IV.
HÀN GẮN THẾ GIỚI
Chương
14
HOA
TÂM THỨC
Jongmok
Sunim
Jongmok
Sunim, một nữ tu sĩ trẻ Hàn quốc, rất đặc biệt; cô là
người chọn nhạc cho đài phát thanh Phật giáo trong chương
trình nhạc cổ điển. Ngoài ra cô còn tham gia chương trình
giúp đỡ người khốn khó. Là một ca sĩ tài năng, thỉnh
thoảng cô cũng tổ chức những buổi hòa nhạc, rất được
ưa chuộng. Tôi được chứng kiến cô giới thiệu một chương
trình nhạc buổi chiều và cô tỏ ra rất thông minh: dí dỏm
đồng thời cũng đầy tâm linh.
Đài
Phát Thanh Phật Giáo
Ba
năm nay, tôi là người quản lý chương trình nhạc ở đài
phát thanh Phật giáo. Khi còn rất trẻ, tôi đã yêu thích âm
nhạc, có năng khiếu sử dụng các nhạc khí và ca hát. Một
khi đã bước chân vào ni viện, không còn cơ hội để sáng
tác nhạc, nhưng khi đài phát thanh Phật giáo ra đời, tôi
muốn truyền giáo pháp và giới thiệu âm nhạc đến mọi
người.
Đối
với tôi, âm nhạc được kết nối với các cảm xúc tôn
giáo, không nhất thiết phải là một tôn giáo nào. Chúng ta
đã được sinh ra, và đang sống. Vậy phải sống như thế
nào? Sống làm sao để có thể thương yêu nhau? Tôi cố gắng
chuyển tải những tình cảm, băn khoăn nầy qua âm nhạc. Tôi
muốn làm một ngọn đèn nhỏ tỏa sáng, và tôi thấy âm nhạc
là một phương tiện thiện xảo mà tôi có thể sử dụng
để chuyển tải tình thương yêu, lòng từ bi đến với mọi
người.
Thầy
Bojo bảo rằng các kinh tụng Phật giáo là những bài kệ từ
tâm thức sâu thẳm của Đức Phật. Đó không chỉ là những
lời được lập đi lập lại. Đức Phật đã dạy rằng lời
nói là hoa của tâm, và nhạc là trái của tâm. Ca hát là để
bày tỏ rằng hoa đã rộ, và quả đang chín tới.
Các
bản nhạc không phải chỉ là các âm thanh được cấu tạo
bởi một ai đó. Tụng kinh là cách bày tỏ bằng âm thanh của
cái tâm có ý hướng trở thành Phật.
Gặp
Phật Qua Âm Nhạc
Tôi
tổ chức các buổi họp mặt âm nhạc trong sân chùa vì tôi
muốn mang những âm nhạc tuyệt vời đến cho người yêu nhạc.
Tôi muốn cho các cư sĩ tại gia thấy rằng bên trong các tu
viện, nơi Đức Phật hiện hữu, không phải chỉ bằng cầu
nguyện, đọc tụng họ mới được diện kiến Đức Phật
mà còn bằng cả âm nhạc cổ điển. Đức Phật luôn xuất
hiện trong trạng thái tâm an lạc, tự tại.
Tôi
rất hài lòng với các buổi họp mặt âm nhạc; chúng giúp
người ta cảm nhận được một niềm vui tràn đầy. Các Phật
tử có thể học về âm nhạc; nhưng giữa các con số tôi
cũng chen vào vài lời giải thích kinh điển.
Tôi
cố gắng truyền đạt thông điệp của Đức Phật, không
chỉ bằng các Phật ngôn, mà cả trong các lời nói của Chúa
Jesus, Khổng Tử và Socrates. Đức Phật là một vị thầy đã
sống 2500 năm trước ở Ấn độ, nhưng qua bao thời gian, đã
có rất nhiều người đang cố gắng để sống như Phật.
Theo gương họ, tôi cũng hy vọng được dấn bước trên con
đường trí tuệ và từ bi ấy. Được nghe về các kinh nghiệm
của họ, ta có thể suy gẫm về cuộc đời, cân nhắc để
sống sao cho thật tốt đẹp.
Trong
cuộc sống hằng ngày tôi muốn tặng cho mọi người một
cái gì đó, có thể mang đến cho họ hạnh phúc, an vui, khiến
họ muốn chia sẻ tình thương yêu với mọi người.
Làn
Gió Mới
Trong
sân vườn nhà tôi có một loại cây. Vào mùa đông lá cây
cuộn lại, rơi xuống, cong queo. Quan sát việc nầy, tôi không
hiểu tại sao lá cây lại héo rụng đi, và tôi đem việc ấy
hỏi bà tôi. Bà tôi bảo tất cả những gì được sanh ra
rồi sẽ chết. Tôi luôn cảm nhận được sự đau khổ của
sanh tử, nhưng ở trường học người ta không dạy về những
điều nầy khiến tôi cảm thấy rất khó chịu. Tôi tìm kiếm
một cách vô vọng cho đến một ngày tôi được gặp các
vị ni sư, được trò chuyện với họ. Tôi cảm thấy như
có một làn gió mới vừa thổi qua, nên tôi quyết định được
giống họ, để trau dồi tâm thức và mang lại lợi ích cho
người.
Tôi
đã thành một tu sĩ 16 năm nay. Tôi xuất gia năm 16 tuổi, nên
tôi làm thị giả cho một vị trưởng bối, là người điều
hành thiền đường. Mỗi sáng, mỗi chiều, bà dạy tôi ngồi
thiền. Bà hy vọng rằng tôi sẽ sống ở thế gian để truyền
bá giáo pháp rộng rãi, và khuyến khích tôi giảng dạy cho
giới cư sĩ ở khắp nơi trong nước.
Bước
chân ra xã hội, tôi nhận thấy mình cần phải học về công
tác xã hội, vì thế tôi vào đại học. Tôi rất thích công
tác xã hội nhưng cũng tha thiết muốn được hành thiền.
Nếu tôi bỏ thời gian ngồi yên lặng thiền định trong núi,
chắc là tôi sẽ hiểu, chứng nghiệm về tự ngã của mình
tốt hơn. Nhưng điều đó, dưới một khía cạnh nào đó,
cũng là ái dục, vì thế tôi tự kiềm chế, dằn nén lòng
ham muốn đó, để tự nhủ mình: 'Hãy sống với một tâm
thức luôn biết tu tập giữa những người khốn khó.'
Gíơi
Là Rào Chắn
Giới
luật trong Phật giáo giống như rào chắn vậy. Dạy người
ta làm điều lành thì khó, nhưng sống ích kỷ thì không cần
ai dạy. Ở trường học hay ở bất cứ môi trường giáo dục
nào, người ta cũng luôn nhắc nhở bạn làm điều lành, nhưng
dường như rất khó cho con người luôn hành xử tốt.
Đức
Phật không bao giờ cho rằng giới luật là tuyệt đối; Ngài
không đặt ra các giới luật như một mệnh lệnh: 'Phải tuân
theo giới luật bằng bất cứ giá nào!' Nhưng có giới luật
là để giúp chúng ta kiểm soát hành vi của mình. Giới luật
khiến ta xem xét lại các hành vi của mình, để cải thiện
chúng một cách tự nguyện, và ta có thể sử dụng giới luật
như là một phương tiện giúp đở, hỗ trợ ta trong việc
tu tập.
Nếu
xét kỹ về giới luật (vinaya), ta có thể nhận thấy Đức
Phật tựa như một người cha chu đáo, tử tế. Chúng ta có
thể thật sự cảm nhận được lòng nhân đạo của Đức
Phật, ngay trong lời dạy các ni ngồi trên bồ đoàn khi hành
thiền. Mỗi giới luật được đặt ra là để chỉ cho ta
biết, tuỳ theo hoàn cảnh, hành vi nào có hại cho mình và
cho người. Đức Phật khuyên ta không thực hiện những hành
vi gây đau khổ. Đấy là điều cơ bản của các giới luật:
không gây đau khổ cho mình và cho người.
Đức
Phật thuyết rằng âm nhạc liên quan đến các giác quan. Chúng
ta có thể dễ dàng và nhanh chóng đánh mất bản thân trong
các cảm xúc, các nhiễm ô, dẩn đến sự sao lãng. Vì thế
Đức Phật dạy rằng các vị tăng và ni không nên ca hát,
nhảy múa, không đến những nơi vui chơi hát xướng, nhảy
múa, không đeo nữ trang hay xức dầu thơm. Ý của tôi không
phải là để cho chúng ta hưởng thụ khoái lạc qua các giác
quan, nhưng là để qua chúng, thực hành, chứng nghiệm tình
thương yêu. Do đó âm nhạc không phải là mục đích, mà là
một phương tiện để mang tình thương đến với tâm thức.
Trong
kinh Phật cũng có dạy: 'Các giới luật là để được chế
ra và được bỏ đi', vì vậy điều quan trọng là phải biết
khi nào nên áp dụng giới luật và khi nào không. Chúng ta phải
cẩn thận để đừng làm cho giới luật trở nên quá hẹp
hòi, hoặc bất di bất dịch, nếu không thì chúng ta có thể
rơi vào sự cứng ngắc. Mặt khác, giữ giới luật quá lỏng
lẽo, hoặc hoàn toàn không giữ giới luật mà chỉ hành động
theo ý muốn không cân nhắc, cũng không phải là đúng cách.
Đức
Phật Từ Bi
Có
người hỏi một vị Đạt Lai Lạt Ma: 'Làm thế nào một người
bình thường biết được Ngài là một vị Phật sống?' Vị
ấy trã lời một cách dễ dàng: 'Một vị Phật là một người
luôn từ bi với tất cả mọi người.' Một vị Phật không
phải là người có những hành vi khác thường, có những phép
thuật siêu phàm hoặc là người kiêu căng. Ngược lại, sống
một cuộc sống rất bình thường, như một nông dân hoặc
một người lao công, chúng ta cũng vẫn có thể luôn cố gắng
tử tế với hàng xóm, láng giềng. Nếu ta có thể luôn biểu
lộ được tâm từ bi thì ta đã được phú cho tâm và hành
động của một vị Bồ Tát.
Đó
là điều mà tôi muốn truyền đạt - lòng từ bi. Người ta
thường nghĩ những lời dạy trong các tôn giáo thường rất
'cao xa' và khó hiểu. Tại sao vậy? Mỗi tôn giáo sử dụng
một loại từ vựng đặc biệt, khó hiểu đối với người
bình thường. Tuy nhiên, Đức Phật đã nói một cách dễ hiểu,
sử dụng những từ đơn giản. Đức Phật đã nói bằng một
cách khiến tất cả chúng sanh đều có thể hiểu được,
và Phật đã dùng những chữ mà chúng sanh thường dùng.
Trong
thiền, chúng ta thường nói "Không sanh, không diệt", nhưng
đó là ngoại lệ. Ai có thân cũng biết chắc rằng họ đã
được sanh ra, và sẽ chết và có thể chứng nghiệm điều
đó bằng chính mắt mình, do đó thật khó tin và khó hiểu
đối với lời nói trên. Chỉ những ai đã từng hành thiền
mới có thể hiểu ngay điều ấy.
Các
vị đại sư đã nói đến 'việc đạt ngay quả vị Phật
bằng trực ngộ'. Đối với họ, không có con đường tiệm
tiến. Nhưng với người bình thường, họ không hiểu cách
nói nầy, vì thế chúng tôi phải giải thích ý nghĩa đó cho
họ, giúp họ bước theo con đường của Phật.
Không
Có Gì Là Duy Nhất Và Vô Song
Các
tôn giáo cần cẩn thận khi tuyên bố chỉ có tôn giáo của
mình mới là chân lý, là duy nhất. Có người cho rằng thiền
là duy nhất và vô song; người khác nói giáo lý của Đức
Phật là duy nhất và vô song. Nhưng không có gì là duy nhất
và vô song cả. Tuỳ theo sự đồng cảm và nghiệp mà chúng
ta đi theo một con đường nào đó, và tuỳ theo khả năng mà
ta thực hành con đường Phật pháp. Từng bước từng bước,
chúng ta dần tiến gần đến với Đức Phật.
