C.
QUAN SÁT NHỮNG PHẨM TÍNH TUYỆT HẢO
CỦA
NIẾT BÀN VÀ THỰC HÀNH CON ĐƯỜNG ĐẠT ĐẾN NIẾT BÀN
1.
Lời khuyên tổng quát về mọi kỷ luật dẫn đến Niết bàn
a.
Nỗ lực đạt đến Niết bàn
(Như
ngài) dập tắt một ngọn lửa nếu nó thình lình bắt cháy
trên áo quần hay trên đầu ngài, cũng thế hãy nỗ lực chấm
dứt sự tái sanh qua những hành vi từ bỏ – vì không có
mục tiêu nào khác tuyệt hảo hơn điều này. 104
Đạt
đến Niết bàn là một tiến trình lâu dài, thế nên người
ta cần bắt đầu càng sớm càng tốt. Nếu đầu hay áo quần
người ta bắt lửa, bấy giờ người ta tức thời dập tắt
nó. Tương tự, người ta phải cố gắng hết sức để chấm
dứt tái sanh trong sanh tử, sự tái sanh ấy là kết quả của
những hành vi và những nhiễm ô. Sanh tử là gốc rễ của
mọi bệnh hoạn, và để chấm dứt nó, người ta cần thực
hành Con Đường, vì không có cái gì tuyệt hảo hơn nó.
Qua
giới, huệ và định hãy đạt được trạng thái Niết bàn
an lạc, bình thản và không một vết dơ, nó thì không tuổi
tác, không chết, không cạn kiệt, và không có đất, nước,
lửa, không khí, mặt trời và mặt trăng. 105
(i)
giới (Skt. sila)
(ii)
huệ (Skt. prajna
(iii)
định (Skt. dhyana)
Qua
thực hành ba cái này, chúng là ba nguyên nhân chánh để đạt
được Niết bàn, người ta sẽ thành tựu bình an. Niết bàn
có hai loại. Thứ nhất là Niết bàn không có nền móng (vô
dư Niết bàn), Niết bàn không có năm uẩn, Niết bàn tối
hậu, nirupadhisesanirvana. Thứ hai là Niết bàn với nền móng,
sopadhisesanirvana (hữu dư Niết bàn) ; nghĩa là Niết bàn với
năm uẩn dù tánh không của chúng đã được chứng ngộ.
Cái
thứ nhất thoát khỏi năm uẩn, chúng đã cạn kiệt và tắt
hẳn. Người ta đạt đến sự bình an của Niết bàn. Cái
thứ hai bao gồm sự chứng ngộ tánh không ; dù người ta còn
có các uẩn, chúng sẽ bị để lại đằng sau vào lúc chết.
Cả
hai được gọi là thanh tịnh và trong sáng, vì những nhiễm
ô đã bị thanh toán. Từ lúc đó trở đi, không có già, nên
nó được gọi là không tuổi tác. Nó cũng được gọi là
bất tử, vì không còn sự chết nữa. Nó là không tận, không
màu sắc và không hình dáng. Trạng thái người ta sẽ đạt
đến thì không có bốn nguyên tố, mặt trời và mặt trăng.
Điều này được nói bởi vì trong một số triết học Ấn
Độ mục đích là sự hợp nhất của những nguyên tố, và
mặt trời mặt trăng… Để chỉ ra giải thoát là vô tướng,
điều này được nói.
Hơn
nữa, cả hai Niết bàn thoát khỏi hoạt động của tư tưởng,
tạo tác ý niệm và xao lãng.
b.
Lời khuyên tích tập cái cần thiết để đạt Niết bàn
(1)
Thực hành bảy chi của giác ngộ
Bảy
chi này của giác ngộ – niệm, phân biệt các pháp, tinh tấn,
hỷ, tịnh hóa, định và xả – là sự tích tập đức hạnh
(hay công đức), sự tích tập công đức này là nguyên nhân
của đạt được Niết bàn. 106
Có
bảy phần đặc biệt của con đường đến giải thoát, chúng
được gọi là bảy chi của giác ngộ.
(1)
Niệm, nó không quên cái nhìn thấy chân lý, là chi của sự
an trụ trong cấp độ của địa thứ nhất.
(2)
Huệ phân biệt các pháp là chi của tính cách nội tại.
(3)
Tinh tấn làm khởi những hành động đức hạnh là chi của
giải thoát.
(4)
Hỷ, nó là hạnh phúc của tâm do chứng ngộ là chi của lợi
lạc và công đức.
(5)
Tịnh hóa, nó sửa chữa những hành động của thân và tâm,
là chi của sự không bị nhiễm ô.
(6)
Những trạng thái thiền là sở hữu của một tâm trong sáng
và thiền định là chi của sự không sanh khởi những nhiễm
ô.
(7)
Xả thì thoát khỏi buồn ngủ (hôn trầm) và xao lãng (phóng
dật) là chi của sự không dính dáng với bất cứ nhiễm ô
nào.
Bảy
phần này của con đường đến giác ngộ là những nguyên
nhân của sự đạt được Niết bàn.
(2)
Chỉ ra rằng Niết bàn đạt được nhờ sự phối hợp của
định tĩnh (Chỉ) và quán chiếu (Quán)
Không
có huệ thì không có định, và ngược lại, không có định
thì cũng không có huệ ; nhưng với người có hai cái này,
đại dương sanh tử được biến thành như (nước ở trong)
một dấu chân bò. 107
(i)
định, tập trung (ở đây trong nghĩa tĩnh lặng, Skt. dhyana).
(ii)
huệ (ở đây trong nghĩa quán chiếu, Skt. prajna).
Không
có huệ người ta không thể có định đúng. Điều này bởi
vì mọi “phẩm tính siêu việt và thế gian” được đạt
đến nhờ trí huệ. Như Acarya Nagarjuna nói,
Trí
huệ là gốc của mọi phẩm tính thấy được và không thấy
được ; bởi thế người ta phải nắm giữ trí huệ một
cách trọn vẹn để đạt được cả hai.
Ngược
lại không có định người ta không thể có huệ. Trí huệ
này là sự thấu hiểu tánh không.
Trước
khi người ta có thể có trí huệ, người ta phải có sự an
tĩnh của cả thân và tâm do tập trung. Nghĩa là, người ta
phải có nền tảng của định để có được sự chứng ngộ
tánh không. Thiền giả nào có cả hai chánh định và chánh
huệ sẽ làm cho đại dương sanh tử khô cạn rất nhanh chóng
– như nước trong một dấu chân bò trên đất. Người cả
hai định và huệ phối hợp có thể nhổ hẳn gốc rễ sanh
tử.
Chủ
yếu người ta phải thiền định về trí huệ. Dù cho người
ta có thể có nhiều phẩm tính kỳ diệu khác, nhưng trừ phi
người ta có sự thấu hiểu chân thật về tánh không, còn
thì người ta vẫn cứ không thể thanh toán được nguyên nhân
của sanh tử. Gốc rễ của sanh tử là sự bám níu. Như có
nói trong Kinh Samadhiraja,
Người
thế gian không thể phá hủy tri giác về tự ngã dù cho họ
có nhập định. Sau khi (nhập định như vậy) tâm họ lại
bị xao động bởi những nhiễm ô như trước. Nếu người
ta tìm kiếm bằng thiền định sự vô ngã nơi các pháp kể
cả tự ngã, bấy giờ công việc này sẽ là nguyên nhân cho
quả Niết bàn và bất cứ nguyên nhân nào khác sẽ không làm
hiển lộ an lạc.
(3)
Từ bỏ suy nghĩ tìm tòi về cái không thể diễn tả được
Mười
bốn câu hỏi mà bậc Dòng Dõi của Mặt Trời tuyên bố là
không thể nói ra trong thế gian thì không khơi dẫn sự an bình
của tâm, thế nên chớ suy nghĩ tìm tòi về chúng. 108
Người
ta chớ bám vào mười bốn quan điểm sai lầm. Mười bốn
cái ấy giống như một mạng lưới chỉ làm người ta vướng
mắc thêm vào những nhiễm ô. Những quan điểm ấy không dẫn
người ta đến giải thoát khỏi sanh tử vì chúng ngăn chặn
con đường đến Niết bàn. Đó là mười bốn câu hỏi được
hỏi với bậc Dòng Dõi Mặt Trời và không được Ngài trả
lời.
(1)
Vũ trụ là (a) vĩnh cửu, (b) không vĩnh cửu, (c) vừa vĩnh
cửu vừa không vĩnh cửu, và (d) không vĩnh cửu cũng không
phải không vĩnh cửu.
(2)
Vũ trụ là (a) hữu hạn, (b) vô hạn, (c) vừa hữu hạn vừa
vô hạn, và (d) không hữu hạn cũng không phải vô hạn.
(3)
Như Lai là (a) hiện hữu sau khi chết, (b) không hiện hữu sau
khi chết, (c) vừa hiện hữu vừa không hiện hữu sau khi chết,
và (d) không hiện hữu cũng không phải không hiện hữu sau
khi chết.
