III.
CUỘC ĐỜI SÁNG TẠO
Chương
11
KHÁM
PHÁ ÁNH SÁNG
Yahne
Le Toumelin.
Yahne
Le Toumelin là một hoạ sĩ trường phái siêu thực Pháp, với
những bức hoạ đầy màu sắc và các hình dạng biến đổi.
Bà cũng là một nữ tu sĩ Phật giáo Tây Tạng. Bà Yahne rất
hóm hỉnh, không quan trọng hoá vấn đề, thường chơi chữ
đến độ không thể dịch ra được. Tuy nhiên, bà là người
tu tập miên mật, đã thực hiện nhiều khoá tu thiền kéo
dài cả năm.
"Không
Hành Động"
Tôi
trở thành một nữ tu sĩ Phật giáo từ năm l968. Đây là cuộc
cách mạng năm 68 của cá nhân tôi. Đối với tôi, trở thành
một nữ tu sĩ Phật giáo, trước tiên có nghĩa là không hành
động - 'nun-action'. (ND: Ở đây Ni Sư đã chơi chữ, non-action
'không hành động' và nun-action 'hoạt động của ni' đều
phát âm giống nhau). Giống như ánh sáng đổ phía sau lưng;
nó không hiện hữu. Tôi cảm thấy rất tuyệt vời được
làm một nữ tu sĩ.
Trước
khi xuất gia, tôi luôn thầm ao ước tình yêu sẽ đến với
tôi, nhưng tôi khám phá ra rằng cuộc sống tình cảm của
tôi hoàn toàn thất bại vì tình yêu của tôi chính là cuộc
tìm kiếm chân lý, ý nghĩa thật sự của cuộc đời. Từ
lúc tôi từ bỏ những cuộc chạy đuổi theo tình ái, trở
thành người tu, cuộc sống của tôi trở nên hữu hiệu hơn,
vậy là sự buông bỏ đã mang lại kết quả.
Nếu
chúng ta muốn thoát khỏi những vấn đề tình cảm, nhưng
lại muốn tìm được hạnh phúc qua các cảm xúc, thì thật
là mâu thuẫn, bởi vì các cảm xúc là nguồn gốc của khổ
đau. Tôi quan tâm đến các cảm xúc của mình bởi vì tôi
không chỉ là một người nghệ sĩ, mà còn là một người
phụ nữ giàu cảm xúc. Vì thế tôi đã tự gây cho mình nhiều
đau khổ.
Bây
giờ sự khổ đau của tôi hoàn toàn khác: đó là nỗi đau
của tha nhân- nhưng tôi chưa giải quyết được điều nầy.
Ở Tây Tạng, người ta nói rằng nếu một que diêm có thể
làm cháy cả cánh rừng, thì một thiện ý có thể mở cửa
thiên đường cho kẻ khác. Tôi tin rằng hoà bình trên thế
giới tùy thuộc vào chúng ta.
Chúng
ta có một kho báu, đó là bản tánh của ta, và ta có thể
tỉnh thức trong niềm hạnh phúc và hoà hợp của nó. Để
khám phá ra kho báu, ta phải phá vỡ những gì đang che đậy
nó, như các tình cảm, các tư tưởng tiêu cực. Để đoạn
diệt đau khổ, ta phải tự giải thoát mình ra khỏi các nguyên
nhân của khổ đau: sự bám víu, tình cảm, tư tưởng, quan
điểm. Thật là đơn giản, nhưng không phải dễ dàng.
Ngày
xuất gia, tôi được thọ giới, được phát nguyện. Xuất
gia, tôi coi như đã đánh mất mọi hy vọng vào thế giới
hão huyền tầm thường nầy, nhưng tôi có được sự tự
do và niềm vui to lớn. Đó là một nghi lễ oai nghiêm; thọ
giới là một quà tặng tuyệt diệu, một sự trao truyền thanh
khiết từ thời đức Phật. Tuy nhiên, tôi không phát nguyện
là không vẽ nữa, vì tôi có thể dễ dàng ngừng vẽ rồi
cũng dể dàng vẽ lại.
Tôi
không ở trong giai đoạn vô-thiền, dù tôi cho rằng thật ra
không có gì để phải thiền hết. Vì thế tôi hành thiền
để có được sự vững chãi trong vô-thiền. Lời khuyên của
tôi cho mọi người, cũng như cho bản thân, là hãy tiếp tục
hành thiền cho đến ngày bạn không còn bất cứ một ảo
tưởng nào về thực tại.
Ánh
Sáng Của Lạt Ma
Thiền
trụ trên Lạt Ma, nhưng Lạt Ma không phải là một người.
Đó là hào quang, ánh sáng, không gian của Lạt Ma. Nhờ chúng,
ta khám phá ra tất cả. Dỉ nhiên ta cần sự thanh tịnh hoá
để khám phá ra những gì ở phía sau các uế nhiễm của tấm
mạng vô minh.
Khi
tôi nói, hơi đùa một chút, là không có gì để thiền, đấy
là vì các ảo tưởng của ta đã nhạt phai, không gian trở
nên mênh mông, trong sáng hơn, không còn có sự giới hạn nào.
Khi tôi nói về bầu trời, cái quan trọng nhất trong bầu trời
là sự trong sáng cần thiết cho ánh sáng mặt trời tỏ rạng.
Lòng
từ bi của lạt ma có thể khiến bạn cảm nhận được lòng
từ bao la, trùm phủ cả vũ trụ, vì họ không phải là một
cá thể và bạn cũng thế. Công phu miên mật dành cho lạt
ma cũng giống như mặt trời trên bầu trời; đấy là lòng
từ bi trong cái không hay cái không trong lòng của từ bi. Chúng
ta có sự liên hệ với vị lạt ma đương thời, qua đó có
được khả năng tâm linh. Nếu chúng ta có bạn hay người
yêu, thì chính người đó biểu lộ các tình cảm thân hữu
hay tin yêu, sự vĩ đại, tiềm năng, và năng lực của tình
cảm đó dành cho ta.
Có
một vị lạt ma duy nhất của riêng mình hiện hữu, và khi
ta tìm được vị nầy, ta sẽ tìm thấy họ trong tất cả
chúng sinh. Họ đều giống nhau. Tuy nhiên, có một người mà
ta phải thọ ơn nhiều nhất, vì người đó phải khó nhọc
dẫn dắt ta và giúp ta thanh tịnh hoá bản thân. Những lời
giáo huấn của lạt ma chính là sự có mặt của người. Chiêm
ngưỡng thầy tôi, trên tất cả đó là sự hiện hữu của
người. Ông dạy như ông sống, và sống theo những điều
mình dạy. Chúng ta có thể nhận biết được bậc chân tu
qua những lời dạy, hành động, và oai nghi của họ.
Chúng
ta không cần có niềm tin mù quáng. Vị thầy biểu lộ cho
ta biết bản chất riêng của chính ta, và sự chứng nghiệm
về điều nầy. Sau sự chứng nghiệm đó, ta lại đòi hỏi
thêm ở Thầy nữa, và vì Người không có giới hạn, con đường
được mở ra cho chúng ta. Đấy là vị thầy bên trong được
khám phá, nhờ vào vị thầy bên ngoài. Nếu đã được chứng
nghiệm, ta sẽ không cần đến vị thầy bên ngoài vì chúng
ta đã sẵn có vị thầy bên trong. Ta sẽ không cần đến thầy
nào cả. Chứng nghiệm là một lạt ma tự động!
Chúng
ta thật sự cần một người như bà mụ, bác sĩ hay một người
làm vườn, nhưng người làm vườn không phải là đất hay
hạt giống. Chúng ta tựa như hạt giống đầy tiềm năng,
nhưng vị lạt ma giúp cho sự tỉnh thức của chúng ta dễ
dàng hơn, như mặt trời và mưa, giúp cho hạt giống nẩy mầm,
và được nẩy mầm tươi tốt là ý nghĩa của hạt giống,
là sự tỉnh thức, là niềm hạnh phúc của nó.
Ân
Sủng
Ân
sủng là gì? Đó là niềm hạnh phúc trổ hoa của nội tại,
đầy đủ một cách huyền bí, một khoảng không gian đầy
tin yêu dễ chịu, một sự tươi mát, phóng khoáng nội tại,
mà chúng ta cần tri ân vị lạt ma. Nếu bạn có thể cảm
thấy điều này với ai đó, dĩ nhiên bạn sẽ hướng đến
đó hơn là sự đau đớn và thống khổ. Tôi từng là một
hoạ sĩ, một người mẹ, rất ư là thống khổ, nhưng nhờ
được gặp gở các vị thầy Tây Tạng và được nhận những
ân sủng từ họ, tất cả đã được thay đổi.
Không
phải chỉ với những ý định, khái niệm tốt mà người
ta có thể vẽ nên một bức tranh đẹp, vì thế khi một sáng
kiến, một điều mới lạ phát khởi trong tôi, tôi đều làm
lễ tạ ơn. Những thôi thúc sáng tạo nầy hoàn toàn tự nhiên
và tôi tạ ơn chúng. Tôi tạ ơn đất lành, để hạt giống
tốt sẽ dần trở thành một đoá hoa, nghĩa là, một bức
tranh. Thay vì vẽ ánh sáng, tôi cố gắng sống trong ánh sáng;
vì ánh sáng, giống như lửa, là biểu tượng của đời sống.
