là giáo thọ
hoặc có hạ lạp lớn nhất. Tinh thần hòa hợp và hạnh phúc
của tăng thân là bài pháp thoại hùng hồn nhất. Nên sắp
đặt để mọi người trong ban hướng dẫn đều có cơ hội
chia sẻ kinh nghiệm tu tập.
Phải
lắng nghe và tìm hiểu những khó khăn, khổ đau và ước vọng
của những người ghi tên trong khóa tu để có thể cống hiến
những bài pháp thoại và những pháp môn thực tập thích hợp.
Trong các buổi pháp đàm và vấn đáp, khuyến khích thiền
sinh chỉ nên nêu ra những câu hỏi có tính cách thực tập,
và đừng để cuộc đàm luận đi vào lãnh vực thuần lý
thuyết. Nếu có thời gian để cho thiền sinh tham vấn, nên
dành cơ hội cho những người có nhu yếu lớn nhất.
Chương
XXXVIII - Tiếp xử với người cư sĩ.
Các
vị cư sĩ nam và nữ đến chùa không phải chỉ để lễ bái
và cúng dường mà cũng là để được hưởng không khí thanh
tịnh và an lạc của chùa và cũng để có cơ hội học hỏi
các pháp môn có thể đem về thực tập ở gia đình họ. Nên
tìm mọi cách để tạo cơ duyên cho các vị ấy được thừa
hưởng những tặng phẩm quý giá ấy mà chùa có thể cung
cấp. Đừng tham dự vào những câu chuyện thị phi ngoài đời
và đừng khuyến khích họ nói những câu chuyện như thế.
Chỉ nói chuyện với họ về những vấn đề tu tập, những
pháp môn có thể áp dụng được trong đời sống hàng ngày
mà đừng để thì giờ vào việc đàm luận những đề tài
có tính cách thuần lý thuyết, dù là giáo lý. Tạo cho họ
cơ hội được tụng kinh, nghe pháp, đi thiền, ngồi thiền,
tập thở, tđđap ăn cơm im lặng và làm công quả trong chánh
niệm. Nếu có người chưa biết quy luật thiền môn mà nói
năng và có những cử chỉ thô tháo thì từ tốn nhẹ nhàng
chỉ bày cho họ, đừng nóng nảy khiển trách họ. Phải học
tiếp xử với mọi người một cách đồng đẳng, không phân
biệt giàu và nghèo, trí thức hoặc ít học.
Mục
đích của người xuất gia là tạo hạnh phúc cho thế gian,
vì vậy người xuất gia trẻ phải học ngồi lắng nghe những
nỗi khổ niềm đau của người cư sĩ để có thể hiểu được
nguồn gốc của những nỗi khổ niềm đau ấy và căn cứ
trên kinh nghiệm thực tập mình mà cống hiến cho họ những
phương pháp tu tập để họ có thể chuyển hóa và có thể
tự hòa giải được trong bản tâm cũng như giữa gia đình
và ngoài xã hội. Những kinh nghiệm này sẽ rất bổ ích cho
người xuất gia sau này khi đi ra diễn giảng Phật pháp và
mở những khóa tu học cho người cư sĩ. Nếu có người ưa
nói tới những khuyết điểm của các thầy và các đạo tràng
khác thì nên nhẹ nhàng khuyên nhủ họ đừng làm như thế
và cương quyết từ chối không lắng tai nghe những câu chuyện
họ nói.
Đừng
quá thân với một vài người và dành cho họ quá nhiều thì
giờ trong khi lơ là với những người khác. Không vì lý do
được cúng dường mà có sự tiếp xử đặc biệt. Nên khuyến
khích cúng dường cho tăng thân hơn là cúng dường cho cá nhân.
Là người xuất gia trẻ, nên đặc biệt chiếu cố đến thiếu
nhi, giúp cho các em bớt bỡ ngỡ, dạy cho các em biết tham
dự các sinh hoạt thiền đi, thiền trà, thiền ngồi, thiền
lạy, ăn cơm im lặng ...
Chương
XXXIX - Thanh lọc cơ thể.
Mỗi
năm nên thực tập nhịn ăn để thanh lọc cơ thể và bộ
máy tiêu hóa, ít nhất là một lần, mỗi lần mười ngày.
Trong thời gian này, mỗi ngày nên uống chừng ba lít nước
lọc, tốt hơn là nước ấm. Ngày đầu có thể dùng thuốc
xổ, và trong những ngày kế tiếp cũng có thể dùng thuốc
xổ liều lượng rất nhẹ, chừng một thìa cà phê muối ma-gnê-si-um
ngâm sẵn trong một ly nước lọc đầy từ tối hôm trước,
uống vào buổi sáng khi thÌức dậy.
Thực
tập như thế sẽ thanh lọc được cơ thể, đưa ra ngoài cơ
thể các độc tố không những bám trong ruột non và ruột
già mà còn chứa chất khắp nơi trong cơ thể. Vào ngày thứ
ba của thời kỳ thanh lọc, độc tố rả ra từ thành ruột
có thể thấm vào máu ít nhiều khiến cho cơ thể rã rời,
và ta có cảm tưởng là ta yếu đi vì đang nhịn ăn. Kỳ thực
không phải như vậy. Cơ thể ta có thể nhịn ăn nhiều tuần
lễ trong khi ta vẫn có thể sinh hoạt bình thường. Khi cảm
thấy cơ thể rã rời như vậy, phương pháp hay nhất là uống
thêm thật nhiều nước để độc tố có thể bài tiết ra
bằng đường nước tiểu. Đồng thời nên tắm rửa kỳ cọ
cơ thể mỗi ngày, vì độc tố cũng sẽ đi ra bằng lỗ chân
lông. Độc tố cũng đi ra dưới hình thức hơi, vì vậy ta
cần phải thực tập hô hấp sâu và dài để giúp hai lá phổi
bài tiết thêm khí độc. Nếu thận, gan và tim yếu thì nên
tham vấn bác sĩ trước khi thanh lọc cơ thể bởi vì trong
thời gian thanh lọc thì tim, gan và thận phải làm việc rất
nhiều. Thuốc giọt dùng để trợ tim, trợ gan và trợ thận
rất bổ ích trong thời gian thanh lọc cơ thể. Trong mười
ngày thực tập, những cấu uế chất chứa trong ruột có thể
được tiết ra hàng kí lô; có những cặn bã đã nằm trong
thành ruột lâu hơn sáu tháng hoặc một năm. Sau thời gian
rửa ruột, nước da của ta sẽ sáng, thần sắc ta sẽ tươi
tỉnh gấp bội, ta sẽ ngủ ngon lên rất nhiều và tinh thần
ta rất phấn chấn. Trong thời gian mười ngày, ta có thể vẫn
tham dự vào thời khóa một cách đầy đủ; ta sẽ không hề
yếu đi vì nhịn ăn. Nếu có thể thì nên cùng thanh lọc cơ
thể với nhiều vị đồng tu để có thể nâng đỡ nhau. Khi
bắt đầu ăn uống trở lại thì ngày đầu chỉ được ăn
nước cháo, ngày thứ nhì ăn cháo. Ngày thứ ba ta đã có thể
ăn cơm nhưng ăn ít thôi và nhai thật nhỏ cho đến khi cơm
biến thành cháo mới nuốt. Ngày thứ tư ta có thể ăn uống
bình thường. Nếu muốn biết rõ thêm, nên tham vấn những
vị đã từng thực tập.