(4)
Linh hồn là đồng nhất với thân thể hay khác với thân thể.
Đức
Phật từ chối trả lời những câu hỏi đó, bởi vì chúng
không có nền tảng vững chắc. Một câu hỏi không xứng đáng
cho một câu trả lời nếu đối tượng của sự tra vấn không
thực sự hiện hữu. Chẳng hạn, nếu có người hỏi, “Kích
cỡ một cái nhà trên Kim tinh là gì ?”
(4)
Hiểu Duyên Sanh, sự thật này giải thoát người ta khỏi sanh
tử
Bậc
Đại Trí tuyên bố, “Từ vô minh sanh những thiên hướng
(hành), từ những thiên hướng sanh thức, từ thức sanh danh
và sắc, từ danh sắc sanh sáu giác quan, từ những giác quan
sanh tiếp xúc, từ tiếp xúc sanh cảm thọ, từ nền tảng
của cảm thọ sanh khao khát, từ khao khát sanh bám giữ, từ
bám giữ sanh trở thành, từ trở thành sự sanh xảy ra –
nếu có sanh, bấy giờ một đống rất lớn khổ đau tiếp
theo, như lo buồn, bệnh tật, già nua, thất vọng, sợ chết…
; tuy nhiên, bằng cách chấm dứt sanh, tất cả những cái ấy
sẽ dừng dứt. 109-111
Nếu
có vô minh, bám chấp một tự ngã, bấy giờ người ta lệ
thuộc vào mọi khốn khổ của hiện hữu và xoay vòng liên
tục trong sanh tử. Từ vô minh này, những thiên hướng sanh
khởi. (Đây là hai nguyên nhân duy trì những đời trước để
gây tạo ra đời sống hiện tại.) Từ những thiên hướng,
thức sanh khởi. Từ thức danh và sắc được sanh ra. Từ danh
và sắc sáu giác quan bên trong phát sanh. Từ những cái này,
tiếp xúc giữa sáu giác quan và những đối tượng của chúng
được sanh ra. Từ tiếp xúc, những cảm thọ thích, không
thích… sanh khởi. Từ nền tảng của cảm thọ, khởi sanh
khao khát, tức là tham muốn hạnh phúc và ghê sợ khổ đau.
Từ khao khát, bám giữ tiếp theo. Từ bám giữ, trở thành
được sanh ra. (Tám cái này là những điều kiện của cuộc
đời hiện tại tựu thành bằng tái sanh). Từ trở thành,
sanh xảy ra. Nếu có sanh, bấy giờ già, bệnh, chết và các
thứ. (Hai cái này là những điều kiện duy trì cho đời tới).
Khổ
đau sanh khởi trở đi trở lại từ sự phối hợp của những
nguyên nhân này. Nhưng nếu người ta có thể chấm dứt tái
sanh trong sanh tử vốn có từ những hành vi và nhiễm ô, bấy
giờ mọi khổ đau của bệnh, già, và chết sẽ ngừng dứt.
Khi sanh bị ngừng, mười hai mắt xích duyên sanh từ vô minh
đến già và chết được dập tắt. Theo cách này người ta
cần nghiên tầm và thiền định về Duyên Sanh (Phát Sanh Tùy
Thuộc) này với mười hai mắt xích dẫn đến hoặc sanh tử
hoặc Niết bàn. Gốc rễ của sanh tử là vô minh, sự bám
chấp một tự ngã, và cái đối nghịch của cái này là Chân
Lý, Tánh Không. Đã phát sanh được sự thấu hiểu tánh không,
nó là trạng thái sâu xa tự nhiên của tất cả mọi sự,
qua thiền định về mười hai mắt xích của Duyên Sanh, người
ta sẽ chắc chắn thành tựu trạng thái thanh tịnh của giải
thoát.
Đức
Phật nói rằng người thấu hiểu mười hai mắt xích của
Duyên Sanh sẽ hiểu sanh tử và Niết bàn. Cả hai cái này chỉ
là một ảo tưởng của tâm, bản thân tâm này thì trống
không.
(Giáo
Pháp) Duyên Sanh này là kho tàng sâu xa và quý báu của lời
dạy của bậc Chiến Thắng ; người thấy đúng cái này (Duyên
Sanh) thì thấy Phật tối thượng, bậc Hiểu Biết Thực Tại.
112
Dù
tất cả mọi sự trong đại dương của hiện hữu này rốt
ráo không hiện hữu – vì thực tế không có thậm chí một
nguyên tử hiện hữu – tuy nhiên những hiện tượng như chúng
xuất hiện và được kinh nghiệm (những sự vật sanh khởi
từ những nguyên nhân và điều kiện) thì không bị phủ nhận.
Như giáo lý Duyên Sanh chứng tỏ, mọi sự tùy thuộc vào những
cái khác cho sự hiện hữu của chúng (nghĩa là, mọi sự không
có tự tánh).
Người
ta phải nhớ rằng tất cả những sự vật do điều kiện
(những sự vật phát sanh một cách tùy thuộc lẫn nhau) là
không khác với Chân Lý Tối Hậu, và đồng thời Chân Lý
Tối Hậu thì không khác với chúng. Người ta bị trói buộc
vào sanh tử bởi những nhiễm ô và tạo tác tư tưởng, bởi
vì họ không thấu hiểu chân lý.
Bao
giờ người ta bám vào năm uẩn, người ta có một cái ngã
hay bám chấp một tự ngã. Sự bám chấp một tự ngã này
dẫn người ta đến chỗ thực hiện những hành động mà
đến lượt chúng lại gây cho người ta tiếp tục sanh trong
vòng hiện hữu sanh tử.
Với
sự thấu hiểu, chứng ngộ tánh không, mọi nhiễm ô và tạo
tác tư tưởng sẽ tự động dừng dứt. Đấy là bởi vì
vào lúc chứng ngộ tánh không, người ta sẽ thấy rằng không
có tự ngã, không có cái khác, không có thời gian v.v… Bởi
thế khi những hành động và sự bám chấp một tự ngã dừng
mất, người ta giải thoát khỏi sanh tử.
Không
có phương pháp nào cho đạt đến giải thoát tốt hơn sự
chứng ngộ tánh không (nghĩa là sự vô tự tánh của tự ngã
và vô tự tánh của những yếu tố hiện hữu). Bám chấp
những quan điểm cực đoan thường (vĩnh cửu), đoạn (hư
vô)… sẽ diệt mất khi sự chứng ngộ này sanh ra, và chỉ
có “trung đạo” của Madhya-maka là còn lại. Vì Đức Phật
là người duy nhất có thể giải thích cái này, đã nói, “Mọi
sự là Duyên Sanh.” Bởi thế, Duyên Sanh hay Phát Sanh Tùy Thuộc
là tinh túy đích thực của giáo lý đức Phật, bởi vì người
ta không thể nói cái mà người ta tri giác là : (i) tự nó
sanh, (ii) sanh từ những cái khác, (iii) sanh từ cả hai cái
trên, và (iv) sanh mà không có một nguyên nhân. Đây không phải
là một phủ nhận những sự vạât như chúng được thấy,
mà Chân Lý Tối Hậu là cái gì ở một trật tự khác.
(i)
Có người nói rằng một sự vật là tự nó sanh. Tuy nhiên,
lỗi lầm của nhận định này nằm ở sự kiện nó có sự
biến đổi. Một sự vật biến đổi thì tự thân nó không
thể nói là đồng nhất, nghĩa là luôn luôn là chính nó. Chẳng
hạn, một mầm cây thì không đồng nhất với hạt giống.
Hơn nữa, nếu một sự vật được sinh từ chính nó, bấy
giờ nó sẽ tự sinh cho đến vô hạn vì không có cái gì ngăn
cản sự tự sanh không dứt của nó.
(ii)
Rồi có người nói là một sự vật thì sinh từ cái khác
nó. Nhưng lỗi lầm của nhận định này nằm ở sự kiện
là nếu như vậy, cái gì cũng có thể được sinh từ bất
cứ cái gì. Chẳng hạn, một cây bắp có thể được sanh
từ một hạt giống lúa.
(iii)
Có người nói rằng một sự vật được sanh từ cả chính
nó và cái khác. Tuy nhiên, nhận định này chứa những lỗi
lầm của hai cái trên, vì mỗi cái trên đều có lỗi lầm.
(iv)
Có người nói rằng một sự vật được sinh không từ chính
nó cũng không từ cái khác, nghĩa là tình cờ. Tuy nhiên, không
có cái gì được sinh mà không có nguyên nhân.
Như
Acarya Nagarjuna viết trong câu kệ mở đầu của Mulamadhyamakakarika
(Trung Luận),
Không
bao giờ có vật gì hiện hữu mà có thể tìm thấy được
phát sanh từ chính nó, từ những cái khác, từ cả hai, hay
không nguyên nhân.