Thường
trong một vài tôn giáo, con số tín đồ được sử dụng như
một chứng cứ cho chân lý của tôn giáo đó. Nếu một tôn
giáo chỉ có vài tín đồ thì dường như là tôn giáo đó
ít có hoặc không có chân lý gì. Đó là một điều hết sức
buồn cười - chân lý không dựa vào con số tín đồ. Điều
quan trọng là họ đã thực hành và chứng nghiệm giáo lý
đó như thế nào.
Dưới
ảnh hưởng của một số lãnh đạo tôn giáo, người ta từ
bỏ mọi thứ. Vừa qua một vị nào đó tuyên bố đã đến
ngày tận thế. Người ta tin tưởng vào ông và cầu nguyện
để được cứu rỗi vào ngày đó, nhưng không có gì xảy
ra hết! Vì thế, chúng ta có thể thấy tôn giáo có rất nhiều
quyền năng để lừa bịp con người.
Nếu
ánh sáng giác ngộ tỏa chiếu rực rỡ, thì tôn giáo giống
như mặt trời soi sáng mọi vật, nhưng nếu chúng ta sai lầm,
chúng ta giống như người mù có thể bị té chết trong hố
thẳm vì mọi thứ đều đen tối..
Đôi
khi tôn giáo làm cho người ta sợ hãi, bằng cách nói rằng
họ cần phải tin vào Thượng đế hoặc tin vào Phật. Nhưng
Đức Phật dạy rằng tin vào tôn giáo như thế là sai lầm.
Lời dạy của Đức Phật bày tỏ và chuyển tải trực tiếp
lòng từ bi, và Phật giáo là tôn giáo của lòng từ bi. Tôi
kính ngưỡng Đức Phật, xem Ngài là vị Thầy của tôi, và
tôi muốn sống theo lời dạy của Ngài về lòng từ.
Không
Làm Ếch Ngồi Đáy Giếng
Đôi
khi tôi trực đường dây điện thoại Phật giáo trực tuyến,
gọi là Đường Dây Từ Bi. Trước đây chưa có dịch vụ
điện thoại tư vấn cho Phật tử, vì điện thoại được
xem là một cái máy khiến người ta liên tưởng đến vật
chất, máy móc. Phật tử thường có khuynh hướng xem mình
vượt trên vật chất tầm thường. Tuy nhiên, xã hội thay
đổi, điện thoại trở thành một dụng cụ bình thường
trong cuộc sống và chúng tôi nhận thấy tư vấn, tham vấn
qua điện thoại rất ích lợi cho nhiều người.
Để
sửa soạn cho việc tư vấn, tôi thực tập sáu tháng ở một
đại học cộng đồng. Rồi sáu tháng tiếp theo, tôi thực
hiện việc tư vấn qua điện thoại dưới sự giám sát từ
10 giờ đêm đến 8 giờ sáng. Khi tư vấn qua điện thoại,
tôi cảm nhận được nỗi đau khổ cùng cực mà người gọi
phải trải qua. Tôi cảm nhận được những khó khăn mà họ
phải đối mặt, và có những hoàn cảnh thật là hãi hùng.
Trước
đây chủ yếu tôi chỉ liên lạc với giới cư sĩ Phật tử.
Nhưng tôi muốn nhập thế giống như Đức Phật, tiếp xúc
với bất cứ ai mà tôi gặp gở. Tôi cảm thấy rằng sống
trong tu viện và chỉ tiếp xúc với các cư sĩ muốn tìm hiểu
về Phật pháp thì cũng giống như chú ếch ngồi đáy giếng
nghĩ rằng thế giới bằng với đáy giếng.
Việc
tư vấn cũng khá ích lợi, nhưng tôi cảm thấy rất khổ đau,
tôi đã khóc thật nhiều. Tại sao tôi khóc? Đôi khi tôi không
hiểu tại sao tất cả chúng sanh không thể sống chung hoà
bình, không có khổ đau? Tại sao con người không sống bằng
tình thương tràn đầy trong tâm hồn đẹp đẽ của họ? Tại
sao có quá nhiều người sống trong đau đớn, trải qua bao
vấn đề trong cuộc sống? Trong lúc khấn nguyện trước Đức
Phật, tôi suy gẫm về những thắc mắc nầy và tôi khóc.
Nhiệm
vụ của người tư vấn không phải là áp dụng một giải
pháp đóng khung, mà phải đặt mình vào hoàn cảnh của người.
Chúng tôi phải trở thành như bạn của người ấy, một người
có thể hiểu và chấp nhận họ hoàn toàn. Chúng tôi phải
trở nên thân thiết đến độ không còn gì phải e dè với
nhau. Nếu chúng ta nghĩ ở đầu giây bên kia là thân chủ,
và bên nầy là người thầy hay người tư vấn, thì đó không
phải là sự tư vấn thực sự và sẽ không thể thành công.
Tôi
cũng quan tâm đến những người khiếm thính, muốn mang Phật
pháp truyền đạt cho họ. Trong ba tháng, tôi học ngôn ngữ
ra dấu và rất thích trao đổi với họ qua phương cách nầy,
nhưng vì công việc ở đài phát thanh tôi phải dừng lại.
Giúp
Láng Giềng Đang Gặp Khó Khăn
Mỗi
thứ sáu trên đài phát thanh, có một tiếng đồng hồ chương
trình 'Giúp láng giềng đang gặp khó khăn'. Các tình nguyện
viên tìm kiếm những đang người gặp khó khăn, tìm hiểu
về hoàn cảnh của họ, rồi báo cáo lại trong chương trình
nầy. Chúng tôi được nghe tiếng nói của người gặp khó
khăn, khi họ kể lại hoàn cảnh cũng như yêu cầu được
giúp đở của họ. Qua chương trình, những người muốn giúp
đở gọi đến cho chúng tôi. Tiền cứu trợ được gửi đến
và trong vòng một tuần tôi chuyển số tiền ấy cho người
khó khăn. 18 tháng vừa qua, 70 gia đình đã được giúp đỡ.
Gặp gỡ những gia đình khó khăn đó, tôi cảm thấy mình
như là một sứ giả của các vị Bồ Tát.
Một
trong những kỷ niệm sâu sắc nhất là về một phụ nữ đã
luống tuổi. Trong thời chiến tranh Hàn quốc, bà phải vào
miền Nam với đứa con trai nhỏ, nhưng chồng bà và con trai
lớn bị kẹt lại ở miền Bắc. Bà đã nuôi con lớn và người
con trai nầy học rất chăm chỉ ở đại học. Trước khi tốt
nghiệp, anh gặp tai nạn, bị té, khiến cho đầu óc không
còn tỉnh táo, và bị đưa vào bịnh viện tâm thần.
Giờ
người con trai đã 55 tuổi, đã ở trong viện tâm thần suốt
30 năm. Để đi thăm con, người mẹ phải có khoảng 20 bảng
Anh để đi xe buýt và mua bánh trái, nhưng gần đây vì không
có đủ tiền, bà đã không thể đi thăm con. Bà rất buồn,
ngày nào cũng khóc. Hơn nữa, bà còn bị đau chân trái, không
thể đi đứng bình thường. Là Phật tử, bà cầu nguyện
mỗi ngày ở nhà, vì không thể đến chùa.
Qua
chương trình "Giờ Giúp Đỡ" chúng tôi đã đến thăm và giúp
đỡ bà. Có tài xế taxi đã đề nghị chở bà miễn phí,
để bà có thể thỉnh thoảng đi thăm con. Và nhờ vào sự
viếng thăm thường xuyên của bà mẹ, người con trai đã thuyên
giảm bịnh.
Sau
khi được giúp đỡ qua chương trình nầy, người mẹ đã
nói với tôi: 'Trên thế gian nầy, không có gì xảy ra mà không
có lý do.' Cần phải nhớ điều đó, nhất là đối với những
người hay khi dễ kẻ khác hoặc không giúp đỡ người nghèo
khó, đau khổ. Có cái gì, tôi muốn chia sẻ cái đó với người
đang cần, những người khó khăn hơn tôi.
Khi
người mẹ nầy nhận được một bát cơm hoặc thức ăn gì
đó, bà liền chia xẻ với những người già khác trong xóm.
Khi chúng tôi cho bà tiền, bà không giữ lấy cho riêng mình,
mà cùng chia xẻ với người khác. Mỗi ngày bà đều dậy
từ 3 giờ sáng, cầu nguyện Đức Phật và ngồi thiền. Khi
được gặp những người giống như bà, tôi tràn đầy niềm
vui, cảm thấy công việc của mình cũng có ích lợi. Tôi vui
mừng vì cả hai chúng tôi đều có duyên lành với Đức Phật
và duyên nghiệp ấy đã đưa chúng tôi đến với nhau.
Làng
Sen
Một
câu chuyện khác cũng gây nhiều xúc động cho tôi là câu chuyện
về một người đàn ông khuyết tật rất nặng. Anh giờ đã
37 tuổi, bị bại liệt từ lúc 3 tuổi. Từ lâu anh đã không
thể sử dụng phần thân dưới và chỉ có thể di chuyển
trên một chiếc xe (cart) gỗ nhỏ. Cha mẹ anh đã qua đời,
để lại anh và ba anh em nữa. Một người em khác cũng bị
khuyết tật và đã chết. Hai người còn lại đã rời bỏ
gia đình, từ đó anh không biết tin tức gì về họ.
Trong
bao năm anh đã sống trong một khoảng không gian nhỏ bé chỉ
vừa đủ để ngồi bán báo. Anh thường để dành cho đến
khi có đủ một số tiền. Rồi anh gọi taxi, phải trả tiền
gấp đôi vì sự khuyết tật của mình, đến thăm mộ mẹ,
cúng ít thức ăn và cầu nguyện. Trước căn lều nhỏ của
anh, có tiệm bán bánh của một cặp vợ chồng Phật tử trẻ.
Tám năm nay, họ luôn giúp đỡ, chia xẻ thức ăn cho anh.
Rồi
người ta quyết định làm đường lớn hơn, nghĩa là căn
lều của anh phải bị tháo dở và anh không biết phải đi
về đâu. Chúng tôi nghe được câu chuyện của anh, và sau
khi kêu gọi giúp đở trên đài, chúng tôi nhận được 800
bảng Anh. Chúng tôi cố gắng tìm chỗ ở cho anh qua sở xã
hội và các dịch vụ giúp người khuyết tật, nhưng không
nơi nào nhận anh vì anh không có nguồn lợi tức thường xuyên
và bị khuyết tật nặng.
Tuy
nhiên, ở một tỉnh miền đông bắc có một nơi gọi là Làng
Sen, do một vị sư Phật giáo thành lập để giúp đở mọi
người - khuyết tật, vô gia cư và người bịnh tâm thần.
Vị sư vừa là cha vừa là mẹ của tất cả họ. Cuối cùng,
chúng tôi nhận được điện thoại của nhà sư bảo chúng
tôi hãy đem anh đến và sư sẽ chăm lo cho anh ấy. Vào mùa
thu hoạch, khi người Hàn quốc đi tảo mộ tổ tiên, vị sư
lại đưa anh từ Yechon đến Inchon (một chuyến đi xa) để
anh cầu nguyện nơi mộ mẹ anh, sau đó lại đưa anh trở về
chùa.
Ánh
Sáng Trong Bóng Tối
Mỗi
sáng tôi thức dậy sớm, thực tập hít thở trong vòng 20 phút,
rồi tụng kinh trước bàn thờ Phật. Sau đó tôi quán tưởng
làm thế nào để nói lời chân thật, đúng sự thật bằng
cách quán chiếu về ý nghĩa của các bài kinh. Trước khi kết
thúc, tôi đọc một chương kinh Phật, vì tôi muốn truyền
đạt, diển tả ý nghĩ và lời nói của Đức Phật hơn là
ý nghĩ và lời nói của tôi.
