THƯ VIỆN HOA SEN
SearchEnglishMirrorsite
.
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
.
BỨC THƯ CỦA BỒ TÁT LONG THỌ GỞI CHO VUA GAUTAMIPUTRA
NAGARJUNA’S LETTER TO KING GAUTAMIPUTRA
MOTILAL BANARSIDASS DELHI, 1978  - THIỆN TRI THỨC, 2002

C. QUAN SÁT NHỮNG PHẨM TÍNH TUYỆT HẢO 
CỦA NIẾT BÀN VÀ THỰC HÀNH CON ĐƯỜNG ĐẠT ĐẾN NIẾT BÀN

1. Lời khuyên tổng quát về mọi kỷ luật dẫn đến Niết bàn

a. Nỗ lực đạt đến Niết bàn

(Như ngài) dập tắt một ngọn lửa nếu nó thình lình bắt cháy trên áo quần hay trên đầu ngài, cũng thế hãy nỗ lực chấm dứt sự tái sanh qua những hành vi từ bỏ – vì không có mục tiêu nào khác tuyệt hảo hơn điều này. 104

Đạt đến Niết bàn là một tiến trình lâu dài, thế nên người ta cần bắt đầu càng sớm càng tốt. Nếu đầu hay áo quần người ta bắt lửa, bấy giờ người ta tức thời dập tắt nó. Tương tự, người ta phải cố gắng hết sức để chấm dứt tái sanh trong sanh tử, sự tái sanh ấy là kết quả của những hành vi và những nhiễm ô. Sanh tử là gốc rễ của mọi bệnh hoạn, và để chấm dứt nó, người ta cần thực hành Con Đường, vì không có cái gì tuyệt hảo hơn nó.

Qua giới, huệ và định hãy đạt được trạng thái Niết bàn an lạc, bình thản và không một vết dơ, nó thì không tuổi tác, không chết, không cạn kiệt, và không có đất, nước, lửa, không khí, mặt trời và mặt trăng. 105

 (i) giới (Skt. sila)
 (ii) huệ (Skt. prajna
 (iii) định (Skt. dhyana)

Qua thực hành ba cái này, chúng là ba nguyên nhân chánh để đạt được Niết bàn, người ta sẽ thành tựu bình an. Niết bàn có hai loại. Thứ nhất là Niết bàn không có nền móng (vô dư Niết bàn), Niết bàn không có năm uẩn, Niết bàn tối hậu, nirupadhisesanirvana. Thứ hai là Niết bàn với nền móng, sopadhisesanirvana (hữu dư Niết bàn) ; nghĩa là Niết bàn với năm uẩn dù tánh không của chúng đã được chứng ngộ.

Cái thứ nhất thoát khỏi năm uẩn, chúng đã cạn kiệt và tắt hẳn. Người ta đạt đến sự bình an của Niết bàn. Cái thứ hai bao gồm sự chứng ngộ tánh không ; dù người ta còn có các uẩn, chúng sẽ bị để lại đằng sau vào lúc chết.

Cả hai được gọi là thanh tịnh và trong sáng, vì những nhiễm ô đã bị thanh toán. Từ lúc đó trở đi, không có già, nên nó được gọi là không tuổi tác. Nó cũng được gọi là bất tử, vì không còn sự chết nữa. Nó là không tận, không màu sắc và không hình dáng. Trạng thái người ta sẽ đạt đến thì không có bốn nguyên tố, mặt trời và mặt trăng. Điều này được nói bởi vì trong một số triết học Ấn Độ mục đích là sự hợp nhất của những nguyên tố, và mặt trời mặt trăng… Để chỉ ra giải thoát là vô tướng, điều này được nói.

Hơn nữa, cả hai Niết bàn thoát khỏi hoạt động của tư tưởng, tạo tác ý niệm và xao lãng.

b. Lời khuyên tích tập cái cần thiết để đạt Niết bàn

(1) Thực hành bảy chi của giác ngộ

Bảy chi này của giác ngộ – niệm, phân biệt các pháp, tinh tấn, hỷ, tịnh hóa, định và xả – là sự tích tập đức hạnh (hay công đức), sự tích tập công đức này là nguyên nhân của đạt được Niết bàn. 106

Có bảy phần đặc biệt của con đường đến giải thoát, chúng được gọi là bảy chi của giác ngộ.

(1) Niệm, nó không quên cái nhìn thấy chân lý, là chi của sự an trụ trong cấp độ của địa thứ nhất.

(2) Huệ phân biệt các pháp là chi của tính cách nội tại.

(3) Tinh tấn làm khởi những hành động đức hạnh là chi của giải thoát.

(4) Hỷ, nó là hạnh phúc của tâm do chứng ngộ là chi của lợi lạc và công đức.

(5) Tịnh hóa, nó sửa chữa những hành động của thân và tâm, là chi của sự không bị nhiễm ô.

(6) Những trạng thái thiền là sở hữu của một tâm trong sáng và thiền định là chi của sự không sanh khởi những nhiễm ô.

(7) Xả thì thoát khỏi buồn ngủ (hôn trầm) và xao lãng (phóng dật) là chi của sự không dính dáng với bất cứ nhiễm ô nào.
Bảy phần này của con đường đến giác ngộ là những nguyên nhân của sự đạt được Niết bàn.

(2) Chỉ ra rằng Niết bàn đạt được nhờ sự phối hợp của định tĩnh (Chỉ) và quán chiếu (Quán)

Không có huệ thì không có định, và ngược lại, không có định thì cũng không có huệ ; nhưng với người có hai cái này, đại dương sanh tử được biến thành như (nước ở trong) một dấu chân bò. 107

(i) định, tập trung (ở đây trong nghĩa tĩnh lặng, Skt. dhyana).

 (ii) huệ (ở đây trong nghĩa quán chiếu, Skt. prajna).

Không có huệ người ta không thể có định đúng. Điều này bởi vì mọi “phẩm tính siêu việt và thế gian” được đạt đến nhờ trí huệ. Như Acarya Nagarjuna nói,

Trí huệ là gốc của mọi phẩm tính thấy được và không thấy được ; bởi thế người ta phải nắm giữ trí huệ một cách trọn vẹn để đạt được cả hai.

Ngược lại không có định người ta không thể có huệ. Trí huệ này là sự thấu hiểu tánh không.

Trước khi người ta có thể có trí huệ, người ta phải có sự an tĩnh của cả thân và tâm do tập trung. Nghĩa là, người ta phải có nền tảng của định để có được sự chứng ngộ tánh không. Thiền giả nào có cả hai chánh định và chánh huệ sẽ làm cho đại dương sanh tử khô cạn rất nhanh chóng – như nước trong một dấu chân bò trên đất. Người cả hai định và huệ phối hợp có thể nhổ hẳn gốc rễ sanh tử.

Chủ yếu người ta phải thiền định về trí huệ. Dù cho người ta có thể có nhiều phẩm tính kỳ diệu khác, nhưng trừ phi người ta có sự thấu hiểu chân thật về tánh không, còn thì người ta vẫn cứ không thể thanh toán được nguyên nhân của sanh tử. Gốc rễ của sanh tử là sự bám níu. Như có nói trong Kinh Samadhiraja,

Người thế gian không thể phá hủy tri giác về tự ngã dù cho họ có nhập định. Sau khi (nhập định như vậy) tâm họ lại bị xao động bởi những nhiễm ô như trước. Nếu người ta tìm kiếm bằng thiền định sự vô ngã nơi các pháp kể cả tự ngã, bấy giờ công việc này sẽ là nguyên nhân cho quả Niết bàn và bất cứ nguyên nhân nào khác sẽ không làm hiển lộ an lạc.

(3) Từ bỏ suy nghĩ tìm tòi về cái không thể diễn tả được

Mười bốn câu hỏi mà bậc Dòng Dõi của Mặt Trời tuyên bố là không thể nói ra trong thế gian thì không khơi dẫn sự an bình của tâm, thế nên chớ suy nghĩ tìm tòi về chúng. 108

Người ta chớ bám vào mười bốn quan điểm sai lầm. Mười bốn cái ấy giống như một mạng lưới chỉ làm người ta vướng mắc thêm vào những nhiễm ô. Những quan điểm ấy không dẫn người ta đến giải thoát khỏi sanh tử vì chúng ngăn chặn con đường đến Niết bàn. Đó là mười bốn câu hỏi được hỏi với bậc Dòng Dõi Mặt Trời và không được Ngài trả lời.

(1) Vũ trụ là (a) vĩnh cửu, (b) không vĩnh cửu, (c) vừa vĩnh cửu vừa không vĩnh cửu, và (d) không vĩnh cửu cũng không phải không vĩnh cửu.

(2) Vũ trụ là (a) hữu hạn, (b) vô hạn, (c) vừa hữu hạn vừa vô hạn, và (d) không hữu hạn cũng không phải vô hạn.