Như
vậy, người ta không thể nói rằng có cái gì thật sự phát
sanh. Chỉ qua sự kết hợp những nguyên nhân và những điều
kiện mà một kết quả được làm cho biểu lộ. Chỉ ở bề
ngoài mà những sự vật được thấy là phát sanh. Không có
cái nào có thể được bám chấp như là thật trong tự thể
của nó, thế nên nó là phát sanh tùy thuộc lẫn nhau. Mọi
sự được thấy thì giống như bóng trăng trong nước, bởi
thế không thể nói là hiện hữu hay không hiện hữu. Từ
thời vô thủy mọi pháp bên ngoài và bên trong không thể nói
được là thật. Tuy nhiên, cùng lúc đó, tánh không không thể
nói là khác với thế giới hiện tượng. Như Prajnaparamita
Hrdaya Sutra (Bát Nhã Tâm Kinh) nói,
Sắc
tức là không, không tức là sắc, sắc cũng chẳng khác không,
không cũng chẳng khác sắc…
Bởi
thế, giáo pháp Duyên Sanh do đức Phật dạy được nói là
pháp quý báu nhất.
Vì
giáo pháp này cực kỳ sâu xa và khó hiểu, người ta cần
làm quen với nó, nghiên cứu nó, và suy ngẫm nó với một
tâm trong sáng. Những ai thấu hiểu “mười hai Duyên Sanh”
thì thấy chân lý. Như có nói trong Arya-prajnaparamita-sancaya-gatha,
Bồ
tát – người nhờ thấu hiểu trí huệ Duyên Sanh, nó là không
sanh và không diệt, mà phá tan bóng tối của vô minh như những
tia sáng mặt trời thoát khỏi mây xua tan bóng tối – sẽ
đạt đến giác ngộ.
(5)
Thiền định về Con Đường Tám Ngành Cao Cả
Để
đạt an lạc, hãy thực hành tám phần này của Con Đường
: cái thấy chân chánh, đời sống chân chánh, nỗ lực chân
chánh, niệm chân chánh, định chân chánh, lời chân chánh,
hành động chân chánh và tư tưởng chân chánh. 113
Cái
thấy chân chánh là ngành nghiên cứu tìm tòi để thấy một
cách trọn vẹn. Tư tưởng chân chánh là ngành khiến cho những
sự khác được biết. Đời sống chân chánh, lời chân chánh
và hành động chân chánh là những ngành khiến cho người
khác có lòng tin. Niệm chân chánh, định chân chánh và nỗ
lực chân chánh là những ngành chỉnh sửa những nhiễm ô
đa dạng. Đấy là tám ngành của con đường. Người ta phải
thực hành Con Đường Tám Ngành Cao Cả này để đạt đến
trạng thái Niết bàn an lạc.
(6)
Quan sát Bốn Chân Lý Cao Cả
Sanh
này là khổ ; khao khát được gọi là nguồn gốc lớn lao
của khổ ấy ; sự dừng dứt của khổ là giải thoát ; và
con đường đạt đến giải thoát ấy là Con Đường Tám Ngành
Cao Cả. Thế nên trong cách này, hãy luôn luôn cố gắng thực
hiện Bốn Chân Lý Cao Cả, vì thậm chí người tại gia sống
trong lòng của sự giàu có vẫn vượt qua dòng sông của những
nhiễm ô nhờ cái hiểu biết này. 114-115
(i)
Chân Lý Thứ Nhất : Người ta lệ thuộc vào sanh và tử bởi
vì những hành vi và những nhiễm ô, thế nên người ta luôn
luôn xoay tròn trong sanh tử. Người ta kinh nghiệm khổ đau
thoát thai từ năm uẩn. Đây gọi là Chân lý của Khổ đau.
(ii)
Chân Lý Thứ Hai : Bám níu vào năm uẩn là nguyên nhân của
khổ đau. Đây là nguồn gốc của tất cả khổ. Điều này
gọi là Chân lý của sự Phát sanh.
(iii)
Chân Lý Thứ Ba : Thứ ba là Chân lý của Dừng diệt, với
tính chất là sự dập tắt mọi khổ. Cái này cũng được
gọi là Chân lý của Giải thoát.
(iv)
Chân Lý Thứ Tư : Để đạt Niết bàn người ta phải thực
hành và theo Con Đường Tám Ngành Cao Cả như đã được tả.
Đây là Chân lý của Con đường.
Bốn
Chân Lý Cao Cả là chân thực cho những bậc Thánh, nhưng không
thực cho những người thế gian. Do đó Bốn Chân Lý Cao Cả
cần được hiểu đúng.
Hiểu
sanh tử là đầy khổ đau, người ta phải suy nghĩ đến những
hậu quả xấu của nó bất kể họ sanh vào ở đâu. Đã hiểu
thực sự rằng tất cả sanh tử là khổ, bấy giờ người
ta sẽ mong muốn giải thoát, nghĩa là giải thoát khỏi khổ.
Điều này sẽ khiến người ta trở nên ưa thích đi vào con
đường của Pháp. Thứ nhất, người ta cần nghĩ rằng năm
uẩn của người ta là vô thường. Thứ hai, người ta cần
nghĩ rằng toàn thể sanh tử, nhất là chỗ người ta đang
ở là đầy khổ đau. Cùng lúc, người ta cần nghĩ rằng không
có ai sáng tạo ra khổ cả và bản tánh của khổ là tánh
không. Thật vậy, người kinh nghiệm khổ không hiện hữu.
Bấy giờ người ta cần nghĩ rằng khổ sanh khởi như thế
nào – từ những hành vi và nhiễm ô. Rồi người ta muốn
thanh toán nguyên nhân của khổ. Sau đó, Chân lý của Dừng
diệt cần được thực hiện. Cuối cùng, người ta cần thực
hành Con Đường, và đặc biệt thiền định về tánh không.
Người ta cần thực hành Bốn Chân Lý Cao Cả theo cách này.
Như đức Phật nói,
Người
ta cần thấu hiểu khổ, người ta cần xóa bỏ nguyên nhân,
người ta cần chứng đắc sự dừng diệt của khổ, người
ta cần thực hành Con Đường.
Lại
nữa, có nói trong Uttaratantra
Khổ,
nguyên nhân của nó, sự dừng diệt cũng như Con Đường ;
hãy hiểu những cái gì cần được biết, và những cái gì
cần từ bỏ và hãy gắn bó với những cái trước.
Nếu
người ta thực sự thực hành theo cách này, người ta sẽ
đạt Niết bàn không nghi ngờ gì. Vào thời xưa, một nhà
vua man di thấy một bức tranh đức Phật, thấy bánh xe của
đời sống, hiểu được “mười hai kết nối Duyên Sanh”
với chuyển động thuận chiều và nghịch chiều, hiểu được
Bốn Chân Lý Cao Cả, và như vậy đã vượt qua được biển
sanh tử. Nếu người ta thấu hiểu những cái này, thì cũng
như nhà vua thời xưa, người ta cũng sẽ vượt qua đại dương
sanh tử.
(7)
Chớ chần chờ trong nỗ lực vì Niết bàn
Những
người đã thấu hiểu, thể nghiệm Chân Lý không từ trời
rơi xuống cũng không từ đất vọt lên như hạt mầm, vì
họ trước kia cũng là những người lệ thuộc vào những
nhiễm ô. 116
Những
bậc Thánh đã tận trừ hai Chân Lý đầu và sở hữu hai Chân
Lý sau. Các vị không sở hữu Chân Lý từ ban sơ. Họ không
từ trời rơi xuống hay từ đất vọt ra với Chân Lý bẩm
sinh, mà chứng ngộ nó bằng chính nỗ lực của mình. Các
vị đã chịu khổ đau, và đã lệ thuộc vào những nhiễm
ô như bất cứ người nào khác. Tuy nhiên, các vị tham khảo
những bậc hướng dẫn tâm linh, thực hiện những hành động
đúng, thực hành Con Đường, và cuối cùng đạt trạng thái
giác ngộ. Thế nên người ta không nên ngã lòng, mà phải
thực hành liên tục. Như có nói trong Bodhicaryavatara,
Đã
được sanh ra làm một người thuộc một dòng giống như tôi,
đã nhận ra cái gì lợi lạc và cái gì họa hại, nếu tôi
không từ bỏ hạnh giác ngộ, tại sao tôi sẽ không đạt
Giác Ngộ ?
(8)
Lời khuyên ngắn gọn
Hỡi
con người không sợ hãi, Thế Tôn đã nói rằng tâm là gốc
của mọi đức hạnh công đức, thế nên hãy điều phục
tâm ngài ; đây là lời chỉ dạy lợi lạc và hữu dụng,
thế nên đó là điều cần được nói thêm. 117
Sự
thực hành lợi lạc nhất cho những kết quả tạm thời và
rốt ráo là như sau. Hễ người ta càng không thể kiểm soát
được tâm mình bao nhiêu, thì ngược lại người ta lại bị
tâm kiểm soát bấy nhiêu. Tâm người ta lại càng lệ thuộc
vào nhiều nhiễm ô. Do điều này, người ta đã tích tập
nhiều hành động (nghiệp). Bởi thế, người ta không bao giờ
thoát khỏi sanh tử, mà luôn luôn lòng vòng hết sanh đến
tử. Thế nên bây giờ người ta phải kiểm soát tâm mình
và luôn luôn cẩn thận tránh những nhiễm ô và những đường
lối bất thiện. Như thế người ta cần điều phục tâm mình
với sự chăm sóc. Nếu người ta làm điều này, người ta
sẽ tích tập một lượng lớn đức hạnh, công đức. Đức
Phật nói rằng gốc của mọi công đức là điều phục tâm
mình. Lại nữa, có nói trong Bodhicaryavatara,
Bằng
cách ấy tâm tôi được khéo hộ trì và khéo bảo vệ ; nhiều
khổ hạnh có ích lợi gì ngoại trừ sự thực hành giữ gìn
tâm.