7 giờ,
tôi đến đài phát thanh. Một ngày làm việc của tôi luôn
bận rộn, đôi khi tôi về trễ khoảng 8, 9 giờ tối. Dù rất
mệt mỏi, mỗi tối tôi vẫn tụng kinh và lạy Phật, vị
thầy của tôi. Sau đó tôi quán xét về những việc đã làm
trong ngày, hành thiền, đếm hơi thở vào ra trong 20 phút trước
khi đi vào giấc ngủ. Tôi sắp xếp việc hành thiền vào buổi
sáng và buổi tối như một cách để nối cả một ngày cho
việc thực hành tâm linh của mình.
Trong
thế giới nầy giữa bao đau khổ chúng ta vẫn có thể tìm
thấy hạnh phúc giống như trong bóng tối ta vẫn có thể thấy
ánh sáng. Trong những nỗi đau khổ cùng cực vẫn có nhiều
người sẵn sàng chia sẻ hạnh phúc của họ. Nghĩ về các
số tiền đã quyên góp được, tôi thấy nhiều người đóng
góp không kể đến hoàn cảnh của họ, không phân biệt giữa
họ và người.
Đối
với tôi điều đó còn hơn cả bạc tiền; tôi thấy những
sự đóng góp từ thiện nầy là do lòng chân thành và hảo
tâm của con người. Đối với người không có nhà cửa, chúng
tôi cố gắng tìm cho họ một chỗ ở; đối với người cần
được phẩu thuật, chúng tôi giúp họ được giải phẫu;
đối với trẻ mồ côi, chúng tôi giúp tiền học phí và cố
gắng làm tròn bổn phận cha mẹ đối với chúng. Chúng tôi
cố gắng giúp đỡ những người khốn khó. Nếu Đức Phật
còn tại thế, Ngài cũng sẽ làm như thế.
Chương
15
ĐÔI
MẮT LÀ VIÊN NGỌC QUÝ
Ni
Sư Chân Không
Chân
Không, một ni sư Phật giáo Việt Nam, hết lòng vì sự nghiệp
chuyển hoá xã hội. Hơn ba thập kỷ, Sư đã hợp tác chặt
chẽ với Thiền sư Thích Nhất Hạnh ở Việt Nam cũng như
ở làng Hồng bên Pháp. Lúc nào Sư cũng tìm cách giải quyết
những khó khăn và tán thán niềm vui trong cuộc sống vì người
khác. Làng Hồng thường vang lên giọng hát thanh thót của
Sư, và phong phú hơn vì sự có mặt đầy an nhiên tự tại
của Sư.
Hãy
Dừng Lại Và Quán Sát
Ở
nhà tôi khuyên bạn nên bỏ ít nhất năm phút vào buổi sáng
chỉ để dừng lại. Thiền Phật giáo chia ra làm hai phần:
dừng lại và quán sát. Dừng lại là samatha và quán sát là
vipassana.
Chỉ
cần năm phút cho những người rất bận rộn và cảm thấy
mình không có thời gian để ngồi thiền. Bạn có thể thực
hành ít nhất năm phút, trước khi đi làm: theo dõi hơi thở,
thầm nhủ, 'Thở vào, tôi lắng dịu thân tâm, thở ra, tôi
mỉm cười.' Hoặc bạn có thể chú tâm vào một hình ảnh
được Thầy [Thích Nhất Hạnh] minh họa: 'Thở vào, tôi thấy
tôi là một đoá hoa; thở ra tôi thấy mình tươi mát'. Vào
buổi chiều, lúc ăn bạn có thể dành thời gian để dừng
lại và theo dõi ba hơi thở trước khi ăn.
Phần
thứ hai của thiền Phật giáo là quán sát. Nếu bạn tỉnh
thức suốt trong ngày, thân tâm bạn sẽ không rơi vào cái
bẫy của những hoạt động bất thiện. Buổi tối rất quan
trọng vì bạn có thể trở nên chánh niệm về tất cả những
hoạt động bạn đã làm trong ngày.
Mặc
dù bạn đã cố gắng hành động một cách có chánh niệm,
điều đó rất dễ quên. Vào buổi tối bạn có thể suy ngẫm
về các động cơ hành động của mình. Có thể bạn được
mời trở thành chủ tịch của một hội đoàn nào đó để
giúp người hoạn nạn và bạn rất phấn khởi về điều
đó. Khi quán sát lại, bạn sẽ ngạc nhiên để nhận ra rằng
bạn không quan tâm mấy về các nạn nhân bằng việc có một
vị trí quan trọng.Vì thế bạn phải quan sát sâu sắc để
thấy rõ những ý nghĩ, động cơ, và chủ đích của bạn
tốt hơn. Như thế, bạn sẽ không bị danh lợi, tiền tài
hay tiếng tăm lôi cuốn duới cái vỏ bọc là sự quan tâm
vì xã hội.
Hơi
Thở Là Chốn Nương Tựa
Đức
Phật thực hành việc thở trong tỉnh thức cho đến khi Ngài
nhập diệt. Sau khi giác ngộ, Đức Phật thực hành chánh niệm
trong hơi thở để sống nhập thế gian mà không bị vướng
mắc vào các hoạt động của thế gian. Chúng ta thường nghĩ
khi một người trở thành Phật, thì sẽ thường hằng. Nhưng
trở thành một vị Phật cũng là vô thường, vì thế quả
vị Phật của chúng ta cần luôn được vung bồi. Nếu quá
tự mãn về sự chứng ngộ của mình, chúng ta có thể sa lầy.
Người đã tu tập phải luôn tiếp tục tu tập.
Đức
Phật dạy rằng dù thân ta ở nơi nầy, tâm của ta có thể
ở rất xa. Hơi thở là sợi dây kết nối thân và tâm. Bất
cứ một thiền sinh nào khi mới bắt đầu đều phải học
16 cách thở tĩnh thức mà đức Phật đã dạy trong Kinh Quán
Niệm Hơi Thở (Anapanasati Sutra). Thầy tôi, Thích Nhất Hạnh,
đã tóm lược 16 bài tập nầy trong những bài thơ ngắn như
sau: 'Trong - Ngoài - Sâu lắng - Chậm rãi, tĩnh lặng - thư giản
- mỉm cười - buông thả, giây phút hiện tại - giây phút
tuyệt vời.'
Nghe
thì dễ quá, như là cho trẻ con, nhưng kể cả người đã
thực hành 50 năm, cũng vẫn phải tiếp tục thực hành, nhất
là khi họ lo âu, giận dữ hay không an lạc. Không phải lúc
nào chúng ta cũng có thể an nhiên, tự tại, vì thế ta phải
luôn trở về với hơi thở - khi ngồi trên xe lửa, trên máy
bay, ngay cả trong một cuộc họp quan trọng, vì không phải
lúc nào chúng ta cũng có thể đến thiền đường để thực
tập.
Hơi
thở của chúng ta là nơi nương tựa vững chắc nhất. Khi
trở về với hơi thở, ta có thể tách mình ra khỏi những
phiền não. Thí dụ, trong một cuộc thảo luận ở một buổi
họp, ta có thể tách mình khỏi cái miệng, khỏi đôi tai.
Chúng ta thở một cách có ý thức bốn hay năm lần để chắc
chắn rằng tâm đang có mặt với hơi thở vào ra.
Sau
đó, chúng ta có thể chuyển thành bình tĩnh, thư giãn, bình
tĩnh, thư giãn. Hoặc ta có thể cảm nhận hơi thở của mình
chậm hay sâu hơn. Rồi ta sẽ thấy bình an. Đó là vì không
khí làm cho các tế bào ở phổi ta dịu xuống, rồi khi hơi
thở sâu hơn, theo máu đi khắp nơi, làm cho mọi tế bào trong
thân bình lặng. Hít vào và thư giãn. Thư giãn tất cả các
dây thần kinh, làm cho các tế bào lắng dịu. Mỉm cười và
thở ra, buông xả mọi lo âu; vì thế hãy bình tĩnh, thư giãn,
mỉm cười và buông xã.
Khi
cườì, chúng ta buông thả tất cả những căng thẳng nơi
các bắp thịt. Ta không chỉ mỉm cười trên mặt, ta còn mỉm
cười với tất cả mọi tế bào trong thân. Mỗi tế bào đều
mỉm cười, mỉm cười và buông thả. Khi đã cảm thấy bình
tĩnh, thư thái, ta có thể trở về với giây phút hiện tại.
Ta chỉ có thể là một vị Phật trong giây phút hiện tại;
từ một ngạ quỷ, ta có thể chuyển hóa mình thành một vị
Phật.
Không
có sự khác biệt giữa bên trong và bên ngoài. Khi bạn ra ngoài
với cảm giác tức giận, hãy trở về với hơi thở: vào,
ra, trầm tĩnh, thư giãn, mỉm cười, buông thả. Khi bạn cảm
thấy nỗi sân hận quá mãnh liệt, và với nhiều người ở
xung quanh bạn không thể giải toả nó, bạn có thể đi vào
phòng vệ sinh hay nhà tắm để thiền hành. Trước hết hãy
dừng lại, tự trấn tĩnh mình, rồi quán sát để nhìn rõ
vấn đề, để tìm giải pháp nào có thể khắc phục được
vấn đề và chuyển hoá tình trạng tiêu cực thành một tình
trạng tốt hơn.
Quán
sát không phải là suy đoán hay vận dụng trí óc. Nó có nghĩa
là thử đặt mình vào địa vị của người kia trong trường
hợp đó. Cố cảm nhận được những trở ngại từ quan điểm
của người. Dựa vào đó, bạn có thể hiểu và chấp nhận
người kia. Nếu cần bàn luận về điều gì hoặc làm cho
người kia thông hiểu, bạn có thể làm được cũng dựa trên
cơ bản đó. Mỗi khía cạnh của việc bạn làm sẽ trở nên
dễ chấp nhận đối với người, một khi bạn đã đặt mình
vào hoàn cảnh của họ.
Sống
Với Niềm Vui & An Lạc
Nhìn
thấy người khác được hạnh phúc là niềm vui lớn nhất
trong cuộc sống tâm linh của tôi. Tôi muốn cống hiến điều
gì đó cho hạnh phúc của người. Hạt giống muốn chia sẻ
hạnh phúc với người trong tôi rất mãnh liệt. Tôi muốn
mang mọi người sang bờ bên kia.
Tôi
cố gắng giữ chánh niệm càng nhiều càng tốt khi đi, khi
ngồi, khi ăn. Tôi không nhắm tới một kết quả đặc biệt
nào. Tất cả những hạt giống lành của chủ đích tôi là
ở đó. Khi tôi thanh tịnh, trong sạch, tất cả mọi hạt giống
tốt trong tiềm thức của tôi, như sự cởi mở, lòng tự
nguyện giúp đỡ người, sẽ tự nẩy mầm.
Mục
đích của tôi là đạt được niềm vui, an lạc và thanh tịnh,
sống một cách sâu sắc, và làm mới lại cuộc sống trong
từng giây phút. Khi ở bên cạnh ai đó, tôi cố gắng luôn
có mặt, tươi cười, vui vẻ. Khi đến bưu điện để mua
tem, tôi cố gắng mỉm cười, tử tế, chánh niệm hết sức
mình với người làm việc ở đó. Trong mỗi bước chân, tôi
không có mục đích nào khác ngoài việc làm cho mỗi bước
đi đầy chánh niệm, và khi làm được như thế, niềm uớc
muốn lớn lao của tôi là mang hạnh phúc đến cho nguời khác
tự động phát sinh.
Tôi
cố gắng hết sức để thực tập mà không có lòng kỳ vọng.
Khi tôi thực tập lòng không kỳ vọng, người ta có thể nghĩ
rằng tôi chẳng làm gì hết, chỉ trú trong trạng thái an lạc,
hạnh phúc, thật ra tôi rất năng động, đầy tinh thần trách
nhiệm. Nếu suy nghĩ quá nhiều về điều nầy, tôi có thể
trở nên bất an. Nhưng khi tôi thực tập không kỳ vọng, niềm
vui và an lạc trong từng bước, cố gắng tươi mát, mỉm cười,
làm mới lại chính mình từng giây phút, thì khi gặp ai đó
tôi có thể hoàn toàn có mặt bên họ.