Tự
bản thân, tôi không thể tạo nên bức hoạ nầy. Tôi hiến
tặng màu xanh với kỹ thuật nhịp nhàng cho tình yêu của
lòng dâng hiến, rồi nó tự phác hoạ mình dưới những hình
thể khác nhau. Đấy là hội hoạ. Nếu có ai thích, thì càng
tốt. Củng như có người thích bánh chanh, người không. Tóm
lại, mọi thứ đều đơn giản thế thôi. Nếu là mẹ của
bạn đã làm cái bánh chanh ấy, bạn có thể cảm nhận được
năng lượng của tình thương trong đó; do đó bạn hãy thiết
lập mối liên hệ với tất cả những ai đã cảm nhận được
nguồn năng lượng đó.
Khám
Phá Ánh Sáng
Ở
phòng triễn lãm Uffizi ở Florence, 80 phần trăm các bức hoạ
là những bức marouflés, là tranh dán giấy. Loại giấy nầy
thường màu trắng. Màu trắng là ánh sáng. Ánh sáng là nền,
và khi gỡ màu sơn đi thì ánh sáng sẽ được phơi bày. Người
Đức tạo nên những kỷ xão phim trường từ đó, còn tôi
khám phá ra các tác dụng nầy một cách tình cờ. Kỹ thuật
nầy giúp tôi tạo ra được nhiều ứng dụng về ánh sáng.
Khi tôi khám phá ra điều nầy, cũng giống như khám phá ra
bánh xu kem, và khi đang đói, ai mà không ăn quá nhiều.
Turner
thường dùng rất nhiều giẻ để bôi bỏ lớp màu sơn. Còn
Degas, có lần Degas tự giam mình trong xưởng vẽ để tạo
ra một mô-nô-tip (một bản in độc đáo từ kiếng hoặc từ
miếng kim loại), vì ông đã khám phá ra rằng bằng cách gở
bỏ lớp sơn sẽ cho ta những hiệu quả ánh sáng diệu kỳ.
Hội họa Đức chấp cánh cho tôi và có thể một cách vô
thức tôi bị ảnh hưởng của Max Ernst, người mà trong những
năm cuối đời cũng đã khám phá ra những kỹ thuật nầy.
Tôi khám phá ra kỷ thuật đó bằng cách gở lớp sơn, để
ánh sáng phơi bày ra ở phía sau, từ bên dưới, bằng cách
phát hiện ra vai trò của màu trắng trong giấy. Thường điều
đó hoàn toàn trái ngược lại với những gì chúng ta đã
học ở trường, nơi người ta xử dùng bóng, rồi thêm vào
màu trằng để tạo ra ánh sáng.
Tôi
làm một khung cửi, một cái khung thích hợp với tôi ngày
hôm đó. Rồi trên cái khung nầy một tay tôi dùng cọ tô màu,
tay kia lại gỡ sơn ra. Tất cả trường phái ấn tượng trong
tôi - trường phái tranh mà tôi ngưỡng mộ như là của Rembrandt,
Turner, Monet - tôi thêm vào, rồi lại gở bỏ, đó là trường
phái hội họa Đức, của những hoạ sĩ Albrecht Altdorfer và
Matthias Grunewald của thế kỷ mười sáu.
Kỹ
thuật nầy tương ứng với những gì tôi tìm kiếm về mặt
tâm linh. Nhờ việc gở bỏ, phân huỷ, hoà tan mà ánh sáng
được phơi bày. Động tác nầy thật là một biểu tượng
tuyệt vời. Phần nào đó, phương cách nầy gò bó tôi, nhưng
cũng lại lôi cuốn tôi vô cùng, vì nó phơi bày rất nhiều
ánh sáng. Thật là kỳ diệu. Tôi ngạc nhiên với chính mình,
từ bất ngờ nầy sang bất ngờ khác, từ huyền diệu nầy
đến huyền diệu khác. Phương cách của tôi tạo ra một hiện
tượng tõa sáng lạ thường.
Đây
là một phong cách mới trong hội họa. Rất nhiều thứ có
mặt trong tranh của tôi, nhưng chúng không lấn át nhau. Đây
hơi giống như một cuộc lướt sóng; tôi phải giữ sự cân
bằng. Đây là một lối đối thoại mà tôi cố gắng không
để rơi vào đối đãi.
Một
Thể, Một Ánh Sáng
Khi
bạn thực hiện một bức tranh trên giá vẽ, với một chủ
đề mà bạn sao chép lại theo phương cách cổ điển. Sau lưng
bạn, có cả một nền lịch sử nghệ thuật đang chiêm nghiệm,
và trước mắt bạn là bức tranh. Riêng tôi, tôi làm việc
theo chiều ngang. Khi tôi hoạ, các hình ảnh xuất hiện và
tôi trở thành một với các đợt sóng, với sự xuất hiện.
Tôi vừa ngạc nhiên vừa thú vị. Mỗi lần như thế là một
khám phá mới cho tôi.
Trong
tranh của tôi như có sự kiếm tìm thứ ánh sáng thuần khiết
nhất. Thường thì chỉ có một loại. Đó là nhờ một nhà
buôn tranh nghệ thuật có thế lực, ông René Drouin, người
hết lòng tin vào tranh của tôi. Ông bảo rằng vì tôi có trí
tưởng tượng phong phú như thế, tôi có thể thử chuyên hoạ
về một dạng duy nhất, theo xu hướng cô đọng, với chỉ
một màu. Trong hai năm, tôi đã thử sử dụng phương thức
nầy trong các trại sáng tác.
Những
dạng đơn giản nhất là hình tròn và hình vuông. Thường
hình của tôi gần như vuông. Chúng mong manh đến độ phải
có vài lớp sơn mỏng. Ánh sáng phía sau và bạn thấy một
lớp màn, một lớp nữa. Rồi tiếp theo một lớp nữa. Tôi
gọi chúng là "những tấm gương soi" vì tôi thích cái mà Marguerite
Porète viết về "tấm gương soi những tâm linh mỏng manh đã
bị huỷ diệt". Tấm gương soi có vỏ bề ngoài rạng rỡ.
Trong các loại văn chương tín ngưỡng có rất nhiều hình
ảnh gương soi: trong Do Thái giáo (Talmudism), chủ nghĩa đạo
Xu-Phi (Sufism), Phật giáo Tây Tạng (Tibetan Buddhism). Đó là
một
biểu tượng phong phú đa dạng.
Tôi
muốn bày tỏ lòng kính trọng đến Marguerite Porète, người
đã bị các cha ngươì Pháp đốt ở Toà Thị Sảnh Ba-Lê vào
năm 1310, bởi vì bà ta đã viết một bản thảo về một linh
hồn ngất ngưỡng trên các ngọn núi, trên các ngọn gió.
Bản văn đó thật sự kỳ diệu, rất giống với các công
trình nghiên cứu của tôi. Paris cần phải bày tỏ lòng kính
trọng đến Marguerite vì họ đã hoả thiêu bà với bản thảo
ấy. Tuy nhiên, một bản thảo đã được bảo tồn. Sự diễn
tả của bà về linh hồn thật là tuyệt vời.
Khi
người Eskimo muốn diễn tả một điều gì, họ xếp các viên
đá theo một cách nào đó để tạo thành các hình ảnh. Những
viên đá nầy được gọi là 'inuchnuk'. Một người quản lý
bảo tàng Nhật rất xúc động khi ông nhìn thấy những viên
đá này, thế là ông mang chúng về bảo tàng viện của ông.
Người xem bình thường nhìn vào chỉ thấy là một đống
đá, nên họ nghĩ rằng ông quản lý bảo tàng chắc là điên
rồi. Sau đó, người quản lý sắp xếp các viên đá lại
như người Eskimo đã từng làm, thật là đẹp.
Mỗi
ngày, kể cả khi tôi đã hoạ tranh 'baroque', rất mệt mỏi,
tôi vẫn kết thúc bằng cách xếp đặt để tạo ra một 'inuchnuk'.
Không một ánh sáng nào giống nhau, cho dù tôi làm cả trăm
lần. Hình ảnh đơn sơ nhất của ánh sáng cũng diễn tả
một điều gì đó. Giống như người nam để xuống một viên
đá, một 'inuchnuk', và người nữ để ánh sáng. Điều đó
quá rõ ràng đến độ tôi không thể lý giải thêm, nên sẽ
không thêm gì nữa cả. Đôi lúc tôi thêm vào một phản diện
của ánh sáng giống như một thanh gươm, kế đó một phác
dạng của ngọn sóng. Sự chuyển động, một sức sống to
lớn, trùm phủ bởi ánh sáng tối thượng.
Hình
Giọt
Có
hai sự chuyển động. Thứ nhất sự chuyển động đầy màu
sắc. Giống như một vũ điệu. Khi tôi gỡ bỏ đi, thì nó
cũng vẫn giống điệu vũ. Tôi không xóa bỏ trong một động
tác, như khi ta buông màn xuống, nhưng một cách từ từ. Đây
là động tác hội hoạ, nhưng nó cũng được gọi là trừu
tượng, ảo giác hay kỳ quái. Tôi không quan tâm đến các
chỉ định chuyên nghiệp; tranh của tôi có thể theo xu hướng
nghệ thuật baroque kỳ dị hay cổ điển, tĩnh lặng hay sôi
nổi.