Thậm
chí với một vị tăng ở đơn độc còn khó theo lời khuyên
của tôi đã cho ngài : (nhưng) hãy làm cho cuộc đời này có
ý nghĩa bằng sự trau dồi phẩm tính của tinh túy bất kỳ
thực hành nào ở đây. 118
Người
ta cần cố gắng theo mọi giáo huấn được diễn tả trong
bức thư này. Tuy nhiên, thậm chí một vị tăng sống một
mình trong rừng không có bổn phận nào khác phải làm cũng
khó theo mọi điều này. Chắc hẳn người tại gia có nhiều
bắt buộc khác sẽ thấy nó cực kỳ khó khăn. Nhưng người
ta nên làm thực hành nào họ có thể, như tránh những hành
động không đức hạnh, thực hiện những hành động đức
hạnh… Theo cách này, cuộc đời chúng ta sẽ có định hướng,
ích lợi và không uổng phí. Qua thực hành như vậy, người
ta sẽ đạt đến những cõi cao, và không nghi ngờ gì cuối
cùng người ta sẽ đạt giác ngộ. Như có nói trong Ratna-vali
của Thánh Nagarjuna,
Trước
hết, Pháp đưa đến thịnh vượng và hạnh phúc ; sau đó
là giải thoát. Do đã có được thịnh vượng và hạnh phúc,
giải thoát sẽ dần dần sanh ra.
2.
Lời khuyên thực hành Con Đường của Đại thừa
a.
Đi vào Con Đường Đại thừa nhờ tùy hỷ với sự biểu
lộ của Pháp
Đã
tùy hỷ với công đức của tất cả (chúng sanh), cũng đã
hồi hướng đức hạnh, thân, lời, tâm của ngài cho sự đạt
đến Phật quả, và đã làm chủ toàn bộ yoga, bấy giờ ngài
sẽ có vô số sự sanh trong những cõi của chư thiên và loài
người nhờ số công đức này. 119-120a
Chư
Phật và chư Bồ tát luôn luôn tùy hỷ mọi hành động đức
hạnh của những bậc Thánh và của người thường. Tương
tự, công đức của mọi hành động đức hạnh được làm
qua thân, lời, tâm cần luôn luôn được hồi hướng. Chẳng
hạn, người ta nghĩ như sau, “Do công đức của hành động
này, nguyện tất cả chúng sanh đạt đến giác ngộ.” Như
có nói trong Bodhicarya-vatara,
Chỉ
làm những hành động thấy được hoặc không thấy được
vì lợi lạc của những người khác ; hãy hồi hướng mọi
công đức cho chúng sanh để họ đạt đến giác ngộ.
Nếu
người ta hồi hướng những công đức của mình cho sự tốt
đẹp của tất cả chúng sanh, người ta sẽ có nhiều, rất
nhiều sự sanh tốt lành thuận lợi cho sự đạt giác ngộ.
Cũng thế, qua sự làm chủ, thiện nghệ toàn bộ yoga bao gồm
định tĩnh, quán chiếu, nhập thiền…, người ta sẽ có vô
lượng phẩm tính cho phép họ tri giác Chân Lý.
Hãy
sinh như Thánh Quán Thế Âm, qua đức hạnh mình giúp đỡ những
người khốn khổ và xua tan bệnh tật, già nua, tham và sân,
hãy an trụ vô lượng cuộc đời như bậc Bảo Vệ của Thế
Giới, Thế Tôn A Di Đà Phật trong cõi Phật của Ngài. 120b-121
THÁNH
QUÁN THẾ ÂM
Nhờ
thần lực của những hành động đức hạnh đã làm, người
ta cần cố gắng được là như Thánh Quán Thế Âm (Avalokitesùvara),
bậc từ thời xa xưa, đã qua thân, lời, tâm của ngài, giúp
đỡ vô vàn chúng sanh tuyệt vọng và đặt họ vào con đường
đúng. Như thế, sinh trong sanh tử, người ta cần giúp đỡ
tất cả chúng sanh để thanh toán khổ đau và nguyên nhân của
nó và làm họ trưởng thành để họ có thể đi vào con đường
đúng.
Qua
thần lực của những hành động đức hạnh đã làm, người
ta cần có ý định, thậm chí ngay từ giây phút này, giúp
đỡ tất cả chúng sanh đạt giải thoát – như Phật A Di
Đà là bậc Cứu Độ Vĩ Đại của chúng sanh. Một ngày nào,
người ta sẽ trở thành giống như Phật A Di Đà, bao giờ
sanh tử còn hiện hữu, ngài còn ở nơi cõi Phật Cực Lạc
của ngài chỉ vì mục đích giúp đỡ tất cả chúng sanh đạt
đến giác ngộ. Như Santideva nói trong Bodhicaryavatara,
Bao
giờ không gian còn tồn tại và bao giờ chúng sanh còn tồn
tại, nguyện tôi còn ở lại để xóa sạch những khổ đau
của chúng sanh.
b.
Đạt Phật quả và hoàn thành lợi lạc của chúng sanh
Lan
truyền đến những cõi của chư thiên, bầu trời và trên
mặt đất, danh tiếng vĩ đại không tỳ vết (của ngài) sanh
khởi từ huệ, giới và bố thí, đã hàng phục sự thích
thú của chư thiên nơi các cõi trời và con người trên mặt
đất trong sự hưởng thụ những trinh nữ tuyệt hảo, và
đã đạt được Quyền Uy tối cao của những bậc Chiến Thắng
dập tắt sự sanh khởi của sợ hãi và cái chết cho vô số
chúng sanh phiền não bởi nhiễm ô, hãy đạt được trạng
thái không sợ hãi, không tuổi tác, không lỗi lầm, an lạc,
chỉ là danh tự, và siêu việt. 122-123
ĐỨC
PHẬT A DI ĐÀ
Bây
giờ người ta phải có được trí huệ phân biệt giữa cái
hiện tượng và cái tối hậu. Cũng thế, người ta phải tuân
thủ kỷ luật đạo đức đã cam kết với những Guru. Khi
cho, người ta cần không bám giữ đồ cho, người nhận và
người cho, và người ta phải thực hành sự cho mà tuyệt
đối không dính dáng gì với cuộc đời và tài sản của
mình. Qua những thực hành này, người ta sẽ có danh tiếng
bao la lan truyền đến những cõi của chư thiên, và đến mọi
góc trên trái đất của con người. Nghe danh tiếng này, tất
cả chúng sanh sẽ lìa bỏ những tham đắm của họ và sẽ
nghĩ đến từ bỏ vì đã mệt mỏi và chán ghét những điều
họ đã làm với cuộc đời họ. Nghĩa là, người ta sẽ giúp
phá tan những khổ đau của tất cả chúng sanh đang lệ thuộc
vào nhiễm ô và cứu họ khỏi sanh lại trong sanh tử chỉ
đưa đến những hành vi và nhiễm ô khác.
Người
ta sẽ đạt giác ngộ của môt vị Phật luôn luôn và mãi
mãi cứu độ chúng sanh khỏi khổ. Như có nói trong Arya-mahapratiharya-nirdesùa-nama-mahayana-sutra,
Đã
từ bỏ vương quốc của mình như người ta nhổ nước bọt,
đã ra đi đến ở một nơi hoang vắng, một mình, đã từ
bỏ những nhiễm ô và phá hủy Ma, người ta sẽ trở thành
một vị Phật toàn thiện – giác ngộ, không tỳ vết và
không hợp tạo.
Phật
quả người ta sẽ đạt được thì có mọi phẩm tính siêu
việt. Tuy nhiên, Phật quả trong tự thân nó thì không hiện
hữu bởi vì thật ra bản chất của nó là tánh không, vượt
khỏi mọi phẩm tính, vượt khỏi mọi cực đoan có và không,
vượt khỏi hoạt động, tư tưởng và biểu lộ. Bởi thế
nó chỉ là danh tự. Nó được nói là không sợ hãi bởi vì
nó thoát khỏi đe dọa và lo sợ. Nó được nói là không tuổi
tác, bởi vì nó thoát khỏi chết và bất kỳ loại vô thường
nào. Hơn nữa, nó vô tận. Nhờ đạt Niết bàn này, người
ta sẽ trở thành bậc Cứu Độ và Bảo Vệ của tất cả
chúng sanh.