Thời
sinh viên, tôi thích làm việc với những người nghèo trong
các xóm lao động ở Saigon. Chương trình học ở trường được
sắp xếp để sinh viên không có nhiều bài thi trong năm, nhưng
lúc cuối năm tôi phải hoàn toàn thuộc lòng 3000 trang về
khoa sinh vật và ký sinh vật. Trong năm học, tôi bỏ thời
gian với những người nghèo trong các khu ổ chuột, đến lúc
thì tôi chỉ còn hai tháng trước khi thi. Tôi tự nhủ phải
ráng học thật chăm để không làm buồn lòng cha tôi. Trong
hai tháng, mỗi ngày tôi học từ 60 -100 trang. Tôi thích học
như thế và tôi học đi học lại mỗi trang một cách có hệ
thống. Trong hai tháng, tôi học hết 3000 trang. Vấn đề là
ở chỗ biết sắp xếp, nhưng sau khi sắp xếp xong bạn có
thể thực tập không kỳ vọng.
Công
Bằng Xã Hội Trên Thế Gian
Tham
gia công tác xã hội luôn là một phần trong đời sống của
tôi. Lúc đầu, tôi không biết chi về Phật pháp, dù tôi được
sanh ra trong một gia đình rất rộng rãi, thích giúp đỡ người
nghèo. Khi còn trẻ tôi muốn học một cái gì đó để có
khả năng giúp đỡ người nghèo một cách rộng rãì hơn.
Dần dần tôi bắt đầu học về Phật giáo và những lời
dạy của Đức Phật làm tôi rất cảm kích.
Tôi
muốn sử dụng những lời dạy đó để tạo nên công bằng
xã hội, nhưng các vị sư mà tôi biết lúc ấy không đồng
ý với tôi. Họ nói rằng tôi cần phải giác ngộ trước.
Chỉ khi nào tôi giác ngộ, tôi mới có thể giúp đỡ mọi
người. Nhiều vị sư quá bảo thủ đến độ cho rằng làm
thân người nữ là một trở ngại; họ khuyên tôi nên tu tập
để được tái sinh làm người nam. Rồi sau đó, nhiều kiếp
nữa tôi mới có thể trở thành Phật.
Tôi
nghĩ là tôi không cần có thân người nam, tôi không cần trở
thành Phật, tôi chỉ cần sử dụng một số lời dạy của
Đức Phật để mang công bằng xã hội đến cho thế gian nầy.
Sau nhiều năm tìm kiếm, tôi được gặp thầy Thích Nhất
Hạnh. Thầy nói chỉ cần làm một việc, nhưng nếu ta làm
với chánh niệm, ta có thể giác ngộ. Thầy kể cho tôi nghe
chuyện một vị sư chỉ thực hành bằng cách may đồ, nhưng
may với chánh niệm, trở về với mỗi hơi thở, hoàn toàn
chú tâm vào công việc; sau sáu năm, vị sư nầy giác ngộ.
Tương tự như thế, có một vị thầy chỉ giã gạo và một
vị khác nữa đã giác ngộ khi nấu ăn.
Tôi
quyết định là tôi có thể giác ngộ khi là một cán sự
xã hội. Tôi không cần trở thành người nam, và trải qua
nhiều kiếp để trở thành Phật. Tôi có thể giúp người
nghèo, làm giảm nỗi khổ đau của họ, dần dần họ trở
thành một phần của con đường đạo của tôi.
Chưa
Từng Nói Lời Nào
Người
ta gán cho tôi nhiều danh hiệu - 'cán sự xã hội', 'sư cô',
'hành giả'- nhưng chúng chỉ là tên gọi. Một cán sự xã
hội cần phải là một người thực hành chánh niệm tinh tấn.
Nếu người cán sự xã hội làm việc với chánh niệm, với
sự hiểu biết sâu sắc, công việc họ làm sẽ trở nên tuyệt
vời, giống như tác phẩm của một nghệ sĩ. Tên gọi chỉ
là tạm bợ, những nhãn hiệu ngẫu nhiên. Tôi chỉ là tôi.
Sau
45 năm thuyết pháp, Đức Phật tuyên bố: 'Ta chưa từng nói
lời nào'. Đức Phật muốn nhắn nhủ rằng Ngài chỉ sử
dụng ngôn từ như chiếc bè để đưa con người từ bến
bờ khổ đau sang bến bờ giác ngộ, nhưng sau khi đã sang được
bên kia bờ rồi, ta không nên bám víu một cách cứng ngắc
vào chiếc bè, là những lời dạy, những giáo pháp.
Khi
tôi được biết đến Phật pháp lần đầu tiên vào những
năm 1950, tôi muốn trở thành một ni cô, một người từ bỏ
tất cả - việc làm, danh lợi, vinh quang, vân vân - để sống
trọn vẹn cho người khác với tấm lòng từ bi, thông cảm.
Danh hiệu 'ni cô' đối với tôi thật cao quý. Nhưng sau đó
tôi đã gặp một số ni không xứng với hình ảnh tôi đã
phác họa, vì vậy tôi quyết định trở thành ni cô không
màng hình thức. Nghĩa là tôi vẫn để tóc, không cạo đầu
trong nhiều năm, nhưng vẫn tu tập như một người ni. Gần
đây, vào năm 1988, tôi quyết định trở thành một ni cô thật
sự, thọ giới với thầy Thích Nhất Hạnh ở đỉnh Linh Sơn,
Ấn Độ.
Đôi
Mắt Là Những Viên Ngọc Quý
Tôi
luôn cố gắng giúp đở các gia đình Việt Nam gặp mâu thuẫn.
Có khi là người cha ghét người mẹ và ngược lại. Con cái
đau khổ, hoặc gây gổ với cha chúng vì bậc cha mẹ không
tôn trọng lẫn nhau. Tôi cố gắng giúp những gia đình nầy
giải quyết mâu thuẫn để họ có thể sống hoà hợp.
Là
một giảng sư tôi đã chuyển hoá được khá nhiều gia đình,
nhiều người trong số đó sau nầy muốn giúp tôi trong công
việc tôi làm, chính họ cũng trở thành các cán sự xã hội.
Có người đã thành lập những cộng đồng riêng ở châu
Âu, châu Úc, và châu Mỹ để giúp các trẻ em đói nghèo ở
Việt Nam. Vì vậy bây giờ tôi không phải cống hiến tất
cả thời gian của mình để trực tiếp giúp đỡ trẻ em nghèo,
thay vào đó tôi làm việc với những người tôi có thể chuyển
đổi, để rồi họ trở lại giúp tôi trong công việc chuyển
đổi xã hội.
Với
nhiều gia đình, tôi phải vờ dạy con cái giáo pháp để có
thể gần gủi với người lớn. Khi tôi trao đổi với con
cái, cha mẹ cũng thấy xúc động sâu xa, và rồi họ cũng
chuyển đổi theo.
Tôi
thích giảng dạy giáo pháp mà không sử dụng những từ ngữ
to lớn, nhất là đối với trẻ em. Tôi có thể nói, 'Hôm
nay cô có món quà cho tất cả các cháu. Không phải thuốc,
không phải thức ăn. Các cháu có biết là đôi mắt của mình
là những viên ngọc quý không? Khi các cháu mở mắt, các cháu
được thấy mẹ, thấy cha và bầu trời trong xanh. Các cháu
có thể thấy tất cả các hình dáng, tất cả màu sắc. Các
cháu có viếng thăm trường dành cho người mù ở kế bên
không? Họ không thể thấy, còn các cháu thì có những viên
ngọc quý.
'Các
cháu còn có một món quà quý hơn nữa. Hãy nhìn mẹ kìa. Mẹ
thật hiền, luôn chăm sóc các con thật chu đáo. Hãy biết
sự có mặt của mẹ là quý nhường bao, vì một ngày nào
đó có lẽ sẽ quá muộn. Hãy nhớ điều đó.'
Bằng
cách nầy tôi đã dạy cho họ biết trân trọng lẫn nhau.
Lắng
Nghe
Gia
đình đầu tiên mà tôi giúp đở, người con gái than phiền
là cha cô rất khó chịu. Cứ khoảng 3 giờ, mỗi sáng, ông
đều thức dậy, chơi đàn ghi-ta. Không ai có thể ngủ được.
Tiếng đàn của ông làm phiền cả gia đình. Tôi đến thăm
họ và trong một bữa ăn tôi lắng nghe người cha và các con
bày tỏ sự khó chịu của họ.
Tôi
hiểu rằng khi người cha dậy vào lúc 3 giờ sáng để chơi
đàn ghi-ta, đó là vì ông nhớ nhà. Đối với ông, chơi đàn
ghi-ta là để gắn bó với cố hương, cái nền văn hoá sâu
thẳm Việt Nam mà đứa con gái lớn lên ở phương Tây, không
thể nào hiểu. Đối với ông, đàn ghi-ta không phải là âm
nhạc, mà là quê hương - một người em đang bệnh mà đói
nghèo, một người anh lâm vòng tù tôi, và nhiều thứ nữa
mà ông không thể bày tỏ bằng cách nào khác.
Con
gái của ông nói tiếng Anh và lớn lên như bao cô gái Úc bình
thường khác. Cô không biết gì về Việt Nam và điều nầy
làm cho ông càng buồn giận. Ông không biết làm sao giải thích
cho cô hiểu, vì thế ông chơi đàn. Ông còn đập phá đồ
đạc để bày tỏ sự tức giận của mình. Khi tôi kể chuyện
nầy với Thầy, Thầy khuyên hai cha con nên có nhiều thời
gian bên nhau, bớt bận rộn để nói chuyện và lắng nghe nhau,
để chia sẽ khổ đau của nhau.
Tôi
xếp đặt cho hai cha con tham gia giúp đỡ những người nghèo
khó ở Việt Nam và công việc nầy đã giúp cả gia đình.
Lúc đầu, vì đứa con gái sống ở phương Tây không hiểu
được cái khổ ở Việt Nam, nên cô bất cần. Nhưng khi bắt
đầu giúp đỡ một số người trong dòng họ, cả gia đình
đã bắt đầu lắng nghe người cha.
Rồi
tôi giải thích với người cha: 'Con gái ông đi làm, cô rất
mệt mỏi. Khi về nhà thì đã kiệt sức, cô cần được nghỉ
ngơi. Ông có thể giúp con thư giãn chứ?' Bằng cách nầy,
cả gia đình tập lắng nghe, tôn trọng lẫn nhau.
Lễ
Hội & Vui Chơi
Tôi
sử dụng âm nhạc và hát ca như một phần của sự thực
tập. Âm nhạc là một nghệ thuật, nó có thể làm rung động
lòng người sâu xa. Tôi thường được nhắc nhở rằng tu
sĩ không nên ca hát, nhưng ở tất cả chùa Phật giáo đều
có xướng tụng. Tụng kinh là âm nhạc tâm linh. Một bản
nhạc thể hiện vấn đề tâm linh có thể tưới tẩm hạt
giống tâm linh cho người. Tôi không phân biệt giữa âm nhạc
và tụng kinh. Chỉ cần chúng sâu sắc, thanh cao, làm rung động
lòng người là đủ. Thực tập thiền nhạc có nghĩa là bạn
hát với tất cả tâm trí. Tôi hát với đôi mắt, với âm
thanh, với cả sự hiện hữu của mình.
Chúng
tôi có rất nhiều lễ hội ở Làng Mai, để tán thán cuộc
sống. Có lễ hội quýt. Khi một nhóm 20 đứa trẻ, cùng ăn
20 quả quýt, quán sát quả quýt, tận hưởng cái thú khi lột
vỏ, ngửi mùi quýt, và nếm vị của quýt, đó thật sự là
một sự ăn mừng. Hoàn toàn khác biệt với việc ăn quýt
với sự thờ ơ. Chúng tôi có nhiều lễ hội giống như thế.
