II.
LUYỆN TÂM
Chương
7
NƯỚC
VÀ SÓNG
Myongsong
Sunim
Unmunsa
là một tu viện lớn tại Hàn quốc, có khoảng 300 ni. Sự
thành công của viện nhờ vào Ni trưởng và cũng là vị giảng
sư chánh là Myongsong Sunim, một trong những người giảng pháp
lỗi lạc nhất của Hàn quốc, được rất nhiều người kính
trọng. Tu viện Unmunsa càng ngày càng lớn mạnh, có thêm nhiều
phòng ốc; học viên thì hài lòng với không gian hoà hợp yên
tĩnh. Ni sư Myongsong khoảng 60 tuổi, nhưng nhìn bà rất trẻ
so với tuổi. Bà nhanh nhẹn nhưng cũng trầm tĩnh, nghiêm khắc
mà thân thiện, cân bằng, mực thước, luôn lo cho phúc lạc
của các ni sinh. Các ni sinh có cảm giác rằng Ni trưởng đối
với họ rất tốt vì bà biết cách chăm sóc cho cây cỏ. Muốn
trồng phong lan và cây cối đòi hỏi sự kiên nhẫn, vì mỗi
thứ cây cần được chăm sóc khác nhau. Cũng vậy, dường
như Ni trưởng biết phải ứng phó như thế nào với nhiều
ni sinh khác nhau.
Giáo
Lý Của Đức Phật Là Gì?
Chúng
ta cần biết ý nghĩa thật sự về chữ Phật trước khi ta
có thể thiền hay tụng niệm. Nếu thực hành một cách mù
quáng, chúng ta có thể đi sai mục đích. Chúng ta cần phải
tìm hiểu về giáo lý của đức Phật trước khi thắp hương,
niệm Phật. Chúng ta phải biết kinh trước khi có thể tụng.
Đó là lý do tại sao tôi học kinh điển.
Trước
tiên, bạn phải có tâm chân thành khi học kinh. Ban đầu, khi
đức Phật đi tu, Ngài cũng có lý do. Tại sao đức Phật lại
đi tu? Cũng giống như, đi chợ để mua một món hàng nhất
định nào đó, hoàn toàn khác với việc đi chợ chỉ vì theo
một người bạn, hoặc đi mà không có mục đích gì cả.
Từ
nhỏ, tôi đã đọc rất nhiều sách về tôn giáo : Phật giáo,
Khổng giáo, Thiên Chúa giáo, kể cả sách của Socrates. Tôi
muốn trở thành một đại bác học. Nhưng tôi đọc sách Phật
là phần lớn và muốn đi theo con đường nầy. Nhìn người
khác, tôi thường tự hỏi cuộc sống của họ có ý nghĩa
gì, khi dường như họ sống một cuộc sống vô vị. Tôi quyết
định xuất gia năm 23 tuổi.
Tâm
Ban Đầu
Khi
bắt đầu tu tập, ta nên tự hỏi: Động lực nào thúc đẩy
ta? Mục đích của ta là gì? Chúng ta cần có một đường
hướng căn bản vì thế ta nên bắt đầu học kinh Chobalshim
(Tâm ban đầu).
Tâm
rất quan trọng. Ta cần tạo ra một tâm thức như thế nào?
Tâm giống cái gì? Cái mà ta gọi là tâm không hình dáng, không
mùi vị. Ta không thể thấy tâm bằng mắt hoặc nghe bằng
tai; vậy tâm là gì?
Điều
quan trọng là tiếp tục không gián đoạn với động cơ ban
đầu của ta. Tâm ban đầu, khoảng giữa và cuối đều phải
giống nhau. Nếu tâm ban đầu thay đổi, thì bạn có thể có
những hành động bất thiện hay là không chính đáng.
Tâm
ban đầu cần được chuyển tiếp cho tâm theo sau; chúng là
một. Trong kinh Chobalshim có nói: 'Với tâm ban đầu hành giả
sẽ đạt được giác ngộ'. Tôi thường giảng về tâm nhất
nguyên và làm thế nào để tâm ấy không hai.
Nước
Và Sóng
Nếu
bạn nghĩ thiền và học kinh điển là đối chọi nhau, thì
bạn rất sai lầm. Hoàn toàn không phải vậy. Nếu tâm Phật
là thiền thì lời Phật là giáo pháp. Giáo pháp của Phật
không hiện hữu ngoài tâm Phật.
Giống
như nước và sóng không khác nhau. Nếu nước chuyển động
thì là có sóng, khi lắng dịu thì vẫn là nước. Sóng thì
chuyển động và nước thì yên lắng, hai thứ không khác nhau.
Cũng như vậy thiền và giáo pháp không khác.
Trong
đời sống hàng ngày, không có gì không phải là thiền. Khi
chúng ta biết ngồi quay mặt vào vách quán sát, 'Cái gì là
tâm?', thì mọi thứ trong cuộc sống của chúng ta trở thành
thiền. Từ lúc sáng thức dậy cho đến lúc nằm xuống ban
đêm, chúng ta quán: 'Cái gì đang nằm ở đây?' Nếu suy tư
sâu lắng ta thấy cái đang nằm ở đây có thể ví như một
xác chết còn động đậy. Đây là một hình thức tu tập.
Giáo
lý của Phật chỉ là sự diễn đạt của tâm Phật, qua văn
tự và ngôn ngữ. Nhiều người không biết đó là một chứ
không phải hai. Một thiền sinh có thể nói giáo lý là xa vời.
Ngược lại kẻ chấp vào kinh điển có thể phỉ báng các
thiền giả, cho rằng họ là những kẻ ngu si, nhưng những
khái niệm này đều sai lầm.
Đời
Sống Hằng Ngày
Dầu
lạy Phật hay là nhổ cỏ, chúng ta cũng phải làm những việc
đó với tâm bình đẳng. Nếu chúng ta lạy Phật vì Phật
ngồi trên cao, đó là tôn thờ hình tượng. Nếu lạy Phật,
khi chúng ta nghĩ Phật ở ngoài chúng ta, đấy cũng là tôn
thờ hình tượng. Nếu ta nghĩ tâm hiện tại của ta là Phật,
chúng ta đảnh lễ chân tâm của mình với lòng thành kính,
cố gắng không để tâm dẫn đến cống cao ngã mạn. Đó
mới thật là ý nghĩa của sự đảnh lễ.
Trong
cuộc sống hàng ngày, khi làm những nhiệm vụ lớn nhất hay
nhỏ nhất, nếu chúng ta sống chân thật, kiểm soát việc
mình làm, đấy chính là ý nghĩa của chữ Phật. Khi nhổ cỏ,
hoặc quét sân, thưa hỏi người cao tuổi hoặc làm bất cứ
chuyện gì, nếu ta làm những việc này một cách thành tâm
thật lòng, thì đây là thiền.
Nếu
chúng ta tinh tấn hành thiền nhưng rồi nổi giận hoặc nổi
tham, thì còn tệ hơn chưa từng thực tập gì hết. Mục đích
của thiền là sửa đổi các tư tưởng sân hận, si mê hay
tham đắm. Chúng ta thiền là để trở về với tâm trong sạch,
chân thật. Nếu chúng ta sống một cuộc sống hoang đàng,
không lành mạnh, thì đó không phải là học tu hay hành thiền.
Tôi
thích nói về pháp một cách cởi mở, giản đơn. Tôi dạy
người cư sĩ biết sống lành mạnh trong cuộc sống hàng ngày.
Như sen vươn lên từ vũng bùn nhơ, vẫn nở hoa tinh khiết,
đẹp đẽ, người cư sĩ sống ở thế gian, vẫn có thể nở
hoa như sen vậy. Nếu họ vun trồng một cách sống tốt đẹp
với nhau, đó là họ đã thực hiện ý hướng của đức Phật.
Như
Nước Trong Nguồn Chảy Ra
Ngay
trước khi dạy bảo ai điều gì đó, chúng ta đã phải khiêm
nhường. Nếu khuyên ai nên tạo công đức, chúng ta cần nhún
nhường khi nói điều nầy. Trước hết chúng ta cần xét lại
việc tạo công đức của chính bản thân. Trước khi bảo
ai đừng nóng giận, tôi phải xét lại bản thân xem mình có
khả năng chịu đựng, nhẫn nại mà không trở nên giận dữ.
Khi
muốn nhắc nhở ai điều gì đó, ta không cần lớn tiếng.
Trước tiên, ta phải nhìn lại mình; có thể ta mới có tự
tin để dạy dỗ người khác. Chúng ta phải làm mọi việc
với lòng tự tin. Nhưng thật khó tự tin, đúng không nào?
Xét hành động của người thì dễ hơn của mình.
Nguồn
cảm hứng phải phát khởi từ trong lòng. Nếu ta hy vọng tìm
được điều đó từ bên ngoài, như thể nó rơi từ trên
trời xuống, thì thật là sai lầm. Sự dũng mãnh cũng phải
bắt nguồn từ bên trong, từ lòng tự tin của chính mình.
Giống như nước từ trong nguồn chảy ra. Đâu có nơi nào
khác mà ta có thể tìm được?
Riêng
cá nhân tôi, sự cảm hứng không ích lợi gì. Tất cả các
công trình đã được hoàn thành ở đây không phải do tôi
làm, mà do từ tất cả năng lượng của nhiều người khác
hợp lại. Không phải chỉ có sức mạnh của tôi mà chúng
được hoàn thành. Vì nhiều vị ni quyết hợp sức cùng làm,
tu viện Unmunsa mới được như thế đó. Công trình nầy không
phải thành công nhờ tôi có sức mạnh phi thường gì. Mọi
thành tựu đều do sức mạnh của từng ni sinh đang học tập
tại đây; góp chung lại, nó được kết tinh thành.
Khi
bạn chơi trò kéo dây, một nhóm người kéo dây, và vì mọi
người cùng chung sức kéo, sợi dây chuyển động. Người
đứng phía trước, hay bất cứ ai, không thể nói, 'Tôi là
người làm cho sợi dây chuyển động'. Không phải một người,
mà là mọi người cùng nhau hoàn thành điều gì đó.
Người
ta không thể truyền đạt ý của mình cho người khác. Ai đó
có thể hỏi tôi : 'Tại sao bà lại sống giữa núi vậy?'
Tôi có thể xử dụng câu trả lời của một vị thiền sư
cho câu hỏi nầy. 'Trên đỉnh núi, mây đến rồi đi'. Câu
nầy rất hợp với tôi. Hạnh phúc, niềm vui của một người
không thể giải thích được. Nếu tôi uống nước, thì chỉ
có tôi mới biết được nước lạnh hay nóng, và nóng hay
lạnh như thế nào. Vì lý do nầy, tôi không thể diển đạt
được niềm cảm xúc mà tôi, một người nữ tu, đã trải
qua.
Nguồn
Gốc Của Giới Luật
Các
vị tăng ni cần phải chú tâm, đặt nặng vấn đề đạo
đức hơn người tại gia. Xét kỹ, ta thấy, đối với các
vị tỳ kheo có tất cả 250 giới, tỳ kheo ni có 338 giới,
cư sĩ thì có năm hay 10 giới và cho sa di (sramanera) có 10 giới.
Tôi
đã giảng nhiều về các giới luật của tỳ kheo ni. Theo tôi,
nhìn lại nguồn gốc của giới luật, tôi cảm thấy không
cần thiết phải tuân theo giới luật một cách quá chặt chẻ.
Nguồn gốc của giới luật là để 'bỏ điều ác, làm điều
lành'. Vậy là đủ rồi. Nếu chúng ta luôn giữ nguồn gốc
của giới luật, nó sẽ trở thánh bản tánh tự nhiên; tự
động ta sẽ giữ các giới luật mà không cần được nhắc
nhở: 'Hãy làm việc nầy, đừng làm việc đó!' Đừng làm
việc ác và xem điều nầy như nền tảng để làm việc tốt!
Đó chính là lời dạy của Đức Phật.
Thiền
Định Và Trí Tuệ
Tâm
chúng ta giống như sóng biển, lúc nào cũng nhấp nhô. Thiền
giúp cho tâm giao động trở nên yên tịnh, để có thể tìm
giữa bao thứ trong tâm ta cái ý tưởng vững chải, không xao
động. Có lời dạy rằng: 'Đừng chấp vào những cái bên
ngoài mà bạn có thế thấy, có thể nghe. Hãy buông bỏ ngay
lập tức.'
Trạng
thái mà nội tâm tôi không bám víu, không nôn nao, không bận
rộn, là trạng thái khi tâm tôi đã lắng dịu hoàn toàn, cũng
như nước đang lắng đọng. Biển tâm, dòng nước sâu thẫm
của tâm, khi đã lắng xuống một cách êm đềm, thì đấy
là định.