ĐỨC
PHẬT THÍCH CA MÂU NI
PHỤ
LỤC :
BỨC
THƯ CỦA BỒ TÁT LONG THỌ
GỞI
CHO VUA GAUTAMIPUTRA
Hỡi
con người chánh trực và đáng kính có những đức hạnh,
thật đáng cho ngài nghe một số ít bài thánh kệ này mà tôi
đã soạn thảo để cho ngài có thể mong ước công đức khởi
sanh từ những lời của đấng Thiện Thệ. 1
Ví
như, một hình ảnh của đấng Thiện Thệ, nếu nó được
làm bằng gỗ hay cái gì đại loại, được những người
trí phụng thờ. Cũng thế dù những vần kệ của tôi có thể
không duyên dáng, chớ có coi thường nó bởi vì nó đặt nền
trên một luận bàn thánh Pháp. 2
Tuy
ngài đã nghe và thậm chí đã hiểu nhiều lời của bậc Đại
Giác, chẳng phải một lâu đài màu trắng càng trắng hơn
bởi trăng khuya ? 3
Ngài
cần ghi nhớ trong tâm sáu điều : Phật, Pháp, Tăng, bố thí,
giới và chư thiên ; kho những phẩm tính của mỗi cái trong
sáu sự nhớ nghĩ này đã được bậc Điều Ngự khéo dạy.
4
Hãy
luôn luôn thực hành con đường của mười thiện hạnh (được
thực hiện) qua thân, ngữ và tâm ; tránh rượu, và cũng thích
thú với một cuộc sống lành mạnh. 5
Biết
rằng sung túc thì không bền và không có tự tánh, đáng trao
tặng cho những vị tăng, bà la môn, người nghèo và bạn bè
những món đồ tặng ; thế nên đối với đời tới không
có một người bà con nào tuyệt hảo cho bằng bố thí. 6
Ngài
cần thực hành giới luật, nó không hư hại, không thể chê
trách, không trộn lẫn và không nhiễm ô – vì giới được
nói là nền tảng của mọi đức hạnh, như đất là chỗ
nâng đỡ cho cả hai loài hữu tình và vô tình. 7
Hãy
tăng trưởng những hoàn thiện vô lượng bố thí, giữ giới,
nhẫn nhục, tinh tấn, tập trung, và trí huệ, và như vậy
trở thành Chúa Tể của những Bậc Chiến Thắng đã đạt
đến bờ bên kia của đại dương sanh tử. 8
Dòng
giống của người thờ phụng cha và mẹ thì cùng với dòng
giống của Phạm thiên và của những thầy giáo ; nhờ tôn
kính họ mà người ta sẽ có tiếng tăm và về sau sẽ đạt
đến những cõi cao hơn. 9
Hãy
từ bỏ giết hại, trộm cắp, tà dâm, nói dối, rượu, ăn
không đúng thời, thích thú ghế giường cao, và mọi loại
ca hát, khiêu vũ và hoa. 10
Nếu
ngài có tám đặc tánh này giống như đạo đức của một
A la hán, bấy giờ, được nuôi dưỡng bởi những lời nguyện,
ngài sẽ ban cho những người đàn ông và đàn bà hình sắc
đáng ưa của chư thiên cõi dục. 11
Hãy
nhìn những cái này như những kẻ thù : keo kiệt, xảo quyệt,
lừa dối, tham luyến tư hữu, lười biếng, kiêu mạn, tham
luyến tình dục, thù ghét, và kiêu căng về giai cấp, hình
sắc, học vấn, tuổi trẻ và quyền lực lớn lao. 12
Bậc
Thánh nói rằng chánh niệm là nguồn gốc của sự bất tử
và không chánh niệm là nguồn gốc của chết (sanh tử) ; bởi
thế để tăng cường đức hạnh của ngài, hãy tận tụy
ở trong chánh niệm. Người trước kia không chánh niệm, nhưng
về sau trở nên chánh niệm – như Nanda, Angulimala, Ajatasatru
và Udayana – cũng sẽ chói sáng như mặt trăng thoát khỏi
đám mây.
13-14
Bởi
vì không có sự hối lỗi nào hơn nhẫn nhục, ngài phải không
để cho tức giận có dịp sanh khởi. Đức Phật nói rằng
bằng cách bỏ đi giận dữ, người ta sẽ đạt đến cấp
độ bất thối chuyển. 15
“Tôi
bị những người này lợi dụng, bị họ trói, bị họ đánh
bại, họ đã giật tài sản của tôi” ; chứa chấp sự thù
địch như vậy sanh ra những tranh chấp, nhưng người bỏ đi
sự chứa chấp thù địch ngủ một cách hạnh phúc. 16
Hãy
biết rằng tâm giống như một hình vẽ trên mặt nước, trên
đất hoặc trên đá ; cái đầu tiên trong ba cái là tốt nhất
cho những ai có nhiễm ô, và cái cuối cùng cho những ai mong
muốn đạo. 17
Bậc
Chiến Thắng tuyên bố rằng dịu dàng, chân thật và sai lầm
là ba loại lời nói của con người – những lời nói như
vậy giống như mật, hoa và đồ bẩn. Hãy từ bỏ cái chót
trong ba cái. 18
Có
bốn loại người được xem là đi từ : ánh sáng đến ánh
sáng cùng cực ; bóng tối đến bóng tối cùng cực ; ánh sáng
đến bóng tối cùng cực và bóng tối đến ánh sáng cùng
cực ; hãy là loại người đầu tiên. 19
Những
con người cần được hiểu giống như những trái xoài : chưa
chín nhưng có vẻ chín, chín nhưng có vẻ chưa chín, chưa chín
và có vẻ chưa chín, và chín và cũng có vẻ chín. 20
Chớ
nhìn ngó vợ người khác ; tuy nhiên khi thấy họ, hãy nghĩ
theo tuổi của họ : như mẹ mình, em mình, hay chị mình. Nếu
tham dục vẫn còn, bấy giờ hãy thiền định về bất tịnh.
21
Hãy
bảo vệ tâm bất định như (ngài bảo vệ) sự học vấn,
một đứa con trai, một kho tàng, hay mạng sống ; hãy rút tâm
ra khỏi những khoái lạc như (ngài rút lui) khỏi một con rắn
độc, thuốc độc, một vũ khí, một kẻ thù hay lửa. 22
Đấng
của những bậc Chiến Thắng đã tuyên bố rằng những tham
muốn thì giống như những trái Kimbu, vì chúng là nguyên nhân
của thống khổ ; bởi vì những xích sắt này cột trói những
người còn mê muội trong ngục tù của sanh tử, hãy từ bỏ
chúng. 23
Giữa
người chinh phục sự tham muốn vào những đối tượng thoáng
chốc và bất định của sáu giác quan và người chinh phục
quân thù nơi chiến trường, người trí biết người thứ
nhất là một anh hùng vĩ đại hơn nhiều. 24
Hãy
nhìn thân thể của một cô gái trẻ nếu không có đồ trang
sức (và áo quần) thì giống như một bình chứa hoàn toàn
bất tịnh phủ bằng da, khó thích thú, bốc mùi hôi, và với
những thứ dơ bẩn thoát ra từ chín cửa. 25
Hãy
biết rằng cũng như một người bệnh cùi đầy chí rận hoàn
toàn nương dựa vào lửa để có được hạnh phúc, tương
tự sự bám níu vào những tham muốn sẽ không đem lại an
vui.