Trong
các bức hoạ gần đây của tôi có những gương soi giống
như các cánh cửa sổ mở, giống như thuỷ triều, cả một
cuộc sống đang tuôn chảy như bầy chim đang vỗ cánh bay.
Victor Hugo nói các thiên sứ là những thành phố thiên đàng,
chim chóc của ngoại ô. Trong vài bức tranh của tôi, bạn sẽ
thấy các thiên sứ ở mặt nổi và bầy chim đang vỗ cánh.
Chúng là xao động của đường thẳng và màu sắc, thật ra
là những xao động của không gian. Mặt trời phản ảnh trong
các gương này. Tôi cố gắng giảm bớt sự mênh mông của
không gian, mà không làm mất đi hương vị của nó. Khoảng
trống mênh mông nầy giống như đại dương đang nuôi dưỡng
hồ muối và cho nhân loại muối. Tôi đã sống trong một khung
cảnh như thế trong một thời gian rất dài.
Vào
năm 1978, tôi đã hoàn thành một loạt tranh được gây hứng
khởi bởi Talièsin. Ông là một nhà thơ người Celte đã viết
nhiều bài thơ tuyệt tác. Truyền thuyết Celte về con đường
tâm linh đã gây hứng khởi rất nhiều cho tranh của tôi. Có
truyền thuyết nói rằng: 'Một trăm ngàn năm nằm ở đầu
lưỡi gươm của tôi'. Câu nầy thật sự tạo nhiều cảm
xúc trong tôi.
Có
một lần tôi vẽ cây chỉa ba tượng trưng cho ly thánh Grail.
Tranh có một chất nền ánh sáng với một hình giọt (a drop).
Người ta thường tìm thấy rất nhiều hình giọt trong tranh
của tôi. Đây cũng là một sáng tạo cổ điển. Khi các bản
thảo Kinh Thánh được tìm thấy ở Biển Chết (Dead Sea Scrolls),
tôi nhận thấy những người Thiên chúa giáo đầu tiên gọi
sự ban ơn "giọt" (drop): "Nó đến giống như mưa thu trên trái
đất cằn cỗi của con tim chúng ta." Đây là sự kết hợp
của trời và đất, nhân tố đầu tiên.
Khi
đến Darjeeling, tôi được thấy một số trang hoàng có hình
giọt nước. Tôi mang về một giọt pha lê cho thầy tôi. Trường
phái Nyingmapa(6) thường nói về giọt tim. Tất cả dường
như nung nấu trong tôi lòng nhiệt tình đối với các hình
giọt.
Hội
Họa Một Ngôn Ngữ Tâm Linh
Tôi
rất quan tâm về hình giọt, một khối trong suốt, thánh thiện;
đó là ngôn ngữ. Tôi cũng vẽ khá nhiều các lâu đài. Một
lần tôi vẽ cho thầy dạy múa Maurice Bejart, 120 thước lâu
đài, những lâu đài thuỷ tinh với các cửa mở đầy ánh
sáng, có các thiên thần đang bay lượn, và một biển ánh
sáng trải dài. Tôi có một kỹ thuật đặc biệt để tạo
ra biển. Khi vẽ biển, tôi với biển là một.
Gần
đây tôi được mời vẽ Đấng Cứu Thế của Handel (Handel's
Messiah). Tôi muốn thực hiện một cái gì thật to lớn - một
khối ánh sáng, những biển đầy ánh sáng, rất nhiều thứ
bay lượn và ánh sáng. Giống như ngôn từ của tâm linh, không
dừng dứt. Tôi đã tạo ra vô số thiên thần ở ngay đầu
mũi kiếm của tôi.
Trong
nghệ thuật tạo hình của tôi cũng có rất nhiều các ngọn
núi bằng vàng. Tôi khám phá ra các ý tưởng nầy trong những
bài thánh văn của các vị nữ tu Hildegard ở Bingen và Hordewich
ở Anvers, vào thế kỷ thứ 14. Họ đã nhắc đến những biển
ánh sáng; những lâu đài thuỷ tinh và các cánh cửa mở lên
thiên đàng. Tuy nhiên, hiện nay xu hướng nói về địa ngục
nhiều hơn thiên đàng.
Cầu
Vòng Và Màu Sắc
Sự
quan tâm của tôi về các phong thái của hình thức hội hoạ
và đời sống tâm linh cũng giống nhau. Khi còn nhỏ, tôi đã
có rất nhiều thắc mắc. Tôi đã nghĩ Thượng đế là một
vòng tròn và tôi đã vẽ các hình thể liên hệ đến vấn
đề siêu hình nầy. Cuối cùng tôi hoàn tất chương trình
thạc sĩ về môn triết cùng lúc trở thành một hoạ sĩ. Tôi
đã đến các phòng tranh để vẽ và vẽ.
Ở
tuổi 17, tôi đã sao chép lại hàng trăm bức vẽ cổ điển.
Tôi đã vẽ chân dung cho tất cả bạn bè và cả phong cảnh.
Lúc đó tôi là một hoạ sĩ thuộc trường phái cổ điển.
Nhưng một hôm, có một điều gì đó đã xảy ra trong xưỡng
vẽ của thầy tôi - tôi chỉ nhìn thấy các cầu vồng, với
các màu sắc hoà quyện vào nhau, và tôi đã vẽ lại hình
ảnh nầy. Nhưng thầy tôi, Mac Avoy, chỉ nói là tôi cần uống
thêm thuốc bổ (lúc nầy đang thời kỳ chiến tranh). Vì thế
có người giới thiệu tôi đến với hoạ sĩ André L'hote.
Trái với thầy tôi, hoạ sĩ nầy khen tôi hết lời, và khoe
tôi với nhiều người khác, nhưng vì ông không hề sửa lỗi
cho tôi, nên cuối cùng thì tôi cũng chẳng học được gì.
Ông luôn tán thưởng rằng tranh của tôi thật lý tưởng.
Nhanh
Hơn, Nhanh Hơn Nữa
Cuối
cùng thì tôi hiểu ra đấy là nghệ thuật đưong đại. Sau
đó, tôi gặp được Gurdjieff, người khiến tôi phải vẽ
nhanh hơn, nhanh hơn nữa. Ông thường nói với tôi đấy là
du già Huedia (Huedia yoga). Ông luôn bắt tôi phải vẽ, nhắc
nhở: 'Nhanh hơn, nhanh hơn nữa!'. Cách vẽ nầy phần nào giúp
tôi khám phá ra kỹ thuật vẽ nhanh.
Tôi
cũng vẽ theo phái cổ điển, như Bosch và Bruegel - những tác
phẩm tuyệt vời mà cũng kỳ quặc, một loại tempera. Tôi
tiếp thu được phương pháp nầy chính ra ở Mễ Tây Cơ, với
một trong những người bạn của Max Ernst là Leonora Carrington.
Chúng tôi muốn đi Tibet với nhau vì chúng tôi cũng rất hợp
nhau về vấn đề tâm linh. Leonora là một phụ nữ tuyệt vời,
thật sự là người theo chủ nghĩa siêu thực, với những
khả năng siêu nhiên và rất sáng tạo trong mọi hoạt động.
Bà giới thiệu tôi với hoạ sĩ siêu thực, André Breton, cho
tôi là một ảo thuật gia, vì thế Breton đã thực hiện một
chuyến viễn du để gặp tôi, nhưng cũng vì ông ta muốn biết
về Gurdjieff. Thời đó, người ta nhìn Gurdjieff như một hiện
tượng huyền bí, với một chút phô trương, rẻ tiền.
Cuối
cùng thì tôi đã vẽ mà không cần phụ thuộc vào nguời thầy
nào, tuy nhiên tôi vẫn nhớ đến Gurjieff, với cách làm việc
nhanh chóng. Tôi đã lao động ở Paris trong nhiều năm, đặt
rất nhiều hy vọng vào các tác phẩm của mình, mong muốn
tìm ra được chân lý về các phong thái trong hội hoạ. Đó
là những năm tháng kinh hoàng nhất vì tất cả đều kết
thúc trong sự tuyệt vọng, khổ đau. Tôi thật sự cảm thương
cho các hoạ sĩ vì thật ra không có gì để khám phá cả.
Các phong thái đều cạn cợt, tất cả không có gì sâu sắc.
Con
Tim Giải Phóng
May
mắn thay, lúc ấy tôi đang đọc các sách thần bí, như là
quyển Biển Chết, vân vân. Mỗi tối, tôi lại thấy ảo ảnh.
Tôi đã thấy những lâu đài, núi non, và các thiên thần.
Các hoạ phẩm của tôi đều phản ảnh cuộc sống của bản
thân. Cuối cùng tôi tổ chức một cuộc triễn lãm vào tháng
2, năm 1968. Lúc ấy đã phảng phất chút gì của tháng 5, 1968
trong không khí. Chủ đề của tôi là 'giải phóng sự tưởng
tượng sáng tạo', và tôi đã treo nhiều biểu ngữ lớn mà
sau nầy được tái tạo trong những ngày của tháng 5, năm
68.