(3) Như Lai là (a) hiện hữu sau khi chết, (b) không hiện hữu sau khi chết, (c) vừa hiện hữu vừa không hiện hữu sau khi chết, và (d) không hiện hữu cũng không phải không hiện hữu sau khi chết.

(4) Linh hồn là đồng nhất với thân thể hay khác với thân thể.

Đức Phật từ chối trả lời những câu hỏi đó, bởi vì chúng không có nền tảng vững chắc. Một câu hỏi không xứng đáng cho một câu trả lời nếu đối tượng của sự tra vấn không thực sự hiện hữu. Chẳng hạn, nếu có người hỏi, “Kích cỡ một cái nhà trên Kim tinh là gì ?”

(4) Hiểu Duyên Sanh, sự thật này giải thoát người ta khỏi sanh tử

Bậc Đại Trí tuyên bố, “Từ vô minh sanh những thiên hướng (hành), từ những thiên hướng sanh thức, từ thức sanh danh và sắc, từ danh sắc sanh sáu giác quan, từ những giác quan sanh tiếp xúc, từ tiếp xúc sanh cảm thọ, từ nền tảng của cảm thọ sanh khao khát, từ khao khát sanh bám giữ, từ bám giữ sanh trở thành, từ trở thành sự sanh xảy ra – nếu có sanh, bấy giờ một đống rất lớn khổ đau tiếp theo, như lo buồn, bệnh tật, già nua, thất vọng, sợ chết… ; tuy nhiên, bằng cách chấm dứt sanh, tất cả những cái ấy sẽ dừng dứt. 109-111

Nếu có vô minh, bám chấp một tự ngã, bấy giờ người ta lệ thuộc vào mọi khốn khổ của hiện hữu và xoay vòng liên tục trong sanh tử. Từ vô minh này, những thiên hướng sanh khởi. (Đây là hai nguyên nhân duy trì những đời trước để gây tạo ra đời sống hiện tại.) Từ những thiên hướng, thức sanh khởi. Từ thức danh và sắc được sanh ra. Từ danh và sắc sáu giác quan bên trong phát sanh. Từ những cái này, tiếp xúc giữa sáu giác quan và những đối tượng của chúng được sanh ra. Từ tiếp xúc, những cảm thọ thích, không thích… sanh khởi. Từ nền tảng của cảm thọ, khởi sanh khao khát, tức là tham muốn hạnh phúc và ghê sợ khổ đau. Từ khao khát, bám giữ tiếp theo. Từ bám giữ, trở thành được sanh ra. (Tám cái này là những điều kiện của cuộc đời hiện tại tựu thành bằng tái sanh). Từ trở thành, sanh xảy ra. Nếu có sanh, bấy giờ già, bệnh, chết và các thứ. (Hai cái này là những điều kiện duy trì cho đời tới).

Khổ đau sanh khởi trở đi trở lại từ sự phối hợp của những nguyên nhân này. Nhưng nếu người ta có thể chấm dứt tái sanh trong sanh tử vốn có từ những hành vi và nhiễm ô, bấy giờ mọi khổ đau của bệnh, già, và chết sẽ ngừng dứt. Khi sanh bị ngừng, mười hai mắt xích duyên sanh từ vô minh đến già và chết được dập tắt. Theo cách này người ta cần nghiên tầm và thiền định về Duyên Sanh (Phát Sanh Tùy Thuộc) này với mười hai mắt xích dẫn đến hoặc sanh tử hoặc Niết bàn. Gốc rễ của sanh tử là vô minh, sự bám chấp một tự ngã, và cái đối nghịch của cái này là Chân Lý, Tánh Không. Đã phát sanh được sự thấu hiểu tánh không, nó là trạng thái sâu xa tự nhiên của tất cả mọi sự, qua thiền định về mười hai mắt xích của Duyên Sanh, người ta sẽ chắc chắn thành tựu trạng thái thanh tịnh của giải thoát.

Đức Phật nói rằng người thấu hiểu mười hai mắt xích của Duyên Sanh sẽ hiểu sanh tử và Niết bàn. Cả hai cái này chỉ là một ảo tưởng của tâm, bản thân tâm này thì trống không.

(Giáo Pháp) Duyên Sanh này là kho tàng sâu xa và quý báu của lời dạy của bậc Chiến Thắng ; người thấy đúng cái này (Duyên Sanh) thì thấy Phật tối thượng, bậc Hiểu Biết Thực Tại. 112

Dù tất cả mọi sự trong đại dương của hiện hữu này rốt ráo không hiện hữu – vì thực tế không có thậm chí một nguyên tử hiện hữu – tuy nhiên những hiện tượng như chúng xuất hiện và được kinh nghiệm (những sự vật sanh khởi từ những nguyên nhân và điều kiện) thì không bị phủ nhận. Như giáo lý Duyên Sanh chứng tỏ, mọi sự tùy thuộc vào những cái khác cho sự hiện hữu của chúng (nghĩa là, mọi sự không có tự tánh).

Người ta phải nhớ rằng tất cả những sự vật do điều kiện (những sự vật phát sanh một cách tùy thuộc lẫn nhau) là không khác với Chân Lý Tối Hậu, và đồng thời Chân Lý Tối Hậu thì không khác với chúng. Người ta bị trói buộc vào sanh tử bởi những nhiễm ô và tạo tác tư tưởng, bởi vì họ không thấu hiểu chân lý.

Bao giờ người ta bám vào năm uẩn, người ta có một cái ngã hay bám chấp một tự ngã. Sự bám chấp một tự ngã này dẫn người ta đến chỗ thực hiện những hành động mà đến lượt chúng lại gây cho người ta tiếp tục sanh trong vòng hiện hữu sanh tử. 

Với sự thấu hiểu, chứng ngộ tánh không, mọi nhiễm ô và tạo tác tư tưởng sẽ tự động dừng dứt. Đấy là bởi vì vào lúc chứng ngộ tánh không, người ta sẽ thấy rằng không có tự ngã, không có cái khác, không có thời gian v.v… Bởi thế khi những hành động và sự bám chấp một tự ngã dừng mất, người ta giải thoát khỏi sanh tử.

Không có phương pháp nào cho đạt đến giải thoát tốt hơn sự chứng ngộ tánh không (nghĩa là sự vô tự tánh của tự ngã và vô tự tánh của những yếu tố hiện hữu). Bám chấp những quan điểm cực đoan thường (vĩnh cửu), đoạn (hư vô)… sẽ diệt mất khi sự chứng ngộ này sanh ra, và chỉ có “trung đạo” của Madhya-maka là còn lại. Vì Đức Phật là người duy nhất có thể giải thích cái này, đã nói, “Mọi sự là Duyên Sanh.” Bởi thế, Duyên Sanh hay Phát Sanh Tùy Thuộc là tinh túy đích thực của giáo lý đức Phật, bởi vì người ta không thể nói cái mà người ta tri giác là : (i) tự nó sanh, (ii) sanh từ những cái khác, (iii) sanh từ cả hai cái trên, và (iv) sanh mà không có một nguyên nhân. Đây không phải là một phủ nhận những sự vạât như chúng được thấy, mà Chân Lý Tối Hậu là cái gì ở một trật tự khác.

(i) Có người nói rằng một sự vật là tự nó sanh. Tuy nhiên, lỗi lầm của nhận định này nằm ở sự kiện nó có sự biến đổi. Một sự vật biến đổi thì tự thân nó không thể nói là đồng nhất, nghĩa là luôn luôn là chính nó. Chẳng hạn, một mầm cây thì không đồng nhất với hạt giống. Hơn nữa, nếu một sự vật được sinh từ chính nó, bấy giờ nó sẽ tự sinh cho đến vô hạn vì không có cái gì ngăn cản sự tự sanh không dứt của nó.

(ii) Rồi có người nói là một sự vật thì sinh từ cái khác nó. Nhưng lỗi lầm của nhận định này nằm ở sự kiện là nếu như vậy, cái gì cũng có thể được sinh từ bất cứ cái gì. Chẳng hạn, một cây bắp có thể được sanh từ một hạt giống lúa.

(iii) Có người nói rằng một sự vật được sanh từ cả chính nó và cái khác. Tuy nhiên, nhận định này chứa những lỗi lầm của hai cái trên, vì mỗi cái trên đều có lỗi lầm.

(iv) Có người nói rằng một sự vật được sinh không từ chính nó cũng không từ cái khác, nghĩa là tình cờ. Tuy nhiên, không có cái gì được sinh mà không có nguyên nhân.

Như Acarya Nagarjuna viết trong câu kệ mở đầu của Mulamadhyamakakarika (Trung Luận),

Không bao giờ có vật gì hiện hữu mà có thể tìm thấy được phát sanh từ chính nó, từ những cái khác, từ cả hai, hay không nguyên nhân.