Có
lễ hội, chúng tôi làm mới lại những dây liên hệ với
gốc rễ của mình, và người dự lễ đến để cảm nhận,
hiểu rõ hơn giá trị của nền văn hoá của mình.
Chân
Không
Pháp
danh của tôi, Chân Không, nghĩa là 'cái không thực sự'. Trong
Phật giáo chữ "không" được dịch từ tiếng Sankrit sunyata
có nghĩa 'vắng bóng một cái ngã riêng biệt'. Đây không phải
là một từ tiêu cực, tuyệt vọng. Đây là sự tán thán về
các mối liên kết nội tại, của sự tương tức. Nó có nghĩa
là không có gì có thể hiện hữu riêng lẻ, rằng tất cả
các pháp đều liên hệ một cách chặt chẽ với nhau.
Tôi
biết là tôi phải luôn tu tập để nhớ rằng tôi không có
một tự ngã riêng biệt, mà mang bao kỳ diệu của vũ trụ,
bao gồm lòng rộng lượng của ông bà, cha mẹ, bao thiện hữu
tri thức, các vị thầy đã giúp đỡ, hỗ trợ tôi trên con
đường đạo. Chúng ta 'những hiện hữu liên kết', do đó
chúng ta không có một cá tính tách biệt khỏi mối liên kết
ấy.
Chương
16
AI
CHỮA LÀNH?
Daehaeng
Sunim
Daehaeng
Sunim, một nữ tu sĩ Hàn quốc, là người chữa bệnh nổi
tiếng. Bà sinh năm 1926, đã trải qua nhiều đau khổ thời
còn trẻ khi quân Nhật chiếm đóng đất nước bà. Bà được
thọ giới ở tuổi đôi mươi, và đã trải qua nhiều năm
ở trong núi sâu, hành thiền, sống đạm bạc. Chính trong thời
gian nầy, bà phát triển khả năng chữa bệnh.
Quý
sư cô ở tu viện của bà rất nhiệt tình, câu chuyện lập
tức chuyển ngay sang việc hành thiền trong cuộc sống hàng
ngày. Mục đích của họ là theo dõi tâm thức trong ngày và
tin tưởng vào Nhất Tâm (One Mind). Họ không thực hành nhiều
việc ngồi thiền, vì họ nghĩ cần phải chuyển động theo
thời gian và không phân biệt giữa sự bận rộn và tỉnh
lặng.
Vị
ni trưởng, là đệ tử của ni sư Daehaeng Sunim, dáng người
nhỏ bé nhưng rất mạnh bạo. Bà tiếp nhận người bệnh
đến từ mọi miền trên đất nước Hàn, để được ni sư
Daehaeng Sunim chữa bệnh. Bà hỏi lý do tại sao họ đến -
đau lưng, đau bụng, bịnh tâm thần, phiền muộn với chồng
hay con (vì phần đông người đến là phụ nữ). Ngay sau khi
họ kể lể bịnh tình, Ni trưởng bảo họ đây không phải
là nhà thương, đây là nơi tu tập. Tại sao họ muốn gặp
ni sư Daehaeng Sunim? Chỉ có họ mới có thể chữa bệnh của
chính mình. Cuối cùng mọi người cũng sẽ được gặp ni
sư chữa bệnh, nhưng chỉ sau khi họ suy nghĩ sâu xa về động
cơ, về nguồn gốc căn bệnh.
Quan
Sát Và Thử Nghiệm
Khi
ai đó đến gặp tôi, bất cứ đau khổ hay khó khăn gì họ
gặp phải, về tinh thần hay thể chất, tôi khuyên họ gom
tất cả sức lực, khả năng của họ lại, rồi hãy để
mọi việc cho Ju In Gong (thầy của cơ thể). Ju In Gong là cái
tâm thức khiến cho cái 'Tôi' hiện tại, di chuyển, nói năng,
ăn uống, nghĩ suy. Nguồn năng lượng của vũ trụ trực tiếp
nối kết với tâm thức nầy, vì thế nguồn năng lượng này
được gọi là Ju In Gong.
Quan
sát tâm trong mọi hành động có nghĩa là trong đời sống
hằng ngày không có gì không phải là thiền. Đấy cũng có
nghĩa là khi đang tham công án, thì tất cả đều là công án.
Chúng ta không thể nói là mình giữ công án riêng biệt ở
nơi nào đó. Không có gì riêng biệt khi nói đến việc khám
phá ra cái ngã thật sự của chúng ta, vì chân lý nguyên thuỷ
của vũ trụ không thể chia cắt.
Bạn
cần phải hiểu và tin ở bản thân. Để biết được những
khó khăn hay nỗi khổ của mình, bạn phải để việc đó
cho vị thầy nội tại bên trong bạn. Không cần phải coi nỗi
khổ là mình, vì tất cả đều là không và không có gì để
bạn bám víu vào. Vì lẽ đó, hãy buông xả nó, rồi như nó
là, nó sẽ tan biến đi.
Tuỳ
vào cách bạn đã sống trong quá khứ, mọi thứ đều tự
động ghi lên số phận của bạn. Khi một việc gì đó đã
được ghi lại, thế là nó sẽ xuất hiện trong hiện tại.
Hãy đặt mọi thứ xuống, để nó lại chỗ đã xảy ra. Nếu
bạn làm như thế, thì cả nghiệp tốt lẫn nghiệp xấu của
bạn sẽ hoà tan, biến mất. Cái máy ghi băng đã lưu trữ
dữ liệu của tất cả các nghiệp sẽ trở nên trống rỗng.
Cái gì sẽ được ghi lại trên cuộn băng trống ấy? Bạn
hãy tự quyết định.
Bỏ
mọi thứ xuống, tất cả những điều bạn biết hay không
biết. Nếu bạn biết một điều gì đó, có thể bạn cũng
không biết một điều gì khác, như thế bạn không thể biết
định luật của nhất nguyên, không đối đãi. Bất cứ là
điều gì, tất cả mọi thứ bạn có thể biết, hãy buông
bỏ. Nếu bạn không buông bỏ, tôi không thể nào thấy được
bản ngã chân thật của bạn.
Cuộc
Sống Mỗi Ngày Là Thiền
Tôi
sống đời sống một nữ tu, bỏ hết mọi thứ sang một bên,
như thế tôi hành động không một chút phân biệt. Hãy sống
không phân biệt. Khi bạn làm một việc gì đó, bạn có thể
nói rằng bạn đã thật sự làm việc đó không? Nhìn, nghe,
nói - mọi thứ đều xuất phát từ thiên hình, vạn trạng
của sự vật trong từng phút giây.
Khi
bạn thấy một vật gì, nghe một điều gì hoặc làm một
việc chi, bạn có thể nói là tôi đã thấy, nghe hay làm gì
đó không? Thế giới của tâm linh bao gồm vạn pháp, và bạn
có thể gọi đó là nhất tâm. Nó giống như không gian - bạn
không thể thấy hoặc nắm bắt được, nhưng tâm đó vẫn
hiện hữu.
Chỉ
có sự tĩnh lặng không thể là thiền. Ồn ào quá cũng không
phải là thiền. Cái được gọi là 'Thiền' cũng không dính
với chữ 'công án'. Thiền đứng, thiền nằm và thiền ngồi
- tất cả đều là Thiền. Trong suốt cuộc sống, không có
cái gì không phải là thiền. Bất cứ tôi làm gì - vào nhà
vệ sinh, ăn, ngủ - tất cả đều là thiền. Bạn có thể
gọi là gì khác hơn? Kể cả cái gọi là 'thiền', bạn cũng
không thể bám víu vào, vì nó chỉ là nó.
Với
quý tăng, ni hay cư sĩ, tôi đều giảng dạy giống như thế.
Vì trong cuộc sống, không có cái gì không phải là Thiền,
cuộc sống mỗi ngày là thiền. Cứ như thế, hãy quan sát,
cứ như thế, hãy hành động, đó là thiền.
Vì
lý do đó mỗi người tự chữa bệnh cho mình. Chính họ phải
làm cho nỗi đau, nỗi khổ biến mất, chính họ phải làm
cho gia đình hoà hợp, như thế họ mới tiến bộ được.
Tôi không thể cho họ lòng từ và trí tuệ; chỉ có họ tự
biết, và tự tìm kiếm. Nếu bạn quan sát, nếu bạn thử
nghiệm, trí tuệ sẽ tăng trưởng, các vấn đề sẽ được
giải quyết.
Con
người có nỗi khổ tuỳ theo nghiệp của họ. Bạn có thể
tự suy ngẫm, và không nuôi dưỡng oán giận, hãy nói năng,
hành động một cách dịu dàng. Tất cả mọi việc hãy để
cho Ju In Gong. Nếu bạn làm việc gì cũng nhẹ nhàng, dịu dàng,
mọi vấn đề sẽ được giải quyết. Khi đêm tối, nếu
bạn đốt đèn lên thì bạn có thể sống trong ánh sáng.
Không
Có Gì Cố Định
Giữ
giới luật có nghĩa là bạn giữ mọi việc trong lòng mình.
Đừng đổ lỗi cho ai. Nếu bạn sống không tham lam, thì bạn
không chỉ giữ được 100, 200, 300 giới luật, mà bạn còn
có thể hoàn toàn giữ được mọi thứ khác. Kể cả trí
tuệ. Nó còn có thể ở nơi nào khác nữa? Trí tuệ không
xa rời giới luật.
Rỗng
không nghĩa là những gì bạn thấy không cố định. Bạn có
thể thấy, nghe cái nầy hay cái kia, đến nơi nầy, nơi khác,
gặp gở người này, người kia, ăn thứ nầy, thứ khác. Không
có gì cố định. Vì lý do này, khi tôi làm một việc gì đó,
tôi không thể nói tôi đã làm cái gì đó, và khi tôi thấy
một cái gì, tôi không thể nói tôi đã thấy cái gì đó.
Kể cả cái tôi cũng rỗng không. Tất cả đều rỗng không.
Đức
Phật có nghĩa là nguồn gốc cuộc sống. Giáo lý muốn nói
là bạn thấy và không thấy, vạn pháp trong thế gian, tất
cả đều nối kết, xoay vần với nhau. Sự hòa nhập của
vạn pháp là một bài pháp. Vì thế giáo lý của Đức Phật
không có biên giới, không rào chắn, hay giới hạn; Phật giáo
là sự diển tả chân lý rốt ráo nhất.
Người
Tây phương có khuynh hướng suy nghĩ quá nhiều về trạng thái
tâm của họ, kết quả là họ đau khổ. Khi khổ đau dấy
khởi, nếu bạn giao nó cho Nhất Tâm, thì tâm trở nên an lạc.
Như thế, bạn sẽ không có vấn đề gì trong việc hành thiền,
không đuổi theo các vọng tưởng. Bên ngoài bạn không bị
dính mắc, và nội tâm trở thành nơi thực tập quan sát, giữ
gìn, chứng nghiệm.
Chữa
Lành
Bạn,
chính bạn là Đức Phật Dược Sư, Bồ Tát Quán Âm, Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni, tất cả mọi thứ. Bạn có thể trú
nơi bản tâm, nhưng bạn cũng phải quan sát, giữ gìn tâm thức
của mình. Bằng cách nầy, người ta có thể tự chữa bệnh
trong khi thực tập, rồi đau khổ của họ sẽ biến mất.
Tâm
của tôi và tâm của người cư sĩ không phải là hai. Giống
như dòng điện: cần có hai dây để tạo ra ánh sáng. Tương
tự như thế, tâm của người cư sĩ và tâm của tôi kết
hợp với nhau để tạo ra năng lượng. Ai có thể nói là người
nào chữa bệnh cho người nào? Vì hai tâm thức nầy giống
như dây điện và bóng đèn, cần phải chạm vào nhau, kết
hợp nhau để tạo ra ánh sáng, khi có sự va chạm, ánh sáng
tự động phát ra. Vì lẽ nầy, không bên nào có thể nói
là chính mình làm việc ấy. Điều duy nhất chúng ta có thể
nói là đức Phật đã lành bệnh.