Cuộc
triễn lãm nầy kết hợp chặt chẻ với đời sống tâm linh
của tôi, và là cuộc triễn lãm lần đầu thành công. Tôi
kiếm được ít tiền vào ngày kết thúc cuộc triễn lãm,
tôi đi tới Darjeeling, Ấn độ. Bản tuyên ngôn của cuộc
triễn lãm đó là 'Cách mạng trái tim muôn năm'. Tôi mang một
trái tim nhỏ bằng bạc kiểu Breton cho vợ của thầy tôi ở
Ấn độ. Ngay lập tức bà đặt điểm nhọn của trái tim
hướng lên trên. Đó là cuộc cách mạng của trái tim. Sau
đó thầy Kangyur Rinpoche nói với tôi là có những vị du sĩ
với trái tim trở ngược. Những cuộc gặp gở như thế cho
tôi thêm sức mạnh, vì đối với tôi, trái tim thường giống
như ngọn núi, và tôi cũng đã vẽ nó với điểm nhọn trở
lên trên.
Khi
đến Darjeeling, tôi đeo ở cổ một tấm gương tròn với hình
xoắn ốc ở phía trên. Tôi đã hỏi Rinpoche cái nầy nghĩa
là gì. Thầy trả lời: 'Không là gì hết'. Tôi đã bật khóc.
Hai mươi năm nghiên cứu về hình xoắn ốc và gương, nhưng
tất cả đều không nghĩa lý gì! Vì thế, tôi chấp nhận
một cách tự nguyện vượt lên trên mọi biểu tượng mà
tôi đã sáng tạo từ cuộc sống tâm linh của dân Paris.
Tôi
đã ở lại Darjeeling và chẳng vẽ gì trong suốt bảy năm
đó. Tôi đã vượt lên khoảng không gian của hội hoạ. Tôi
đã buông bỏ những bức tranh ương dở của mình mà không
hối tiếc, nhất là cách sống của dân Paris, một lối sống
nghệ sĩ. Cuối cùng tôi đã hoàn toàn cắt đứt khỏi cuộc
sống đó.
Giống
Như Làm Bánh
Tôi
trở về Pháp vào năm 1975 khi thầy tôi qua đời và đã sống
ở lâu đài Chaban ở Dordogne. Chúng tôi đã đón tiếp rất
nhiều vị thầy Tây Tạng ở đó. Tôi đã tình nguyện nấu
ăn cho các thầy trong nhiều năm.
Ngày
nọ, thầy Dudjom Rinpoche nhận xét là không thấy tôi còn vẽ
nữa. Thầy đã nhìn thấy nhiều bức tranh của tôi ở nhà
các bạn tôi. Tôi thưa với Thầy tôi không biết vẽ thế
nào sau bảy năm không cầm cọ. Thầy trả lời: 'Thì cũng
giống như lúc bà nấu ăn'. Tôi nghĩ, 'Tại sao không? Nếu
người ta có thể nấu ăn ngon, làm bánh khéo, hay làm việc
gì đó hoàn hảo, thì sao không thể vẽ cũng như thế?'
Vì
thế, tôi bắt đầu vẽ lại. Trong lúc vẫn nấu ăn cho thầy
Dudjom Rinpoche, tôi đã thực hiện được 30 bức hoạ trong
30 ngày, hoàn toàn do sự khuyến khích của thầy. Thật tuyệt
vời.
Đến
lúc nầy, tôi đã biết không chấp vào phong cách của tranh
nữa. Tương tự, tôi cố gắng không bám víu vào người khác.
Vào
năm 1979, tôi được mời tổ chức một triễn lãm của riêng
mình ở Grand Palais, về chuyên môn, đó là một điều thật
thú vị. Mỗi ngày tôi thức dậy với niềm phấn khởi như
đang ở thiên đàng. Đôi khi đó được gọi là người họa
sĩ 'với một chủ đề'; đối với tôi, lúc đó nó là một
chủ đề không giới hạn. Mỗi bức tranh của tôi đều thất
bại, thật sự không diễn tả được những gì tôi thấy
hay cảm nhận, nhưng điều đó lại khiến cho chúng tốt hơn
thường lệ. Tất cả tranh của tôi từ lúc đó đều thất
bại. Mỗi lần vẽ, tôi muốn tự thú nhận sự ngu dốt của
mình. Giống như khi ta nói: "Cái bánh đây!", có người thích,
có người không. Có người cảm nhận được sức sống trong
tranh của tôi; thí dụ, Thầy Deshimaru thường nói là có khí
trong tranh.
Họa
Phẩm Của Niềm Vui
Hiện
tại, đôi khi tôi không vẽ. Khi tôi theo khoá tu chuyên sâu
bốn năm, tôi không hề vẽ mà cũng chẳng thấy thiếu vắng
điều gì.
Khi
tôi bắt đầu trở lại, tôi gặp lại Maurice Bejart trong buổi
lễ kỷ niệm Cách mạng Pháp ở Grand Palais. Ông nói: 'Tại
sao bà không thực hiện một hình ảnh của niềm vui? Hẳn
là bà rất mong được làm như thế?' Dĩ nhiên sự mong muốn
đó tràn ra như thác đổ trong tôi. Ông ấy cho tôi sử dụng
Grand Palais và tôi được độc quyền xử dụng những lúc
cuối tuần.
Trong
hai năm tôi vẽ cả trăm bức tranh, những hoạ phẩm của niềm
vui. Tôi không thể giải thích như thế nào, chúng chỉ đến
một cách rất tự nhiên. Đó hoàn toàn không phải là những
bức hoạ theo truyền thống. Đọc luận án của Shintao về
tranh Tàu, cuối cùng tôi tìm được sự liên hệ với các
họa sĩ Trung Hoa, những người đã vẽ núi non, sông nước,
âm và dương.
Một
Công Thức Diệu Kỳ
Ở
trường Nyingmapa, có một chương trình tu chuyên sâu dài hạn,
một công thức tuyệt diệu được hiển lộ trong không gian
khép kín, với bao ân sủng và năng lực. Mục đích là giác
ngộ, giải thoát và khả năng có thể nói lên sự thật, bớt
nói láo. Khó thể định nghĩa được sự giác ngộ, nhưng
con đường đưa ta đến đó được phát triển qua đủ các
phương cách, các sự cầu nguyện, nghiên cứu và thuật du
già, với thuật du già tâm linh, dĩ nhiên là điểm chánh yếu
trong tất cả.
Vì
chúng tôi nhận được nhiều sự khai tâm trong suốt khóa tu,
nên có một số thực hành chúng tôi phải tiếp tục mỗi
ngày tiếp sau đó. Chừng nào chúng ta còn chưa đạt được
sự an định, chúng ta còn cần đến sự hỗ trợ của việc
tinh tấn thực hành, đọc tụng và quán tưởng. Riêng tôi,
tôi chưa đến trình độ không cần thực tập nữa; tôi không
phải là một dzogchenpa sống một cuộc sống an nhiên, hoàn
hảo.
Muôn
Hình, Vạn Vẻ
Thầy
tôi, Tulku Pema Wangyal, không phê phán tranh tôi vẽ. Thầy không
hề nói gì về các phong thái biểu hiện, chỉ để tôi được
diển tả những hiện tượng nầy, là điều không giống như
đạt được ước mơ hay sự rỗng không của chúng. Sự rỗng
không nầy không giống như tôi đã tưởng. Nó không phải
là hư không để thêm vào các biểu hiện. Sẽ dễ dàng hơn
để xếp nó đơn giản như là vô thường, sự dồi dào, phong
phú của các phong thái, của các biểu hiện đến, rồi đi,
phù du và không kiên định.
Vị
Đạt Lai Lạt Ma bấy giờ thường nói về sự đầy đủ và
sung túc, và ở Bhutan, người ta thường đọc từ bài Kinh
Bát Nhã (Prajnaparamita sutra), trong đó có câu: 'Sắc tức thị
không'. Tuy nhiên, họ lại có những sáng tạo phong phú trong
các vũ điệu, điêu khắc, và nghi lễ. Trong cuộc sống của
họ lại đầy bao sắc thái, hoàn toàn không có một sự giới
hạn. Thật là một sự rỗng không phong phú! Ở những nơi
mà người ta cho rằng hình thể là cố định, thì họ hoàn
toàn cứng ngắc, giống như các hoạ sĩ Tây phương. Đó là
một cái ách. Khi người hoạ sĩ tìm ra một thể hiện nào
đó, họ không thể buông ra được; họ bị dính vào đó,
đông cứng. Có một cuộc triễn lãm tranh bộ ba ở Louvre -
các bức hoạ, một đen, một trắng và một xám. Đã bao thế
kỷ, người ta đã không được làm thế. Thật là đáng chán!
Đối
với tôi sự sáng tạo là một trạng thái tự nhiên. Giải
thoát trạng thái tự nhiên, là chúng ta giải thoát 'sự tử
tế nguyên thuỷ'. Điểm gốc ngọn, là giây phút hiện tại,
có một tiềm năng, một khả năng mong mỏi được thăng hoa,
cởi mở, một không gian bao trùm.
Thường
người ta không hiểu khi họ nhận thấy sự hồ hởi, phấn
khởi của tôi. Họ không hiểu làm sao mà sự phấn khởi đó
có thể đến từ một người đang trên con đường tìm kiếm
tâm linh. Họ tưởng rằng hoạ phẩm của tôi sẽ trơ nhạt.