Như vậy, người ta không thể nói rằng có cái gì thật sự phát sanh. Chỉ qua sự kết hợp những nguyên nhân và những điều kiện mà một kết quả được làm cho biểu lộ. Chỉ ở bề ngoài mà những sự vật được thấy là phát sanh. Không có cái nào có thể được bám chấp như là thật trong tự thể của nó, thế nên nó là phát sanh tùy thuộc lẫn nhau. Mọi sự được thấy thì giống như bóng trăng trong nước, bởi thế không thể nói là hiện hữu hay không hiện hữu. Từ thời vô thủy mọi pháp bên ngoài và bên trong không thể nói được là thật. Tuy nhiên, cùng lúc đó, tánh không không thể nói là khác với thế giới hiện tượng. Như Prajnaparamita Hrdaya Sutra (Bát Nhã Tâm Kinh) nói,

Sắc tức là không, không tức là sắc, sắc cũng chẳng khác không, không cũng chẳng khác sắc…

Bởi thế, giáo pháp Duyên Sanh do đức Phật dạy được nói là pháp quý báu nhất.

Vì giáo pháp này cực kỳ sâu xa và khó hiểu, người ta cần làm quen với nó, nghiên cứu nó, và suy ngẫm nó với một tâm trong sáng. Những ai thấu hiểu “mười hai Duyên Sanh” thì thấy chân lý. Như có nói trong Arya-prajnaparamita-sancaya-gatha,

Bồ tát – người nhờ thấu hiểu trí huệ Duyên Sanh, nó là không sanh và không diệt, mà phá tan bóng tối của vô minh như những tia sáng mặt trời thoát khỏi mây xua tan bóng tối – sẽ đạt đến giác ngộ.

(5) Thiền định về Con Đường Tám Ngành Cao Cả

Để đạt an lạc, hãy thực hành tám phần này của Con Đường : cái thấy chân chánh, đời sống chân chánh, nỗ lực chân chánh, niệm chân chánh, định chân chánh, lời chân chánh, hành động chân chánh và tư tưởng chân chánh. 113

Cái thấy chân chánh là ngành nghiên cứu tìm tòi để thấy một cách trọn vẹn. Tư tưởng chân chánh là ngành khiến cho những sự khác được biết. Đời sống chân chánh, lời chân chánh và hành động chân chánh là những ngành khiến cho người khác có lòng tin. Niệm chân chánh, định chân chánh và nỗ lực chân chánh là những ngành chỉnh sửa những nhiễm ô đa dạng. Đấy là tám ngành của con đường. Người ta phải thực hành Con Đường Tám Ngành Cao Cả này để đạt đến trạng thái Niết bàn an lạc.

(6) Quan sát Bốn Chân Lý Cao Cả

Sanh này là khổ ; khao khát được gọi là nguồn gốc lớn lao của khổ ấy ; sự dừng dứt của khổ là giải thoát ; và con đường đạt đến giải thoát ấy là Con Đường Tám Ngành Cao Cả. Thế nên trong cách này, hãy luôn luôn cố gắng thực hiện Bốn Chân Lý Cao Cả, vì thậm chí người tại gia sống trong lòng của sự giàu có vẫn vượt qua dòng sông của những nhiễm ô nhờ cái hiểu biết này. 114-115

(i) Chân Lý Thứ Nhất : Người ta lệ thuộc vào sanh và tử bởi vì những hành vi và những nhiễm ô, thế nên người ta luôn luôn xoay tròn trong sanh tử. Người ta kinh nghiệm khổ đau thoát thai từ năm uẩn. Đây gọi là Chân lý của Khổ đau.

(ii) Chân Lý Thứ Hai : Bám níu vào năm uẩn là nguyên nhân của khổ đau. Đây là nguồn gốc của tất cả khổ. Điều này gọi là Chân lý của sự Phát sanh.

(iii) Chân Lý Thứ Ba : Thứ ba là Chân lý của Dừng diệt, với tính chất là sự dập tắt mọi khổ. Cái này cũng được gọi là Chân lý của Giải thoát.

(iv) Chân Lý Thứ Tư : Để đạt Niết bàn người ta phải thực hành và theo Con Đường Tám Ngành Cao Cả như đã được tả. Đây là Chân lý của Con đường.

Bốn Chân Lý Cao Cả là chân thực cho những bậc Thánh, nhưng không thực cho những người thế gian. Do đó Bốn Chân Lý Cao Cả cần được hiểu đúng.

Hiểu sanh tử là đầy khổ đau, người ta phải suy nghĩ đến những hậu quả xấu của nó bất kể họ sanh vào ở đâu. Đã hiểu thực sự rằng tất cả sanh tử là khổ, bấy giờ người ta sẽ mong muốn giải thoát, nghĩa là giải thoát khỏi khổ. Điều này sẽ khiến người ta trở nên ưa thích đi vào con đường của Pháp. Thứ nhất, người ta cần nghĩ rằng năm uẩn của người ta là vô thường. Thứ hai, người ta cần nghĩ rằng toàn thể sanh tử, nhất là chỗ người ta đang ở là đầy khổ đau. Cùng lúc, người ta cần nghĩ rằng không có ai sáng tạo ra khổ cả và bản tánh của khổ là tánh không. Thật vậy, người kinh nghiệm khổ không hiện hữu. Bấy giờ người ta cần nghĩ rằng khổ sanh khởi như thế nào – từ những hành vi và nhiễm ô. Rồi người ta muốn thanh toán nguyên nhân của khổ. Sau đó, Chân lý của Dừng diệt cần được thực hiện. Cuối cùng, người ta cần thực hành Con Đường, và đặc biệt thiền định về tánh không. Người ta cần thực hành Bốn Chân Lý Cao Cả theo cách này. Như đức Phật nói,

Người ta cần thấu hiểu khổ, người ta cần xóa bỏ nguyên nhân, người ta cần chứng đắc sự dừng diệt của khổ, người ta cần thực hành Con Đường.

Lại nữa, có nói trong Uttaratantra

Khổ, nguyên nhân của nó, sự dừng diệt cũng như Con Đường ; hãy hiểu những cái gì cần được biết, và những cái gì cần từ bỏ và hãy gắn bó với những cái trước.

Nếu người ta thực sự thực hành theo cách này, người ta sẽ đạt Niết bàn không nghi ngờ gì. Vào thời xưa, một nhà vua man di thấy một bức tranh đức Phật, thấy bánh xe của đời sống, hiểu được “mười hai kết nối Duyên Sanh” với chuyển động thuận chiều và nghịch chiều, hiểu được Bốn Chân Lý Cao Cả, và như vậy đã vượt qua được biển sanh tử. Nếu người ta thấu hiểu những cái này, thì cũng như nhà vua thời xưa, người ta cũng sẽ vượt qua đại dương sanh tử.

(7) Chớ chần chờ trong nỗ lực vì Niết bàn

Những người đã thấu hiểu, thể nghiệm Chân Lý không từ trời rơi xuống cũng không từ đất vọt lên như hạt mầm, vì họ trước kia cũng là những người lệ thuộc vào những nhiễm ô. 116

Những bậc Thánh đã tận trừ hai Chân Lý đầu và sở hữu hai Chân Lý sau. Các vị không sở hữu Chân Lý từ ban sơ. Họ không từ trời rơi xuống hay từ đất vọt ra với Chân Lý bẩm sinh, mà chứng ngộ nó bằng chính nỗ lực của mình. Các vị đã chịu khổ đau, và đã lệ thuộc vào những nhiễm ô như bất cứ người nào khác. Tuy nhiên, các vị tham khảo những bậc hướng dẫn tâm linh, thực hiện những hành động đúng, thực hành Con Đường, và cuối cùng đạt trạng thái giác ngộ. Thế nên người ta không nên ngã lòng, mà phải thực hành liên tục. Như có nói trong Bodhicaryavatara,

Đã được sanh ra làm một người thuộc một dòng giống như tôi, đã nhận ra cái gì lợi lạc và cái gì họa hại, nếu tôi không từ bỏ hạnh giác ngộ, tại sao tôi sẽ không đạt Giác Ngộ ?