Có
cái gì không phải là Phật không? Bên trong Đức Phật, có
chúng sanh; trong chúng sanh có Phật. Đó là sự phản chiếu.
Đôi khi người ta hỏi tôi nếu giáo pháp có thể trị được
bệnh, nhưng thật ra có ai ở đó để được chữa bệnh?
Khi bạn tu tập là bạn đã tự chữa bệnh cho chính mình.
Chương
17
PHẬT
PHÁP TRONG ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH
Christina
Feldman
Christina
Feldman, giáo sư dạy thiền, và là mẹ của hai đứa con nhỏ,
sống ở Toronto, Devon. Rất mực lo cho con cái, nhưn bà cũng
tham gia các hoạt động ở Gaia House, một trung tâm dạy thiền
mà bà đã đồng sáng lập vào năm 1984. Giữa bao bộn bề,
bà vẫn đơn giản, dể thương. Bà là tác giả của quyển
sách Quest Of The Warrior Woman (Cuộc Truy Lùng Của Người Nữ
Chiến Binh, NXB Aquarian, 1994) và nhiều sách khác.
Một
Hoàn Cảnh Đầy Thử Thách
Khi
đã có gia đình, tôi vẫn quyết tâm tiếp tục tu hành. Vì
thế nhiều người bảo rằng tôi không thể nào kham nổi việc
đó. Họ nghĩ nếu đã có con nhỏ, lý ra tôi đã phải nghỉ
dạy vì việc chăm sóc các con đã chiếm hết thì giờ và
sức lực của tôi; việc hành thiền, dạy thiền phải gác
lại cho sau nầy. Nhưng tôi kiên quyết phá bỏ các ý kiến,
quan niệm gò bó nầy, dầu đó không phải là động cơ chính
của tôi.
Đó
là một thử thách vì có rất ít các thầy cô giáo là phụ
huynh, lại càng ít hơn các cô giáo có con nhỏ. Vì thế khi
tôi có đứa con đầu lòng, người ta đã nghĩ là tôi sẽ
nghỉ dạy, đến khi tôi có đứa thứ hai, họ nói rằng: 'Giờ
thì chắc chắn rằng cô ấy phải nghỉ dạy thôi!'; nhưng
tôi vẫn tiếp tục. Có con không có nghĩa là chấm dứt việc
hành thiền và dạy thiền, chỉ hoàn toàn lo bổn phận làm
mẹ cha, trong khi tôi coi việc nầy dưới nhiều khía cạnh
là một thử thách lớn để mình tu tập.
Nếu
sống ở tu viện, bạn dể hành thiền hơn. Cũng thế, bạn
dể là thiền giả khi ở trong một môi trường lý tưởng,
được bảo vệ như ở các khóa tu thiền. Nhưng thử thách
cam go của pháp hành là khả năng sống trong pháp, áp dụng
pháp của chúng ta, không chỉ trong những lúc vui vẻ, thoả
mái mà cả trong những hoàn cảnh khó khăn. Tôi phát nguyện
mạnh mẽ trong tâm rằng phải tiếp tục việc hành và dạy
thiền của mình.
Tôi
rất may mắn được làm người hướng dẩn hành thiền vì
tôi không phải làm các công việc nhàm chán mỗi ngày từ
sáng tới chiều. Tôi cũng được sự hỗ trợ của chồng,
là người có lòng ngưỡng mộ Phật pháp sâu xa, cũng như
công việc truyền bá Phật pháp. Anh luôn sẵn lòng giúp đở
tôi chăm sóc con cái. Khi các con còn nhỏ, còn phụ thuộc nhiều
vào tôi, tôi phải đặt ra những kỷ luật khắc khe cho mình
để có thể tiếp tục tu hành, giảng dạy một cách sống
động, đầy khám phá.
Khi
các con còn nhỏ, tôi thường không thể bắt đầu làm việc
hay có thời gian để tĩnh lặng, quán tưởng hoặc viết lách
cho đến khoảng chín, mười giờ tối, mà rồi cũng chỉ được
có vài tiếng đồng hồ. Có lẻ cha mẹ nào cũng biết, trẻ
con thường cứ hai ba tiếng lại thức giấc. Thật rất cần
một sự rèn luyện khắc khe khi các con còn nhỏ và còn phụ
thuộc nhiều vào mình, đó là điều tối cần thiết; nều
không công phu tu tập của tôi chắc đã bị gián đoạn.
Đôi
khi tôi phải cắn răng chịu đựng để tuân giữ các kỷ
luật đó. Đến khi các con ngủ, tôi cũng rất muốn đọc
sách hay nằm xuống nghỉ ngơi. Vậy mà mỗi đêm tôi vẫn
dành thời gian tọa thiền, nhưng cuối cùng tôi nhận thấy
rằng mình đã góp phần duy trì sự sống của một đường
hướng nội tâm, của cái thấy nội tâm, mà không bất cứ
vai trò nào khác của tôi trong cuộc sống có thể chi phối
nó. Mỗi lần được hành thiền như vậy là một cảm giác
tươi mát, đầy định hướng như lan sang cả ngày hôm sau.
Từng phút giây tọa thiền đều đáng trân quý, dầu rằng
đôi khi tôi cũng ở trong trạng thái hôn trầm.
Hành
Thiền & Nuôi Con
Khi
các con lớn hơn, chúng càng khiến tôi thấy việc hành thiền
thêm cấp bách. Bổn phận làm cha mẹ là một thách thức ở
mọi lúc, mọi nơi. Tất cả những yếu tố quan trọng trong
việc hành thiền như -kiên nhẫn, tha thứ, buông bỏ, từ bi,
kiên định và xả ly- cũng là những yếu tố quan trọng trong
việc nuôi dạy con cái. Con cái tạo cho chúng ta cơ hội để
phát triển, vung trồng, bồi dưỡng các đặc tính nầy một
cách trực tiếp, mạnh mẽ.
Một
số điều trong thiền mang đến cho bạn sự sâu lắng, hiểu
biết và thanh tịnh, cũng áp dụng được trong việc nuôi dạy
con cái. Tôi nhận thấy hình như sự buông xả là mối liên
hệ quan trọng nhất giữa tham thiền và làm cha mẹ -chỉ là
không bám víu vào các sự việc, hình ảnh của những gì vừa
xảy ra ít phút trước, của những bất ổn từ giây phút
nầy qua giây phút khác. Sống với tâm rộng mở, tươi mát
khiến cho việc nuôi dạy con cái trở thành một kinh nghiệm
thiền định hơn là một bổn phận.
Nếu
các bậc cha mẹ phải đến một thiền viện để tu tập chuyên
sâu, họ sẽ cần có lòng từ bi, xả ly, tinh tấn và kỷ luật.
Nếu bạn mời một vị tăng hay ni đến nhà để chăm sóc
con bạn, họ cũng cần phải vung trồng đầy đủ các đức
tính kể trên. Cốt yếu là chúng ta phải trân trọng các đức
tính nầy như một phần của cuộc hành trình đời sống nầy,
trong bất cứ hoàn cảnh nào. Chúng không thể thiếu trong việc
tu tập cũng như nuôi dạy con cái.
Tôi
rất quan tâm đến cuộc sống của các con. Tôi theo dõi sát
sao việc học hành của chúng, liên hệ tốt với các thầy
cô của chúng, và giúp đở trường học của chúng khá thường
xuyên. Tôi cố gắng tạo cho con cái có những hoạt động
hữu ích bên ngoài học đường. Khi các con rảnh rỗi, chúng
tôi dành nhiều thời gian ở bên chúng, phần lớn là ở ngoài
thiên nhiên. Chúng tôi rất cởi mở, chia sẻ tâm tình với
con cái. Khi chúng lớn hơn, có những điều trong cuộc sống,
chúng sẽ không muốn tôi quan tâm đến. Ngay chính bây giờ,
có những việc chúng đã không mời tôi tham dự, và tôi cũng
không buồn phiến vì chúng đã làm như thế.
Khoảng
thời gian mà các con xa tôi lâu nhất là tám ngày. Tôi luôn
mang chúng theo khi tôi phải dạy các khoá thiền ở nước ngoài.
Tôi không bao giờ muốn mình trở thành những người cha, người
mẹ luôn vắng bóng, và con cái chúng tôi biết cha mẹ luôn
có mặt bên cạnh mình. Đối với tôi, cha mẹ có ý thức
có nghĩa là họ phải sẳn sàng tham dự vào cuộc sống của
nhau. Tôi tin rằng mối dây thân thiết mà chúng ta thiết lập
từ khi con cái còn nhỏ sẽ tạo nên một nền tảng vững
chắc cho sự tự lập của chúng khi chúng trưởng thành.
Là
những người cha mẹ theo Phật giáo có nghĩa là chúng ta phải
thiết lập trong gia đình một sự hiểu biết sâu xa về các
vấn đề đạo đức, những điều luật mà các con phải tuân
theo. Những giá trị đạo đức mà giờ chúng phải tuân theo,
sẻ thành một phần của cuộc đời chúng. Điều đó liên
quan đến cái nhìn của chúng ta về cuộc sống, cảm nhận
của chúng ta về sự tuơng quan và trách nhiệm đối với nhau.
Tâm
Linh Của Con Cái
Khi
các con tôi lớn hơn, chúng cảm nhận được rằng Phật pháp
là trọng tâm đời sống của tôi. Nhưng chúng cũng dự phần
lớn trong đó và tôi khuyến khích chúng tự chọn lựa con
đường tâm linh của mình. Chúng ủng hộ một cách tự nguyện
công việc tôi làm, việc giảng dạy của tôi, cũng như khi
chúng theo tôi đến các khóa tu thiền.
Con
cái thường tìm con đường riêng của chúng trong vấn đề
tâm linh và sứ mệnh của tôi không phải là ép con cái vào
một khuôn mẫu nào đó của những người hành pháp. Tuy nhiên
hầu hết cha mẹ không thể tránh được việc ảnh hưởng
đến con cái qua các hành động, lời nói, việc làm của mình.
Điều quan trọng là tôi đã ảnh hưởng tốt đến các con,
khuyến khích chúng biết tự suy xét, tìm hiểu vấn đề.
Tôi
đề nghị là chúng ta dạy cho con cái những nền tảng đạo
đức trong Phật pháp, các giới luật. Những điều nầy đã
là một phần trong cuộc sống của các con tôi từ khi chúng
mới biết nghe, và nhờ sự ảnh hưởng nầy, các con tôi dần
có một sự hiểu biết sâu xa về các mối liên hệ. Thí dụ,
chúng sẽ không làm hại bất cứ sinh vật nào, vì chúng biết,
từ kinh nghiệm bản thân, rằng đó là sự xâm phạm cuộc
sống. Dỉ nhiên các giá trị đạo đức của chúng không thể
tách rời khỏi sự ảnh hưởng của cha mẹ, của kinh nghiệm
thời thơ ấu, nhưng chúng đã thấm nhuần các điều nầy.
Chúng tôi dạy cho các con biết về chánh niệm, lòng từ bi,
sự tỉnh thức bằng các kinh nghiệm của chúng. Nhưng bạn
không thể khiến chúng tỉnh thức, bạn không thể bó buộc
chúng phải như thế nào đó. Chúng phải tự chọn cuộc hành
trình cho mình, cha mẹ chỉ là người hướng dẩn, giống như
vị pháp sư cũng chỉ là một hướng dẫn viên.
Trong
10 năm, tôi đã làm người hướng dẫn các khóa tu thiền chuyên
sâu dành cho các gia đình ở Barre (tiểu bang Massachusetts, Hoa
Kỳ). Mục đích của một khóa tu gia đình là để tạo cơ
hội cho các bậc cha mẹ có thể tu tập mà không phải rời
xa con cái. Chúng tôi có tổ chức giữ trẻ, để cha mẹ có
những giờ phút yên ổn hành thiền. Việc nầy ít có ở phương
Tây, vì rất ít các trung tâm tu thiền chịu tiếp nhận trẻ
nhỏ.