Tôi không được những người thực hành thiền như một thứ
trang sức tán thưởng lắm, ngược lại tôi cũng thấy họ
cạn cợt, khô cằn. Đối với tôi, ngược lại, sự rỗng
không, sự tan rã, là biển của niềm vui. Đây không phải
là một sa mạc nơi mà cát cũng chẳng có.
Cảm
Nhận Về Không Gian
Tôi
cũng bị ảnh hưởng bởi tình bạn với các hoạ sĩ Pierre
Soulages và Georges Mathieu. Tôi rất ngưỡng mộ sự phóng túng
trong điệu bộ của họ, theo phong cách Jackson Pollock. Họ đối
nghịch nhau trong quan điểm sáng tạo và nhận thức. Soulages
thường nói rằng Mathieu có những điệu bộ dễ gây xúc cảm,
trong khi Soulages thì có những điệu bộ của sự hiện hữu.
Từ
họ, tôi học cảm nhận về sự tự do và trở nên cởi mở
hơn đối với sự tự do. Khi ngắm tranh của tôi, họ đã
nói: "Sao bà không vẽ lớn hơn?" Tôi đến Brittany nơi tôi
có một studio để vẽ trong một căn nhà rộng rãi. Tôi tìm
mặt phẳng lớn nhất mà tôi có thể tìm được (những tấm
vải nhựa vinyl), rồi đặt chúng trên sàn nhà. Thật là tuyệt
diệu; cuối cùng tôi cũng tìm ra được không gian thích hợp
cho những gì tôi muốn diển tả. Tôi mang cảm nhận về không
gian nầy lên các khung vẽ của mình.
Người
ta thường nói về không gian của người hoạ sĩ. Khi đó là
một tác phẩm tượng trưng, người ta sẽ thấy một con thuyền
nhỏ nơi đường chân trời. Khi đó là một bức hoạ điệu
bộ (gestural painting), nó có thể là một không gian không lệ
thuộc vào kích thước hoặc khái niệm giống như không gian
âm nhạc.
Có
những người bản chất phóng khoáng (không gian nội tại)
dù họ không phải là hoạ sĩ. Tôi cảm nhận được điều
nầy khi tôi gặp nhà nhiếp ảnh Henri Cartier-Bresson ở studio
của L'hote. Bổng nhiên tôi nhận ra một người phóng khoáng.
Trong các bức ảnh chụp của ông, người ta nhận ra điều
ấy. Và giờ đây điều đó thể hiện trong các bức họa
của ông. Ông là một người theo tự do chủ nghĩa, một nhà
cách mạng. Người phóng khoáng chắc chắn phải có tính cách
mạng vì họ đã vượt lên trên mọi điều lệ.
Đuổi
Theo Những Áng Mây
Khi
còn nhỏ, hãy còn bận rộn với sách vở ở trường, tôi
đã từng muốn đến Tibet, sau khi đọc những quyển sách của
Alexandra David-Neel, nhà du lịch, nhà văn viết về Tibet. Đó
là mơ ước của tôi, nỗi ám ảnh của tôi. Tôi khổ sở,
bất mãn về việc học của mình, dù cha mẹ tôi tử tế,
dể thương, không từ chối tôi điều gì cả. Dưới mắt
của họ, mọi thứ đều tốt đẹp, duy chỉ có tôi đau khổ
vì không thể ở nơi mà tôi có thể thực hiện được điều
gì đó sâu sắc hơn những thứ mà tôi đang hưởng thụ, đang
tìm kiếm. Tôi đã kiếm tìm. Tôi đã tìm đến với những
vị thầy tu dòng Dominic, nhưng điều đó cũng không tốt; lúc
đó, nếu bạn đọc Master Eckhart, bạn cũng bị phê phán.
Năm
1968, nhờ duyên lành tôi được biết đến Phật giáo. Tôi
cảm thấy mình không xứng đáng được có niềm hạnh phúc
đó, nó hơn tất cả những gì tôi đã mơ ước, phác hoạ
ra. Khi diện kiến vị Thầy Tây Tạng của mình lần đầu
tiên, tôi thấy nơi Thầy toả một sự rỗng không, mà tôi
không xác định được, và tình thương yêu mà tôi đang tìm
kiếm, bao trùm tất cả như ánh mặt trời. Cho đến tận phút
ấy tôi chỉ toàn chạy đuổi theo những áng mây.
Một
Lằn Xanh
Phần
lớn các tranh của tôi trước đây theo trường phái biểu
hiện, tràn đầy những đau khổ. Tôi hối tiếc đã vẽ loại
tranh đó. Đó là những gì khiến tôi không thích trong hội
hoạ, chúng vừa u ám vừa không mang lại lợi ích gì cho ai.
Và thường đưa người ta đến tự tử hoặc điên loạn,
giống như Van Gogh và Nicolas de Stael. Tôi tránh được điều
đó, nhưng vẫn thấy nao lòng khi chứng kiến những sự lãng
phai trước mắt. Giống như một nhà tù, như đang đền tội.
Tôi không thể nào thích được các bức hoạ ấy, vì chúng
không phải là những bức hoạ của tình thương. Chúng là
những bức hoạ của khổ đau, không mang lại được gì cho
ai cả.
Hiện
tại, tôi cố gắng vẽ một cách tự nhiên. Bạn có thể bộc
lộ tính tự nhiên ở mọi nơi. Bạn có thể phác họa cả
lòng tử tế trong hội hoạ. Trước kia, tôi thường lo âu,
bức rức, vì thế hình dáng của dấu thập tự cho tôi biết
tôi đang làm việc với lòng tức giận bên khung vẽ. Có khá
nhiều tranh như thế, từ Soutines đến những hoạ sĩ đương
thời. Họ xé nát hoạ phẩm của mình và mọi người nói
đó là sự kết thúc của hội hoạ thủ công. Hội hoạ điệu
bộ không bắt buộc giống như đấu quyền anh, hung hản. Nó
có thể là sự hài hoà giữa trời và đất, một vũ điệu
của thái cực.
Một
ngày, tôi vẽ một đường màu xanh trên một bức hoạ. Tôi
cảm thấy thật là tuyệt diệu. Cùng ngày đó, một vị bác
sĩ đã nhìn thấy bức tranh, ông mua ngay và mang nó đi. Tôi
rất vui mừng vì đã bán được bức tranh. Ngày hôm sau, tôi
cũng vẽ một lằn màu xanh, nhưng tôi không thể nào vẽ lại
được cái lằn xanh của hôm đó nữa.
Chương
12
PHẤN
ĐẤU ĐẾN GIẢI THOÁT
Pang
Kwihi
Pang
Kwihi, là một nhà văn Phật giáo Đại Hàn. Bà có một khuôn
mặt đẹp, đầy diển cảm, nhưng thân dưới bị liệt, nên
phải ngồi xe lăn. Bà là một tiểu thuyết gia, một nhà viết
kịch, một giảng sư Phật giáo nổi tiếng. Thời trẻ, bà
đã ao ước được trở thành bác sỉ, nhưng những năm 1970,
các trường đại học không tiếp nhận sinh viên khuyết tật,
vì thế bà không được nhận vào học ở trường Y. Bà đổi
sang ghi danh học ở Đại Học Phật giáo Tongguk, ban đầu không
phải vì lòng yêu thích Phật giáo mà vì chỉ có đại học
nầy chấp nhận cho bà theo học.
Đương
Đầu Với Trở Ngại
Tôi
bắt đầu học Phật mà không trọn niềm tin. Tôi không được
tiếp xúc với Phật giáo vì không thể đi đến các chùa,
do đó không thể được gặp quý tăng ni, dầu mẹ tôi là
một Phật tử thuần thành, thường xuyên thăm viếng các chùa
chiền. Khi bắt đầu đến với Phật giáo, tôi nhận ra đây
là một triết lý rất hữu dụng, từ đó tôi trở nên gắn
bó với nó.
Tôi
cố gắng áp dụng các giáo lý của Đức Phật vào cuộc sống
đời thường. Tôi thường gặp nhiều khó khăn trong đời
sống, những lúc đó tôi nghĩ đến những lời dạy nào của
Đức Phật có thể giúp tôi đương đầu với chúng. Thí dụ
trong Bát chánh đạo, tôi thấy có chánh ngữ. Tại sao là chánh
ngữ? Vì khi gặp gở, tiếp xúc với người khác, tôi hiểu
tại sao cần phải nói lời chân thật, cách nói cũng phải
thích hợp, vì người nghe sẽ tiếp nhận, phản ứng với
những điều ta nói.
Ngoài
ra chánh tinh tấn, triết lý về con đường trung đạo, chân
lý về ba độc (tham, sân si); tất cả những điều nầy cũng
rất quan trọng, cần phải nhớ để áp dụng, gìn giữ trong
cuộc sống hằng ngày. Những lời dạy của Đức Phật đã
thành kim chỉ nam cho cuộc đời tôi. Khi tôi có những hành
động thế nầy, thế nọ, tôi suy gẫm lại tại sao Đức
Phật có những lời dạy khác nhau cho nhiều căn cơ khác nhau.
Lòng
Tin Mù Quáng
Các
Phật tử Đại Hàn thường có quan niệm rằng nếu ai bị
bịnh hoạn, tật nguyền hay bị nhiều trở ngại, thì đó
là do những ác nghiệp trong các kiếp quá khứ. Điều đó
làm chúng tôi cảm thấy như đó là lỗi mình khi phải mang
thân hình khuyết tật; do đó có nhiều người khuyết tật
không thích Phật giáo. Nói chung, người khuyết tật ở Đại
Hàn không thiện cảm với Phật giáo vì lý thuyết nghiệp
quả.
Trong
khi nếu chúng ta càng có khó khăn, hay bị khuyết tật, chúng
ta càng cần đến tôn giáo, có ý hướng về tôn giáo. Nếu
chỉ có 40 phần trăm người bình thường tin theo một tôn
giáo nào đó, thì có đến 80 phần trăm người khuyết tật
có tín ngưỡng. Trong số đó, 4 phần trăm theo đạo Phật,
88 phần trăm theo Tin Lành và số còn lại theo Thiên Chúa. Ngay
cả số 4 phần trăm theo đạo Phật, cũng chưa hẳn họ là
người Phật tử thuần thành mà chỉ vì họ sinh trong gia đình
theo đạo Phật.
Tuy
nhiên tôi lại nhìn vấn đề dưới khía cạnh khác. Vào thời
Đức Phật còn tại thế, trong xã hội An độ đã có tư tưởng
về luân hồi tái sinh và nghiệp quả từ tiền kiếp. Tư tưởng
đó mạnh mẽ vô cùng, nó đã ăn sâu vào tâm trí mọi người
và được lưu truyền cho đến ngày nay. Tư tưởng nầy không
phải do Đức Phật đề ra, nó đã có mặt trong nền văn hoá
An Độ, do đó người Phật tử chỉ thuận theo để được
thông cảm và chấp nhận đối với xã hội đó. Các học
giả cũng công nhận điều nầy.
Đức
Phật không hề nhấn mạnh về việc trả quả, rằng trong
kiếp nầy chúng ta phải trả quả cho các ác nghiệp trong tiền
kiếp. Ngài không quá quan tâm đến sắc thân và ý nghĩa của
nó; đúng ra Đức Phật đã dạy chúng ta cần phải tu tập
dầu thân thể ta có bị thế nào, mà không nên quá quan tâm
đến nó.
Trong
các bài giảng của mình, tôi thường tìm kiếm các câu chuyện,
các lời dạy trong tạng kinh của Phật giáo, liên quan đến
người khuyết tật. Một trong mười vị đại đệ tử của
Đức Phật, có ngài Anayuli bị mù hai mắt. Ngài bị mất thị
giác không phải vì nghiệp quả xấu của đời trước, mà
vì Ngài đêm ngày thực hành Phật pháp không ngơi nghỉ, nên
sinh ra bịnh mắt. Đức Phật bảo rằng Anayuli đã đạt được
con mắt trí tuệ -dù Ngài không thể nhìn thấy với đôi mắt
thường, Ngài có thể thấy bằng đôi mắt tâm, Ngài đã đạt
được sức mạnh đó nhờ sự tu hành tinh tấn. Đức Phật
đã hết lời khen ngợi Anayuli, và Ngài đã trở thành một
trong những vị đệ tử nổi tiếng nhất của Đức Phật.
Vào
thời Đức Phật, các đệ tử Phật thường đi khất thực
và may y áo bằng những mảnh vải rách. Anayuli không nhìn thấy
để xỏ kim, nên Đức Phật đã đến giúp đở ông. Qua đó,
ta thấy Đức Phật rất quan tâm, giúp đở người khuyết
tật, và trong các kinh điển của Phật có nhiều thí dụ tương
tự như thế. Tôi nghĩ có ngày tôi sẽ sưu tầm chúng để
làm thành sách.
Điều
Gì Là Sự Bất Hạnh Nhất?
Năm
1988, sau thế vận hội Olympic ở Seoul, một Olympic dành riêng
cho người khuyết tật đã được tổ chức. Người ta nhận
ra rằng người khuyết tật cũng có các nhu cầu, nên quan tâm
đến các phúc lợi của họ hơn. Tôi bắt đầu có những
bài thuyết pháp cho nhiều nhóm người khuyết tật. Tôi cũng
nói về các vấn đề an sinh xã hội Phật giáo cho những ai
quan tâm, vì tôi đã từng làm luận án về đề tài nầy.
Tôi
muốn cho người khuyết tật hiểu đúng hơn về luân hồi
và nghiệp quả, cố gắng giới thiệu Đức Phật và giáo
lý của Ngài sao cho họ thấy hữu ích hầu phát triển lòng
tin của họ.
Đức
Phật đã lang thang khắp nơi vì những nỗi đau khổ của chúng
sanh và ước nguyện tìm ra phương cách đoạn diệt khổ đau
của Ngài. Đức Phật nhận thấy vẫn còn điều gì đó chưa
hoàn mãn, nên Ngài đã bỏ cả thế giới, để trở thành
một vị tu sĩ khất thực. Tôi rất ngưỡng mộ điều đó
ở Ngài. Ngài đã có tất cả -tiền bạc, uy quyền, tài năng-
không thiếu thứ gì trong cuộc sống vật chất. Tuy nhiên chính
vấn đề tâm linh mới khiến Ngài suy tư, bắt đầu với cái
chết của mẹ Ngài. Tôi nhận thấy điều nầy rất thuyết
phục, đó là câu chuyện rất gần gủi với chúng ta. Ngày
nay, cũng có bao người giàu sang, tài giỏi mà vẫn khổ đau;
và cũng có những người đau khổ như chúng tôi vì nghèo khó,
và khả năng hạn chế. Thật ra, điều gì là nỗi bất hạnh
lớn lao nhất? Tôi vẫn thường suy gẫm về vấn đề nầy.
Phật giáo có rất nhiều thứ để ban tặng cho chúng ta vì
Phật giáo cho ta một lối thoát, với rất nhiều phương pháp
thực tập để đoạn diệt được tận gốc rể của phiền
não, khổ đau.
Một
trong những nỗi đau khổ lớn nhất là sự xung đột. Dầu
ta có giàu bao nhiêu, có tích lủy bao nhiêu của cải, tất
cả những thứ nầy không thể giúp ta giải tỏa khổ đau.
Có thể nói, chính sự giàu sang khiến cho ta càng xa rời hạnh
phúc hơn. Thực sự, lý do nào khiến ta đau khổ? Nếu ta học
hỏi Phật pháp, và biết áp dụng chúng, ta sẽ nhận thấy
rằng chân hạnh phúc có thể được vun trồng, và điều đó
giúp ta có thể bằng lòng với cuộc sống hơn.
Thiền
Không Có Nghĩa Là Bất Động
Thiền
quán không chỉ là ngồi yên một chỗ. Người khuyết tật
có trở ngại khi ngồi Thiền cũng như khi lạy Phật. Trong
Thiên Chúa giáo không có hình thức đặc biệt nào nơi thân
khi cầu nguyện, chỉ cần cầu nguyện, nhưng trong Phật giáo
chúng ta phải bái lạy hay ngồi Thiền trong những tư thế
nhất định. Những hình thức lễ bái nầy gây trở ngại
cho người khuyết tật, và là rào cản giữa người khuyết
tật và thế giới tâm linh. Chúng ta cần tìm trong Phật giáo
các phương cách để việc hành Thiền cũng như các nghi lể
khác có thể áp dụng cho mọi người.
Điều
thiết yếu là chúng ta phải trở về với những điều căn
bản trong cuộc đời Đức Phật và những lời giáo huấn
nguyên thuỷ của Ngài. Không cần một hình thức đặc biệt
nào, ai cũng có thể đọc vài dòng kinh mỗi sáng để không
quên những lời giáo huấn, để áp dụng chúng trong ngày.
Thí dụ, hôm nay tôi sẽ thực hành chánh niệm để không nói
những lời vô tâm, những câu vô ý. Ngay cả trong những hoàn
cảnh khiến tôi cảm thấy muốn nói lời không chánh niệm,
tôi cũng sẽ cố gắng kiềm chế mình, nhắc nhở mình nhẫn
chịu.
Nếu
mỗi sáng chúng ta rời nhà với tâm niệm đó, thì dù có gặp
phải người khó chịu, chúng ta vẫn có thể làm chủ tâm,
giữ cho tâm được an tịnh, mà không gây đau khổ cho người.
Đó là chúng ta nỗ lực áp dụng Phật pháp vào cuộc sống.
Nếu chúng ta có thể giử được năm giới cũng đã là đầy
đủ. Ngay cả như mổi tháng chúng ta chỉ cần giữ được
một giới, thì chắc chắn là hành động của chúng ta sẽ
được được sửa đổi nhanh chóng.
Chúng
Ta Đều Bình Đẳng
Tôi
viết kịch bản cho đài phát thanh, các tham luận hay truyện
ngắn cho các tạp chí của nguời khuyết tật hoặc tạp chí
Phật giáo và một quyển sách mỗi năm. Sách của tôi không
chuyên đề, tôi quan tâm đến văn chương hơn. Khi suy gẫm
về cuộc đời, ý nghĩa và những khó khăn của nó, tôi lại
liên kết với văn chương. Tôi đã viết khoảng mười đầu
sách phần lớn là tiểu thuyết, nhưng tôi chỉ viết về những
đề tài liên quan đến Phật giáo hay nguời khuyết tật.
Tôi
đã viết một tiểu thuyết tựa là Rahula, nổi tiếng và được
nhiều người đọc. Rahula là con của Đức Phật và tên của
ông có nghĩa là "khiếm khuyết". Trong quyển sách này, tôi
đã nghiên cứu xem điều gì cản trở, trói buộc con nguời
trong cuộc sống của họ và điều gì có thể giải phóng
họ. Họ đã phản ứng thế nào khi bị trói buộc và khi được
giải thoát? Con nguời bị trói buộc rồi được giải thoát,
rồi bị trói buộc trở lại; tôi triển khai sự chuyển biến
này trong sách của tôi.
Có
nhiều nhà văn là nguời khuyết tật, không phải vì họ có
nhiều tài viết lách, nhưng đó là một trong những số ít
việc họ có thể làm được. Có những người phải ngồi
hay nằm suốt ngày, có người không thể đi đâu cả, nhưng
họ có thể viết và diễn tả những gì trong tâm và trí của
họ. Tôi đã lập Hội Các Nhà Văn Khuyết Tật để họ được
nhiều người biết đến và để tìm nhà xuất bản cho các
tác phẩm của họ. Chúng tôi cũng hợp tác xuất bản một
tạp chí văn chương.
Tôi
làm tất cả những việc này vì tôi thích, nhưng cũng vì thật
đáng buồn rằng thái độ của người Đại Hàn đối với
người khuyết tật không thay đổi. Mức sống đã cao lên,
người dân đã khá giả hơn, đôi khi họ cũng giúp tiền cho
nguời khuyết tật. Nhưng như thế vẫn chưa đủ; chỉ khi
nào họ nhìn người khuyết tật như một con nguời bình đẳng,
đó mới thật sự là an sinh. Điều quan trọng là chúng ta
phải thay đổi thái độ và suy nghĩ đối với người khuyết
tật, và phần lớn công việc của tôi là cố gắng làm cho
người dân Hàn quốc chấp nhận người khuyết tật.
Bề
Ngoài Không Quan Trọng
Tôi
được xem một chương trình trên TV về những nguời có các
dị dạng trên khuôn mặt của họ. Họ có thể đi đứng,
nói, nghe và mọi thứ khác hoạt động bình thường. Tuy nhiên
chỉ vì khuôn mặt họ khác với người bình thường, họ
không thể hoà đồng trong xã hội. Ở trường họ bị chế
nhạo, vì thế họ không thể đến trường; ở công sở họ
không được chấp nhận và bị làm khó dễ. Khi nghe điều
này, tôi cảm thấy rất buồn. Điều đó làm tôi suy nghĩ
vì sao cơ thể và bề ngoài của chúng ta quá quan trọng trong
xã hội. Đó là lý do tại sao những lời dạy của Đức Phật
cần phải đuợc nhiều người biết đến vì Đức Phật cho
rằng bề ngoài không quan trọng. Điều quan trọng là cái tâm
và tư tưởng bên trong chúng ta.
Điều
quan trọng là ta cần giúp nguời khác trở nên cởi mở chấp
nhận những cái khác biệt và ít phân biệt đối xử hơn.
Nếu không rất nhiều đau khổ sẽ được tạo ra chỉ vì
nước da, khuôn mặt hay thân thể của nguời này khác với
nguời kia. Chính Đức Phật đã nói:"Đừng sanh tâm phân biệt".
Khi chúng ta gặp một nguời chưa quen biết, chúng ta thường
nhìn ngừơi ấy với tâm phân biệt, nhưng không cần phải
làm thế; tất cả chúng sanh đều bình đẳng.
Tôi
luôn cố gắng thực hành niềm tin này. Dĩ nhiên đôi khi tôi
cũng tự hỏi và phán đoán:"Không biết người này có học
nhiều hay không?" Khi tôi bắt gặp mình có những tư tưởng
như vậy, tôi lại nhắc nhở mình và thay đổi những suy nghĩ
phân biệt như thế ngay lập tức.
Chương
13
THIỀN
VÀ HỘI HỌA
Okbong
Sunim
Okbong
Sunim là nột trưởng lão ni, vừa là một họa sĩ Thiền. Ni
Sư đã có nhiều cuộc triển lãm và một quyển sách về tranh
của Ni Sư vừa được xuất bản gần đây. Ni Sư bị bịnh
thấp khờp làm hạn chế nhiều sinh hoạt, nhưng Ni Sư vẫn
rất sống động, thân thiện. Ni Sư sống trong một căn hộ
nhỏ ở Seoul.
Vẽ
Là Thiền
Đối
với tôi, vẽ là thiền. Khi cầm cây cọ lên, cũng không khác
với khi tôi ngồi thiền. Dầu có bao vọng tưởng muốn phát
khởi, cũng không có chỗ cho chúng khi tôi đang vẽ. Tâm tôi
hoàn toàn không bị quấy nhiễu, trước mắt tôi chỉ có một
việc phải làm là vẽ. Đó là thiền vì chỉ có một ý nghĩ
trong đầu tôi. Nếu bạn đã ngồi thiền với một công án
trong đầu, thì bạn sẽ thấy rằng vẽ hay quán công án cũng
không khác nhau. Quán công án và trụ tâm vào việc vẽ cũng
là một.
Ở
tu viện, hay ở đây, trong căn hộ nầy, tôi cũng tự nhiên
thức dậy lúc 3 giờ sáng. Sau khi vệ sinh cá nhân, tôi ngồi
thiền. Sau đó tôi ăn sáng, rồi làm các công việc bình thường
trong ngày. Buổi tối khá yên tĩnh, nên tôi tụng kinh và lại
ngồi thiền.
Có
lúc tôi vẽ suốt ngày; có thể coi như tôi Thiền suốt ngày.
Tôi chú tâm vào công việc đến nổi đôi khi tôi không nhận
ra rằng ngày đã đi qua. Nếu quá mệt mỏi, tôi không thể
vẽ, nhưng nếu đở hơn, thì tôi lại cầm cọ. Nếu có ai
nhờ tôi chỉ dạy, thì tôi dạy họ.
Hãy
Kiên Trì
Khi
dạy các sinh viên mỹ thuật, tôi bắt đầu bằng những điều
căn bản. Thanh niên ngày nay rất bén nhạy, họ hiểu nhanh,
áp dụng ngay được những điều tôi dạy, nhưng điều họ
làm tôi thất vọng là sự thiếu sự kiên trì. Nếu bạn bắt
đầu một việc gì, bạn phải cố gắng hoàn tất công việc
đó. Nếu bạn cầm cây cọ lên, bạn phải vẽ, phải sơn
đi sửa lại. Vẽ 'bốn loại cây cao quý' (lan, cúc, trúc và
đào) không phải dể, nhưng khi gặp công việc khó, bạn khắc
phục bằng cách cố gằng không ngừng. Sự nỗ lực là điều
quan trọng. Ngày nay, nhiều người chỉ bỏ chút ít sức lực,
rồi xuôi tay đầu hàng. Người ta gọi đó là "Bắt đầu
thì năng nổ, mà kết thúc thì yểu xìu". Mổi đầu khóa học,
tôi đều hỏi họ: "Các bạn có tiếp tục theo đuổi hội
họa cho đến tuổi 60, 70 không?" Tất cả đều gật đầu.
Nhưng sau đó, lúc nào họ cũng có lý do để bỏ cuộc. Họ
quá bận rộn hay vì lý do nầy, lý do nọ.
Là
một họa sĩ hay nghệ sĩ, bạn cần giử cái tâm ban đầu
của mình, ngay cả khi bạn không thể cầm cọ vẽ mổi ngày.
Bạn cần tập thói quen cầm cọ ít nhất 10 hay 20 phút mổi
ngày, nếu có thể vẽ trên một tờ báo cũ, coi như một trò
chơi. Nếu bạn làm như thế, thì thói quen đó luôn ở với
bạn, nó sẽ thành nếp. Không cần phải thực hành lâu hơn
thế. Ngay như khi bạn phải theo đuổi những công việc khác,
thì trong tâm bạn cũng không được buông bỏ ý chí, sự ý
thức đến hội họa.
Hãy
Luyện Tâm
Hãy
để tâm lắng đọng, chăm chú. Bạn sẽ không thể vẽ nếu
tâm bạn lăng xăng, lo lắng. Tâm cần yên tĩnh, tự tại. Bạn
nên lắng tâm ngồi Thiền trong vài phút trước khi bắt đầu
vẽ. Nếu tâm bạn yên định thì không có lý do gì khiến
bạn không thể vẽ. Vì tất cả đều do tâm mà ra. Tâm là
tất cả. Nên hội họa cũng là tâm. Nếu tâm lăng xăng, không
lắng đọng thì tranh vẽ của ta cũng lăng xăng, lộn xộn.
"Vạn pháp tụ về một pháp", là như thế đó.
Phật
giáo thiên về những gì có vẻ tự nhiên, về sự tĩnh thức
để trở về với chân tánh của mình, và hội họa là một
cách để diển tả nội tâm, cảm xúc của mình. Mổi nghệ
sĩ bày tỏ ra, tự nhiên như thế, những cá tính riêng của
mình. Khi ta tạo ra được một sản phẩm nghệ thuật từ
sự tĩnh lặng, thì sự tĩnh lặng đó được biểu lộ ra,
không còn sự phân biệt giữa người và ta.