(8) Lời khuyên ngắn gọn

Hỡi con người không sợ hãi, Thế Tôn đã nói rằng tâm là gốc của mọi đức hạnh công đức, thế nên hãy điều phục tâm ngài ; đây là lời chỉ dạy lợi lạc và hữu dụng, thế nên đó là điều cần được nói thêm. 117

Sự thực hành lợi lạc nhất cho những kết quả tạm thời và rốt ráo là như sau. Hễ người ta càng không thể kiểm soát được tâm mình bao nhiêu, thì ngược lại người ta lại bị tâm kiểm soát bấy nhiêu. Tâm người ta lại càng lệ thuộc vào nhiều nhiễm ô. Do điều này, người ta đã tích tập nhiều hành động (nghiệp). Bởi thế, người ta không bao giờ thoát khỏi sanh tử, mà luôn luôn lòng vòng hết sanh đến tử. Thế nên bây giờ người ta phải kiểm soát tâm mình và luôn luôn cẩn thận tránh những nhiễm ô và những đường lối bất thiện. Như thế người ta cần điều phục tâm mình với sự chăm sóc. Nếu người ta làm điều này, người ta sẽ tích tập một lượng lớn đức hạnh, công đức. Đức Phật nói rằng gốc của mọi công đức là điều phục tâm mình. Lại nữa, có nói trong Bodhicaryavatara,

Bằng cách ấy tâm tôi được khéo hộ trì và khéo bảo vệ ; nhiều khổ hạnh có ích lợi gì ngoại trừ sự thực hành giữ gìn tâm.

Thậm chí với một vị tăng ở đơn độc còn khó theo lời khuyên của tôi đã cho ngài : (nhưng) hãy làm cho cuộc đời này có ý nghĩa bằng sự trau dồi phẩm tính của tinh túy bất kỳ thực hành nào ở đây. 118

Người ta cần cố gắng theo mọi giáo huấn được diễn tả trong bức thư này. Tuy nhiên, thậm chí một vị tăng sống một mình trong rừng không có bổn phận nào khác phải làm cũng khó theo mọi điều này. Chắc hẳn người tại gia có nhiều bắt buộc khác sẽ thấy nó cực kỳ khó khăn. Nhưng người ta nên làm thực hành nào họ có thể, như tránh những hành động không đức hạnh, thực hiện những hành động đức hạnh… Theo cách này, cuộc đời chúng ta sẽ có định hướng, ích lợi và không uổng phí. Qua thực hành như vậy, người ta sẽ đạt đến những cõi cao, và không nghi ngờ gì cuối cùng người ta sẽ đạt giác ngộ. Như có nói trong Ratna-vali của Thánh Nagarjuna,

Trước hết, Pháp đưa đến thịnh vượng và hạnh phúc ; sau đó là giải thoát. Do đã có được thịnh vượng và hạnh phúc, giải thoát sẽ dần dần sanh ra.

2. Lời khuyên thực hành Con Đường của Đại thừa

a. Đi vào Con Đường Đại thừa nhờ tùy hỷ với sự biểu lộ của Pháp

Đã tùy hỷ với công đức của tất cả (chúng sanh), cũng đã hồi hướng đức hạnh, thân, lời, tâm của ngài cho sự đạt đến Phật quả, và đã làm chủ toàn bộ yoga, bấy giờ ngài sẽ có vô số sự sanh trong những cõi của chư thiên và loài người nhờ số công đức này. 119-120a

Chư Phật và chư Bồ tát luôn luôn tùy hỷ mọi hành động đức hạnh của những bậc Thánh và của người thường. Tương tự, công đức của mọi hành động đức hạnh được làm qua thân, lời, tâm cần luôn luôn được hồi hướng. Chẳng hạn, người ta nghĩ như sau, “Do công đức của hành động này, nguyện tất cả chúng sanh đạt đến giác ngộ.” Như có nói trong Bodhicarya-vatara,

Chỉ làm những hành động thấy được hoặc không thấy được vì lợi lạc của những người khác ; hãy hồi hướng mọi công đức cho chúng sanh để họ đạt đến giác ngộ.

Nếu người ta hồi hướng những công đức của mình cho sự tốt đẹp của tất cả chúng sanh, người ta sẽ có nhiều, rất nhiều sự sanh tốt lành thuận lợi cho sự đạt giác ngộ. Cũng thế, qua sự làm chủ, thiện nghệ toàn bộ yoga bao gồm định tĩnh, quán chiếu, nhập thiền…, người ta sẽ có vô lượng phẩm tính cho phép họ tri giác Chân Lý.

Hãy sinh như Thánh Quán Thế Âm, qua đức hạnh mình giúp đỡ những người khốn khổ và xua tan bệnh tật, già nua, tham và sân, hãy an trụ vô lượng cuộc đời như bậc Bảo Vệ của Thế Giới, Thế Tôn A Di Đà Phật trong cõi Phật của Ngài. 120b-121


THÁNH QUÁN THẾ ÂM

Nhờ thần lực của những hành động đức hạnh đã làm, người ta cần cố gắng được là như Thánh Quán Thế Âm (Avalokitesùvara), bậc từ thời xa xưa, đã qua thân, lời, tâm của ngài, giúp đỡ vô vàn chúng sanh tuyệt vọng và đặt họ vào con đường đúng. Như thế, sinh trong sanh tử, người ta cần giúp đỡ tất cả chúng sanh để thanh toán khổ đau và nguyên nhân của nó và làm họ trưởng thành để họ có thể đi vào con đường đúng.

Qua thần lực của những hành động đức hạnh đã làm, người ta cần có ý định, thậm chí ngay từ giây phút này, giúp đỡ tất cả chúng sanh đạt giải thoát – như Phật A Di Đà là bậc Cứu Độ Vĩ Đại của chúng sanh. Một ngày nào, người ta sẽ trở thành giống như Phật A Di Đà, bao giờ sanh tử còn hiện hữu, ngài còn ở nơi cõi Phật Cực Lạc của ngài chỉ vì mục đích giúp đỡ tất cả chúng sanh đạt đến giác ngộ. Như Santideva nói trong Bodhicaryavatara,

Bao giờ không gian còn tồn tại và bao giờ chúng sanh còn tồn tại, nguyện tôi còn ở lại để xóa sạch những khổ đau của chúng sanh.

b. Đạt Phật quả và hoàn thành lợi lạc của chúng sanh

Lan truyền đến những cõi của chư thiên, bầu trời và trên mặt đất, danh tiếng vĩ đại không tỳ vết (của ngài) sanh khởi từ huệ, giới và bố thí, đã hàng phục sự thích thú của chư thiên nơi các cõi trời và con người trên mặt đất trong sự hưởng thụ những trinh nữ tuyệt hảo, và đã đạt được Quyền Uy tối cao của những bậc Chiến Thắng dập tắt sự sanh khởi của sợ hãi và cái chết cho vô số chúng sanh phiền não bởi nhiễm ô, hãy đạt được trạng thái không sợ hãi, không tuổi tác, không lỗi lầm, an lạc, chỉ là danh tự, và siêu việt. 122-123


ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ

Bây giờ người ta phải có được trí huệ phân biệt giữa cái hiện tượng và cái tối hậu. Cũng thế, người ta phải tuân thủ kỷ luật đạo đức đã cam kết với những Guru. Khi cho, người ta cần không bám giữ đồ cho, người nhận và người cho, và người ta phải thực hành sự cho mà tuyệt đối không dính dáng gì với cuộc đời và tài sản của mình. Qua những thực hành này, người ta sẽ có danh tiếng bao la lan truyền đến những cõi của chư thiên, và đến mọi góc trên trái đất của con người. Nghe danh tiếng này, tất cả chúng sanh sẽ lìa bỏ những tham đắm của họ và sẽ nghĩ đến từ bỏ vì đã mệt mỏi và chán ghét những điều họ đã làm với cuộc đời họ. Nghĩa là, người ta sẽ giúp phá tan những khổ đau của tất cả chúng sanh đang lệ thuộc vào nhiễm ô và cứu họ khỏi sanh lại trong sanh tử chỉ đưa đến những hành vi và nhiễm ô khác.

Người ta sẽ đạt giác ngộ của môt vị Phật luôn luôn và mãi mãi cứu độ chúng sanh khỏi khổ. Như có nói trong Arya-mahapratiharya-nirdesùa-nama-mahayana-sutra,

Đã từ bỏ vương quốc của mình như người ta nhổ nước bọt, đã ra đi đến ở một nơi hoang vắng, một mình, đã từ bỏ những nhiễm ô và phá hủy Ma, người ta sẽ trở thành một vị Phật toàn thiện – giác ngộ, không tỳ vết và không hợp tạo.

Phật quả người ta sẽ đạt được thì có mọi phẩm tính siêu việt. Tuy nhiên, Phật quả trong tự thân nó thì không hiện hữu bởi vì thật ra bản chất của nó là tánh không, vượt khỏi mọi phẩm tính, vượt khỏi mọi cực đoan có và không, vượt khỏi hoạt động, tư tưởng và biểu lộ. Bởi thế nó chỉ là danh tự. Nó được nói là không sợ hãi bởi vì nó thoát khỏi đe dọa và lo sợ. Nó được nói là không tuổi tác, bởi vì nó thoát khỏi chết và bất kỳ loại vô thường nào. Hơn nữa, nó vô tận. Nhờ đạt Niết bàn này, người ta sẽ trở thành bậc Cứu Độ và Bảo Vệ của tất cả chúng sanh.
 