Thông
thường cha mẹ phải tạm xa con cái để theo đuổi, phát triển
đời sống tâm linh cho riêng họ. Dưới mắt con cái, cách
làm nầy thật kỳ quặc, vì có vẻ như tâm linh là một việc
mà cha mẹ phải đi đâu mới thực hiện được; cha mẹ của
bạn bè chúng thì đi nhà thờ hay thánh đường, trong khi cha
mẹ chúng phải đi đâu đó để hành thiền. Qua các khoá tu
thiền dành cho gia đình, chúng tôi muốn tìm cách phá vỡ sự
cách biệt nầy.
Con
cái sẽ không có khái niệm gì về thiền cả, nên chúng sẽ
coi tâm linh là một vấn đề lạ lẫm, kỳ quặc, khó hiểu.
Tôi thấy rõ nhiều trẻ em không hề biết đến tâm linh trong
cuộc sống của chúng. Cha mẹ chúng thuộc thế hệ bác bỏ
mọi tôn giáo truyền thống, không hề đến nhà thờ, chùa
chiềng, nên những đứa trẻ nầy hoàn toàn không biết đến
một biểu tượng tôn giáo nào. Ở Mỹ, việc giáo dục tôn
giáo ở nhà trường là bất hợp pháp; thay vào đó trẻ em
được dạy về các biểu tượng của chủ nghĩa tiêu thụ,
lòng ham muốn, sự tẩy chay. Rõ ràng là Phật giáo ở phương
Tây cần để cập đến những vấn đề nầy, và góp phần
đào tạo một thế hệ mới của những người có ý thức
tâm linh.
Tâm
linh có thể bao gồm tất cả mọi vấn đề trong cuộc sống
của chúng ta, kể cả việc nuôi dạy con cái, các mối liên
hệ, sự ứng xử với người chung quanh,cũng như trong công
việc. Như thế, tâm linh không phải là sự ngụy trang hay lốt
áo ta mặc vào khi đến các khoá tu, rồi lại cởi bỏ ra khi
trở về nhà. Cho con cái theo đến các khóa tu là một cách
để nhận nhìn vấn đề nầy. Trong việc giảng dạy thiền
ở phương Tây, người ta thường nghĩ rằng cuộc hành trình
tâm linh là lãnh địa của người lớn, nên cuộc sống tâm
linh của người trẻ tuổi thường ít được đề cập đến.
Tựa như là con cái không có những lãnh vực tâm linh và nhu
cầu tâm linh của riêng chúng. Hình như là chúng ta mong mỏi
con cái mình sẽ trửơng thành trong nền văn hóa phương Tây,
tạo ra những lỗi lầm gì đó, tích luỹ những vấn đề
không thể giải quyết nào đó mà chúng có thể tích lũy,
rồi khi đã đủ trưởng thành, chúng sẽ tìm đến một khóa
tu nào đó để giải quyết tất cả.
Vì
thế với các khóa tu gia đình, chúng tôi bắt đầu cho con
cái dự trong những thời khóa ngắn, và cho cả gia đình hành
thiền với nhau. Các cháu sẽ đến thiền đường mỗi ngày
một lần trong nửa tiếng và chúng tôi sẽ hành thiền quán
từ bi, tụng một ít kinh hay thực hiện một nghi lễ gì đó.
Tôi cũng không biết các bậc phụ huynh có chấp nhận việc
tôi dạy Phật pháp cho con cái họ hay không, nên năm đầu
tiên, việc nầy được thực hiện rất giới hạn.
Với
thời gian, một số em có những nhu cầu khác, nên đã ra đi,
và các em mới đển lại thế chỗ vào. Các em muốn có thêm
trong khóa tu những gì liên quan đến các nhu cầu của các
em, hơn là những gì người khác nghĩ là các em cần. Các em
lớn hơn nữa, lại yêu cầu có thêm các nhóm thảo luận,
giảng dạy và thực hành. Các em cũng thực hành một số thời
khóa tọa thiền và kinh hành. Các em nhỏ hơn thì có những
sinh hoạt hơi khác, và cũng còn cần nhiều thay đổi.
Qua
quá trình gần gủi các em, nhất là những em đã đến với
khóa tu thiền hơn một lần, tôi nhận thấy rằng các em rất
cởi mở, có thiện chí, có hứng thú trong việc tìm hiểu
Phật pháp, là điều gây khá nhiều ấn tượng nơi tôi.
Dần
dần tôi cảm thấy tự tin hơn vào khả năng truyền dạy Phật
pháp cho các em cũng như khả năng lãnh hội của chúng. Tôi
nghĩ điều quan trọng và thiết yếu là chúng ta phải xem các
em như những người có đầy đủ trách nhiệm tâm linh. Các
em có thể chưa phát triển đầy đủ về thể xác, còn thiếu
sót trong giao tế, nhưng các em cũng được thụ hưởng tâm
cởi mở và một khả năng lãnh hội đáng kể.
Giải
Thoát Không Đòi Hỏi Giới Hạnh Hoàn Hảo
Thiền
tựu trung là sự tỉnh thức trong cuộc sống và trong chính
nội tâm của ta. Đó là tâm điểm của mọi con đường đạo.
Chánh niệm giúp chúng ta tỉnh thức, có mặt trong từng giây
phút hiện tại, và một số nghi thức, cũng như công phu hành
thiền là những việc làm để nhắc nhở chúng ta chánh niệm.
Khi mới bắt đầu tu thiền, tôi không có kế hoạch gì đối
với những gì tôi đang theo đuổi, tôi thường dựa vào các
vị thầy của tôi. Họ khuyến khích tôi quán về từ bi, về
các mối liên hệ hay sự vô thường, về cái không ngay chính
trong các kinh nghiệm của bản thân.
Dần
dần, tôi phát triển lòng tin, tín tâm sâu đậm, cả trong
việc thực hành lẫn trí tuệ phát sinh từ việc thực hành.
Giờ tôi thấy sự hành thiền của mình đã có nền nếp riêng,
không liên quan gì đến sự chọn lựa của tôi. Nó có những
giây phút vận hành riêng, đôi khi không lường trước được.
Có những lúc tôi có ý phát triển định, tâm từ hay tâm
nghi, nhưng nhiều khi sự hành thiền của tôi lại phát triển
theo một cách khác, không liên quan gì đến ý hướng của
tôi.
Định
không nhất thiết phải có trước khi đạt được trí tuệ,
nhưng sự bình an, tĩnh lặng giúp cho trí tuệ thêm sâu lắng
và sự chuyển hoá được tinh tế hơn. Bất cừ ai muốn được
giác ngộ đều được lợi ích khi biết cách phát triển trạng
thái thanh tịnh, tâm sáng suốt, là những yếu tố liên quan
mật thiết đến sự phát triển chánh niệm.
Thật
khó mà bày tỏ các sự lợi ích của chánh niệm, chú tâm
với người khác, mà không hàm ý rằng việc đạt được
giác ngộ tùy thuộc phần lớn vào sự hoàn thiện của từng
cá nhân. Động lực chính thúc đẩy người ta bắt đầu hành
thiền là người ấy phải thật sự muốn chuyển đổi, muốn
hoàn thiện bản thân, muốn tìm con đường giải thoát khỏi
mọi khổ đau. Thiền không phải chỉ là theo đuổi việc hoàn
thiện bản thân và hạnh phúc cá nhân; con đường tâm linh
là nhằm chấm dứt khổ đau cũng như nguyên nhân của khổ
đau, nhằm phát triển lòng từ bi vô hạn, cũng như trí tuệ
giải thoát.
Khả
năng biểu lộ trí tuệ qua các hành động khôn ngoan, từ bi
không nhất thiết phải gắn với các chứng nghiệm cao sâu
nào trong thiền định. Bám víu vào sự hoàn hảo, vào kết
quả của các chứng nghiệm, cùng với sự tự đánh giá không
ngừng nghỉ trong nội tâm dựa vào sự có đạt được chứng
nghiệm hay không là một trong những rối loạn thần kinh trầm
trọng của người hành thiền.
Có
hàng ngàn phương pháp tu thiền khác nhau, nhưng mục đích chính
trong phần lớn các phương pháp vẫn là để giúp cho người
hành thiền đến gần hơn với sự sống trong từng giây phút
hiện tại, vì vậy các phương pháp đều nhằm vào phát triển
sự tỉnh thức. Do đó các đề mục được xử dụng -dầu
là câu niệm, một hơi thở hay sắc thân- điều đó không
quan trọng lắm. Đề mục có thể thay đổi tùy theo sự thích
hợp của mỗi người, tùy theo điều gì đem lại cho thiền
giả nhiều lợi ích nhất. Không có một quy trình thứ lớp
nào cho các đề mục thiền quán; theo dõi hơi thở để phát
triển trí tuệ không hẳn là tốt hơn việc xử dụng một
câu chú niệm hay ngược lại.
Tất
cả mọi người bắt đầu đến với thiền đều đã được
trang bị đầy đủ những gì cần có. Họ không cần phải
học nhiều điều trước khi bắt đầu hành thiền; mọi người
đều có hơi thở để trụ vào đó, chú tâm theo dõi. Bạn
không cần phải có bí truyền hay mật truyền gì, không cần
có nhiều kinh nghiệm hay một môi trường đặc biệt nào.
Đó là điều quý báu nhất của thiền -bạn không cần phải
là một người đặc biệt nào đó, hay ở một nơi đặc biệt
nào khác. Tỉnh thức là chuyển hóa, nó phá vỡ các thành
kiến, sự bám víu, ảo tưởng, xuyên tạc, để nhanh chóng
mang đến cho nội tâm ta sự bình an, hạnh phúc.
Tỉnh
Thức Mang Lại Hạnh Phúc
Tôi
cố gắng giữ cho cuộc sống của mình đơn giản, quyết tâm
không để cho cuộc đời mình chịu nhiều xáo trộn. Tôi không
muốn có những xáo trộn, đó không phải là điều tôi chọn
lựa, chúng không đem lại lợi ích gì cho tôi. Khi có nhiều
việc phải làm, tôi cẩn thận sắp xếp các việc phải làm
mỗi ngày. Đó là những lúc tôi làm được việc. Nếu tôi
tiếp xúc với tâm an tĩnh, thì cuộc sống tôi được an tĩnh
ngay cả khi tôi rất đang bận rộn. Ngược lại nếu tôi không
cảm thấy an tĩnh, thì tôi không thể tìm được sự an tĩnh,
hoà hợp bất cứ ở đâu trong cuộc sống. Tôi không nghĩ
rằng sự xáo trộn, mất thăng bằng gắn liền với cuộc
sống; mà đúng hơn là với sự lựa chọn của chúng ta trong
cuộc sống và cách sống của chúng ta.
Tôi
luôn sống trong chánh niệm. Dầu đang viết lách, tiếp chuyện
với người, gặp gở các thiền sinh hay đọc sách báo, phần
nhiều tôi luôn giữ chánh niệm. Đôi khi chúng ta dể nghĩ
rằng được mộng mơ cũng thích, như khi ta chìm trong những
giấc mộng, trong sự tưởng tượng nhưng thực ra, tôi cảm
thấy sống xa rời thực tế như thế mới đúng là phiền
não.
Tôi
rất cần tạo cho mình những khoảng thời gian được một
mình, vì tôi cảm thấy sự đơn độc tái tạo sinh lực, làm
tươi mát tôi hơn. Ở phương Tây, chúng ta có nhiều cách thư
giãn rất lạ kỳ. Chúng ta đọc sách, nghe nhạc, ăn uống
và mơ mộng cùng một lúc, vậy mà ta lại nghĩ là mình đang
chăm sóc bản thân. Đối với tôi, đó là đơn đặt hàng
cho sự xáo trộn.