Nếu
tác phẩm được tạo ra từ sự nhất quán, nó sẽ cho ta thấy
sự nhất quán. Thí dụ, nếu tâm ta lắng sâu, yên tĩnh thì
công án là thế nào? Rõ ràng công án phải là: "Cái gì đây?'
Nếu có những lúc bạn có thể cầm cây cọ lên và vẽ, thì
là bạn đang vẽ với tâm nhất quán.
Bốn
Loại Cây Cao Quý
Lúc
trẻ, tôi rất thích thư pháp và được học với một vị
thầy giỏi. Tôi bắt đầu học vẽ năm 15 tuổi. Các tác phẩm
của tôi không hoàn toàn Đông phương, mà cũng không phải
Tây phương. Đó là 'bốn cây cao quý': lan, trúc, đào và cúc.
Suốt đời tôi chỉ có vẽ bốn loại nầy.
Bốn
loại cây cao quý nầy có rất nhiều ý nghĩa. Nếu bạn vẽ
một cây lan, dầu chỉ có một lá, trong đó cũng hàm chứa
sự toàn vẹn, chủ tâm. Nó tượng trưng cho thiên nhiên và
cái đẹp. Có một loại lan rất đặc biệt; nếu nó có mặt
ở đây thì cả căn phòng nầy sẽ lừng hương thơm, người
đứng ngoài phòng cũng có thể ngửi thấy. Cây phong lan tự
tõa vẻ đẹp, thiên nhiên và hương ra mà không màng đến
lời khen, chê.
Trúc
thì thẳng và xanh ngát, lúc nào cũng thế. Không bao giờ thay
đổi sự thẳng đứng hay xanh tươi của mình. Dầu cho thời
tiết nắng nóng hay lạnh lẽo tuyết rơi, lúc nào cũng như
thế. Trong bốn loại cây cao quý nầy, trúc mạnh mẽ, đầy
cá tính nhất. Trúc cũng được dùng làm cây sáo từ rất
lâu vì nó cho tiếng thanh tao nhất.
Hoa
đào nở rất đặc biệt vì nó nở trên những cành trơ, cuối
mùa đông, trong gió tuyết, khi cành không còn lá, không có
màu xanh hay bất cứ màu sắc nào. Sự bền bỉ của cây đào
nở hoa thật tuyệt vời. Dầu thời tiết lạnh đến đâu,
nó vẫn trổ hoa.
Cúc
đặc biệt vì nó xuất hiện khi tất cả các loại hoa khác
đều đã tàn vào mùa thu, và nở hoa sau những mảng tuyết
đầu tiên của mùa đông vừa xuất hiện.
Do
đó bốn loại cây cao quý nầy đều có những đặc tính riêng,
và đều là biểu tượng của vẻ đẹp, sự bền bỉ, vẹn
toàn.
Lúc
trẻ tôi sống trong vùng nơi có bốn họa sĩ rất nổi tiếng.
Một trong những vị nầy khuyên tôi không nên hạn chế mình
với chỉ bốn loại cây quý nầy mà phải vẽ cả núi sông
nữa. Tuy nhiên, tôi nghĩ chỉ các loại cây nầy cũng đủ
rồi.
Thật
ra để vẽ bốn loại cây quý nầy đòi hỏi rất nhiều nỗ
lực. Bạn có thể chỉ nhìn thấy bức vẽ bằng mực đen
và nghĩ nó được tạo ra dể dàng, nhưng mỗi cái lá đều
phải sống động; nếu không như thế là bức tranh đã không
đạt. Lá nầy qua lá khác, từng cái phải sống động, và
đó là lý do tại sao chúng đáng được vẽ ra. Những họa
sĩ có tài thiên phú để vẽ bốn loại cây cao quý nầy rất
hiếm. Khi tôi bắt đầu theo học với thầy tôi, tất cả
có năm sinh viên, nhưng tôi là người duy nhất còn trụ lại
được.
Trở
Lại Với Hội Họa
Tôi
xuất gia từ năm ba mươi mấy tuổi, giờ tôi đã 80 tuổi.
Tôi đã bắt đầu vẽ được vài năm trước khi xuất gia.
Sau khi được giải phóng khỏi sự thống trị của người
Nhật, thì tiếp theo sau đó là cuộc chiến Hàn quốc. Hàn
quốc trước là một đất nước nguyên vẹn, sau đó bị chia
cắt làm Nam và Bắc vào cuối cuộc thế chiến thứ hai, rồi
Bắc Hàn lại gây chiến với Nam Hàn, dẩn đến cuộc chiến
tranh Hàn quốc. Nhiều sự chết chóc, đau khổ đã diển ra,
chính người Đại Hàn bắn giết lẫn nhau. Tôi chứng kiến
mọi thứ với sự kinh hoàng và bắt đầu chán sống trong
một thế giới như thế.
Khi
chiến tranh chấm dứt, đất nước bị chia cắt làm hai bởi
một lằn ranh giới. Tôi không còn muốn sống dù chỉ thêm
một ngày trong thế giới đó, vì thế tôi vào tu ở Tongkaksa,
một Phật học đường. Tôi quyết định tu Thiền, vứt bỏ
cọ vẽ qua một bên và đã tham dự nhiều khoá tu thiền ở
nhiều thiền viện.
Ít
năm sau, sau nhiều mùa an cư thiền định ở Soknamsa (một ni
viện gần Pusan, ở miền nam của Nam Triều Tiên), gối tôi
bắt đầu bị đau nhiều. Đau đến độ tôi không thể ngồi,
hay quỳ lạy, đi đứng rất khó khăn. Tôi phải đến Seoul
chữa bịnh, vì thế tôi cần tiền. Bao nhiêu năm tu hành, tôi
hoàn toàn không để ý đến chuyện tiền bạc, nhưng giờ
tôi cần đến chúng. Bạn bè khuyên tôi triển lãm tranh của
mình.
Thành
ra vì bịnh hoạn mà tôi bắt đầu vẽ trở lại. Tôi dồn
hết tâm sức vào đó, và vẽ được nhiều bức tranh khá
thành công. Sau cuộc triển lãm, tôi đi chữa bịnh, hy vọng
rằng mình được chữa khỏi và muốn trở lên núi tiếp tục
tu Thiền. Nhưng chân tôi vẫn không khỏi, lưng tôi cũng bắt
đầu đau. Sự chữa trị có giúp căn bịnh tôi đôi chút,
nhưng không khỏi bịnh.
Tôi
có một đệ tử. Cô ấy đã theo tôi từ lúc cô vừa rời
khỏi trường tiểu học, tôi ở lại Seoul cũng là để giúp
cô theo đuổi việc học của mình. Giờ cô ấy đã vào đại
học. Tôi cảm thấy có bổn phận lo cho việc học của cô.
Vào thời đó, các ni cô trẻ cần được giáo dục nhiều
điều. Vì thế tôi đã ở lại Seoul ngày qua tháng lại cho
đến hôm nay, tôi vẫn còn ở đây. Bốn năm trước đây,
một tạp chí tổ chức triển lãm tất cả tranh của tôi.
Lúc đầu tôi từ chối nhưng sau đó đã nhận lời.
Người
Nghệ Sĩ
Họa
sĩ thì phải vẽ tranh, vì thế tôi không thể không làm chuyện
đó. Khi bịnh, tôi nghĩ về công án. Khi đở hơn, tôi cảm
thấy phải cầm cọ vẽ. Lúc đó tôi quên hết mọi chuyện,
vọng tưởng, và nhiều thứ nữa. Hội họa và tôi trở thành
một. Ngay cả nếu tôi dự định làm chuyện gì khác, tôi
cũng không thể; tôi quên tất cả, và mọi chuyện chìm lắng
một cách tự nhiên.
Dù
người nghệ sĩ thuộc trường phái nào, họ cũng có những
cá tính nổi bật, vì thế họ dể bị hiểu lầm, nhưng thật
sự phải có cái gì trong họ, khiến họ có thể sáng tạo
những tác phẩm trí tuệ, sắc sảo. Nếu có người nghệ
sĩ nào mơ hồ, nhạt nhẻo, thì tác phẩm của họ cũng thế,
cũng sẽ không thể nổi bật.
Đôi
khi bạn có thể thắc mắc: "Tại sao người nầy lại cư xử
như thế?" Bạn không thể hiểu, không thể biết. Các nghệ
sĩ thường nói với nhau: "Bức họa nầy tiến triển không
tốt rồi". Điều đó khiến họ đau đầu, họ bực bội,
la lối, rồi bỏ đi. "Sao lại bỏ đi?", có người hỏi. "Vì
bức họa không tiến triển tới đâu", người kia trã lời.
Nhưng nếu mọi tác phẩm đều là một thành công, thì cũng
không thực tế, chúng cũng không còn giá trị nữa. Tác phẩm
chỉ có giá trị khi giữa lúc nó dường như không tiến triển
tới đâu, bổng nhiên ta tiến lên một cấp bậc cao hơn. Đó
chính là nghệ thuật. Dầu bạn là người nghệ sĩ như thế
nào, dầu bạn theo trường phái nào, khi nói đến cái tâm
cần có để tạo nên một tác phẩm nghệ thuật, thì tất
cả đều giống nhau.