26
Hãy
khéo léo trong việc tri giác đúng những sự vật với cái
hiểu về Chân Lý Tối Hậu, bởi vì không có thực hành nào
khác có phẩm tính tương đương. 27
Người
có giai cấp cao, hình sắc đẹp đẽ và có học không được
tôn trọng nếu nó không có trí huệ và đạo đức ; tuy nhiên
người có hai phẩm tính này, dù không có những phẩm tính
kia, thì được tôn sùng. 28
Hỡi
người hiểu biết thế giới, tám pháp thế gian – được,
mất, sung sướng, bất hạnh, lời ngọt ngào, lời thô nặng,
khen, chê – cần được xem đều không xứng đáng ở trong
tâm ngài như nhau. 29
Chớ
phạm những tội lỗi vì những bà la môn, những nhà sư, chư
thiên, những người khách, cha mẹ, con cái, hoàng hậu, hay
những người hầu, bởi vì không có người nào khác chia xẻ
kết quả địa ngục. 30
Dù
một số hành vi tội lỗi được thực hiện sẽ không làm
ngài bị thương tức khắc như một vũ khí, kết quả từ
những hành động tội lỗi ấy sẽ trở nên biểu lộ khi
thời gian cái chết ập đến. 31
Bậc
Đại Trí nói rằng đức tin, giới luật, bố thí, học hỏi,
tự hổ thẹn, hổ thẹn với người khác và trí là bảy tài
sản không tỳ vết (bảy thánh tài) ; hãy nhận biết những
tài sản thông thường là không nghĩa lý. 32
Hãy
từ bỏ sáu cái này đưa đến mất danh tiếng và sanh trong
những trạng thái xấu : hoang phí, tham dự vào những lễ hội,
lười biếng, chơi với bạn tội lỗi, rượu và đi trong ban
đêm. 33
Bậc
Đạo sư của trời và người nói rằng hài lòng là tuyệt
hảo nhất trong mọi sự giàu có, thế nên hãy luôn luôn hài
lòng ; nếu hài lòng với sự không giàu có, người ta thật
sự giàu có. 34
Hỡi
đức vua hào hiệp, cũng như kẻ cao nhất trong loài Rồng chịu
khổ theo số cái đầu nó có, cũng vậy người ta khổ đau
theo số tài sản người ta giành được ; tuy nhiên, không như
vậy đối với người ít tham muốn. 35
Hãy
tránh ba loại vợ này : người như kẻ đao phủ, hợp với
kẻ thù một cách tự nhiên ; người như một nữ hoàng, không
kính trọng chồng ; và người như một tên trộm, lấy trộm
cả những vật nhỏ. Loại người vợ đáng tôn kính như một
vị thần gia đình là người tốt lòng như một người chị,
người thân thiết như một người bạn, người mong muốn
sự lợi lạc của ngài như một người mẹ, hay người phục
tùng ngài như một người hầu. 36-37
Hiểu
thực phẩm giống như thuốc uống, không dùng nó với sự
ghét bỏ, tham luyến, không vì cường tráng, kiêu căng hay sắc
đẹp, mà chỉ để duy trì thân xác. 38
Hỡi
con người chính trực, sau khi trải qua suốt cả ngày và phần
bắt đầu và phần cuối của đêm, hãy chỉ ngủ một cách
tỉnh giác vào khoảng giữa, thế nên thậm chí thời gian ngủ
sẽ không là vô ích. 39
Luôn
luôn thiền định đúng đắn về từ, bi, hỷ, xả ; dù (trạng
thái) tối thượng không đạt được bằng cách này, thì vẫn
sẽ đạt được hạnh phúc của thế giới Phạm thiên. 40
Đã
từ bỏ những lạc thú, niềm vui và khổ của cõi dục nhờ
bốn tập trung, những cấp độ may mắn của chư thiên –
Brahma (Phạm thiên), Abhasvara (Quang Âm thiên) Subhakrtsna (Biến
Tịnh thiên) và Brhatphala (Quảng Quả thiên) – sẽ đạt được.
41
Từ
nền tảng của năm yếu tố lớn này – kiên trì, ý định,
không nghịch lại, phú bẩm những phẩm tính, và những việc
hảo tâm – những hành vi đức hạnh và không đức hạnh
sanh khởi (rất nhiều) ; bởi thế, hãy cố gắng làm những
hành động đức hạnh. 42
Hãy
hiểu rằng một lượng nhỏ muối làm thay đổi vị của một
ít nước trong khi không thể làm thay đổi vị của sông Hằng
; tương tự, một hành vi tội lỗi nhỏ sẽ không làm hư hỏng
nổi một cội gốc công đức lớn lao. 43
Hãy
ý thức rằng năm chướng ngại này là những tên trộm cướp
đi sự giàu có của công đức : láo xược và hối tiếc,
những tư tưởng làm hại, lãnh đạm và buồn ngủ, tham đắm
và nghi ngờ. 44
Hãy
siêng năng thực hiện năm thực hành tuyệt hảo nhất – đức
tin, tinh tấn, chánh niệm, định và trí huệ. Những cái này
được gọi là sức mạnh, thần lực và cũng là đỉnh được
đạt đến. 45
“Những
hành động (nghiệp) như thế do chính tôi làm là nguyên nhân
không vượt khỏi được bệnh, già, chết và chia ly với người
thân”. Tự phụ sẽ không sanh khởi nhờ sự chỉnh sửa của
tư tưởng này được lập đi lập lại. 46
Hãy
theo chánh kiến nếu mong muốn cõi cao và giải thoát, vì dù
cho những người làm nhiều hành vi phước đức nhưng qua tà
kiến cũng sẽ có những hậu quả kinh khủng. 47
Hãy
biết rằng thực ra con người là không hạnh phúc, vô thường,
không có tự ngã, và bất tịnh ; những ai bỏ rơi chánh niệm
thì bị hủy hoại do thấy sai bốn điều này. 48
Như
có nói : “Sắc không là tự ngã, tự ngã không sở hữu sắc,
tự ngã không ở trong sắc, và sắc không ở trong tự ngã”,
theo cách này hãy hiểu rằng bốn uẩn còn lại cũng là trống
không. 49
Hãy
biết rằng các uẩn không sanh ra từ dịp may, thời gian, Tự
Nhiên, tính chất nội tại, Thượng Đế, cũng không phải
không nguyên nhân, mà từ những hành vi vô minh và sự khao
khát. 50
Hãy
hiểu ba cái này là những trói buộc (vào sanh tử) và là những
chướng ngại chặn kín những cổng vào thành phố của giải
thoát : chỉ bám cứng đạo đức và khổ hạnh, cái thấy
sai lầm về cá thể tự ngã và nghi ngờ. 51
Bởi
vì giải thoát tùy thuộc vào chính mình chứ không tùy thuộc
vào sự giúp đỡ nào của những ai khác, hãy trau dồi chân
lý có bốn ngành qua việc học hỏi, giới luật và tập trung.
52
Hãy
luôn luôn được điều phục trong giới cao nhất, huệ cao
nhất và thiền định cao nhất ; có hơn một trăm năm mươi
giới luật hoàn toàn bao gồm trong ba cái này. 53
Hỡi
đức vua, chánh niệm về thân thể được đấng Thiện Thệ
dạy là con đường độc nhất (đến giải thoát). Bởi vì
mất chánh niệm sẽ hủy hoại mọi đức hạnh, hãy khéo giữ
gìn nó một cách kiên định. 54
Cuộc
đời thì vô thường bởi vì nó đầy dẫy những rủi ro như
một bong bóng nước gặp phải cơn gió ; đến độ người
ta thở vào được sau khi đã thở ra hoặc việc thức dậy
từ một giấc ngủ là điều kỳ diệu. 55
Hãy
biết rằng thân thể không bản chất này vào lúc cuối cùng
– thành tro tàn, khô, thối hay dơ bẩn – sẽ hoàn toàn bị
hủy hoại và biến mất và những cái cấu thành nó phân tán
hết.56
Bởi
vì không chỉ còn lại tro bụi mà mọi sự vật – trái đất,
núi Tu Di và các đại dương – sẽ bị thiêu đốt bởi ngọn
lửa của bảy mặt trời (vào lúc hoại kiếp), đâu thể nói
gì về con người quá đỗi yết ớt này. 57
Hỡi
người trổi vượt nhất của những con người, bởi vì mọi
sự là vô thường, không có tự ngã, không có chỗ để nương
dựa, không có ai bảo vệ, và không có nơi chốn nào để
ở, hãy giải thoát tâm ngài khỏi sanh tử như cây mã đề
không lõi. 58
Hỡi
bậc quân vương, hãy làm cho đời người này được lợi
lạc bằng cách thực hành Thánh Pháp, vì có được một tái
sanh làm người khỏi những cảnh giới loài thú thì còn khó
hơn một con rùa chui cổ vào một cái ách gỗ phiêu dạt giữa
đại dương. 59
Đã
có được một tái sanh làm người, người phạm những tội
lỗi thì còn ngu dại hơn người mửa vào bình vàng nạm châu
báu. 60
Ngài
có bốn điều kiện lớn : ở trong một nơi chốn thích hợp,
nương dựa vào những bậc Thánh, đã có thực hành trong những
đời trước, và tích tập công đức. 61
Bậc
Đại Trí nói rằng sự nương dựa vào một bạn đạo sẽ
làm cho hoàn tất con đường đưa đến thánh quả. Bởi vì
rất nhiều người đã đạt đến an lạc nhờ nương dựa
vào bậc Chiến Thắng, hãy nương dựa vào những bậc Thánh.
62
Người
nào sanh làm người tà đạo, thú vật, quỷ đói, chúng sanh
địa ngục, người hoang dã, ngu đần, vị trời sống lâu
hay nơi không có giáo pháp từ một đức Phật, được nói
là sinh trong tám trạng thái khuyết điểm và không thuận lợi.