ĐỨC PHẬT THÍCH CA MÂU NI 


PHỤ LỤC :
BỨC THƯ CỦA BỒ TÁT LONG THỌ 
GỞI CHO VUA GAUTAMIPUTRA

Hỡi con người chánh trực và đáng kính có những đức hạnh, thật đáng cho ngài nghe một số ít bài thánh kệ này mà tôi đã soạn thảo để cho ngài có thể mong ước công đức khởi sanh từ những lời của đấng Thiện Thệ. 1

Ví như, một hình ảnh của đấng Thiện Thệ, nếu nó được làm bằng gỗ hay cái gì đại loại, được những người trí phụng thờ. Cũng thế dù những vần kệ của tôi có thể không duyên dáng, chớ có coi thường nó bởi vì nó đặt nền trên một luận bàn thánh Pháp. 2

Tuy ngài đã nghe và thậm chí đã hiểu nhiều lời của bậc Đại Giác, chẳng phải một lâu đài màu trắng càng trắng hơn bởi trăng khuya ? 3

Ngài cần ghi nhớ trong tâm sáu điều : Phật, Pháp, Tăng, bố thí, giới và chư thiên ; kho những phẩm tính của mỗi cái trong sáu sự nhớ nghĩ này đã được bậc Điều Ngự khéo dạy. 4

Hãy luôn luôn thực hành con đường của mười thiện hạnh (được thực hiện) qua thân, ngữ và tâm ; tránh rượu, và cũng thích thú với một cuộc sống lành mạnh. 5

Biết rằng sung túc thì không bền và không có tự tánh, đáng trao tặng cho những vị tăng, bà la môn, người nghèo và bạn bè những món đồ tặng ; thế nên đối với đời tới không có một người bà con nào tuyệt hảo cho bằng bố thí. 6

Ngài cần thực hành giới luật, nó không hư hại, không thể chê trách, không trộn lẫn và không nhiễm ô – vì giới được nói là nền tảng của mọi đức hạnh, như đất là chỗ nâng đỡ cho cả hai loài hữu tình và vô tình. 7

Hãy tăng trưởng những hoàn thiện vô lượng bố thí, giữ giới, nhẫn nhục, tinh tấn, tập trung, và trí huệ, và như vậy trở thành Chúa Tể của những Bậc Chiến Thắng đã đạt đến bờ bên kia của đại dương sanh tử. 8

Dòng giống của người thờ phụng cha và mẹ thì cùng với dòng giống của Phạm thiên và của những thầy giáo ; nhờ tôn kính họ mà người ta sẽ có tiếng tăm và về sau sẽ đạt đến những cõi cao hơn. 9

Hãy từ bỏ giết hại, trộm cắp, tà dâm, nói dối, rượu, ăn không đúng thời, thích thú ghế giường cao, và mọi loại ca hát, khiêu vũ và hoa. 10

Nếu ngài có tám đặc tánh này giống như đạo đức của một A la hán, bấy giờ, được nuôi dưỡng bởi những lời nguyện, ngài sẽ ban cho những người đàn ông và đàn bà hình sắc đáng ưa của chư thiên cõi dục. 11

Hãy nhìn những cái này như những kẻ thù : keo kiệt, xảo quyệt, lừa dối, tham luyến tư hữu, lười biếng, kiêu mạn, tham luyến tình dục, thù ghét, và kiêu căng về giai cấp, hình sắc, học vấn, tuổi trẻ và quyền lực lớn lao. 12

Bậc Thánh nói rằng chánh niệm là nguồn gốc của sự bất tử và không chánh niệm là nguồn gốc của chết (sanh tử) ; bởi thế để tăng cường đức hạnh của ngài, hãy tận tụy ở trong chánh niệm. Người trước kia không chánh niệm, nhưng về sau trở nên chánh niệm – như Nanda, Angulimala, Ajatasatru và Udayana – cũng sẽ chói sáng như mặt trăng thoát khỏi đám mây. 
 13-14

Bởi vì không có sự hối lỗi nào hơn nhẫn nhục, ngài phải không để cho tức giận có dịp sanh khởi. Đức Phật nói rằng bằng cách bỏ đi giận dữ, người ta sẽ đạt đến cấp độ bất thối chuyển. 15

“Tôi bị những người này lợi dụng, bị họ trói, bị họ đánh bại, họ đã giật tài sản của tôi” ; chứa chấp sự thù địch như vậy sanh ra những tranh chấp, nhưng người bỏ đi sự chứa chấp thù địch ngủ một cách hạnh phúc. 16

Hãy biết rằng tâm giống như một hình vẽ trên mặt nước, trên đất hoặc trên đá ; cái đầu tiên trong ba cái là tốt nhất cho những ai có nhiễm ô, và cái cuối cùng cho những ai mong muốn đạo. 17

Bậc Chiến Thắng tuyên bố rằng dịu dàng, chân thật và sai lầm là ba loại lời nói của con người – những lời nói như vậy giống như mật, hoa và đồ bẩn. Hãy từ bỏ cái chót trong ba cái. 18

Có bốn loại người được xem là đi từ : ánh sáng đến ánh sáng cùng cực ; bóng tối đến bóng tối cùng cực ; ánh sáng đến bóng tối cùng cực và bóng tối đến ánh sáng cùng cực ; hãy là loại người đầu tiên. 19

Những con người cần được hiểu giống như những trái xoài : chưa chín nhưng có vẻ chín, chín nhưng có vẻ chưa chín, chưa chín và có vẻ chưa chín, và chín và cũng có vẻ chín. 20

Chớ nhìn ngó vợ người khác ; tuy nhiên khi thấy họ, hãy nghĩ theo tuổi của họ : như mẹ mình, em mình, hay chị mình. Nếu tham dục vẫn còn, bấy giờ hãy thiền định về bất tịnh. 
 21

Hãy bảo vệ tâm bất định như (ngài bảo vệ) sự học vấn, một đứa con trai, một kho tàng, hay mạng sống ; hãy rút tâm ra khỏi những khoái lạc như (ngài rút lui) khỏi một con rắn độc, thuốc độc, một vũ khí, một kẻ thù hay lửa. 22

Đấng của những bậc Chiến Thắng đã tuyên bố rằng những tham muốn thì giống như những trái Kimbu, vì chúng là nguyên nhân của thống khổ ; bởi vì những xích sắt này cột trói những người còn mê muội trong ngục tù của sanh tử, hãy từ bỏ chúng. 23

Giữa người chinh phục sự tham muốn vào những đối tượng thoáng chốc và bất định của sáu giác quan và người chinh phục quân thù nơi chiến trường, người trí biết người thứ nhất là một anh hùng vĩ đại hơn nhiều. 24

Hãy nhìn thân thể của một cô gái trẻ nếu không có đồ trang sức (và áo quần) thì giống như một bình chứa hoàn toàn bất tịnh phủ bằng da, khó thích thú, bốc mùi hôi, và với những thứ dơ bẩn thoát ra từ chín cửa. 25

Hãy biết rằng cũng như một người bệnh cùi đầy chí rận hoàn toàn nương dựa vào lửa để có được hạnh phúc, tương tự sự bám níu vào những tham muốn sẽ không đem lại an vui. 
 26

Hãy khéo léo trong việc tri giác đúng những sự vật với cái hiểu về Chân Lý Tối Hậu, bởi vì không có thực hành nào khác có phẩm tính tương đương. 27

Người có giai cấp cao, hình sắc đẹp đẽ và có học không được tôn trọng nếu nó không có trí huệ và đạo đức ; tuy nhiên người có hai phẩm tính này, dù không có những phẩm tính kia, thì được tôn sùng. 28

Hỡi người hiểu biết thế giới, tám pháp thế gian – được, mất, sung sướng, bất hạnh, lời ngọt ngào, lời thô nặng, khen, chê – cần được xem đều không xứng đáng ở trong tâm ngài như nhau. 29

Chớ phạm những tội lỗi vì những bà la môn, những nhà sư, chư thiên, những người khách, cha mẹ, con cái, hoàng hậu, hay những người hầu, bởi vì không có người nào khác chia xẻ kết quả địa ngục. 30

Dù một số hành vi tội lỗi được thực hiện sẽ không làm ngài bị thương tức khắc như một vũ khí, kết quả từ những hành động tội lỗi ấy sẽ trở nên biểu lộ khi thời gian cái chết ập đến. 31

Bậc Đại Trí nói rằng đức tin, giới luật, bố thí, học hỏi, tự hổ thẹn, hổ thẹn với người khác và trí là bảy tài sản không tỳ vết (bảy thánh tài) ; hãy nhận biết những tài sản thông thường là không nghĩa lý. 32