Khi
hướng dẫn một khóa tu thiền, tôi cũng coi đó là một khóa
tu dành cho bản thân. Tôi không coi đó là khoảng thời gian
chỉ để dạy người khác. Vì các khóa tu tạo cho tôi những
cơ hội quý báu để tham dự vào nhiều thời khóa tu thiền,
tĩnh lặng. Do đó tôi không cảm thấy mình chỉ là người
dạy.
Tôi
chưa bao giờ có cảm giác mình đã đạt được điều gì
trong công phu tu tập của bản thân; hình như lúc nào cũng
có một điều gì nữa cần được khám phá, vì thế việc
hành thiền của tôi luôn sống động, mãnh liệt. Nếu thiền
chỉ là một điều gì đó tôi thực hiện cho người khác,
chắc là tôi chẳng còn hứng thú gì. Tôi chưa từng có cảm
giác đó, và hy vọng rằng tôi sẽ chẳng bao giờ có cảm
giác rằng mình đã đến đích.
Cộng
Đồng Tâm Linh: Một Sa Mạc Hay Ốc Đảo?
Để
hành thiền trong cuộc sống đời thường, quan trọng là ta
phải thường dành thời gian để tĩnh lặng, để tiếp xúc
với những người đồng chí hướng. Đối với nhiều người,
rõ ràng là có một khoảng cách lớn giữa cuộc sống đời
thường và cuộc sống ở các khóa tu thiền, đó chính là
do sự thiếu vắng một cộng đồng tâm linh. Nhu cầu thành
lập tăng đoàn là điều cần phải nhấn mạnh ở đây. Ở
phương Đông thì không thiếu vắng các tăng đoàn, vì hầu
như ở mọi góc đường đều có chùa chiềng, nhưng ở phương
Tây có một khoảng cách lớn giữa các mối liên hệ tâm linh,
và nhiều người đành phải trú trong những sa mạc tâm linh
khi tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Nếu họ đã trãi qua
những giai đoạn phát triển tâm linh sâu xa ở các khóa tu
thiền chuyên sâu, rồi sau đó lại đánh mất chúng, thì họ
cần xét lại lối sống, cách làm việc, các mối liên hệ
của mình rốt ráo hơn.
Nhiếu
người quá coi trọng sự chứng nghiệm đến nỗi họ coi thường
con đường của trí tuệ đạt được do thiền quán bên ngoài
các khoá tu. Trí tuệ chứng nghiệm được từ công phu tu thiền
nghiêm mật, khi chúng ta có thể trực tiếp chứng nghiệm được
cái không, sự vô thường, hay sự liên hệ giữa khổ đau
và nguyên nhân của khổ đau. Những chứng nghiệm trực tiếp,
bóc trần chúng ta đến từng lớp tế bào. Nhưng người ta
nhận thấy rằng các chứng nghiệm nầy không phải là giải
thoát trừ khi họ có thể áp dụng chúng. Trong cuộc sống,
buông bỏ, sống trong tinh thần của cái không, của từ bi
có nghĩa là gì? Trí tuệ do thiền quán mang lại, được coi
như mang nhiếu dấu ấn của truyền thống Tây Tạng, do đó
có lẻ không được quan tâm đủ trong truyền thống Nguyên
thủy, cũng như trong đời sống của nhiều người phương
Tây.
Các
Khóa Chuyên Tu Dài Hạn
Trong
các khóa tu ngắn hạn, từ vài ngày đến một tuần, tôi có
một phương cách tiêu chuẩn cho việc thực hành, nhấn mạnh
đến chánh niệm, trí tuệ và cái không. Ở các khóa tu dài
hạn, tôi thường trao đổi với thiền sinh xem có điều gì
họ muốn chú tâm thực hành. Họ có thể muốn phát triển
định sâu xa hơn hay ổn định các trạng thái tâm. Đôi khi
họ chỉ muốn thực hành tâm không phân biệt.
Người
tham gia các khóa tu dài hạn là người có trách nhiệm cao đối
với con đường đạo và cuộc hành trình tâm linh của mình.
Vì vậy, tôi không cảm thấy đúng để biểu hiện quyền
lực của mình bằng cách bảo điều gì mới đúng cho họ,
điều gì họ cần phải phát triển. Có người cảm thấy
tâm họ có khuynh hướng hay sân hận hay ham muốn, nên muốn
thực hành niệm xả nhiều hơn. Người khác lại có những
khuynh hướng khác. Tôi để họ tự quyết định hướng đi
của họ hơn là áp đặt ý tưởng của tôi.
Phát
triển các trạng thái định sâu xa hơn và các tầng thiền
định, đòi hỏi một thời gian dài, cũng như môi trường,
sự hỗ trợ nào đó. Nhiều khi một khóa tu dài hạn là nơi
duy nhất mà thiền sinh có thể có đủ hết các điều kiện
nầy. Tuy nhiên, tôi không nghĩ rằng các khóa tu dài hạn là
điều thiết yếu để được chứng nghiệm, vì sự chứng
nghiệm không liên quan gì đến thời gian. Có người chỉ đến
các khóa tu ngắn hạn hay không đến một khóa tu nào cũng
có thể đạt được những chứng nghiệm sâu xa. Tuy nhiên,
các khóa tu dài hạn tạo cho bạn một môi trường mà bạn
có thể có được một cái đầu chín chắn, sung mãn và một
trái tim cao cả.
Một
Phương Pháp Kết Hợp
Tôi
bắt đầu hành thiền với Geshe Rabten, một vị thầy khả
kính trong Phật giáo Tây Tạng, ở Dharamsala, Ấn Độ. Trong
nhiều năm, tôi thực hành theo truyền thống Tây Tạng, kể
cả quán tưởng, quán chiếu và tất cả các nghi thức trong
Kim Cang thừa. Sau đó tôi tham gia một vài khóa thiền minh sát
khi tôi vẫn còn theo thầy Geshe Rabten, rồi thêm các khóa tu
dài hạn, một mình cũng như theo nhóm, thực hành theo thiền
minh sát. Lúc đó tôi cũng thực hành thiền định và theo một
số phương pháp của thiền Nguyên thuỷ.
Sau
một vài năm, tôi từ bỏ các cách tu hoàn toàn theo Phật giáo
Tây Tạng. Tuy nhiên, tôi đem theo các căn bản về quán tưởng
vào việc thực hành thiền minh sát. Đó vẫn còn là nền tảng
mà tôi thường dùng để giảng dạy và thực hành.
Phần
lớn việc thực hành của Nguyên thủy (Theravada) là về sự
khám phá bản thân và tuệ giác, nhất là tuệ giác về các
đặc tính của hiện hữu như là: vô thường, khổ và vô
ngã. Đó là con đường có thể mang lại một số chứng nghiệm,
khám phá, tiến bộ. Điều nguy hiểm là chúng ta có thể bị
kẹt vào những khám phá về bản thân mà quên đi những lãnh
vực rộng lớn hơn trong Phật giáo Đại thừa (Mahayana), nhấn
mạnh đến việc phát triển tâm từ bi.
Đôi
khi người ta hình như không tìm thấy mục đích gì trong Phật
giáo Nguyên thủy truyền thống ngoài việc chấm dứt khổ
đau, giải thoát bản thân. Những phát triển sau nầy của
Nguyên thuỷ như là thiền quán về từ bi, được xem như yếu
tố phụ thuộc. Trong Đại thừa (Mahayana), nhấn mạnh về
động lực và ý muốn hoàn thiện các đặc tính của tâm
tri, có vẻ hỗ trợ một nền tảng rộng rãi hơn cho việc
hành thiền.
Hai
nền tảng Phật giáo nầy trong tôi bổ túc cho nhau chứ không
hề gây một xung đột nào. Tuy nhiên, đôi khi tôi cũng thấy
khó khăn khi giảng dạy mà đều nhấn mạnh đến cả hai.
Khi tôi được huấn luyện theo truyến thống Đại thừa, nhấn
mạnh đến văn, tư, tu và giới luật. Trong khi theo truyền
thống Nguyên thủy (Theravada) như được dạy ở phương Tây
(không nhất thiết giống như thế ở phương Đông), lại nhấn
mạnh đến thanh tịnh tâm, đưa đến tĩnh lặng.
Tự
Nguyện
Chúng
ta cần phải quán xét kỹ càng xem mình phải áp dụng Phật
pháp như thế nào vào cuộc sống. Trong các khoá tu, điều
chính yếu khiến người ta có thể chuyển hóa hay chứng đạt
là nhờ vào sự tự nguyện chú tâm chánh niệm của họ. Nếu
họ đến với các khóa tu với ý nghĩ giống như đi nghỉ
phép, thì họ cũng chỉ được có thế. Họ có thể cũng dự
mọi buổi tọa thiền, nhưng sẽ chỉ để ngủ. Chính lòng
tự nguyện chú tâm chánh niệm mới đem lại cho sự hành thiền
của ta sự sống động, mãnh liệt. Điều đó đến từ người
tham dự khóa tu, chứ không phải tự trong môi trường tu.
Sự
tự nguyện để chú tâm chánh niệm là yếu tố tiên quyết
để chúng ta có được cái cảm giác mình đang trên một cuộc
hành trình tâm linh. Nếu trong mọi khía cạnh của cuộc sống,
chúng ta cũng đều có sự tự nguyện chú tâm chánh niệm,
chúng ta sẽ cảm thấy mình thực sự sống đầy tâm linh ngày
nầy qua ngày khác. Nếu đánh mất lòng tự nguyện chú tâm
chánh niệm đến những gì xảy ra trong từng giây phút, thì
thiền trở thành một hoạt động tĩnh tại chỉ xảy ra khi
chúng ta ngồi trên gối thiền.
Chú
thích:
Hiệu
đính dựa theo "Tự Điển Phật giáo & Thiền", Shambhala
(Shambhala's Dictionary Of Buddhism & Zen, 1991).
(1)
Kaguypa: Một trong bốn môn phái chính trong Phật giáo Tây Tạng.
Môn phái nầy nhấn mạnh vào việc truyền tâm ấn (great seal).
Được mang từ Tây Tạng đến Ấn Độ vào thế kỷ thứ
11 bởi để tử của ngài Milarepa.
(2)
Mahamudra: 'Đại Ngộ (Great Seal), là những giáo lý chỉ thẳng,
trực tiếp trong Kim Cang thừa để chắng đặc tâm chân thật.
Ở Tây Tạng, đặc biệt được truyền dạy trong tông phái
Kagyupa.
(3)
Chenrezi: Được coi như Bồ Tát Quan Thế Âm trong Phật giáo
Tây Tạng. Thường được thể hiện bằng hình tượng có
bốn tay, ngồi trên toà sen.
(4)
Tara: Là hình ảnh của Bồ Tát Quán Thế Âm, rất phổ biến
trong Phật giáo Tây Tạng. Được biết qua 21 hình tướng,
màu sắc khác nhau.
(5)
Gelugpa: Một trong bốn tông phái chánh của Phật giáo Tây Tạng,
chú trọng vào giới luật và sự thông suốt kinh điển. Do
Tsongkhapa sáng lập vào thế kỷ thứ 15.
(6)
Nyingmapa: Một trong bốn tông phái chánh của Phật giáo Tây
Tạng, 'Trường phái Cổ Điển', kết hợp mọi truyền thống
Phật giáo cổ điển nhất của Tây Tạng, được truyền bá
từ Ấn Độ.
(7)
Maechee: Tên gọi nữ tu sĩ Phật giáo ở Thái Lan.
(8)
Indra's Net: Nhân đà la võng. Lưới trời Đế Thích. Vô số
châu ngọc trang trí bao phủ cung trời Đế Thích hình thành
một 'mạng lưới' bao quát các châu ngọc nầy cùng phản chiếu
lẫn nhau hình thành một 'mạng lưới trùng trùng cảnh giới'
bên trong mỗi viên ngọc. Điều nầy được sử dụng như
một ẩn dụ để minh họa sự tương nhập và hỗ dung của
Pháp giới Viên Dung của Hoa Nghiêm. (Theo Bảng Tự Điển Thuật
Ngữ của Thanh Lương-Thích Thiện Sáng trong Triết Học Phật
giáo Hoa Nghiêm Tông, 1971)