Đã được cơ hội không bị lọt vào những cái đó, thì
hãy cố gắng chấm dứt sự bị sanh lại. 63-64
Hãy
lo buồn đối với sanh tử, nó là nguồn gốc của nhiều khổ
đau, như không có cái mình muốn, chết, bệnh, già v.v…, và
cũng hãy nghe nói về những lỗi lầm của nó. 65
Không
có những chắc chắn nào trong sanh tử, bởi vì những người
cha trở thành những đứa con, những mẹ thành vợ, và những
kẻ thù thành bạn ; cũng thế có thể xảy ra điều ngược
lại. 66
Mỗi
người đã uống sữa mẹ nhiều hơn nước bốn biển ; bởi
vì những người thế gian cứ đi theo người thường tục,
họ sẽ phải còn uống nhiều hơn thế. 67
Mỗi
người đã có một đống xương lớn ngang bằng hay cao hơn
núi Tu Di ; cũng như số người mẹ (người ta đã có) thì
những hạt đất của cả trái đất này cũng không thể tính
cho đủ. 68
Đã
trở thành Đế Thích, hưởng sự tôn kính của thế giới,
người ta sẽ lại rơi xuống đất vì sức mạnh của những
hành vi trước kia ; thậm chí đã có lúc trở thành một bậc
quân vương vũ trụ, người ta sẽ có lúc trở thành một người
tôi tớ của một người tôi tớ trong sanh tử. 69
Đã
lâu
nếm trải hạnh phúc vuốt ve thân thể và ngực vú của những
trinh nữ cõi trời, rồi lại lần nữa sẽ phải trải qua
sự xúc chạm rất khủng khiếp của những hình cụ phá vỡ
và cắt đứt những bộ phận của người ta trong địa ngục.
70
Đã
lâu ở trên đỉnh của núi Tu Di, nơi chân người ta xúc chạm
với bề mặt dễ chịu và thích ý, hãy xem xét rằng sự thống
khổ kinh khủng của việc bước đi trong than hồng và trên
những thân xác thối rữa lại được kinh nghiệm. 71
Đã
đến những khu vườn đẹp đẽ và chơi đùa vui vẻ với
những trinh nữ cõi trời hầu hạ, chân, tay, tai và mũi của
người ta lại sẽ bị cắt bởi những lá sắc như lưỡi
gươm trong những khu vườn của địa ngục. Đã đi vào sông
Mandakini của những thiên nữ đầy hoa sen vàng đẹp đẽ,
một lần nữa lại phải đi vào sông Vaitarani muối nóng và
khó chịu đựng. 72-73
Đã
có được hạnh phúc rất lớn của các vị trời cõi dục
hay hạnh phúc bình thản của Phạm thiên, rồi sự khổ đau
tương tục trở thành nhiên liệu cho lửa địa ngục Avici
sẽ lại phải chịu đựng. Đã đạt đến trạng thái mặt
trời hay mặt trăng và chiếu sáng toàn thể thế giới bởi
ánh sáng của thân thể mình, một lần nữa lại đi vào bóng
tối đen đặc đến độ bàn tay mình đưa ra cũng không thể
thấy. 74-75
Bởi
vì ngài sẽ phải khổ đau như vậy, hãy cầm lên ngọn đèn
sáng của đức hạnh ba phần ; (nếu khác đi), ngài sẽ phải
một mình đi vào bóng tối không cùng mà mặt trời hay mặt
trăng không thể phá hủy. 76
Những
chúng sanh phạm tội sẽ luôn luôn đau khổ trong những địa
ngục : Samjiva, Kalasutra, Pratapana, Samghata, Raurava, Avici v.v…
77
Có
một số người bị ép như ép mè, những người khác bị
nghiền như nghiền bột ; một số bị cắt bởi những lưỡi
cưa ; cũng vậy những người khác bị tách xẻ bằng những
lưỡi rìu sắc. 78
Trong
khi một dòng đồng nấu chảy rót vào trong một số người,
số người khác bị đâm xuyên bằng những cây thương ngạnh
sắt nóng cháy.
79
Một
số với tay lên trời bị chế ngự bởi những con chó dữ
tợn với răng nanh bằng sắt ; trong khi những người khác,
bất lực, bị mổ bởi những con quạ với những móng vuốt
kinh khủng và những mỏ nhọn bằng sắt. Một số, được
dùng như thức ăn, đau đớn kêu la khi những con giòi và bọ
chạm đến, ruồi nhặng và ong ăn thịt gây ra những vết
thương lớn. 80-81
Lại
nữa, một số với miệng há hốc thường cháy bỏng trong
những đống lửa ; trong khi một số, đầu bị đè xuống,
bị nấu như một đống gạo trong những vạc sắt. 82
Đã
nghe sự khổ đau vô lượng của địa ngục, những người
tội lỗi mà bản chất cứng như kim cương thì không chịu
vỡ tan thành ngàn mảnh ; (nhưng) chỉ giữa sự bắt đầu
và chấm dứt của một hơi thở cũng đủ cho họ tái sanh
vào địa ngục. Khi sợ hãi khởi sanh do nghĩ tưởng những
hình ảnh hay thấy những bức tranh về địa ngục, đọc,
nhớ hay nghe về nó – thế thì nếu người ta sẽ trải nghiệm
những hậu quả kinh khủng như vậy, bấy giờ không cần nói
gì nữa. 83-84
Cũng
chắc chắn như sự thoát khỏi bám luyến sanh ra hạnh phúc
tuyệt hảo nhất trong mọi hạnh phúc, chắc chắn sự khổ
đau rất khủng khiếp của Địa ngục A Tỳ (Avici) (là cái
xấu nhất) trong mọi khổ đau. Những khổ đau người ta chịu
đựng do bị đâm bằng ba trăm ngọn giáo trong một ngày ở
thế giới này cũng chẳng thể nào so sánh với một phần
nhỏ sự khổ đau của địa ngục. 85-86
Như
thế, người ta sẽ kinh nghiệm khổ đau rất khủng khiếp
trong một trăm triệu năm, vì bao giờ sức mạnh của những
hành vi bất thiện ấy chưa hết, thì người ta chưa ra khỏi
cuộc sống địa ngục. 87
Bởi
thế, bằng sự khéo léo của ngài hãy cố gắng không tạo
ra lỗi lầm dù nhỏ như một hạt bụi – hạt giống của
những quả bất thiện này – qua thân, lời và tâm ngài. 88
Những
người từ bỏ đức hạnh làm nhân cho an bình sẽ sanh vào
những cõi thú nơi có nhiều khổ đau khủng khiếp, như : ăn
lẫn nhau, bị giết, bị trói, bị đánh đập v.v… 89
Một
số bị giết vì ngọc trai, lông, xương, thịt hay da ; trong
khi số khác đành chịu bị sử dụng bằng đánh, đá, roi
hay đâm thọc bằng móc sắt. 90
Trong
loài quỷ đói, khổ đau liên tục, không bớt, được sanh
ra do không có những đối tượng thích muốn. Những khổ đau
rất kinh khủng tạo ra bởi sợ hãi, đói, khát, lạnh, nóng
và mệt lử sẽ phải chịu đựng. 91
Một
số khổ sở vì đói, thậm chí không thể ăn một miếng thức
ăn thừa và bẩn, vì họ có một cái miệng chỉ bằng lỗ
kim và một bao tử lớn như trái núi. 92
Một
số giống như phần trên cùng của cây thốt nốt khô, trần
truồng với thân bằng da và xương ; trong khi một số với
những ngọn lửa ban đêm phụt ra từ miệng họ, ăn ngấu
nghiến thức ăn của cát nóng đỏ lọt vào trong miệng họ.
93
Một
số nghèo đói thậm chí không thể tìm thấy thức ăn bất
tịnh như mủ, phân, máu… đánh vào mặt nhau, họ ăn mủ
của những bướu cổ chín mọc ra từ cổ họng của họ.
94
Đối
với họ mặt trăng cũng là nóng vào mùa hè, và dù mặt trời
cũng là lạnh vào mùa đông ; những cây trở thành không có
trái và những dòng sông khô cạn trong cái nhìn của họ. 95
Đã
chịu đựng khổ đau không dứt, một số cá nhân – bị sợi
thòng lọng của những hành vi xấu đã phạm cột chặt –
sẽ không chết trong năm ngàn hay thậm chí mười ngàn năm.
96
Đức
Phật nói, “Dù những khổ đau mà những quỷ đói kinh nghiệm
là đa dạng, chúng vẫn là một vị ; nguyên nhân là sự hà
tiện, keo kiệt và đê tiện của người ta.” 97
Lại
nữa, (như một kết quả) của những lạc thú lớn lao trong
những cõi trời, sự khổ đau của cái chết và chuyển kiếp
là lớn lao hơn ; đã suy gẫm như vậy, những người cao thượng
không nên khao khát cõi trời, nó sẽ có lúc chấm dứt. 98
Hình
sắc thân thể họ trở nên xấu xí, họ không muốn ngồi,
những vòng hoa trên người tàn héo, y phục họ trở nên bẩn
thỉu, và mồ hôi xuất hiện trên người họ – (tất cả
những điều này) trước đây chưa từng xảy ra. Cũng như
trên trái đất những dấu hiệu của sự chết báo trước
cái chết đang đến với một người, thì năm dấu hiệu trên
báo tin cái chết và sự chuyển kiếp của chư thiên đang ở
trong cõi trời. 99-100
Nếu
không còn phước đức khi họ chuyển di từ những thế giới
của chư thiên, bấy giờ một cách bất lực, họ sẽ làm
hoặc là thú vật, quỷ đói hay cư dân của địa ngục. 101
Lại
nữa, trong những bán thiên, có sự khổ đau lớn lao nơi tâm
trí vì sự xung đột tự nhiên đối với sự rực rỡ của
chư thiên ; dù họ cũng thông minh nhưng họ không thấy được
sự thật do bức màn của Nghiệp của họ. 102
Sanh
tử là như vậy, thế nên sanh là bất hạnh dù ở đâu, giữa
chư thiên, loài người, cư dân của địa ngục, quỷ đói
hay thú vật. Hãy nhận thức rằng sanh là cái chứa đựng
nhiều bệnh hoạn. 103
(Như
ngài) dập tắt một ngọn lửa nếu nó thình lình bắt cháy
trên áo quần hay trên đầu ngài, cũng thế hãy nỗ lực chấm
dứt sự tái sanh qua những hành vi từ bỏ – vì không có
mục tiêu nào khác tuyệt hảo hơn điều này. 104
Qua
giới, huệ và định hãy đạt được trạng thái Niết bàn
an lạc, bình thản và không một vết dơ, nó thì không tuổi
tác, không chết, không cạn kiệt, và không có đất, nước,
lửa, không khí, mặt trời và mặt trăng. 105
Bảy
chi này của giác ngộ – niệm, phân biệt các pháp, tinh tấn,
hỷ, tịnh hóa, định và xả – là sự tích tập đức hạnh
(hay công đức), sự tích tập công đức này là nguyên nhân
của đạt được Niết bàn. 106
Không
có huệ thì không có định, và ngược lại, không có định
thì cũng không có huệ ; nhưng với người có hai cái này,
đại dương sanh tử được biến thành như (nước ở trong)
một dấu chân bò. 107
Mười
bốn câu hỏi mà bậc Dòng Dõi của Mặt Trời tuyên bố là
không thể nói ra trong thế gian thì không khơi dẫn sự an bình
của tâm, thế nên chớ suy nghĩ tìm tòi về chúng. 108
Bậc
Đại Trí tuyên bố, “Từ vô minh sanh những thiên hướng
(hành), từ những thiên hướng sanh thức, từ thức sanh danh
và sắc, từ danh sắc sanh sáu giác quan, từ những giác quan
sanh tiếp xúc, từ tiếp xúc sanh cảm thọ, từ nền tảng
của cảm thọ sanh khao khát, từ khao khát sanh bám giữ, từ
bám giữ sanh trở thành, từ trở thành sự sanh xảy ra –
nếu có sanh, bấy giờ một đống rất lớn khổ đau tiếp
theo, như lo buồn, bệnh tật, già nua, thất vọng, sợ chết…
; tuy nhiên, bằng cách chấm dứt sanh, tất cả những cái ấy
sẽ dừng dứt. 109-111
(Giáo
Pháp) Duyên Sanh này là kho tàng sâu xa và quý báu của lời
dạy của bậc Chiến Thắng ; người thấy đúng cái này (Duyên
Sanh) thì thấy Phật tối thượng, bậc Hiểu Biết Thực Tại.
112
Để
đạt an lạc, hãy thực hành tám phần này của Con Đường
: cái thấy chân chánh, đời sống chân chánh, nỗ lực chân
chánh, niệm chân chánh, định chân chánh, lời chân chánh,
hành động chân chánh và tư tưởng chân chánh. 113
Sanh
này là khổ ; khao khát được gọi là nguồn gốc lớn lao
của khổ ấy ; sự dừng dứt của khổ là giải thoát ; và
con đường đạt đến giải thoát ấy là Con Đường Tám Ngành
Cao Cả. Thế nên trong cách này, hãy luôn luôn cố gắng thực
hiện Bốn Chân Lý Cao Cả, vì thậm chí người tại gia sống
trong lòng của sự giàu có vẫn vượt qua dòng sông của những
nhiễm ô nhờ cái hiểu biết này. 114-115
Những
người đã thấu hiểu, thể nghiệm Chân Lý không từ trời
rơi xuống cũng không từ đất vọt lên như hạt mầm, vì
họ trước kia cũng là những người lệ thuộc vào những
nhiễm ô 116
Hỡi
con người không sợ hãi, Thế Tôn đã nói rằng tâm là gốc
của mọi đức hạnh công đức, thế nên hãy điều phục
tâm ngài ; đây là lời chỉ dạy lợi lạc và hữu dụng,
thế nên đó là điều cần được nói thêm. 117
Thậm
chí với một vị tăng ở đơn độc còn khó theo lời khuyên
của tôi đã cho ngài : (nhưng) hãy làm cho cuộc đời này có
ý nghĩa bằng sự trau dồi phẩm tính của tinh túy bất kỳ
thực hành nào ở đây. 118
Đã
tùy hỷ với công đức của tất cả (chúng sanh), cũng đã
hồi hướng đức hạnh, thân, lời, tâm của ngài cho sự đạt
đến Phật quả, và đã làm chủ toàn bộ yoga, bấy giờ ngài
sẽ có vô số sự sanh trong những cõi của chư thiên và loài
người nhờ số công đức này. 119-120a
Hãy
sinh như Thánh Quán Thế Âm, qua đức hạnh mình giúp đỡ những
người khốn khổ và xua tan bệnh tật, già nua, tham và sân,
hãy an trụ vô lượng cuộc đời như bậc Bảo Vệ của Thế
Giới, Thế Tôn A Di Đà Phật trong cõi Phật của Ngài. 120b-121
Lan
truyền đến những cõi của chư thiên, bầu trời và trên
mặt đất, danh tiếng vĩ đại không tỳ vết (của ngài) sanh
khởi từ huệ, giới và bố thí, đã hàng phục sự thích
thú của chư thiên nơi các cõi trời và con người trên mặt
đất trong sự hưởng thụ những trinh nữ tuyệt hảo, và
đã đạt được Quyền Uy tối cao của những bậc Chiến Thắng
dập tắt sự sanh khởi của sợ hãi và cái chết cho vô số
chúng sanh phiền não bởi nhiễm ô, hãy đạt được trạng
thái không sợ hãi, không tuổi tác, không lỗi lầm, an lạc,
chỉ là danh tự, và siêu việt. 122-123
NHỮNG SÁCH
CỦA THIỆN TRI THỨC ĐÃ XUẤT BẢN
Thiện
Tri Thức
Những
Khai Thị Từ Đức Liên Hoa Sanh Về Con Đường Đại Toàn Thiện
– Padmasambhava
Trí
Huệ Và Đại Bi – Dalai Lama Thứ 14
Một
Tia Sấm Chớp Sáng Trong Đêm Tối – Dalai Lama Thứ 14
Kho
Tàng Tâm Của Các Bậc Giác Ngộ – Dilgo Khyentse
Đại
Toàn Thiện Tự Nhiên – Khenpo Nyoshul
Con
Đường Đến Tự Do Vô Thượng – Dalai Lama Thứ 14
Con
Đường Kim Cương Thừa Về Sự Tịnh Hóa – Lama Yeshe
Cuộc
Đời Siêu Việt Của 16 Vị Tổ Karmapa Tây Tạng – Karma Thinley
Mật
Thừa Tây Tạng – Tsong Khapa và Dalai Lama Thứ 14
Những
Yoga Tây Tạng Về Giấc Mộng Và Giấc Ngủ – Tenzin Wangyal
Rinpoche
Những
Giáo Huấn Của Gampopa – Lama Yeshe Gyamtso và Evans Wentz
Tu
Hành Tâm Linh Liên Hệ Với Trung Ấm – Tulku Pema Wangyal
Năng
Lực Chữa Lành Của Tâm – Tulku Thondup
Phật
Tâm – Longchen Rabjam
Milarepa
¬– Lobsang P. Lhalungpa
Con
Đường Căn Bản Đến Giác Ngộ – Chošgyam Trungpa
Tử
Thư Tây Tạng – Chošgyam Trungpa và Francesca Fremantle
Nghệ
Thuật Để Sống Trọn Vẹn Ý Nghĩa Cuộc Đời – Akong Tulku
Rinpoche
Đại
Ấn – Karmapa Thứ Chín Wangchug Dorje
Sông
Lửa Sông Nước – Taitetsu Unno
Vài
Chú Giải Về Thiền Đốn Ngộ – Nguyên Giác Phan Tấn Hải
Một
Kho Tàng Các Giáo Huấn Siêu Việt – HH. Orgyen Kusum Lingpa
Bát
Nhã Tâm Kinh Thiền Giải – Đương Đạo
Những
Chữ Vàng – Garab Dorje
Bức
Thư Bồ Tát Long Thọ Gởi Cho Vua Gautamiputra – Sakya Trizin
Yoga
Giấc Mộng Và Sự Thực Hành Ánh Sáng Tự Nhiên – Namkhai
Norbu
Tịnh
Độ Tư Tưởng Luận – Các đại sư Tịnh Độ Trung Hoa
Uống
Dòng Suối Núi – Milarepa
Đức
Đạt Lai Lạt Ma Nói Về Chúa Giêsu – Dalai Lama Thứ 14
Mười
Tư Tưởng Pháp Hoa Trong Đời Sống Hàng Ngày – Đương Đạo
Tánh
Giác Lộ Toàn Thân – Karma Chagmé