Hãy từ bỏ sáu cái này đưa đến mất danh tiếng và sanh trong những trạng thái xấu : hoang phí, tham dự vào những lễ hội, lười biếng, chơi với bạn tội lỗi, rượu và đi trong ban đêm. 33

Bậc Đạo sư của trời và người nói rằng hài lòng là tuyệt hảo nhất trong mọi sự giàu có, thế nên hãy luôn luôn hài lòng ; nếu hài lòng với sự không giàu có, người ta thật sự giàu có. 34

Hỡi đức vua hào hiệp, cũng như kẻ cao nhất trong loài Rồng chịu khổ theo số cái đầu nó có, cũng vậy người ta khổ đau theo số tài sản người ta giành được ; tuy nhiên, không như vậy đối với người ít tham muốn. 35

Hãy tránh ba loại vợ này : người như kẻ đao phủ, hợp với kẻ thù một cách tự nhiên ; người như một nữ hoàng, không kính trọng chồng ; và người như một tên trộm, lấy trộm cả những vật nhỏ. Loại người vợ đáng tôn kính như một vị thần gia đình là người tốt lòng như một người chị, người thân thiết như một người bạn, người mong muốn sự lợi lạc của ngài như một người mẹ, hay người phục tùng ngài như một người hầu. 36-37

Hiểu thực phẩm giống như thuốc uống, không dùng nó với sự ghét bỏ, tham luyến, không vì cường tráng, kiêu căng hay sắc đẹp, mà chỉ để duy trì thân xác. 38

Hỡi con người chính trực, sau khi trải qua suốt cả ngày và phần bắt đầu và phần cuối của đêm, hãy chỉ ngủ một cách tỉnh giác vào khoảng giữa, thế nên thậm chí thời gian ngủ sẽ không là vô ích. 39

Luôn luôn thiền định đúng đắn về từ, bi, hỷ, xả ; dù (trạng thái) tối thượng không đạt được bằng cách này, thì vẫn sẽ đạt được hạnh phúc của thế giới Phạm thiên. 40

Đã từ bỏ những lạc thú, niềm vui và khổ của cõi dục nhờ bốn tập trung, những cấp độ may mắn của chư thiên – Brahma (Phạm thiên), Abhasvara (Quang Âm thiên) Subhakrtsna (Biến Tịnh thiên) và Brhatphala (Quảng Quả thiên) – sẽ đạt được. 41

Từ nền tảng của năm yếu tố lớn này – kiên trì, ý định, không nghịch lại, phú bẩm những phẩm tính, và những việc hảo tâm – những hành vi đức hạnh và không đức hạnh sanh khởi (rất nhiều) ; bởi thế, hãy cố gắng làm những hành động đức hạnh. 42

Hãy hiểu rằng một lượng nhỏ muối làm thay đổi vị của một ít nước trong khi không thể làm thay đổi vị của sông Hằng ; tương tự, một hành vi tội lỗi nhỏ sẽ không làm hư hỏng nổi một cội gốc công đức lớn lao. 43

Hãy ý thức rằng năm chướng ngại này là những tên trộm cướp đi sự giàu có của công đức : láo xược và hối tiếc, những tư tưởng làm hại, lãnh đạm và buồn ngủ, tham đắm và nghi ngờ. 44

Hãy siêng năng thực hiện năm thực hành tuyệt hảo nhất – đức tin, tinh tấn, chánh niệm, định và trí huệ. Những cái này được gọi là sức mạnh, thần lực và cũng là đỉnh được đạt đến. 45

“Những hành động (nghiệp) như thế do chính tôi làm là nguyên nhân không vượt khỏi được bệnh, già, chết và chia ly với người thân”. Tự phụ sẽ không sanh khởi nhờ sự chỉnh sửa của tư tưởng này được lập đi lập lại. 46

Hãy theo chánh kiến nếu mong muốn cõi cao và giải thoát, vì dù cho những người làm nhiều hành vi phước đức nhưng qua tà kiến cũng sẽ có những hậu quả kinh khủng. 47

Hãy biết rằng thực ra con người là không hạnh phúc, vô thường, không có tự ngã, và bất tịnh ; những ai bỏ rơi chánh niệm thì bị hủy hoại do thấy sai bốn điều này. 48

Như có nói : “Sắc không là tự ngã, tự ngã không sở hữu sắc, tự ngã không ở trong sắc, và sắc không ở trong tự ngã”, theo cách này hãy hiểu rằng bốn uẩn còn lại cũng là trống không. 49

Hãy biết rằng các uẩn không sanh ra từ dịp may, thời gian, Tự Nhiên, tính chất nội tại, Thượng Đế, cũng không phải không nguyên nhân, mà từ những hành vi vô minh và sự khao khát. 50

Hãy hiểu ba cái này là những trói buộc (vào sanh tử) và là những chướng ngại chặn kín những cổng vào thành phố của giải thoát : chỉ bám cứng đạo đức và khổ hạnh, cái thấy sai lầm về cá thể tự ngã và nghi ngờ. 51

Bởi vì giải thoát tùy thuộc vào chính mình chứ không tùy thuộc vào sự giúp đỡ nào của những ai khác, hãy trau dồi chân lý có bốn ngành qua việc học hỏi, giới luật và tập trung. 52

Hãy luôn luôn được điều phục trong giới cao nhất, huệ cao nhất và thiền định cao nhất ; có hơn một trăm năm mươi giới luật hoàn toàn bao gồm trong ba cái này. 53

Hỡi đức vua, chánh niệm về thân thể được đấng Thiện Thệ dạy là con đường độc nhất (đến giải thoát). Bởi vì mất chánh niệm sẽ hủy hoại mọi đức hạnh, hãy khéo giữ gìn nó một cách kiên định. 54

Cuộc đời thì vô thường bởi vì nó đầy dẫy những rủi ro như một bong bóng nước gặp phải cơn gió ; đến độ người ta thở vào được sau khi đã thở ra hoặc việc thức dậy từ một giấc ngủ là điều kỳ diệu. 55

Hãy biết rằng thân thể không bản chất này vào lúc cuối cùng – thành tro tàn, khô, thối hay dơ bẩn – sẽ hoàn toàn bị hủy hoại và biến mất và những cái cấu thành nó phân tán hết.56

Bởi vì không chỉ còn lại tro bụi mà mọi sự vật – trái đất, núi Tu Di và các đại dương – sẽ bị thiêu đốt bởi ngọn lửa của bảy mặt trời (vào lúc hoại kiếp), đâu thể nói gì về con người quá đỗi yết ớt này. 57

Hỡi người trổi vượt nhất của những con người, bởi vì mọi sự là vô thường, không có tự ngã, không có chỗ để nương dựa, không có ai bảo vệ, và không có nơi chốn nào để ở, hãy giải thoát tâm ngài khỏi sanh tử như cây mã đề không lõi. 58

Hỡi bậc quân vương, hãy làm cho đời người này được lợi lạc bằng cách thực hành Thánh Pháp, vì có được một tái sanh làm người khỏi những cảnh giới loài thú thì còn khó hơn một con rùa chui cổ vào một cái ách gỗ phiêu dạt giữa đại dương. 59

Đã có được một tái sanh làm người, người phạm những tội lỗi thì còn ngu dại hơn người mửa vào bình vàng nạm châu báu. 60

Ngài có bốn điều kiện lớn : ở trong một nơi chốn thích hợp, nương dựa vào những bậc Thánh, đã có thực hành trong những đời trước, và tích tập công đức. 61

Bậc Đại Trí nói rằng sự nương dựa vào một bạn đạo sẽ làm cho hoàn tất con đường đưa đến thánh quả. Bởi vì rất nhiều người đã đạt đến an lạc nhờ nương dựa vào bậc Chiến Thắng, hãy nương dựa vào những bậc Thánh. 62

Người nào sanh làm người tà đạo, thú vật, quỷ đói, chúng sanh địa ngục, người hoang dã, ngu đần, vị trời sống lâu hay nơi không có giáo pháp từ một đức Phật, được nói là sinh trong tám trạng thái khuyết điểm và không thuận lợi. Đã được cơ hội không bị lọt vào những cái đó, thì hãy cố gắng chấm dứt sự bị sanh lại. 63-64

Hãy lo buồn đối với sanh tử, nó là nguồn gốc của nhiều khổ đau, như không có cái mình muốn, chết, bệnh, già v.v…, và cũng hãy nghe nói về những lỗi lầm của nó. 65

Không có những chắc chắn nào trong sanh tử, bởi vì những người cha trở thành những đứa con, những mẹ thành vợ, và những kẻ thù thành bạn ; cũng thế có thể xảy ra điều ngược lại. 66

Mỗi người đã uống sữa mẹ nhiều hơn nước bốn biển ; bởi vì những người thế gian cứ đi theo người thường tục, họ sẽ phải còn uống nhiều hơn thế. 67