Dầu
bận rộn thế nào, bạn cũng cần phải cẩn trọng hơn, chú
tâm hơn và điềm tĩnh hơn. Để giúp mình bình tĩnh hơn, hãy
tự hỏi: 'Tôi phải giải quyết việc nầy như thế nào?'
Nếu bạn có chánh định, thì dầu công việc của bạn có
rắc rối, khó khăn thế nào, bạn cũng không bị áp lực,
kiệt sức, thật ra bạn còn điềm tĩnh hơn. Nếu bạn có
khả năng của chánh định, thì bạn có đủ sức mạnh để
đối phó với mọi hoàn cảnh. Mắt của thiền giả có thể
trụ vào một nơi cố định, không liếc ngang dọc mọi nơi.
Đó chính là nhờ sự chú tâm.
Nếu
dòng nước tâm lắng đọng êm đềm, thì tâm sẽ trở nên
trong hơn và chói sáng sau mọi phản chiếu. Nhờ có định,
mà trí tuệ phát sinh một cách tự nhiên, rõ ràng. Trí tuệ
của Đức Phật không thể có được giống như cách chúng
ta tạo ra của cải vật chất. Khi tâm thức lắng đọng, lập
tức ánh sáng trí tuệ chói sáng.
Thiền
sư Bojo có nói: 'Không có điều ác trong tâm thức, đó là
giới luật, không có xao động trong tâm, đó là định, không
có si mê trong tâm, đó là trí tuệ.'
Đôi
Cánh Chim
Giữa
tăng và ni, không có sự khác biệt. Cả hai đều là đệ tử
Phật. Tăng và Ni như đôi cánh của một con chim. Sứ mệnh
của chúng ta trong đời là truyền bá lời dạy của Đức
Phật.
Tu
Viện UNMUNSA
Ở
Unmunsa, có rất nhiều ban, khoa. Có khoa giáo dục nhằm mục
đích truyền bá Phật pháp. Có ban văn hóa phát hành tờ tin.
Ban hoạt động xã hội tổ chức các gian hàng bán lấy tiền
gửi đến các trại phong, nhà dưỡng lão và cô nhi viện.
Các vị ni thăm viếng những nơi mà con người đang đau khổ
như một hiện thân của lòng từ bi của đức Phật.
Công
việc của chúng tôi là giảng dạy ý nghĩa của Đức Phật.
Đây là các nguyên tắc chỉ đạo của trường đại học:
chúng tôi phải phát đại nguyện bằng cách vun trồng các
ý định của mình. Phải tinh tấn và dốc cả tâm trí vào
tất cả những việc ta làm, không được dể duôi. Không được
trở lại với các thói quen cũ, và phải luôn tinh tấn. Chúng
ta phải truyền bá những lời Phật dạy, vì Đức Phật bảo
bánh xe pháp phải quay không ngừng.
Khi
tôi mới đến đây, có chừng khoảng 70 vị ni. Trong 22 năm,
nhiều việc đã đổi thay và số ni tăng lên rất nhiều. Hiện
tại có khoảng 230 ni sinh. Nếu cộng luôn tất cả những người
làm việc ở đây, con số có thể lên đến 257 người. Trong
tương lai, tôi mong có những vị ni xuất chúng, có kiến thức
cao hơn tôi sẽ xuất hiện và phát triển tu viện nầy hơn
nữa.
Tôi
bảo với tất cả ni sinh rằng họ phải trở nên những con
người giác ngộ. Bằng những thành quả của chính mình, họ
phải trở nên các nhà tư vấn thông thái. Đi đến đâu họ
cũng không phải quỳ lụy, khúm núm. Tất cả chúng ta phải
trở thành những phụ nữ xuất sắc trên con đường Đạo.
Sống
Hòa Hợp
Ban
đầu, tôi không tha thiết muốn được trở thành Ni trưởng.
Ý tôi định là nghiên cứu và giảng dạy kinh điển ở thủ
đô. Tuy nhiên, ni chúng ở tu viện Unmunsa nhất quyết muốn
tôi làm giảng sư cho họ và sau đó yêu cầu tôi làm ni trưởng.
Điều mà tôi thích khi làm ni trưởng, là tôi có trọn quyền
để làm cho các ni sinh thêm thoải mái. Nếu tôi chỉ là giảng
sư, tôi phải xin phép ni trưởng để mua bàn ghế, màn cửa,
máy photocopy, vân vân, và có thể bị cấm. Nhưng vì tôi là
ni trưởng, tôi có thể cung cấp mọi thứ cần dùng cho các
ni sinh.
Sống
hoà hợp là mục đích của ni chúng nầy. Khi các ni có sự
bất đồng ý kiến, họ cố gắng tìm hiểu quan điểm của
người khác. Nếu nhìn vào gương, tôi thấy khuôn mặt của
mình phản chiếu trong đó; sự phản chiếu đó không tốt
hơn cũng không xấu hơn khuôn mặt của tôi, nó chỉ phản
chiếu sự vật như nó thật là. Chúng ta không nên ôm thù
hận đối với kẻ khác. Mọi lỗi lầm cần được xem xét
lại bằng cách nhìn lại mình, và chúng ta phải kiên nhẫn,
nhún nhường đối với nhau.
Chúng
tôi chủ trương sống với lòng khiêm cung. Vì thế mặc dù
có 250 ni sống chung với nhau, các vụ ấu đả hay tranh cãi
không xảy ra thường xuyên. Dù sao, họ cũng phải học hành
chăm chỉ, giữ gìn khuôn viên sạch sẽ, trồng hoa và rau quả,
vì thế họ rất bận rộn, không có thời gian để bất hoà.
Đại
Ái Và Đại Bi
Chữ
từ bi trong tiếng Hàn được kết hợp một cách rất ý nghĩa,
bao gồm từ ja, là 'thương yêu', và bi, nghĩa là 'buồn, thương
xót'. Chữ 'từ bi' nấy, cũng đi ghép với chữ 'vĩ đại'.
Chúng ta luôn nói về lòng đại từ bi.
Trong
cuộc sống thế gian, người ta thương không trọn vẹn. Họ
nghĩ, 'Tôi mong mọi việc suông sẻ tốt đẹp cho con trai hay
con gái tôi.' Họ làm điều nầy kể cả khi cầu nguyện. Đối
với sự từ bi nầy, bạn không thể thêm vào từ 'đại' phía
trước.
Đại
bi nghĩa là khi ai đó gặp nhiều đau khổ, chúng ta phải tốn
nhiều công sức để giúp họ ra khỏi đó. Cũng có nghĩa là
khi chúng sanh buồn, ta cũng buồn với họ. Khi họ khóc, ta
cũng khóc. Đại ái là khi chúng sanh vui, ta cũng vui với họ.
Chia sẻ buồn vui cùng nhau, đó mới là đại từ bi. Đại
ái nghĩa là chúng ta ban tặng hạnh phúc lớn lao; đại bi nghĩa
là chúng ta giúp người thoát khỏi khổ đau.
Ý
nghĩa của từ bi thật tuyệt vời. Gandhi đã nói ông học
được tình thương yêu đồng loại từ Thiên chúa giáo, nhưng
ông học được tình thương yêu tất cả mọi loài chúng sanh
nơi Phật giáo. Mọi vật đều được tôn trọng, kể cả
con muỗi. Thật là một ý tưởng tuyệt vời, thương yêu tất
cả chúng sanh một cách bình đẳng. Vì thế, để không vật
gì bị giết hại, chúng tôi không ăn thịt. Nếu tôi lo cho
sự sống của mình, thì tôi cũng phải lo cho mọi sự sống
khác, do đó tôi không thể giết hại bất cứ một chúng sinh
nào. Như thế lòng từ bi sẽ mãi tuôn tràn.
Chương
8
TU
TẬP GIẢI THOÁT
Hiuwan
Fashih
Pháp
Sư Hiuwan, người Hoa thuộc trường phái Thiên Thai, hiện đang
sinh sống tại Đài Loan. Sư đã 81 tuổi, là hoạ sĩ, thiền
sư, nhà học giả, nhà giáo dục. Vừa qua Sư đã xây dựng
được một trường kỹ thuật có thể chứa khoảng 600 sinh
viên. Không thể ngờ dù tuổi đã cao, Sư vẫn rất năng động;
tuy nghiêm nghị nhưng Sư cũng rất tử tế.
Phật
Xuống Núi
Từ
lâu, tôi đã thích về giáo dục và Phật giáo. Năm 1942, trong
chiến tranh Nhật Bổn, tôi đang trú ngụ tại một chùa trên
Đỉnh Omei, Trung Quốc. Một buổi sáng, đọc thơ của một
vị tăng thời xưa, tôi bắt đầu có ý muốn xuất gia để
tránh khỏi những rắc rối của thế gian. Tôi bắt đầu sống
trong chùa và dạy học ở một trường dành cho các vị ni.
Sau đó tôi viếng thăm Ấn Độ một thời gian. Khi trở về,
tôi dựng nên bốn trường học ở Hồng Kông và dạy học
cho trẻ tỵ nạn người Hoa.
Tôi
được mời vẽ chân dung đức Phật, vì thế tôi đọc rất
nhiều sách về nghệ thuật Phật giáo. Tôi đã bỏ ra sáu
năm để vẽ 10 bức họa. Cho đến lúc đó tôi rất thích
văn hoá và nghệ thuật Trung Hoa, các tác phẩm hay của Khổng
Tử, nhưng tâm trí tôi chưa cởi mở. Sau khi hoàn thành 10 bức
hoạ, tôi nhận ra rằng cuộc đời cũng giống như tranh. Trước
đó tôi chưa bao giờ có cảm xúc mạnh đối với đức Phật,
cũng như tôi chưa bao giờ có cảm xúc về bất cứ việc gì
chung quanh tôi; tôi chỉ thích các tư tưởng. Nhưng khi vẽ
xong các tấm hình về đức Phật, trong tôi có một cái gì
đó đã được thông suốt.
Một
số học sinh tôi dạy rất nghèo nàn, dơ bẩn. Tôi đã hỏi
đức Phật: "Tôi đang sống trong cuộc đời nầy, họ cũng
thế. Tại sao họ lại quá nghèo?" Đức Phật đây là sự
tử tế trong lòng tôi. Tôi nhận ra rằng nghệ sĩ thường
có tấm lòng tràn đầy từ bi, vì người ấy nhìn và phải
nhận thức được mọi thứ để vẽ. Lòng từ bi và trí tuệ
của đức Phật -cả 40 năm sau những chữ nầy vẫn gây xúc
động trong tâm tôi. Tôi trở thành một tu sĩ không phải chỉ
cho tôi, nhưng vì đức Phật phải xuống núi để giúp những
chúng sanh đang đau khổ.
Giáo
Dục Không Phải Chỉ Là Học Vị
Tôi
rất lo lắng về sự xuống dốc của các giá trị đạo đức
trong thời đại máy móc nầy, và nghĩ rằng các đề tài nhân
văn cần phải được dạy trong chương trình khoa học và kỹ
thuật. Giáo dục không chỉ là phổ biến kiến thức học
vị, nhưng cũng cần phải dạy về các giá trị luân lý. Vì
lẽ nầy, tôi bắt tay vào việc xây dựng trường Đại học
Kỹ thuật Huafan vào năm 1987.
Đã
từ lâu tôi có ý muốn xây dựng một trường học về văn
hoá và Phật giáo Trung Hoa ở Đài Loan, nhưng Bộ Giáo Dục
không còn cho phép mở trường đại học nhân văn. Họ chỉ
muốn mở trường đại học cho sinh viên học những kỹ năng
thiết thực, để tìm được việc làm. Tôi nhận thấy rằng
kiến trúc cũng là nghệ thuật, vì thế chúng tôi quyết định
là trường đại học của chúng tôi sẽ chuyên về ngành kiến
trúc và các kỹ thuật liên quan.
Chúng
tôi có một câu lạc bộ Phật giáo, nhưng không liên quan gì
đến Phật giáo. Tuy nhiên, vì tôi là ni sư và là người sáng
lập, điều nầy cũng phần nào ảnh hưởng cách điều hành
trường, và các sinh viên mời tôi dạy thiền. Tôi hy vọng
rằng họ sẽ phấn khởi với các giá trị Phật giáo và sẽ
hâm mộ nghệ thuật.
Nền
giáo dục giải thoát làm trong sạch tâm thức. Không phải
từ ngôn ngữ hay sách vở - khi bạn nhìn một vật gì và có
cảm giác thích thú bên trong, nghĩa là khi ấy bạn đã học
được một điều gì đó. Nếu các sinh viên suy nghĩ về cuộc
sống nhiều hơn, thì họ sẽ hiểu nó nhiều hơn. Biết áp
dụng các giá trị đạo đức, có hiểu biết về trí tuệ
siêu việt và có lòng từ bi đối với người khác là những
nội quy của trường đại học kỹ thuật nầy.
Giáo
Dục Để Giải Thoát
Thầy
của tôi là Thượng toạ Tan Hsu, người đã hiến cả cuộc
đời để lo cho giáo dục. Khi mất, ông không nhắm mắt cho
đến khi tôi lập thệ nguyện ngay lúc ấy, rằng tôi sẽ hiến
dâng cuộc đời tôi cho sự nghiệp giáo dục.
Đây
không phải là cho tôi, không có gì là cho tôi cả. Điều quan
trọng là nơi đây sẽ thành trường đại học, cơ sở nghiên
cứu về giáo dục Phật giáo. Kỹ thuật và văn hoá cần phải
bổ sung cho nhau, và tôi muốn thực hiện điều nầy cho xã
hội. Tôi mong muốn hoà hợp kỹ thuật, văn hoá, cùng với
Phật giáo và nghệ thuật.
Khởi
đầu giáo dục nhằm dạy cho con người biết "vươn tới điều
tốt đẹp nhất". Ngày nay giáo dục rất phát triển, nhưng
dường như không thành công trong việc giúp đỡ con người
vươn tới điều tốt đẹp nhất. Một nền giáo dục lý tưởng
không phải chỉ trao tay kiến thức, mà còn gồm bao gồm những
phương cách thanh lọc tâm, để học giả không bị giao động
bởi vật chất thế gian, và để đạt đến trí tuệ siêu
việt. Giáo dục để giải thoát có nghĩa là nuôi dưỡng sự
tỉnh thức và chuyển hoá ý thức trở thành trí tuệ.
Giáo
Dục Tự Nhiên
Nền
giáo dục hữu hiệu nhất là phát triển cá tính và dạy ta
làm thế nào để có được sự an vui trong cuộc sống. Kết
hợp môi trường thiên nhiên với giáo dục sẽ dễ thành công,
và tạo được nhiều cơ hội. Từ lâu Ấn Độ đã nhận
thấy sự cần thiết của giáo dục giữa môi trường thiên
nhiên, để thực hiện được sự phát triển của thân tâm.
Một
rễ cỏ nhỏ, một hạt cát; mỗi thứ là một vũ trụ thu
nhỏ, giúp chúng ta nhận thức được mối liên hệ giữa một
cá nhân và thế giới, cũng như trạng thái vô hạn của trí
tưởng tượng. Thiên nhiên và con người tương tác và phụ
thuộc lẫn nhau, vì thế nên sống chung hoà hợp với nhau.
Như thế, một nền văn hoá không bị giới hạn sẽ tự nhiên
xuất hiện.
"Nền
giáo dục tự nhiên" của đức Phật là một tiến trình của
giải thoát; là bản tánh chân thật của con người để vươn
tới giải thoát. " Giáo dục tự nhiên" không chỉ có nghĩa
là truyền dạy sự hiểu biết, nuôi dưỡng tình thương và
lòng từ bi, mà cũng là sự thực tập và chứng nghiệm thực
sự.
Môi
trường giáo dục cần phải xa những nơi đô thị bụi bặm,
ồn ào, ở giữa rừng cây yên tịnh. Nhà ở cần phải đơn
sơ, thoải mái. Môi trường học tập cần được trang trí
với các tác phẩm văn chương, nghệ thuật, nên chứa đựng
những sản phẩm đưa nguời ta đến với các tư tưởng tôn
giáo và thiền định. Về mặt học vị, sức mạnh của trí
tưởng tượng và phẩm chất của lòng từ bi cần được
phát huy.
Phương
Thuốc Hữu Hiệu
Nếu
muốn thanh tịnh tâm thức, gạt bỏ những lo âu đời thường
và đạt được trí tuệ miên viễn, chúng ta phải giữ nội
tâm tỉnh thức, quen dần với sự yên tịnh và trầm lắng.
Một tâm thức an lạc và thông thái sẽ giúp ta phân biệt
được việc tốt xấu.
Nền
giáo dục thông thường chỉ phát huy việc chia xẻ và thu thập
kiến thức. Giáo dục giải thoát của Phật giáo rèn luyện
về cả hai mặt kiến thức và đạo đức, nhắm mục đích
việc trừ diệt si mê để trí tuệ được hiển lộ. Lý tưởng
Phật giáo là để đạt mục đích của việc dạy đồng thời
cũng là học.
Trong
thời đại bùng nổ tri thức, kỹ thuật tân tiến dường
như đang phát triển bằng các bước nhảy vọt. Nhưng tri thức
nhân loại càng phát triển, thì tâm thức con người càng trở
nên cô đơn, tuyệt vọng. Đây là lúc chúng ta cần phải khảo
sát kỹ lưỡng, sâu sắc về những nhu cầu đích thực của
nhân loại.
Làm
thế nào để các bạn trẻ phát triển sự tự tin? Thanh lọc
tư tưởng của họ sẽ mang lại lòng từ bi và trí tuệ, rồi
họ sẽ nhìn thấy mọi thứ quanh họ đáng quý và họ sẽ
thực sự tôn trọng sự tương quan giữa mọi vật. Như vậy,
các bạn trẻ có thể cống hiến cho thế giới nầy, phấn
đấu, lên kế hoạch cho sự phát triển tốt đẹp hơn của
thế giới.
Thanh
Tịnh Và Linh Hoạt
Tôi
thiền về mọi việc mà tôi làm. Khi còn trẻ tôi nghiền ngẫm
về một công án Thiền trong vòng tám năm. Tôi tranh đấu ngày
đêm, nhưng luôn có cảm giác còn một cái gì đó mà tôi chưa
thấu triệt, các cánh cửa nội tâm của tôi dường như bị
khoá chặt.
Sư
Tan Hsu dạy Kinh Pháp Hoa (Lotus Flower Sutra) ở Hồng Kông. Sư
thuộc trường phái Thiên Thai và đến từ miền đông Trung
quốc. Khi tôi được biết về Kinh Pháp Hoa và trường phái
Thiên Thai, tôi đã có một cảm nhận rõ rệt. Lần đầu tiên
được gặp vị bổn sư, tâm tư và suy tưởng của tôi đã
thay đổi. Có rất nhiều nguyên tắc và chân lý đáng được
học hỏi từ truyền thống Thiên Thai.
Từ
năm 1953 tôi đã thực hành samatha (thiền chỉ để được
thanh tịnh) và vipassana (tuệ giác dẫn đến sự linh hoạt).
Quan trọng là phải hiểu về trạng thái của "thanh tịnh và
linh hoạt". Nếu không hiểu điều nầy, thì ta không thể hiểu
được thiền. Trạng thái thiền định của chúng ta phải
trong sáng và linh hoạt.
Trường
Phái Thiên Thai
Các
giáo lý căn bản của trường phái Thiên Thai dựa trên Kinh
Pháp Hoa (Lotus Sutra). Ba đại ý đã được nhắc đến trong
chương hai " Phẩm phương tiện", về sự bình đẳng, độc
lập và dũng cảm đều tương quan lẫn nhau. Đây là những
mục đích táo bạo của trường phái Thiên Thai.
Bình
đẳng có nghĩa là không có sự phân biệt giữa các đức
Phật và chúng sanh; mọi người đều có cùng Phật tánh. Tình
thương yêu và lòng bi mẫn chỉ có thể phát sinh từ tâm bình
đẳng. Sự độc lập biểu lộ thể tánh giác ngộ của tất
cả chúng sanh, là điều khiến cuộc đời tươi sáng hơn.
Sự dũng cảm có nghĩa là một người có tình thương và lòng
từ bi cao cả sẽ không dễ bị bất cứ điều gì chi phối.
Nếu mọi người có thể phản ứng, hành xử dựa trên ba
điểm căn bản nầy, thì thế giới sẽ đầy dẫy những con
người có phẩm cách và sáng suốt.
Theo
trường phái Thiên Thai, toàn bộ hệ thống tư tưởng Phật
giáo được coi là "Kinh điển và thiền định". Việc nghiên
cứu kinh điển đi chung với thiền định, có nghĩa là: sẽ
không có mâu thuẫn giữa tri thức và tâm linh. Dựa trên các
kết quả hổ trợ nhau của việc thực hành và nghiên cứu
trí tuệ, đúng theo luật nhân quả, giáo Pháp vi diệu sẽ
hiển bày.
Theo
trường phái Thiên Thai về samatha/vipassana, cả hai thiền định
và trí tuệ đều đầy đủ. Có thể nói rằng: "Samatha bước
đầu làm lắng dịu những yếu tố tinh thần đang ràng buộc
con người vào đau khổ, vipassana là phương tiện thiết yếu
để gạt bỏ hết cấu uế".
Phái
Thiên Thai phân biệt ba loại thanh tịnh - samatha - tri kiến
- vipassana - đó là làm thanh tịnh tâm trí qua việc chấm dứt
phân biệt giữa các đối nghịch, thực tập các phương tiện
tinh xảo phù hợp với tình thế và chân lý giác ngộ; và
ba tri kiến siêu việt về tánh không, trạng thái hiện hữu
do duyên hợp và trung đạo. Tất cả được tạo ra để mọi
người tuỳ theo khả năng của mình mà ứng dụng các phương
pháp.
Điều
Khiển Tâm
Khi
bạn đã vào trong thiền đường, tại sao bạn vẫn còn hỏi:
"Cửa ở đâu?" Bạn có thể đến nơi nầy hoặc nơi kia để
tìm kiếm một cái gì đó, nhưng bạn luôn phải quay trở về.
Khi bạn đã hiểu về vấn đề sanh tử, bạn sẽ không còn
cảm thấy buồn ngủ trong lúc thực tập thiền.
Nữa
đêm khi mọi vật đều yên tỉnh, nếu chúng ta quan sát tâm
trong cô tịch ta có thể thấy tận nơi sâu thẳm đó có một
sự sáng suốt tuyệt diệu. Chúng ta ý thức trực tiếp mọi
thứ với một trạng thái tỉnh thức rõ ràng. Khi đó chúng
ta đã đạt đến trạng thái của thiền định [dhyana].
Phương
cách để thanh tịnh tâm thức là điều khiển nó. Phật giáo
đầy dẫy những cách thức để điều khiển tâm thức, một
trong những phương thức ấy là đếm hơi thở. Đây là đếm
hơi thở từ một đến mười và ngoài việc đếm số ra,
không có một ý nghĩ nào khác có thể lọt vào tâm. Nếu bạn
bị chi phối bởi những ý nghĩ khác, thì bạn phải bắt đầu
đếm từ một trở lại.
Lúc
ban đầu có thể bạn chỉ đếm "một" mỗi lần bạn hít
vào và thở ra, vì tâm thức bạn còn lăng xăng. Sau đó, khi
tâm bạn trở nên lắng đọng hơn, bạn có thể đếm từ
một, hai, ba, cho đến mười. Nếu bạn suy nghĩ về việc nào
khác, bạn sẽ quên đếm, vì thế bạn luôn phải trở về
với đếm số. Nghe giống như là mẫu giáo vậy, nhưng nhờ
đó tâm bạn dần dần sẽ trở nên yên tịnh hơn cho đến
khi bạn có thể đếm từ một đến mười mà không bị chi
phối. Thì đấy là thiền định.
Tiếp
theo, bạn có thể niệm hồng danh Phật A Di Đà: "Amitofo, Amitofo"
(A Di Đà Phật, A Di Đà Phật). Bắt đầu bạn niệm lớn tiếng,
sau đó bạn có thể niệm khẽ trong lòng. Niệm danh hiệu Amitofo
có thể làm cho tâm ta rất yên tĩnh.
Trước
hết bạn phải nắm giữ con trâu cho thật chặt, sau đó bạn
có thể để trâu tự do, bởi vì nó không còn gây phiền hà
cho bạn nữa.
An
Trú Trong Thanh Tịnh
Phần
đông chúng ta không biết "thanh tịnh" là gì, kể cả khi ta
ngồi bất động. Chúng ta thấy khó mà an trú trong thanh tịnh
vì thân và tâm hoạt động không phù hợp nhau; vì thế dù
thân bất động, tâm vẫn chạy nhảy lung tung với đủ loại
vọng tưởng. Trong lúc đếm hơi thở, thiền giả không thật
sự ở trong trạng thái tỉnh lặng vì tâm vẫn còn đếm số.
Tuy nhiên, bài tập có chủ định nầy giúp cho tâm lăng xăng
được thuần hoá.
Tiến
trình của sự thực tập là trước hết đếm hơi thở, thứ
hai là theo dõi hơi thở, thứ ba lắng đọng, thứ tư quán,
thứ năm quay trở vào, thứ sáu là thanh tịnh hoá. Đây là
một quá trình thực tập từng bước từng bước đòi hỏi
lòng kiên nhẫn.
Có
ba giai đoạn thực tập thiền định đưa đến trí tuệ siêu
việt. Giai đoạn đầu bao gồm việc làm lắng dịu tâm. Suốt
ngày ta bị bao ý tưởng xuất hiện quấy rối, không có thời
gian để suy gẫm sâu sắc hơn bao vấn đế, nhưng dẫu bận
rộn bao nhiêu, ta cũng nên dành thời gian để quán sát về
ý nghĩa sâu sắc của cuộc đời.
Giai
đoạn thứ hai bao gồm sự thanh tịnh hoá tâm thức. Nếu tâm
thanh tịnh, ta có thể quán sát xem cuộc sống thực sự có
ý nghĩa gì, ta sẽ thấy thế giới nầy là vô thường. Nếu
hiểu được tính chất tạm bợ của cuộc sống, ta sẽ hiểu
chúng không thực sự hiện hữu. Và nếu hiểu được nhu thế,
ta sẽ hiểu được sự không hiện hữu của cái ta. Như thế
ta không phải lo lắng quá nhiều về việc ta thành công hay
thất bại, được hay mất, sở hữu cái gì đó hay không.
Tâm bình lặng nầy giúp ta thoát khỏi bao phiền não, ta không
còn đau khổ vì thất bại hay phấn khích bởi thành công.
Thay vào đó, tâm được thanh tịnh hoá và ta được an lạc.
Giai
đoạn ba bao gồm việc chuyển tâm ta thành tâm Phật. Thanh
tịnh hoá tâm chỉ vì lợi ích cho bản thân, chưa phải đúng
là mục đích của người Phật tử. Một Phật tử chân chánh
không thể chỉ ngồi thiền trong rừng. Tuy nhiên, hành giả
vẫn có thể sống trong rừng ngắn hạn để tìm phương cách
giúp mọi người đạt giác ngộ. Chúng ta phải chia xẻ nỗi
đau khổ mà tất cả chúng sanh đều phải hứng chịu và cố
gắng giúp họ bớt khổ đau. Vì hiểu được tánh không, nên
chúng ta có thể dang trãi lòng từ bi vô hạn đến tất cả
muôn loài không phân biệt, như cha mẹ đối với con cái vậy.
Trí
Tuệ Và Sự Tự Biết Mình
Căn
bản quan trọng cho sự phát triển của một nền văn hoá Phật
giáo hiện đại gồm có sự phát triển trí tuệ. Trí tuệ
giống như nước, vì nó có thể làm sạch tâm, và giống như
tấm gương nơi phản chiếu tâm ta thật rõ ràng. Trí tuệ
có thể thanh tịnh hoá ta, cho ta ánh sáng và sức mạnh. Nhờ
có trí tuệ, ta có thể tự hoàn thiện mình cũng như chia sẻ
những hiểu biết của ta với người. Đó là tinh thần của
lòng thương yêu và lòng bi mẫn, cũng là ý nghĩa căn bản
về những lời dạy của Đức Phật.
Chúng
ta phải hiểu rõ những vấn đề của mình và giải quyết
chúng để có thể phát triển trí tuệ. Khi hiểu được như
thế rồi, ta bắt tay hành động. Nếu không, đó không phải
là trí tuệ thực sự. Chúng ta cần phải luôn kiểm soát tâm
thức của mình, xem chừng, thí dụ, ta đang nói dối hay chân
thật. Thường thì ta đã trở thành bạn với sự lừa dối
mà không hay biết. Ta nghiền ngẫm về những việc không quan
trọng, và có ý nghĩ tiêu cực về những người không đồng
ý kiến với ta. Khi ta đau khổ, tức là đang có một cuộc
chiến tranh tinh thần bên trong ta.
Làm
sao chúng ta biết được những ý nghĩ nào là có hại cho tinh
thần của ta? Điều nầy đòi hỏi sự thực tập thiền quán
và sự tự vấn. Tâm ta cần được dọn trống trước khi
có thể thâu nhập cái khác vào. Rồi ta mới có thể quyết
định phải giải quyết các vấn đề của mình hay để chúng
qua đi.
Điều
quan trọng là ta phải có lòng tự trọng. Khi theo Phật giáo,
đừng quan tâm đến những khuyết điểm, mà hãy nghĩ đến
những lợi thế của mình. Bạn phải tự trọng, cũng như
kính trọng đức hạnh của người khác, và lấy đó làm mẫu
mực, khuyến khích cho bản thân. Lòng tự trọng là thiết
yếu và rất khác với sự ngạo mạn. Thêm nữa, nếu bạn
kính trọng người khác, họ sẽ kính trọng bạn. Chúng ta
không xem thường ai, nhưng nên coi trọng các đức hạnh và
cá tính của mình, vì đức hạnh đem lại trí tuệ.
Bước
Khoan Thai
Thiền
định và đạo đức không thể tồn tại riêng rẻ. Là đệ
tử Phật, chúng ta phải giữ giới, và khi ngồi thiền chúng
ta phải ngồi yên lặng và thẳng lưng. Nếu là các tu sĩ,
chúng ta đại diện cho Phật giáo, vì thế chúng ta phải cẩn
thận với trong lời nói, hành động và thân. Khi đi, chúng
ta không nên hấp tấp, mà bước chậm rãi, từng bước một.
Có một vị ni 90 tuổi ở Hồng Kông, khi băng qua đường,
bà ấy quá trang nghiêm đến nỗi tất cả các xe đều ngừng
lại. Nếu chúng ta giữ giới thì đức Phật sẽ che chở cho
chúng ta.
Việc
quan trọng là biết rõ bạn có thái độ đạo đức hay không.
Nếu bạn làm một điều gì đó, thì đấy là pháp nếu như
điều đó hợp đạo lý. Những việc làm chỉ cho lợi ích
của bản thân thì không phải là pháp. Không nên làm việc
gì với sự tính toán, ích kỷ. Phật pháp thật vi diệu. Bạn
có thể làm bất cứ việc chi, bạn có thể đi mọi nơi, nhưng
vị bổn sư của bạn luôn dõi mắt theo bạn. Nếu bạn làm
việc bất thiện, thì sẽ thất bại, vì pháp là chánh niệm.
Có
một câu nói như sau "con mọt chết trong sách". Có nghĩa là
nếu bạn không hiểu được ý nghĩa hoặc giáo lý trong kinh
điển, thì kinh điển không lợi ích gì. Nếu bạn không thực
tập điều mình đã học mà chỉ chấp vào ngôn từ, bạn
sẽ chết giống như con mọt trong sách. Bạn phải nghiên cứu
kinh điển, nhưng cũng phải biết đem chúng ra áp dụng bên
ngoài. Khi đó mới đúng là bạn biết hành pháp.
Tâm
Phật là từ bi. Chúng ta cần có lòng từ bi, và luôn mong muốn
nó được phát triển thêm. Tôi tin tưởng mãnh liệt rằng
kinh điển là pháp, nhưng hành giả phải làm sống lại những
lời Phật dạy ngay trong hiện tại, chứ không phải 2500 năm
trước. Đức Phật vẫn còn sống trong hiện đời; đây là
cõi Phật.
Tranh
Trong Tim
Đến
năm học thứ bảy trong ngành hội hoạ tôi đã khóc, tuyệt
vọng vì tôi vẫn không thể vẽ đẹp như thầy tôi. Tôi nghĩ
đến việc bỏ hội hoạ để học y khoa. Nhưng có người
bảo nếu tôi thấy máu là sợ thì làm sao học y khoa? Vì thế
tôi đành lê bước theo hội hoạ và văn chương.
Thầy
tôi bảo phải kiên trì thêm ba năm nữa. Vì thực tập hoài
thì sẽ giỏi, sau 10 năm thực tập, tôi đã có thể làm chủ
cây cọ của mình. Có thể vẽ bất cứ gì mà tôi muốn. Trong
10 năm, tôi đã đặt một nền móng vững chắc cho mình.
Các
hoạ sĩ bình thường vẽ vì hội hoạ, nhưng người hoạ sĩ
thực hành thiền thì vẽ từ những bức tranh xuất hiện một
cách tự nhiên trong tim họ, được ấp ủ như một điều
tự nhiên, chứ chủ yếu không phải là để được hoạ lại.
Một
nhà thơ, nhà thư pháp Trung hoa cổ xưa có nói: "Lúc đầu tôi
không hiểu chi về hội hoạ, nhưng qua việc thực tập quán
xét về chân lý của Phật giáo, tôi trở nên ý thức được
sự có mặt của tính tự nhiên không gò bó". Một họa sĩ
phải phấn đấu để đạt được tính chất thanh thoát, tự
nhiên trong tác phẩm của mình. Nghệ thuật xuất phát từ
trí tuệ. Hội hoạ Trung hoa rất phong phú về nét đẹp thơ
mộng và các lý thuyết Trung hoa về hội hoạ cũng được
áp dụng trong văn chương và trong các nguyên tắc sống.
Đây
là một bài thơ - hay có thể được gọi là một bức hoạ:
Tâm
tôi sáng rỡ tựa trăng thu.
Soi
chiếu trên mặt hồ phẳng lạnh.
Thanh
khiết nầy có gì so sánh đặng,
Làm
sao tôi diển tả được đây?
Chương
9
CON
ĐƯỜNG CHUYỂN HÓA
Ani
Thubten Chodron
Ani
Thubten Chodron, người Mỹ, tu theo truyền thống Phật giáo Tây
tạng Gelugpa. Bà dốc mọi tâm huyết, dâng hiến tất cả cuộc
đời cho Phật giáo.
Ý
Nghĩa Cuộc Đời Là Gì?
Khi
còn rất trẻ, tôi đã được dạy rằng một cuộc đời thành
đạt là phải có nhà to, xe đẹp, nhiều bạn bè, và danh tiếng.
Tuy nhiên khi lớn lên, tôi cảm thấy những điều nầy không
còn nhiều ý nghĩa nữa. Rồi khi ra trường, tôi cảm thấy
hoàn toàn thất vọng với cuộc đời. Xã hội (Mỹ) trong thời
kỳ tham gia chiến tranh ở Việt Nam thật quái dị. Tôi không
thể chấp nhận những giá trị của xã hội lúc đó. Nghĩ
rằng chỉ có giáo dục là lối ra cho mọi bế tắc, nên tôi
quyết định quan tâm đến trẻ em, cố gắng dạy dổ chúng
một cách tích cực để làm cho xã hội tốt đẹp hơn, do
vậy tôi đã trở thành một nhà giáo.
Sau
khi lập gia đình với một luật sư trẻ, tôi chu du Au châu,
Bắc Phi và Á châu. Lúc đó tôi không biết gì về Phật giáo,
nhưng thấy một ít lưu niệm mang vẻ Phật giáo, chúng tôi
cũng thích. Vợ chồng tôi mang về nhà nhiều ảnh tượng Phật
để treo tường, không phải vì chúng tôi tin vào Phật giáo
nhưng chỉ vì muốn có nhiều món đồ lạ mắt để khi có
khách đến, họ có thể trầm trồ khen ngợi.
Trở
về Mỹ, tôi bắt đầu dạy ở một trường tiểu học ở
Los Angeles, vừa học tiếp cao học. Năm 1975, một ngày kia tôi
thấy một tờ bướm quảng cáo về một lớp Thiền, và dầu
không có ý đi tìm một con đường tâm linh nào vào thời điểm
đó, tôi cũng quyết định tham dự. Tôi đã có tất cả những
gì mà người khác cho là hạnh phúc: một người chồng tốt,
việc làm ổn định, được tiếp tục học lên cao, quen biết
nhiều. Tất cả mọi thứ nhìn từ bên ngoài đều hoàn hảo,
nhưng tôi vẫn thấy thiếu thốn một cái gì đó, dầu tôi
không biết là cái gì.
Mùa
hè năm đó tôi ghi danh học khóa Thiền do ngài Lạt ma Yeshe
và Lạt ma Zopa hướng dẩn. Tất cả đều thay đổi từ đó.
Điều làm tôi ngạc nhiên hơn cả là Phật giáo nhấn mạnh
về động lực hành động. Khiến tôi bắt đầu để ý xem
tại sao mình hành động thế nầy, thế khác thay vì mình đã
làm gì. Phật pháp cũng giúp tôi nhận ra rằng sân hận, bám
víu là tâm phiền não gây đau khổ cho mình và cho người.
Trước đây tôi chưa bao giờ nghĩ là mọi đau khổ đều do
tâm tôi tạo ra.
Quay
trở vào, soi lại mình, quán sát tình cảm, thái độ của
mình khi phải đối mặt với những bất như ý trong cuộc
đời là một điều mới lạ: Tôi bị sốc khi nhận ra rằng
mình không phải là người khá tốt như mình hằng tưởng.
Khi tôi bắt đầu hành thiền, và quán xét xem tại sao tôi
có các hành động nọ kia, tôi chỉ có thể nhận ra một vài
hành động vô vị lợi trong cuộc đời mình. Thành thật mà
nói, tất cả mọi hành động của tôi đều phát khởi từ
lòng vị kỷ, kèm theo sân hận, cố chấp.
Lúc
đầu tôi khó chấp nhận thuyết luân hồi sinh tử, nhưng càng
suy gẫm về đề tài nầy, tôi càng thấy thông hiểu hơn.
Khi tôi đem thuyết luân hồi ra suy gẫm cùng với thực trạng
tâm tôi hầu như luôn xáo trộn, tôi bắt đầu nghĩ đến
điều gì sẽ xảy ra khi tôi tái sinh trở lại. Lúc nhỏ, tôi
thường suy nghĩ về cái chết, đưa đến những câu hỏi như
là: "Nếu tôi chết, cuộc đời tôi có ý nghĩa gì? Nếu khi
chết, tôi không thể mang theo gì, thì tất cả những gì tôi
làm còn có ý nghĩa gì?" Khi các vị thầy Phật giáo bắt đầu
giảng về cái chết, các thắc mắc của tôi như được giải
tỏa, khiến tôi phải suy nghĩ lại mình đang làm gì với cuộc
đời mình, và hậu quả hành động của tôi đối với các
kiếp sống sau.
Con
Đường Chuyển Hóa
Pháp
thiền đầu tiên tôi thực hành là Lam Rim, một phương pháp
thiền Tây Tạng, có nghĩa là "con đường chuyển hoá đến
giác ngộ". Chúng tôi được dạy đôi chút về thiền quán
hơi thở, nhưng chánh yếu là pháp thiền Lam Rim quán sát, phân
tích nầy. Lam Rim là con đường chuyển hoá đến giác ngộ,
với những lời hướng dẩn từng bước từng bước về những
pháp thiền nào phải thực hành khi nào, theo thứ tự nào.
Điều đó giúp cho người học đạo có thể sắp xếp rõ
ràng các lời giáo huấn trong tâm trí mình. Pháp thiền nầy
luyện tâm bằng cách chuyển hoá dần để có sự suy nghĩ
đúng. Tôi cảm thấy pháp thiền phân tích nầy rất hữu ích,
vì tôi là người hay suy luận; tôi sống trong thế giới trí
tuệ. Tập suy nghĩ một cách thực tế và hữu ích khi hành
thiền rất thích hợp với cá tính của tôi.
Thí
dụ, khi quán về cái chết, thì bước đầu tiên là chúng
tôi phải quán rằng cái chết là điều không thể tránh khỏi;
ai cũng phải chết và không thể đi đâu để trốn khỏi cái
chết. Bước thứ hai, chúng tôi quán về sự không lường
trước được của cái chết; không ai biết mình sẽ sống
trong bao lâu, đôi khi một tai nạn nhỏ cũng cướp được
đời sống của ta, không có gì bảo đảm ta sẽ được sống
lâu. Thứ ba, chúng tôi suy gẫm về những được coi là giá
trị ở thời điểm lìa đời, khi ta bỏ lại phía sau thân
xác, bạn bè, người thân, sở hữu. Thực hành quán sát như
thế giúp chúng tôi nhận ra được những gì thật sự quan
trọng trong đời mình.
Phương
pháp nầy từng bước từng bước giúp tôi hiểu rỏ hơn về
cuộc đời mình. Tôi không phải là loại người thích ngồi,
thiền quán, luyện sự chú tâm. Tôi muốn khám phá, tìm hiểu
về cuộc đời. Giáo lý Lam Rim đã tạo một khuôn mẫu triết
và tâm lý để qua đó tôi có thể nhìn lại cả cuộc đời
mình, để nhìn nhiều vấn đề dưới góc độ phù hợp hơn,
khiến chúng có ý nghĩa hơn. Những tánh tốt của tôi là gì?
Và tánh xấu? Pháp Lam Rim dạy tôi một cách rõ ràng phải
làm gì khi những uế nhiễm như -vị kỷ, bám víu, sân hận,
vân vân - khởi lên. Khi sân hận dấy khởi, pháp Lam Rim dạy
ta phải thay đổi cách nhìn vấn đề; khi sự bám víu nổi
lên thì lại phải đối phó với nó một cách khác. Có rất
nhiều cách đối trị, nhiều cách khác nhau để nhìn một
vấn đề, biết như thế, dần dần ta sẽ thay đổi.
Thay
vì để bị lôi cuốn theo các cảm xúc của mình, khiến ta
phản ứng lại bằng cách làm đau khổ người khác, ta có
thể dừng lại và suy nghĩ: "Đây là những tình cảm tiêu
cực. Tôi có thể nhìn vấn đề nầy dưới một khía cạnh
khác không? Tôi phải sắp xếp tình huống lại như thế nào
để các phản ứng của tôi sẽ chuyển đổi một cách tự
nhiên và các tình cảm tiêu cực không khởi lên?"
Đó
không phải là đè nén hay trốn tránh các xúc cảm; đó là
một cố gắng để nhìn vấn đề dưới một khía cạnh khác,
khiến cho sự giận dữ, lòng ganh tỵ không thể dấy lên.
Nhận biết được rằng một số tình cảm hay tư tưởng là
những trạng thái tâm tiêu cực, đối với tôi là một cuộc
cách mạng. Trước đây tôi vẫn coi các thái độ nầy là
đúng; tôi đã nghĩ rằng nếu tôi không tỏ ra giận dữ, người
khác sẽ lợi dụng tôi, lấn áp tôi.
Khi
đã biết những nguyên nhân gây ra các trạng thái tâm tiêu
cực, ta có thể dùng một trong các cách đối trị hợp lý.
Thí dụ, ta có thể đặt mình vào hoàn cảnh người khác,
nhìn vấn đề qua cái nhìn của họ. Thông thường khi nóng
giận, ta ngỡ là ta đã phán xét vấn đề một cách trung thực,
nhưng thực ra ta đã nhìn chúng qua vỏ bọc của cái tôi, cái
của tôi. Khi chúng ta nhìn vấn đề theo quan điểm của người
khác,
nó hoàn toàn khác đi. Khi ta nhìn lại hành động của mình
dưới mắt người khác, ta có thể hiểu tại sao người ta
không thích mình hay tại sao họ lại hành động thế nầy,
thế nọ. Tôi cảm thấy điều nầy rất hữu ích, nên áp
dụng chúng trong giao tiếp với người.
Tâm
tôi đã hoàn toàn thay đổi sau một thời gian kiên trì hành
pháp. Trước đây tôi rất đanh đá, miệng lưỡi cay độc,
hay chỉ trích người, giờ tâm lý tôi không còn lên xuống
bất thường. Tôi không còn chán nản, tâm tôi trở nên kiên
định hơn. Liên hệ giữa tôi và người khác nhờ thế cũng
được tốt hơn, nhất là từ khi tôi bắt đầu để ý đến
lời nói của mình. Biết quán sát thân, khẩu và ý là biết
thực tập chánh niệm, thực tập nhận ra các thái độ tiêu
cực khi chúng dấy khởi và sửa đổi trước khi chúng tạo
ra đau khổ cho mình và cho người.
Tìm
Lại Nguồn Gốc Của Khổ Đau & Hạnh Phúc
Dầu
phương pháp thiền quán hơi thở không được chú trọng trong
truyền thống Tây Tạng, tôi thấy nó rất thích hợp cho người
tây phương. Tâm của chúng tôi đầy chất chứa, nên pháp
quán hơi thở giúp thanh lọc tâm. Theo dõi hơi thở khiến chúng
tôi từ tốn, thư thả hơn. Rồi quán sát quá trình tư duy
của tâm mà không phán đoán giúp ta trở thành người bạn
của chính mình.
Dầu
chúng ta thường quan niệm rằng những đau khổ hay hạnh phúc
của ta đến từ bên ngoài, nhưng chính tâm ta mới là nguồn
gốc của hạnh phúc và khổ đau. Khi kiểm lại những kinh
nghiệm mình đã trãi qua, ta có thể thấy rằng chính thái
độ của ta cũng góp phần vào đó, vì thế ta có thể thay
đổi thái độ của mình, ta có thể thay đổi những kinh nghiệm
nầy. Khi thiền quán, ta hãy tự hỏi xem sự bám víu, chấp
chặt có mang đến hạnh phúc cho mình hay không? Chúng ta bám
víu vào cái gì? Hậu quả của việc bám víu trong cuộc đời
ta, nó có đem lại lợi ích gì không? Chúng ta cũng có thể
quán về tánh sân như thế: sân hân là hành động xây dựng
hay đập đổ? Điều gì khiến chúng ta nổi giận? Tại sao
ta nổi sân? Nếu chúng ta nhìn sự việc dưới một góc độ
khác thì sẽ như thế nào?
Vì
pháp Lam Rim thường được dạy theo truyền thống cho người
Tây Tạng, pháp nầy có thể khó cho người chưa có kinh nghiệm
thiền hay căn bản Phật giáo, mà phần đông người Tây phương
là như thế. Trước hết ta phải quán sát tâm và các cảm
thọ của mình, đó là điều tối cần. Sau đó ta mới có
thể quán sát tâm theo thuyết tái sinh, sự trãi dài của tâm
từ quá khứ đến hiện tại sang tương lai. Tâm chúng ta là
một chuỗi liên tục, luôn chuyển đổi không có khởi đầu,
không có kết thúc. Những sự quán sát nầy giúp ta có thể
hiểu được nghiệp, sự tái sinh và tứ diệu đế.
Khi
đã có một hình ảnh tổng quát về cuộc đời là như thế
nào, chúng ta có thể bắt đầu thực tập các phương pháp
thiền Lam Rim về sự được tái sinh vào thân người quý báu,
về cái chết, về sự nương trú, vân vân. Khi ta đã có sự
hiểu biết về tất cả pháp Lam Rim, ta có thể bắt đầu
trì chú.
Sự
Thực Tập Hằng Ngày
Bất
cứ khi nào có điều gì phiền phức xảy ra hay các cảm xúc
bất thiện khởi lên, tôi thường cố gắng soi lại mình:
"Tôi đang có cảm giác gì đây? Nút nào vừa được bấm?"
Trong ngày, tôi cố gắng quán xét xem điều gì đang xảy ra
trong nội tâm, chứ không để sự việc dồn ứ lại đến
tối, hay ngày nầy qua ngày khác. Sự thực tập căn bản của
tôi là chuyển hóa tư tưởng của mình. Điều đó bao gồm
thiền quán -cũng có trong pháp Lam Rim- để phát triển lòng
từ bi, trí tuệ và để chuyển đổi mọi hoàn cảnh mà ta
gặp phải thành con đường giác ngộ. Tôi áp dụng các phương
pháp thiền nầy vào bất cứ việc gì đang xảy ra, hay để
tìm giải pháp cho một vấn đề nào đó. Nếu quá bận rộn
trong ngày thì tôi thực tập những điều nầy vào buổi tối.
Gần
đây tôi thực tập chánh niệm theo truyền thống Nguyên thuỷ
đôi chút. Khi có vấn đề gì khởi lên trong tâm, tôi ngồi
xuống, cảm giác về chúng, chấp nhận bất cứ điều gì
đang xảy ra ở thời điểm đó. Điều đó có giúp tôi đôi
chút. Tuy nhiên, tôi cần cái trí tuệ do pháp thiền phân tích
mang đến để có thể chỉ ngồi và cảm nhận các cảm xúc.
Tôi
không phải là loại người chỉ có thể thực hành chánh niệm,
vì tôi phải hoàn toàn bị thuyết phục, thí dụ, rằng tánh
sân là bất thiện. Tôi không thể chỉ ngồi đó, nhìn, quán
sát: giận, giận, giận. Trước hết tôi phải hiểu rằng
đó thực sự là một sự diển đạt sai lạc thực tế. Thiền
phân tích giúp tôi làm như thế, sau đó tôi mới có thể ngồi
mà cảm nhận năng lực của bất cứ điều gì dấy khởi
lên. Tôi quán sát xem cảm giác lúc ấy ở thân như thế nào,
trạng thái tâm ra sao, và sự chuyển đổi của tâm.
Nói
chung, tôi áp dụng một số phương pháp thiền vì chúng ta
cần phải phát triển cá tính của mình về nhiều mặt. Tôi
chọn phương pháp thiền nào tùy thuộc vào lúc đó tâm tôi
cảm thấy pháp nào hiệu quả, nhưng thường dựa vào sự
chuyển hóa tư duy, ở những lúc khác thì tôi trì chú và hướng
tâm đến cảnh khác.
Quan
trọng là chúng ta phải thực tập mổi ngày, chứ đừng thay
đổi liên tục. Có người ngồi thiền một lúc ba tiếng,
rồi mấy tuần sau đó không có tiếng nào, hay ngồi một ngày,
lại nghỉ một ngày. Dầu ta có bận rộn mấy, cũng phải
cố gắng thu xếp để có thể ngồi ít nhất nữa tiếng mổi
ngày. Dầu ta có mệt mỏi, bịnh hay nghĩ rằng chẳng thấy
kết quả gì, điều quan trọng là ta vẫn phải tiếp tục
thực hành vì thiền thực sự mang lại kết quả.
Mổi
sáng khi thức dậy, trước tiên ta nên khởi nghĩ trong đầu:
"Hôm nay tôi nguyện không làm hại ai. Tôi nguyện làm lợi
ích cho người khác. Hôm nay tôi muốn tất cả mọi hành động
của mình đều do lòng mong cầu được thành Phật vì lợi
ích của chúng sanh thúc đẩy". Khởi nghĩ như thế trước
khi ra khỏi giường, sẽ thay đổi cả một ngày. Sau đó ngồi
dậy, làm vệ sinh, uống trà, rồi ngồi xuống tọa thiền
ngay, trước bất cứ điều gì khác. Sau đó, tiếp tục những
sinh hoạt hằng ngày khác, cố gắng chánh niệm về lời nói,
hành động, nghĩ suy, cảm giác của mình suốt cả ngày. Nếu
chúng ta mất chánh niệm, quay trở lại, quán tâm để tìm
cách giải quyết vấn đề.
Cuối
ngày, ta cần ngồi xuống kiểm điểm lại những việc đã
qua trong ngày; những gì ta đã làm tốt, ta đã giúp được
gì cho ai? Hành động nào là thiện? Khi chúng ta có thể từ
bỏ một hành động xấu hay làm được điều gì tốt, dù
nhỏ mọn đến đâu, cũng nên mừng. Chúng ta cần được tự
hào, nhất là ở Tây phương. Một trong những trở ngại lớn
nhất trên bước đường tu là có cái nhìn tiêu cực về mình
hay đầy tự ti. Điều nầy cả hai giới nam nữ đều mắc
phải, thể hiện ra bằng những cảm giác như không hài lòng
hay ghét chính bản thân. Trước hết, chúng ta phải cảm thấy
hạnh phúc về những việc ta làm, về con người ta như thế
nào, sau đó ta mới có thể xem những gì cần sửa đổi thêm
về thân, khẩu và ý.
Mổi
năm, tôi luôn dành vài tuần dự các khóa tu thiền. Tôi không
phải làm gì khác trong thời gian nầy. Giống như những ngày
nghỉ lể, vì thường ngày tôi phải bận rộn lo cho người
khác. Nhưng trong các khóa thiền, không cần phải trã lời
điện thoại, thư từ, tư vấn, giảng dạy hay gì cả, tôi
chỉ cần đem những điều đã giảng dạy ra áp dụng, giữ
im lặng, tịnh khẩu. Những khoá tu dài hạn rất ích lợi,
nếu bạn có chuẩn bị, nếu không chúng ta chỉ lãng phí thời
gian mà thôi.
Khi
dự một khoá tu về một vị Phật hay Bồ Tát nào đó, một
hiển thị đặc biệt của Đức Phật, tôi hành lể bốn lần
một ngày. Lúc trước tôi làm lể bằng cách nguyện trì chú
và đếm số chú niệm. Giờ tôi dành thời gian để thiền
nhiều hơn, không chú trọng đến việc đếm chú nữa. Tôi
thích dành thời gian ở các khoá tu để thư thái ngồi thiền,
cảm nhận những gì thiền mang đến cho tôi. Các thời thiền
nầy không phải chỉ là nghi lể, chúng thực sự chuyển đổi
được tâm.
Tìm
Trí Tuệ
Tôi
đã thề nguyện trước các vị thầy của tôi là sẽ hành
Thiền mổi ngày, nhờ đó tôi tập được thói quen thực tập
mổi ngày. Dầu có nhiều ngày, tôi không thực hành tốt lắm,
nhưng tôi vẫn thấy phấn khởi nhờ vào sự tinh tấn nầy.
Nếu tôi nghĩ tưởng đến năng lực của ngài Tara, Chenrezig
hay Yamantaka, thí dụ, thì trong ngày khi có vấn đề gì phải
đối mặt, tôi thường giải quyết trọn vẹn. Nếu giử đúng
lời nguyện thực hành mổi ngày, dù không thành công, năng
lực của chư Phật vẫn có mặt, tôi vẫn có thể nương tựa
vào đó khi cần.
Khi
chúng tôi nguyện tu theo hạnh của một vị Bồ Tát hay một
vị Phật nào, thì các thầy dạy chúng tôi quán về các vị
đó mổi ngày. Bắt đầu bằng sự an trú, rồi khởi tâm từ
bi hướng về người khác. Chúng tôi hình dung ra vị Phật
-tâm toàn giác của vị ấy- rồi thực tập để thanh tịnh
hóa tâm mình, tích tụ những tiềm năng tích cực. Điều quan
trọng cần nhớ là vị Phật hay thánh đó vốn không hiện
hữu; họ không phải là một đấng thiêng liêng ở bên ngoài
ta. Chúng ta đã tưởng tượng ra họ trong đầu ta, và họ
thâm nhập vào ta. Khi tâm ta và tâm của vị đó hoà quyện
làm một, chúng ta quán về sự thiếu vắng của một thực
thể rắn chắc, độc lập, của vị ấy cũng như của ta.
Trong không gian đó, tâm trí tuệ của ta hiển hiện sự có
mặt của vị đó.
Cách
thiền quán nầy chuyển đổi cái nhìn về tự ngã của ta.
Ta không còn cố gắng bám víu vào một thực thể nào để
khẳng định mình như: "Tôi là Chodron, tôi là một nữ tu sĩ,
là phụ nữ, người Mỹ, tôi có cá tính như thế nầy, tôi
có thể làm điều nầy, không thể làm việc kia, tôi tự ghét
mình vì quá dở". Thay vì bị dính vào một hình tướng cụ
thể nào đó, ta bắt đầu nhận thức được rằng đó chỉ
là ảo vọng, một sản phẩm của tâm. Chúng ta gạt bỏ cái
ảo vọng đó, để nhìn tâm trí tuệ của mình trong bản thể
trong sạch của nó. Công phu tu tập của tôi chưa được hoàn
chỉnh, nhưng nó cũng giúp tôi nhìn ra được rằng không có
một thực thể cố định như thế, mà tôi còn có những tiềm
năng khác nữa trong tôi.
Tôi
khuyên các hành giả không nên chỉ học thiền qua sách vở.
Điều đó khá mạo hiểm; chúng ta có thể tự vẽ vời với
chính mình, rồi diển giải sai lệch. Ta cần có thầy để
chỉ ta cách ngồi thiền, để giải thích thiền sẽ ảnh hưởng
đến tâm lý ta như thế nào, và mục đích của thiền là
gì. Nếu không rất dể cho tâm hiểu sai mọi thứ. Đối với
những cách thực hành căn bản, không cần phải làm lễ khai
thị, nhập môn. Nhưng để thực hiện những pháp thiền cao
siêu trong đó ta tưởng mình như một vị thánh -thiền mật
tông- ta cần có sự khai thị từ một vị thầy kinh nghiệm.
Tôi
khuyên các hành giả nên thận trọng trong việc thực hiện
những sự khai thị cao cấp quá nhanh vì tôi đã nhìn thấy
nhiều người vội vã thọ nhập các cấp bậc thiền quá cao,
để rồi sau đó bị rối loạn, đành bỏ dở tất cả. Như
thế sẽ không ích gì cho họ hay cho Phật pháp. Tốt hơn là
bắt đầu bằng những bước căn bản để ổn định cách
sống của ta. Khi cuộc sống của ta đã vào nếp, ta có thể
bắt đầu thực hành các pháp khác, có thể hành Chenrezig(3)
hay Tara(4). Nhưng để hành các hình thức mật tông du già cao
cấp nhất, ta cần phải đợi đến khi đã có một nền tảng
vững vàng. Nếu không cũng giống như ta cố lợp mái nhà khi
chưa làm xong tường hay khi chưa đặt móng cho vững.
Nhiều
người có cái nhìn sai lạc về Kim Cang thừa; họ nghĩ nó
thần bí, quí hiếm hay một con đường tắt, dể đi đến
giác ngộ. Có người còn nghĩ nó có sức mạnh huyền bí hay
tình dục. Những quan điểm sai lầm như vậy phát sinh do thiếu
thông tin hay do đọc những quyển sách bậy bạ. Như Ngài Đạt
Lai Lạt Ma đã nói, Kim cang thừa được xây dựng trên nền
tảng thực hành của đạo đức, của cuộc sống giản đơn,
của lòng từ bi, tình thương yêu chúng sanh, trí tuệ và tánh
không. Chỉ khi chúng ta đã phát triển được sự hiểu biết
thực sự của những điều vừa nêu, thì ta mới nên với
tới Kim Cang thừa. Tuy nhiên, Kim Cang thừa là một thiện xảo
nếu hành giả có chánh kiến.
Tầm
Sư Học Đạo
Điều
quan trọng là phải có Thầy. Mối liên hệ cá nhân đó, thí
dụ từ một hành giả thực sự tu tập và được sự hỗ
trợ dạy dổ từ một con người bằng xương bằng thịt là
điều không thể thay thế bằng sách vở. Vị thầy sẽ cho
ta cảm giác được hỗ trợ trong công phu tu tập, được có
ai đó luôn ở phía sau ta, nên khi ta sinh tâm hoài nghi, thắc
mắc hay giao động, ta có chỗ để quay về. Ngoài ra, vị thầy
cũng ngăn cản được 'sự vấp ngã của ta'. Với một vị
Thầy mà ta có được mối tương quan tốt đẹp, thì Thầy
có thể dẩn dắt để ta không bị lạc lối. Lúc đầu, ta
cần phải có nhiều thời gian ở bên thầy, khi đã vững chải
hơn, ta không cần phải luôn ở bên họ.
Ngài
Đạt Lai Lạt Ma dạy rằng chúng ta phải cẩn thận chọn lựa
thầy trước khi bái họ làm sư phụ của mình. Chúng ta phải
cẩn thận, phải hiểu rõ mục đích của việc có một người
hướng dẩn tâm linh mình. Thiết lập mối liên hệ với một
vị thầy là để phát triển trí tuệ, trách nhiệm của ta,
chứ không phải đem chúng cho người khác gánh thay.
Phần
lớn các thầy của tôi thuộc phái Gelugpa (5), nhưng có một
vị là Kagyupa. Tôi không muốn tự xưng mình là một Gelugpa,
vì nghe có vẻ chia ra tông phái. Tôi chỉ tự xưng mình là
một Phật tử hay một Phật tử Tây Tạng. Khi ở Singapore,
tôi được biết về truyền thống Nguyên thuỷ cũng như Phật
giáo Trung Hoa, tôi cũng rất ngưỡng mộ họ. Tôi mang ơn các
tông phái khác, cũng có những điều tôi học được từ họ,
cảm thấy gần gủi với họ, dầu tôi chuyên chú chính vào
Phật giáo Tây Tạng và Gelugpa.
Phụ
Nữ
Nhiều
quan điểm về phụ nữ đã bị quy cho Phật nói. Lúc đầu
tôi tin vào đó 100%, nên đã có lúc tôi đánh mất niềm tự
tin vào chính bản thân. Sau tôi nhận thức rằng Đức Phật
hẳn không phải nói ra những điều nầy nhằm mục đích để
làm người nữ chán nản, không muốn tu tập. Điều đó đi
ngược lại với ý nguyện của Đức Phật, là muốn cho tất
cả chúng sanh đều phát triển tiềm năng của họ, để đạt
được giác ngộ, giải thoát.
Tôi
bắt đầu đặt Phật giáo vào hoàn cảnh văn hoá, lịch sử
của thời đó, so sánh với những nghiên cứu về xã hội,
chủng tộc và lịch sử học của phương Tây. Theo đó, ta
có thể thấy rằng Phật giáo cũng như các cơ quan tôn giáo
phụ thuộc vào xã hội nơi chúng có mặt, một phản ánh của
văn hoá nơi đó.
Nói
về vấn đề giới cũng như những cách để đối phó với
vấn đề kỳ thị, phân biệt đối xử, điều quan trọng
là chúng ta cũng phải nhìn lại thái độ của mình. Bất cứ
khi nào tôi bị miệt thị vì là một phụ nữ, tôi thường
phản ứng lại một cách đầy tự ái và sân hận. Nhưng khi
tâm ta tràn đầy tự ái, giận dữ, ta không thể đối với
ai tốt đẹp. Nếu chúng ta giận dữ, tỏ ra hùng hổ, người
đối diện sẽ cảm thấy bị dồn vào ngõ cụt, do đó cả
hai đều không thể thông cảm nhau. Giờ triết lý của tôi
là thu xếp lại cuộc sống của mình, buông bỏ mọi thái
độ tiêu cực, sống rất thẳng ngay. Nếu tôi thực hiện
được như thế, người khác cũng sẽ nhìn thấy được. Lúc
đó nếu có ai buông câu gì có ý phân biệt giới tính, nếu
thích hợp và tôi có thể khéo léo, thì tôi sẽ trao đổi
với người đó, và giải quyết vấn đề một cách tế nhị.
Đến
Gần Phật Hơn
Vào
năm 1975, khi tôi bắt đầu tu Thiền, những lời dạy của
Đức Phật ảnh hưởng sâu đậm đến tâm hồn tôi. Tôi biết
rằng nếu tôi tiếp tục sống trong hòan cảnh hiện tại của
mình -sống đời sống gia đình, đi làm, đi học và quan hệ
bạn bè- tôi sẽ dể dàng bị lôi cuốn theo cách sống u mê,
đầy sân hận, bám víu và vị kỷ. Tôi cần một cách sống
để thay đổi và phát triển tâm linh. Biết rằng từ bỏ
tất cả để trở thành một người tu sẽ tạo cho tôi không
gian lý tưởng đó, nên tôi quyết định xuất gia.
Tôi
đã tranh đầu, suy nghĩ nhiều trước khi đi đến quyết định
đó, vì tôi biết là cha mẹ tôi sẽ không chấp thuận. Nhưng
nếu tôi tiếp tục lồi sống cũ, có thể tôi sẽ làm vừa
lòng cha mẹ và người phối ngẫu của tôi một thời gian
nào đó, nhưng làm sao tôi có thể làm cho họ luôn hạnh phúc
được. Hơn nữa, nếu tôi không lo tạo ra nhiều nghiệp thiện
thì khi chết đi, tôi sẽ tái sinh vào một cõi giới tối tăm,
lúc đó thì tôi hoàn toàn không thể giúp gì được cho ai.
Tôi dứt khoát thệ nguyện phải thay đổi không tiếp tục
sống ích kỷ, cao ngạo và chấp ngã.
Được
sống cuộc đời xuất gia, làm tu sĩ suốt 18 năm nay là một
hạnh phúc cho tôi. Cuộc sống ở tu viện đã giúp cho tôi
cái nhìn rõ ràng hơn, một hướng đi chính xác.
Là
một người tu, tôi có thể nhìn rỏ nhiều khía cạnh cuộc
đời, nhất là mối liên hệ giữa con người với nhau. Tôi
không còn thấy có nhiều khác biệt giữa người nam, người
nữ. Chúng tôi cố gắng làm sao để người khác có thể hòa
hợp với mình dể dàng hơn. Là người tu, tôi cảm thấy cởi
mở, chân thật, đơn giản hơn với mọi người vì tôi không
còn phải tuân theo những luật lệ của cuộc đời.
Dầu
tôi chưa thông suốt nhiều Phật pháp, tu thiền chưa vững
lắm, nhưng ít nhất là tôi đã giử được các giới luật.
Thề nguyện xuất gia giúp tôi thấy gần hơn với Đức Phật.
Tôi luôn cảm thấy sự gắn bó, gần gủi đó dầu tôi ở
đâu, làm gì. Nếu tôi không đi tu, với tánh tình ngang bướng
của mình, chắc chắn tôi sẽ hành động buông lung không kiềm
chế. Lời thề nguyện giúp tôi gìn giử tu tập, gắn bó tha
thiết với Phật, Pháp và Tăng.
Chương
10
CÁNH
CỬA GIẢI THOÁT
Haeju
Sunim.
Haeju
Sunim, Giáo sư Phật học tại một trường đại học Hàn quốc
ở Tongguk. Bà là người thông minh, trầm tĩnh. Tôi rất vui
mừng khi biết rằng bà là người khởi xướng trường phái
Hoa Nghiêm (Avatamsaka school), tạo ảnh hưởng rất lớn đến
Thiền Phật giáo Trung hoa, Hàn quốc, và Nhật bản, nhưng hiện
nay trường phái nầy đã mất dần. Thật là phấn khởi được
gặp một vị ni sư sống tuân theo giới luật một cách triệt
để như thế.
Kinh
HOA NGHIÊM
Trong
kinh Hoa Nghiêm (Avatamsaka Sutra) có dạy rằng : 'Vạn pháp đều
do tâm tạo'. Tôi xuất gia vì muốn nghiên cứu về tâm thức,
vì thế tôi rất quan tâm đến kinh nầy. Càng tụng đọc Kinh
Hoa Nghiêm, tôi càng nhận thấy rằng nơi cần tu tập, bồi
dưỡng hơn hết, không đâu khác là ngay bản thân tôi, ngay
trong giờ phút hiện tại.
Kinh
còn dạy thêm: 'Con đường đạo của Đức Phật nằm trong
84000 cánh cửa giải thoát.' Vì thế bạn có thể thấy cả
ngàn cánh cửa giải thoát, cả ngàn phương tiện thiện xảo.
Vì vậy đi đến một nơi đặc biệt nào đó để tham công
án không phải là con đường duy nhất để tu tập. Bất cứ
trong hoàn cảnh nào, bất cứ ta đang làm gì, mọi nơi đều
có thể là chỗ để đạt giải thoát. Cuối cùng tôi đã
nhận ra điều đó. Vì lẽ đó, tôi ở lại Seoul và tiếp
tục dạy học.
Tôi
xuất gia để tìm lời giải cho vấn đề tâm thức. Tôi tu
tập để đạt giác ngộ và giải thoát. Tôi đã không học
hành một cách nghiêm túc, vì tôi cho rằng không thể đạt
giải thoát từ đó. Tôi theo học ở học viện Unmunsa trong
một thời gian nhưng nhiều lần tôi đã nghĩ đến việc tìm
một chỗ nào đó để hành thiền. Tuy nhiên, khi học các kinh
điển, dần dần tôi bắt đầu nhận thấy rằng việc thông
suốt kinh điển một cách thấu đáo là điều rất quan trọng.
Sau khi tốt nghiệp ở Unmunsa, tôi tiếp tục theo học tại
đại học Tongguk.
Sau
khi hoàn tất chương trình đại học, tôi dự kiến phải thật
sự học hỏi, thực tập ở một nơi nào đó và hành thiền
ở nơi xa sâu trong núi chẳng hạn, trong khung cảnh yên tịnh.
Nhưng chương trình học của tôi còn một cấp bậc nữa, vì
thế tôi tiếp tục vào cao học. Tôi chọn kinh Hoa Nghiêm (Avatamsaka
Sutra) làm đề tài hoàn tất chương trình thạc sĩ.
Tất
Cả Chúng Sinh Đều Là Phật
Khi
tôi nghiên cứu triết lý của kinh Hoa Nghiêm như một đề
tài liên quan đến nguồn gốc của chư Phật, tôi tìm thấy
câu kinh nầy: 'Tâm chúng sinh chính là tâm Phật.' Chúng sinh
là Phật.
Vì
tôi không biết gốc của mình là Phật, tôi không thể sống
như một đức Phật. Do đó tôi hành động, cư xử như một
chúng sinh. Nhưng trong tôi có một khả năng vô hạn, giống
như của Phật. Vì thế tôi nghiên cứu tư tưởng chúng sinh
và Phật, thân không khác.
Trong
chương trình thạc sĩ, tôi nghiên cứu về tâm bồ đề, rất
cần thiết để trở thành Phật. Nhưng trong chương trình tiến
sĩ thì tôi không nghiên cứu 'cái tâm để trở thành trong
tương lai', mà là 'tâm bản sanh vốn có của chúng ta'.
Quan
niệm của tôi về thế nào là tu tập đã thay đổi hoàn toàn.
Bây giờ tôi thực tập bằng cách nầy, ngay nơi đây chính
lúc nầy. Tôi đã được phú cho tâm Phật ngay từ đầu, tôi
áp dụng trực tiếp và sử dụng nó trong khả năng tốt nhất
của mình. Đó là cốt lõi của công phu tu tập của tôi. Đó
là điều quan trọng cần được truyền dạy lại cho bất
cứ ai quan tâm đến vấn đề nầy.
Phật
Sự
Cuộc
sống của tôi rất khác biệt so với các ni sống chung trong
ni chúng. Cả đời tôi quẩn quanh ở đại học, theo thời
khoá biểu của một giáo sư. Tôi dạy hầu hết các ngày từ
9 giờ sáng đến 5 giờ chiều; đôi lúc tôi có lớp giảng
vào buổi tối. Thời gian còn lại tôi chuẩn bị giáo án hoặc
quán chiếu tâm. Tôi cũng hành thiền chánh niệm chút ít. Tôi
viết các bài luận văn về Kinh Hoa Nghiêm, rồi gom lại thành
sách.
Điều
quan trọng là thái độ của chúng ta đối với tâm thức.
Tất cả việc tôi làm, tôi đều xem như là một Phật sự.
Như Kinh Hoa Nghiêm đã dạy: 'Trên thế gian nầy, không có một
việc làm nào mà không phải là Phật sự, nhất là khi việc
ấy mang lại hạnh phúc cho người. Trong Phật Pháp (Buddhadharma),
không có một pháp nào có thể bị chối bỏ.'
Khi
tôi dạy học, việc nầy khác với việc thuyết pháp cho Phật
tử tại gia. Phật giáo là một tôn giáo và tôn giáo là niềm
tin. Ở đại học người ta theo đuổi kiến thức; các sinh
viên không đến để học hỏi về Phật giáo, để có niềm
tin. Trái lại, họ bắt đầu từ một điểm hoàn toàn đối
lập với niềm tin. Họ phải đặt câu hỏi, kiểm tra, phải
phê phán.
Vì
cái nhìn khác biệt nầy, có một số tăng ni cho rằng họ
đã mất niềm tin khi đến học ở đây. Chúng ta phải buông
bỏ niềm tin kiểu ấy. Nếu chúng ta tin vào một điều mà
ta đã hiểu sai, rồi cũng có lúc ta sẽ gặp ai đó sửa lại
sự hiểu lầm nầy. Nếu ta tiếp tục tin rằng tà kiến của
mình là đúng, thì điều nầy chẳng ích lợi gì cho cuộc
đời của chúng ta. Những gì chúng ta đã tin, đã hiểu lúc
trước, chúng ta cần phải tra đi hỏi lại thêm. Có thế,
ta mới có thể đạt được chánh tín, niềm tin được hiểu
biết một cách chính xác. Bằng cách tra vấn lại, ta khám
phá ra được ý nghĩa chân chánh, và củng cố niềm tin thêm
sâu đậm. Tôi kết hợp sự học hỏi và niềm tin. Bằng cách
nầy việc học hỏi đem lại nhiều lợi ích cho cuộc đời
của tôi.
Tâm
thức mà chúng ta đang quán sát được biểu lộ qua hành động
và lời nói. Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta suy nghĩ,
lắng nghe, quan sát. Bất cứ bạn làm gì, đó cũng là tu tập,
vì nó xử dụng và thể hiện tâm thức. Chỉ học sâu, hiểu
rộng giáo lý của Phật thôi chưa đủ, chúng ta cần phải
ứng dụng, sống trong pháp. Đó là sự thực hành của tâm
thức.
Vòng
Hoa
Kinh
Hoa Nghiêm do đức Phật thuyết giảng. Qua kinh nầy, Đức Phật
muốn nhắn nhủ điều gì với chúng ta? Đây là bài kinh nói
về sự giác ngộ của Đức Phật. Điều nầy được biểu
lộ qua 'Vòng Hoa' tức là Hoa Nghiêm (Avatamsaka); những đoá
hoa là hoạt động của vị Bồ Tát.
Nói
về một thế giới giác ngộ không phải là một điều dể
dàng. Rất khó diển tả thế giới đó với những người
chưa được giác ngộ, chưa từng thấy được thế giới nầy.
Để cho dễ hiểu, thế giới nầy được trình bày qua những
hoạt động của các vị Bồ Tát, những người đang chỉ
cho chúng ta con đường để sống như một vị Phật.
Khi
Đức Phật giác ngộ, Ngài chứng ngộ được sự tương quan
lẫn nhau và các Phật tử từ đó đến giờ, đã nói lên
điều nầy bằng nhiều cách khác nhau. Tông Hoa Nghiêm nói rằng
mọi vật, mọi chúng sinh đều tương quan lẫn nhau, và là
một. Vì thế đây là một thế giới không có sự phân biệt,
chia rẽ.
'Không
có gì không phải là Phật Tỳ Lô Xá Na (Vairocana Buddha)'. Chúng
ta là một phần trong thế giới của Phật Tỳ Lô Xá Na, thế
giới ấy hiện đang ở tại nơi nầy. Khởi đầu, chúng ta
là hiện thân của Phật Tỳ Lô Xá Na và vì lý do nầy chúng
ta phải sống như một vị Phật, trong mọi cảnh đời. Theo
quan niệm của Kinh Hoa Nghiêm, khi chúng ta nhận thức rốt ráo
rằng mình là một vị Phật ngay hiện tại, thì không còn
cần tu tập gì thêm nữa. Khi ấy chúng ta sống như một vị
Phật và tâm của ta cũng là tâm Phật.
Tất
Cả Chúng Ta Đều Là Phật
Trong
truyền thống Thiền, đặc biệt là ở Hàn quốc, người ta
cho rằng sự giác ngộ, hay thế giới của Phật, không thể
được diển tả bằng lời; ngay khi bạn vừa buông lời, thì
bạn đã sai rồi. Chỉ những bậc đã bước vào thế giới
giác ngộ mới có thể biết nhau mà thôi.
Nhưng
Kinh Hoa Nghiêm đã diển tả thế giới giác ngộ, thế giới
của Phật. Thế giới ấy thật là mỹ lệ mà với niềm tin,
bạn có thể bước vào đấy. Cõi giác ngộ nầy không xa và
cũng không phải là không đến được. Ngay hiện tại, bạn
đã là Phật, nhưng không biết điều đó.
Nếu
bạn đặt Đức Phật trên một bệ thờ thật cách xa bạn,
thì bạn không thể sống như một Đức Phật. Hãy xoay lại
và thức tỉnh; đấy mới là thực tập. Tâm thức tin tưởng
hoàn toàn rằng bạn là Phật, đấy là tín tâm, theo quan điểm
của Kinh Hoa Nghiêm. Hãy kiên quyết sống như một vị Phật
bởi vì bạn là Phật.
Giáo
lý của Đức Phật là để đạt được giác ngộ, nhưng các
phương cách để giác ngộ đã thay đổi theo thời gian. Ngay
thời Đức Phật còn tại thế và một thời gian sau đó, người
ta tin rằng một chúng sanh bình thường không thể nào trở
thành Phật, cho dù người đó có tu tập công phu đến đâu.
Mà chỉ có thể đạt đến thế giới của các vị A-la-hán
[các thánh giải thoát] và tự giải thoát chỉ đến cấp bậc
nầy thôi. Chỉ duy nhất có một Đức Phật, đó là Thích
Ca Mâu Ni mà thôi.
Quan
niệm nầy đã thay đổi khi các trường phái Đại Thừa được
phát triển, trong đó có phái Hoa Nghiêm. Phái Đại Thừa (Mahayana)
cho rằng nếu chúng ta tu tập và sống như Đức Phật đã
tu tập trong quá khứ, thì chúng ta cũng có thể trở thành
Phật. Để nâng tâm bình thường lên thành tâm Phật là nâng
tâm đến trình độ giác ngộ không có gì có thể vượt trội
hơn.
Sự
khác biệt giữa một chúng sinh và một vị Bồ Tát là chúng
sinh nghĩ họ không bao giờ có thể thành Phật và sống theo
cách đó. Các vị Bồ Tát nghĩ rằng họ có thể tu tập giống
như Đức Phật, trau dồi sự hoàn thiện [Ba-La-Mật] để trở
thành Phật một lúc nào đó, cho dù ngay lúc nầy họ chưa
là Phật. Nhưng thời gian đó cũng rất lâu, thường được
coi là ba kiếp.
Tiếp
đó là trường phái Một Xe (One Vehicle) cho rằng không cần
thiết phải mất một thời gian dài để trở thành Phật;
ta có thể trở thành Phật trong một kiếp sống nếu ta tu
tập một cách miên mẫn. Vì lý do nầy, các vị đại sư đã
nói: 'Đừng uổng phí cuộc sống, đừng chờ đợi kiếp sống
khác, đừng để việc lại cho kiếp sau mới làm, hãy tỉnh
thức ngay trong kiếp sống nầy'. Trong kiếp sống nầy, được
có thân người, ta có rất nhiều cơ hội và thời gian để
giác ngộ. Nhiều người đã giác ngộ và chứng thực được
Phật tánh của họ.
Tuy
nhiên, theo Kinh Hoa Nghiêm: 'Ngay hiện tại bạn đã là Phật'.
Không cần thiết phải trở thành, phải đạt giác ngộ. Uisang
Sunim, một vị đại sư Hàn quốc của phái Hoa Nghiêm đã nói
: 'Từ rất lâu, chúng ta đã là Phật'.
Khi
tôi mơ, trong giấc mơ tôi không biết là mình đang mơ. Chúng
ta phải thức tỉnh từ giấc mơ để biết rằng chúng ta đã
mơ. Giờ tôi là Phật, nhưng nếu tôi không nhận thức được
điều đó, vì tôi không biết mình là Phật, để 'điều khiển
tâm' trở nên ý thức rằng ta là Phật. Ngay tại nơi nầy,
chúng ta có thể sống trên thiên đường hạnh phúc. Chúng
ta có thể hiển lộ tất cả trí tuệ và lòng từ bi của
một vị Phật.
Theo
quan điểm của Hoa Nghiêm, tu tập để trở về nơi chúng ta
xuất phát. Để sống theo bản thể của ta là để tung tăng
trong thế giới giác ngộ. Thế giới giác ngộ nầy không xa,
nó ở ngay trên Trái Đất nơi chân ta vẫn từng bước đi
tới.
Sư
Tử Vàng
'Trong
một pháp có vạn pháp', Uisang Sunim đã nói. Ông lại thêm:
'Trong vạn pháp có một pháp'. Tôi là một, những người khác
là nhiều. Có sự liên hệ gì giữa một người và nhiều
người? Đó là sự liên hệ khiến họ sống chịu đựng lẫn
nhau.
Tuy
nhiên, tánh cách của chúng sinh khiến họ không thể sống
chịu đựng lẫn nhau. Một thế giới nơi mà mọi người sống,
hòa hợp với nhau là thế giới của Phật. Tất cả pháp hòa
quyện lẫn nhau, chúng là một. Vì lý do đó có câu nói: 'Sắc
tức là không, không tức sắc', có nghĩa là tất cả hiện
hữu là một.
Cũng
như sóng và nước là một. Cũng giống như làm một con sư
tử bằng vàng. Hình dạng là sư tử, nhưng làm bằng vàng.
Với vàng bạn có thể làm nhiều món trang sức, nhẫn, dây
chuyền, hoa tai, vân vân … Chúng đều có nhiều dạng khác
nhau, nhưng tất cả đều làm bằng vàng. Vàng không thay đổi,
không khác biệt. Sư tử cũng y như thế.
Vì
thế tất cả chúng sinh hình dạng có khác biệt, nhưng tất
cả đều có cùng chung một Phật tánh. Phật tánh đó được
ẩn giấu dưới các hình dạng, giống như trong hình dạng
sư tử ẩn chứa vàng vậy. Hình dạng sư tử và bản chất
vàng là một, tạo nên một sư tử vàng.
Khi
nhìn thấy con sư tử vàng, bạn có thể chỉ thấy một thứ,
thường là hình dáng. Người sáng suốt thì sẽ nhìn vào thể
chất vàng hơn là dạng sư tử, bởi vì sư tử thì không quan
trọng lắm. Nhưng đa số có thể nói: 'Hãy nhìn con sư tử
kìa! Thật là lớn. Thật đáng sợ'. Một đứa trẻ thì sẽ
buột miệng: : 'Hãy nhìn con sư tử kìa!' chứ không nói: 'Hãy
nhìn tảng vàng kìa!'
Tuỳ
theo mỗi người, họ sẽ thấy hoặc là sư tử hoặc là vàng.
Nếu người chỉ thấy sư tử, thì sẽ không thấy vàng; nếu
người thấy vàng thì sẽ không thấy sư tử. Nhưng trong thực
tế, cả hai đều hiện hữu. Vì thế nên nói: 'Chúng sinh thật
sự là Phật.'
Nhìn
Thấy Mọi Khía Cạnh
Nghe
những điều nầy, bạn có thể bắt đầu chỉ nhìn thấy
Phật mà không thấy chúng sinh. Bạn có thể tự hỏi: 'Còn
gì để làm nữa, tại sao tôi phải tụng niệm? Tôi là Phật.
Hãy đến tôn thờ tôi. Tại sao tôi phải lễ bái ba lần trước
các vị cao tăng và ni trưởng? Tại sao tôi phải hành Bồ
Tát hạnh?' Đó là do bạn chỉ nhìn thấy bản tánh ban đầu
của mình là Phật. Bạn không thấy rằng đồng thời bạn
cũng là chúng sinh.
Mặt
khác, bạn có thể nói: 'Tôi không thể làm được bất cứ
việc gì, đừng đòi hỏi tôi điều gì', đó là vì bạn chỉ
thấy mình là chúng sinh. Bạn không thể thấy những tiềm
năng vô hạn của Phật tánh mà từ ban đầu nó đã ẩn chứa
trong tâm bạn. Vấn đề của cả hai phía là họ chỉ nhìn
thấy có một mặt. Ta phải tập nhìn thấy hai mặt cùng lúc.
Việc
nầy vẫn thường xảy ra trong đời sống hàng ngày. Đọc
báo, thường chúng ta chỉ biết một phía nào đó tờ báo
nêu ra. Chúng ta phải tập nhìn phía sau các khái niệm để
khám phá ra tất cả vấn đề. Chúng ta thường sống cách
đó, chỉ nhìn một chiều. Giống như khi vác trên vai một
tấm ván rộng, ta chỉ thấy có phân nữa cảnh vật.
Tương
tự, ta có khuynh hướng chỉ thấy lỗi người mà không thấy
lỗi mình. Khi đau đớn, ta cũng chỉ thấy nỗi đau của mình
mà nói bệnh của một người khác không thấm vào đâu so
với nỗi đau của mình. Khi người khác nói, ta chỉ bám theo
lời nói, do đó thường đưa đến kết quả là xung đột.
Ta phải xét xem phía sau lời nói tâm ý của người ta thế
nào.
Mạng
Lưới Của Indra (8)
Theo
Kinh Hoa Nghiêm, 3000 đại thiên có thể chứa đựng trong một
nang lông của Phật. Mỗi nang lông có dung lượng giống nhau.
Tất cả vũ trụ được chứa đựng trong một hạt bụi; tất
cả là một. Khi thế giới của Phật hiển lộ, các thế giới
khác cũng được hiển lộ đồng thời.
Cũng
giống như mạng lưới châu báu của Indra. Trong mỗi gút có
một hạt châu và mỗi hạt châu phản ảnh tất cả những
hạt châu khác. Ngược lại, tất cả các châu báu phản ảnh
một hạt châu. Không chỉ có thế, mà tất cả các phản chiếu
qua lại của các hạt châu, cũng được phản chiếu trong cái
vô cùng tận.
Khuôn
mặt ta được cấu tạo bởi mắt, mũi, lỗ tai, vân vân. Từng
phần, chúng đều có đặc điểm khác nhau. Nếu phối hợp
hài hoà, ta có thể nói đó là một khuôn mặt đẹp, nhưng
ta không thể nói rằng mũi đẹp hơn, hoặc mắt đẹp hơn.
Hơn nữa, cả khuôn mặt có chức năng riêng của nó, và mỗi
thành phần lại có chức năng riêng nữa. Thí dụ, mũi để
ngửi, vân vân. Tuy nhiên khi bạn nhìn từng thành phần, thí
dụ, đôi mắt, thì bạn không thể không thấy khuôn mặt.
Thấy một thành phần, là bạn cũng thấy toàn bộ.
Theo
Kinh Hoa Nghiêm có 10 điều hoàn thiện và theo Đại Thừa thì
có sáu. Nếu có thể trau dồi tất cả các điều thì rất
tốt. Tuy nhiên, nếu bạn có thể thực tập hoàn hảo về
chỉ một điều, thì cũng giống như bạn đã thực tập tất
cả. Qua một việc gì đó mà bạn có thể thực hiện hoàn
hảo, thì bạn có thể khiến cả vũ trụ siêu phàm phát sinh.