Mỗi người đã có một đống xương lớn ngang bằng hay cao hơn núi Tu Di ; cũng như số người mẹ (người ta đã có) thì những hạt đất của cả trái đất này cũng không thể tính cho đủ. 68

Đã trở thành Đế Thích, hưởng sự tôn kính của thế giới, người ta sẽ lại rơi xuống đất vì sức mạnh của những hành vi trước kia ; thậm chí đã có lúc trở thành một bậc quân vương vũ trụ, người ta sẽ có lúc trở thành một người tôi tớ của một người tôi tớ trong sanh tử. 69

Đã lâu nếm trải hạnh phúc vuốt ve thân thể và ngực vú của những trinh nữ cõi trời, rồi lại lần nữa sẽ phải trải qua sự xúc chạm rất khủng khiếp của những hình cụ phá vỡ và cắt đứt những bộ phận của người ta trong địa ngục. 70

Đã lâu ở trên đỉnh của núi Tu Di, nơi chân người ta xúc chạm với bề mặt dễ chịu và thích ý, hãy xem xét rằng sự thống khổ kinh khủng của việc bước đi trong than hồng và trên những thân xác thối rữa lại được kinh nghiệm. 71

Đã đến những khu vườn đẹp đẽ và chơi đùa vui vẻ với những trinh nữ cõi trời hầu hạ, chân, tay, tai và mũi của người ta lại sẽ bị cắt bởi những lá sắc như lưỡi gươm trong những khu vườn của địa ngục. Đã đi vào sông Mandakini của những thiên nữ đầy hoa sen vàng đẹp đẽ, một lần nữa lại phải đi vào sông Vaitarani muối nóng và khó chịu đựng. 72-73

Đã có được hạnh phúc rất lớn của các vị trời cõi dục hay hạnh phúc bình thản của Phạm thiên, rồi sự khổ đau tương tục trở thành nhiên liệu cho lửa địa ngục Avici sẽ lại phải chịu đựng. Đã đạt đến trạng thái mặt trời hay mặt trăng và chiếu sáng toàn thể thế giới bởi ánh sáng của thân thể mình, một lần nữa lại đi vào bóng tối đen đặc đến độ bàn tay mình đưa ra cũng không thể thấy. 74-75

Bởi vì ngài sẽ phải khổ đau như vậy, hãy cầm lên ngọn đèn sáng của đức hạnh ba phần ; (nếu khác đi), ngài sẽ phải một mình đi vào bóng tối không cùng mà mặt trời hay mặt trăng không thể phá hủy. 76

Những chúng sanh phạm tội sẽ luôn luôn đau khổ trong những địa ngục : Samjiva, Kalasutra, Pratapana, Samghata, Raurava, Avici v.v… 77

Có một số người bị ép như ép mè, những người khác bị nghiền như nghiền bột ; một số bị cắt bởi những lưỡi cưa ; cũng vậy những người khác bị tách xẻ bằng những lưỡi rìu sắc. 78

Trong khi một dòng đồng nấu chảy rót vào trong một số người, số người khác bị đâm xuyên bằng những cây thương ngạnh sắt nóng cháy. 
 79

Một số với tay lên trời bị chế ngự bởi những con chó dữ tợn với răng nanh bằng sắt ; trong khi những người khác, bất lực, bị mổ bởi những con quạ với những móng vuốt kinh khủng và những mỏ nhọn bằng sắt. Một số, được dùng như thức ăn, đau đớn kêu la khi những con giòi và bọ chạm đến, ruồi nhặng và ong ăn thịt gây ra những vết thương lớn. 80-81

Lại nữa, một số với miệng há hốc thường cháy bỏng trong những đống lửa ; trong khi một số, đầu bị đè xuống, bị nấu như một đống gạo trong những vạc sắt. 82

Đã nghe sự khổ đau vô lượng của địa ngục, những người tội lỗi mà bản chất cứng như kim cương thì không chịu vỡ tan thành ngàn mảnh ; (nhưng) chỉ giữa sự bắt đầu và chấm dứt của một hơi thở cũng đủ cho họ tái sanh vào địa ngục. Khi sợ hãi khởi sanh do nghĩ tưởng những hình ảnh hay thấy những bức tranh về địa ngục, đọc, nhớ hay nghe về nó – thế thì nếu người ta sẽ trải nghiệm những hậu quả kinh khủng như vậy, bấy giờ không cần nói gì nữa. 83-84

Cũng chắc chắn như sự thoát khỏi bám luyến sanh ra hạnh phúc tuyệt hảo nhất trong mọi hạnh phúc, chắc chắn sự khổ đau rất khủng khiếp của Địa ngục A Tỳ (Avici) (là cái xấu nhất) trong mọi khổ đau. Những khổ đau người ta chịu đựng do bị đâm bằng ba trăm ngọn giáo trong một ngày ở thế giới này cũng chẳng thể nào so sánh với một phần nhỏ sự khổ đau của địa ngục. 85-86

Như thế, người ta sẽ kinh nghiệm khổ đau rất khủng khiếp trong một trăm triệu năm, vì bao giờ sức mạnh của những hành vi bất thiện ấy chưa hết, thì người ta chưa ra khỏi cuộc sống địa ngục. 87

Bởi thế, bằng sự khéo léo của ngài hãy cố gắng không tạo ra lỗi lầm dù nhỏ như một hạt bụi – hạt giống của những quả bất thiện này – qua thân, lời và tâm ngài. 88

Những người từ bỏ đức hạnh làm nhân cho an bình sẽ sanh vào những cõi thú nơi có nhiều khổ đau khủng khiếp, như : ăn lẫn nhau, bị giết, bị trói, bị đánh đập v.v… 89

Một số bị giết vì ngọc trai, lông, xương, thịt hay da ; trong khi số khác đành chịu bị sử dụng bằng đánh, đá, roi hay đâm thọc bằng móc sắt. 90

Trong loài quỷ đói, khổ đau liên tục, không bớt, được sanh ra do không có những đối tượng thích muốn. Những khổ đau rất kinh khủng tạo ra bởi sợ hãi, đói, khát, lạnh, nóng và mệt lử sẽ phải chịu đựng. 91

Một số khổ sở vì đói, thậm chí không thể ăn một miếng thức ăn thừa và bẩn, vì họ có một cái miệng chỉ bằng lỗ kim và một bao tử lớn như trái núi. 92

Một số giống như phần trên cùng của cây thốt nốt khô, trần truồng với thân bằng da và xương ; trong khi một số với những ngọn lửa ban đêm phụt ra từ miệng họ, ăn ngấu nghiến thức ăn của cát nóng đỏ lọt vào trong miệng họ. 93

Một số nghèo đói thậm chí không thể tìm thấy thức ăn bất tịnh như mủ, phân, máu… đánh vào mặt nhau, họ ăn mủ của những bướu cổ chín mọc ra từ cổ họng của họ. 94

Đối với họ mặt trăng cũng là nóng vào mùa hè, và dù mặt trời cũng là lạnh vào mùa đông ; những cây trở thành không có trái và những dòng sông khô cạn trong cái nhìn của họ. 95

Đã chịu đựng khổ đau không dứt, một số cá nhân – bị sợi thòng lọng của những hành vi xấu đã phạm cột chặt – sẽ không chết trong năm ngàn hay thậm chí mười ngàn năm. 96

Đức Phật nói, “Dù những khổ đau mà những quỷ đói kinh nghiệm là đa dạng, chúng vẫn là một vị ; nguyên nhân là sự hà tiện, keo kiệt và đê tiện của người ta.” 97

Lại nữa, (như một kết quả) của những lạc thú lớn lao trong những cõi trời, sự khổ đau của cái chết và chuyển kiếp là lớn lao hơn ; đã suy gẫm như vậy, những người cao thượng không nên khao khát cõi trời, nó sẽ có lúc chấm dứt. 98

Hình sắc thân thể họ trở nên xấu xí, họ không muốn ngồi, những vòng hoa trên người tàn héo, y phục họ trở nên bẩn thỉu, và mồ hôi xuất hiện trên người họ – (tất cả những điều này) trước đây chưa từng xảy ra. Cũng như trên trái đất những dấu hiệu của sự chết báo trước cái chết đang đến với một người, thì năm dấu hiệu trên báo tin cái chết và sự chuyển kiếp của chư thiên đang ở trong cõi trời. 99-100

Nếu không còn phước đức khi họ chuyển di từ những thế giới của chư thiên, bấy giờ một cách bất lực, họ sẽ làm hoặc là thú vật, quỷ đói hay cư dân của địa ngục. 101

Lại nữa, trong những bán thiên, có sự khổ đau lớn lao nơi tâm trí vì sự xung đột tự nhiên đối với sự rực rỡ của chư thiên ; dù họ cũng thông minh nhưng họ không thấy được sự thật do bức màn của Nghiệp của họ. 102

Sanh tử là như vậy, thế nên sanh là bất hạnh dù ở đâu, giữa chư thiên, loài người, cư dân của địa ngục, quỷ đói hay thú vật. Hãy nhận thức rằng sanh là cái chứa đựng nhiều bệnh hoạn. 103

(Như ngài) dập tắt một ngọn lửa nếu nó thình lình bắt cháy trên áo quần hay trên đầu ngài, cũng thế hãy nỗ lực chấm dứt sự tái sanh qua những hành vi từ bỏ – vì không có mục tiêu nào khác tuyệt hảo hơn điều này. 104

Qua giới, huệ và định hãy đạt được trạng thái Niết bàn an lạc, bình thản và không một vết dơ, nó thì không tuổi tác, không chết, không cạn kiệt, và không có đất, nước, lửa, không khí, mặt trời và mặt trăng. 105

Bảy chi này của giác ngộ – niệm, phân biệt các pháp, tinh tấn, hỷ, tịnh hóa, định và xả – là sự tích tập đức hạnh (hay công đức), sự tích tập công đức này là nguyên nhân của đạt được Niết bàn. 106

Không có huệ thì không có định, và ngược lại, không có định thì cũng không có huệ ; nhưng với người có hai cái này, đại dương sanh tử được biến thành như (nước ở trong) một dấu chân bò. 107

Mười bốn câu hỏi mà bậc Dòng Dõi của Mặt Trời tuyên bố là không thể nói ra trong thế gian thì không khơi dẫn sự an bình của tâm, thế nên chớ suy nghĩ tìm tòi về chúng. 108

Bậc Đại Trí tuyên bố, “Từ vô minh sanh những thiên hướng (hành), từ những thiên hướng sanh thức, từ thức sanh danh và sắc, từ danh sắc sanh sáu giác quan, từ những giác quan sanh tiếp xúc, từ tiếp xúc sanh cảm thọ, từ nền tảng của cảm thọ sanh khao khát, từ khao khát sanh bám giữ, từ bám giữ sanh trở thành, từ trở thành sự sanh xảy ra – nếu có sanh, bấy giờ một đống rất lớn khổ đau tiếp theo, như lo buồn, bệnh tật, già nua, thất vọng, sợ chết… ; tuy nhiên, bằng cách chấm dứt sanh, tất cả những cái ấy sẽ dừng dứt. 109-111

(Giáo Pháp) Duyên Sanh này là kho tàng sâu xa và quý báu của lời dạy của bậc Chiến Thắng ; người thấy đúng cái này (Duyên Sanh) thì thấy Phật tối thượng, bậc Hiểu Biết Thực Tại. 112

Để đạt an lạc, hãy thực hành tám phần này của Con Đường : cái thấy chân chánh, đời sống chân chánh, nỗ lực chân chánh, niệm chân chánh, định chân chánh, lời chân chánh, hành động chân chánh và tư tưởng chân chánh. 113

Sanh này là khổ ; khao khát được gọi là nguồn gốc lớn lao của khổ ấy ; sự dừng dứt của khổ là giải thoát ; và con đường đạt đến giải thoát ấy là Con Đường Tám Ngành Cao Cả. Thế nên trong cách này, hãy luôn luôn cố gắng thực hiện Bốn Chân Lý Cao Cả, vì thậm chí người tại gia sống trong lòng của sự giàu có vẫn vượt qua dòng sông của những nhiễm ô nhờ cái hiểu biết này. 114-115

Những người đã thấu hiểu, thể nghiệm Chân Lý không từ trời rơi xuống cũng không từ đất vọt lên như hạt mầm, vì họ trước kia cũng là những người lệ thuộc vào những nhiễm ô 116

Hỡi con người không sợ hãi, Thế Tôn đã nói rằng tâm là gốc của mọi đức hạnh công đức, thế nên hãy điều phục tâm ngài ; đây là lời chỉ dạy lợi lạc và hữu dụng, thế nên đó là điều cần được nói thêm. 117

Thậm chí với một vị tăng ở đơn độc còn khó theo lời khuyên của tôi đã cho ngài : (nhưng) hãy làm cho cuộc đời này có ý nghĩa bằng sự trau dồi phẩm tính của tinh túy bất kỳ thực hành nào ở đây. 118

Đã tùy hỷ với công đức của tất cả (chúng sanh), cũng đã hồi hướng đức hạnh, thân, lời, tâm của ngài cho sự đạt đến Phật quả, và đã làm chủ toàn bộ yoga, bấy giờ ngài sẽ có vô số sự sanh trong những cõi của chư thiên và loài người nhờ số công đức này. 119-120a

Hãy sinh như Thánh Quán Thế Âm, qua đức hạnh mình giúp đỡ những người khốn khổ và xua tan bệnh tật, già nua, tham và sân, hãy an trụ vô lượng cuộc đời như bậc Bảo Vệ của Thế Giới, Thế Tôn A Di Đà Phật trong cõi Phật của Ngài. 120b-121

Lan truyền đến những cõi của chư thiên, bầu trời và trên mặt đất, danh tiếng vĩ đại không tỳ vết (của ngài) sanh khởi từ huệ, giới và bố thí, đã hàng phục sự thích thú của chư thiên nơi các cõi trời và con người trên mặt đất trong sự hưởng thụ những trinh nữ tuyệt hảo, và đã đạt được Quyền Uy tối cao của những bậc Chiến Thắng dập tắt sự sanh khởi của sợ hãi và cái chết cho vô số chúng sanh phiền não bởi nhiễm ô, hãy đạt được trạng thái không sợ hãi, không tuổi tác, không lỗi lầm, an lạc, chỉ là danh tự, và siêu việt. 122-123
 

NHỮNG SÁCH CỦA THIỆN TRI THỨC ĐÃ XUẤT BẢN 
Thiện Tri Thức

Những Khai Thị Từ Đức Liên Hoa Sanh Về Con Đường Đại Toàn Thiện – Padmasambhava
Trí Huệ Và Đại Bi – Dalai Lama Thứ 14
Một Tia Sấm Chớp Sáng Trong Đêm Tối – Dalai Lama Thứ 14
Kho Tàng Tâm Của Các Bậc Giác Ngộ – Dilgo Khyentse
Đại Toàn Thiện Tự Nhiên – Khenpo Nyoshul
Con Đường Đến Tự Do Vô Thượng – Dalai Lama Thứ 14
Con Đường Kim Cương Thừa Về Sự Tịnh Hóa – Lama Yeshe
Cuộc Đời Siêu Việt Của 16 Vị Tổ Karmapa Tây Tạng – Karma Thinley
Mật Thừa Tây Tạng – Tsong Khapa và Dalai Lama Thứ 14
Những Yoga Tây Tạng Về Giấc Mộng Và Giấc Ngủ – Tenzin Wangyal Rinpoche
Những Giáo Huấn Của Gampopa – Lama Yeshe Gyamtso và Evans Wentz
Tu Hành Tâm Linh Liên Hệ Với Trung Ấm – Tulku Pema Wangyal
Năng Lực Chữa Lành Của Tâm – Tulku Thondup
Phật Tâm – Longchen Rabjam
Milarepa ¬– Lobsang P. Lhalungpa
Con Đường Căn Bản Đến Giác Ngộ – Chošgyam Trungpa
Tử Thư Tây Tạng – Chošgyam Trungpa và Francesca Fremantle
Nghệ Thuật Để Sống Trọn Vẹn Ý Nghĩa Cuộc Đời – Akong Tulku Rinpoche
Đại Ấn – Karmapa Thứ Chín Wangchug Dorje
Sông Lửa Sông Nước – Taitetsu Unno
Vài Chú Giải Về Thiền Đốn Ngộ – Nguyên Giác Phan Tấn Hải
Một Kho Tàng Các Giáo Huấn Siêu Việt – HH. Orgyen Kusum Lingpa
Bát Nhã Tâm Kinh Thiền Giải – Đương Đạo
Những Chữ Vàng – Garab Dorje
Bức Thư Bồ Tát Long Thọ Gởi Cho Vua Gautamiputra – Sakya Trizin
Yoga Giấc Mộng Và Sự Thực Hành Ánh Sáng Tự Nhiên – Namkhai Norbu
Tịnh Độ Tư Tưởng Luận – Các đại sư Tịnh Độ Trung Hoa
Uống Dòng Suối Núi – Milarepa
Đức Đạt Lai Lạt Ma Nói Về Chúa Giêsu – Dalai Lama Thứ 14
Mười Tư Tưởng Pháp Hoa Trong Đời Sống Hàng Ngày – Đương Đạo
Tánh Giác Lộ Toàn Thân – Karma Chagmé

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap