PHÁC
HỌA TỔNG QUÁT
BỨC
THƯ CỦA BỒ TÁT LONG THỌ
GỞI
CHO VUA GAUTAMIPUTRA
I.
Khuyến Khích Nghe Giáo Pháp
II.
Lời Dạy Trực Tiếp
A.
THỰC HÀNH CHUNG VỀ ĐỨC HẠNH
1.
Lời khuyên cho cả chư tăng và cư sĩ
a.
Sáu điều để nhớ
b.
Lời khuyên sống vững chắc trong mười giới
c.
Lời khuyên thực hành sáu sự hoàn thiện (ba la mật) của
Đại thừa
2. Lời
khuyên chủ yếu cho cư sĩ
a.
Kính trọng cha mẹ mình
b.
Tuân thủ sự tiết chế vào những ngày đặc biệt
c.
Xóa bỏ những lỗi lầm của tâm
d.
Thực hành chánh niệm
e.
Thực hành nhẫn nhục
f.
Thực hành chánh hạnh trong thân, ngữ và tâm
g.
Biết những phẩm tính của những người cộng sự với mình
h.
Từ bỏ sự tham muốn vợ của những người khác
(1)
Kiểm soát những giác quan
(a)
Tri giác những đối tượng là bất tịnh hơn là tịnh
(b)
Bảo vệ tâm
(c)
Xét xem những lỗi lầm của đối tượng tham luyến và chủ
thể tham luyến
(2)
Nhổ bật những nguyên nhân của bám luyến
(a)
Thiền định để nhổ gốc những nguyên nhân của bám luyến
(b)
Ca ngợi trí huệ và đạo đức
(c)
Thản nhiên với “tám pháp thế gian”
(d)
Có được sự giàu có của những bậc Thánh
(e)
Bỏ đi những hành vi hủy hoại sự giàu có của những bậc
Thánh
(f)
Sống bằng lòng dẫn tới sự giàu có của những bậc Thánh
i.
Biết những phẩm tính của một người vợ tương lai
3. Lời
khuyên cho cả tu sĩ và cư sĩ cần thực hành Pháp để đạt
được cõi thiên và giải thoát
a.
Thực hành tổng quát về Pháp
(1)
Cảnh tỉnh với số thực phẩm người ta dùng
(2)
Cố gắng không ngủ
(3)
Thực hành những thiền định vô lượng
(4)
Thực hành bốn tập trung
(5)
Từ chối hay chấp nhận tội lỗi hay đức hạnh nhờ thấy
những hành vi này là nặng hay nhẹ
(6)
Trừ bỏ năm che chướng
b.
Thực hành Pháp thành tựu giải thoát
(1)
Thiền định về năm thần lực
(2)
Từ bỏ tự phụ, nó là một chướng ngại cho việc đạt
được năm thần lực
(3)
Thiền định theo một đường lối dẫn khởi cho chánh kiến
(a)
Trước hết, tóm tắt
(b)
Thứ hai, giải thích chi tiết
(1)
Thiền định về bốn nền tảng của chánh niệm
(2)
Thiền định đặc biệt về nền tảng của Chân Lý
(3)
Cởi bỏ ba trói buộc ngăn ngại giải thoát
(4)
Thực hành ba môn dẫn đến giải thoát
(5)
Giữ gìn chánh niệm về thân thể
c.
Rút tỉa lợi lạc từ nền tảng đã hoàn thành
(1)
Từ bỏ bám luyến vào thân thể mình, nó là vô thường và
không có tự tánh
(2)
Rút tỉa lợi lạc từ những điều kiện may mắn nhờ hiểu
được chúng là hiếm hoi như thế nào
(3)
Lời khuyên cho nhà vua nên nỗ lực khi đã có một nền tảng
tốt đẹp phi thường.
B.
PHÁT SANH SỰ GHÊ SỢ SANH TỬ
1.
Thứ nhất, nói gọn
2.
Thứ hai, giải thích chi tiết
a.
Quán sát sự không chắc chắn trong sanh tử
b.
Quán sát sự bất toại nguyện
c-d.
Mất thân và tái sanh lập đi lập lại
e.
Quan sát sự lên xuống những cõi khác nhau của sanh tử
f.
Quan sát tình cảnh đơn độc của mình
g.
Quan sát những khổ đau được kinh nghiệm trong năm cõi
(1)
Quan sát khổ đau trong những địa ngục
(2)
Quan sát sự khổ đau của loài thú
(3)
Quan sát sự khổ đau của loài quỷ đói
(4)
Quan sát sự khổ đau của chư thiên
(5)
Quan sát sự khổ đau của những bán-thiên
(a
tu la)
3. Xác
định sự hiểu rõ rằng sanh tử là bất hạnh
C.
QUAN SÁT NHỮNG PHẨM TÍNH TUYỆT HẢO CỦA NIẾT BÀN VÀ THỰC
HÀNH CON ĐƯỜNG ĐẠT ĐẾN NIẾT BÀN
1.
Lời khuyên tổng quát về mọi kỷ luật dẫn đến Niết bàn
a.
Nỗ lực đạt đến Niết bàn
b.
Lời khuyên tích tập cái cần thiết để đạt Niết bàn
(1)
Thực hành bảy chi của giác ngộ
(2)
Chỉ ra rằng Niết bàn đạt được nhờ sự phối hợp của
định tĩnh (Chỉ) và quán chiếu (Quán)
(3)
Từ bỏ suy nghĩ tìm tòi về cái không thể diễn tả được
(4)
Hiểu Duyên Sanh, sự thật này giải thoát người ta khỏi sanh
tử
(5)
Thiền định về Con Đường Tám Ngành Cao Cả
(6)
Quan sát Bốn Chân Lý Cao Cả
(7)
Chớ chần chờ trong nỗ lực vì Niết bàn
(8)
Lời khuyên ngắn gọn
2. Lời
khuyên thực hành Con Đường của Đại thừa
a.
Đi vào Con Đường Đại thừa nhờ tùy hỷ với sự biểu
lộ của Pháp
b.
Đạt Phật quả và hoàn thành lợi lạc của chúng sanh
ACARYA
NAGARJUNA
BỨC
THƯ CỦA BỒ TÁT LONG THỌ
GỞI
CHO VUA GAUTAMIPUTRA
Với
Ghi Chú Giải Thích
I.
Khuyến Khích Nghe Giáo Pháp
Hỡi
con người chánh trực và đáng kính có những đức hạnh,
thật đáng cho ngài nghe một số ít bài thánh kệ này mà tôi
đã soạn thảo để cho ngài có thể mong ước công đức khởi
sanh từ những lời của đấng Thiện Thệ. 1
Bồ
tát Long Thọ mở đầu thông điệp của mình cho Vua Gautamiputra
bằng cách thúc dục ông, cũng như những người khác, thận
trọng chú ý vào giáo pháp chứa đựng trong bức thư này vì
nó liên quan đến Pháp thiêng liêng.
Do
bản chất đã thực hiện những hành vi đức hạnh của vua
trong những đời trước, ông đã tích tập nhiều công đức
khiến bây giờ ông có cơ hội này để nghe Pháp. Trong ánh
sáng những trách nhiệm trần thế của vua, bức thư ngắn
bằng những câu kệ của bậc thánh được viết ra.
Mục
tiêu của lời dạy này là đặt vua và tất cả những người
khác vào con đường giải thoát nhờ giáo pháp của đấng
Thiện Thệ. Con đường của đức Phật là phương pháp thích
hợp để đạt đến những cõi cao hơn và sự giải thoát,
bởi vì công đức và trí huệ cần thiết cho những sở đắc
như vậy chỉ có thể tích tập bởi con đường này. Những
phái khác chỉ nương dựa vào sự hành xác hay thiền định
về atman (ngã) để đạt đến những cõi cao hơn và sự giải
thoát, nhưng các biện pháp này chỉ tạo ta một sự tích tập
không đủ về công đức và trí huệ. Hai tích tập này chỉ
có thể được tích tập bởi con đường của đấng Thiện
Thệ, bởi vì con đường này hoàn thành được mong mỏi của
những người khác.
Như
Matrïcetïa có nói trong Satapancasatka của ngài :
Giáo
pháp của ngài, khác với những người khác, là con đường
duy nhất thích thú trong phương pháp, tốt đẹp trong kết quả,
thoát khỏi lỗi lầm và thiện hảo vào lúc bắt đầu, ở
chặng giữa và kết thúc.
Ví
như, một hình ảnh của đấng Thiện Thệ, nếu nó được
làm bằng gỗ hay cái gì đại loại, được những người
trí phụng thờ. Cũng thế dù những vần kệ của tôi có thể
không duyên dáng, chớ có coi thường nó bởi vì nó đặt nền
trên một luận bàn thánh Pháp. 2
Người
ta không nên coi thường những lời này dù chúng có thể không
đẹp đẽ, vì chúng hiện thân một giáo pháp rất quan trọng
và thiêng liêng. Tương tự, những người trí phụng thờ bất
kỳ hình ảnh nào của đấng Thiện Thệ dù nó làm bằng vàng,
đá, gỗ hay đất sét, nó đẹp hay không hấp dẫn, có giá
trị hay không.
Tuy
ngài đã nghe và thậm chí đã hiểu nhiều lời của bậc Đại
Giác, chẳng phải một lâu đài màu trắng càng trắng hơn
bởi trăng khuya ? 3
Bức
thư này cần được nghiên cứu thậm chí với người đã
biết những lời giáo huấn của bậc Đại Giác để cho chỗ
hiểu của y về giáo pháp được sáng tỏ thêm. Điều này
đặc biệt đúng với người biết và thực hành giáo pháp
của đức Phật như nhà vua. Bởi thế, như một lâu đài sơn
trắng càng chiếu sáng hơn bởi ánh sáng trăng, cũng thế cái
hiểu về giáo pháp của người ta sẽ trở nên sáng tỏ hơn.
II.
Lời Dạy Trực Tiếp
A.
THỰC HÀNH CHUNG VỀ ĐỨC HẠNH
1.
Lời khuyên cho cả chư tăng và cư sĩ
a.
Sáu điều để nhớ
Ngài
cần ghi nhớ trong tâm sáu điều : Phật, Pháp, Tăng, bố thí,
giới và chư thiên ; kho những phẩm tính của mỗi cái trong
sáu sự nhớ nghĩ này đã được bậc Điều Ngự khéo dạy.
4
Người
ta cần quy y Tam bảo hàng ngày cũng như nhớ sáu điều này
như chúng ta đã được dạy trong kinh điển.
Vì
đức Phật có nhiều phẩm tính, những danh hiệu đã được
xưng gọi Ngài. Như thế, Phật được biết là : Jina (Điều
Ngự), Bhagavan (Thế Tôn), Tathagata (Như Lai), Arhat (A La Hán),
Sugata (Thiện Thệ), Samyaksam-buddha (Chánh Biến Tri) và Atulya
(Vô Thượng Sĩ). Ngài được xưng là Jina, bởi vì Ngài đã
chiến thắng mọi tội lỗi. Ngài được gọi là Bhagavan, vì
Ngài đã đánh bại bốn loại ma. Ngài được xưng là Tathagata,
bởi vì bất cứ điều gì Ngài nói đều chân thật, vì Ngài
là một với “tánh như” (tathata). Ngài được xưng là Arhat,
vì Ngài đã đánh bại những ô nhiễm của thân, ngữ và tâm.
Ngài được xưng là Sugata, bởi vì Ngài đã đi khéo léo đến
bờ bên kia của đại dương sanh tử ; là người biết rõ
sanh tử ; người biết rõ Duyên Khởi ; người biết mọi sự
chứa đựng trong sanh tử ; và người thấy sanh tử như một
vật chứa đựng và biết mọi chúng sanh được chứa đựng
trong đó. Ngài được xưng là Samyaksambuddha, vì Ngài đã giác
ngộ một cách thanh tịnh và hoàn hảo. Hơn nữa, Ngài được
xưng là Atulya, bởi vì Ngài được so sánh như người đánh
xe ngựa. Trước hết đã huấn luyện con ngựa kéo xe, rồi
người đánh xe dạy con ngựa chưa thuần chạy cho thẳng, và
rồi chuyển động theo ý muốn của người đánh xe. Tuy nhiên,
nếu không thể đặt con ngựa vào dây cương, ông ta để nó
một mình một thời gian. Đức Phật dạy dỗ chúng sanh cũng
tương tự. Trước hết Ngài đặt lên con đường những người
cần ở trên con đường, cũng như khiến những người lười
biếng và không cương quyết thực hành. Tiếp theo, Ngài sửa
chữa những người đang tiến trên con đường sai, và đặt
những người không thể kiểm soát dưới sự kiểm soát. Cuối
cùng, đức Phật để một mình những người tuyệt đối
không cần sự giúp đỡ. Theo cách này Thiện Thệ là “người
lái xe vô địch” trong việc huấn luyện trời và người,
những kẻ theo Ngài.
Hai
phương diện của Pháp là “cái được chỉ bởi người khác”
và “cái được chứng ngộ bởi chính mình”. Cái trước,
“pháp được khéo thấy”, được đức Phật chỉ ra. Thế
nên người ta có được trí huệ bằng cách nghe, nghiên cứu,
tham thiền và thiền định về Pháp đã được đức Phật
dạy. Cái sau, “pháp được khéo nhận”, thì được đạt
đến bởi sự chứng ngộ của riêng mình. Người thực hành
chuyên cần cuối cùng sẽ đạt được Niết bàn, kết quả
“khéo được nhận”.
Con
đường Pháp thì tự nhiên thanh tịnh như tịnh quang vốn nội
tại. Nếu người ta theo con đường này, họ sẽ thấy chân
lý một cách đúng đắn. Con đường này thoát khỏi bệnh
hoạn, bởi vì những ô nhiễm và gốc rễ của chúng đã bị
thải bỏ. Xa lìa khỏi những cái ấy, người ta sẽ đạt
đến một trạng thái không tạm thời.
Pháp
được chia thành hai phạm trù : dạy (những Sự Thật về
Khổ và về sự Phát Sanh của Khổ) và hiểu (những Sự Thật
về Dứt Diệt và về Con Đường). Sự thật về Dứt Diệt
được các bậc thánh chứng ngộ một cách cá nhân khi nó
khởi lên trong các Ngài, bởi thế không có định nghĩa cho
Sự Thật này.
Những
vị của Tăng Già có bốn phẩm tính đặc biệt : các vị
giữ một giới luật đặc biệt ; khéo tu tập tâm để tâm
an định và không xáo động ; có trí huệ lớn lao cho phép
các vị thấy chân lý ; các vị có những phẩm tính, những
mục tiêu, quan niệm, triết học… đặc biệt như nhau. Bốn
phẩm tính này là tự nhiên cho Tăng Già. Từ cái nhìn này
người ta cần tôn kính chư tăng như họ đáng nhận của cho.
Hơn nữa, bởi vì các vị sở hữu các thiền và là ruộng
không thể sánh cho người ta thu hoạch công đức, các vị
xứng đáng được đi nhiễu quanh và lạy với hai tay chắp.
Những
phẩm tính của bố thí sanh khởi trong những cách sau : cho
mà không có tham tiếc, bản thân hành động bố thí, nỗ lực
người ta làm khi bố thí, bản thân món đồ cho, và niềm
vui người ta có khi thực hành sự cho.
Những
phẩm tính của giới là nó không bị hư hại, không trộn
lẫn, không lỗi lầm và không nhiễm ô. Người minh mẫn xem
nó là đáng ca ngợi, bởi vì, do giữ giới luật một cách
đúng đắn, sự thấu hiểu của trí huệ người ta được
tăng trưởng và sự nhập các thiền được phát sanh dễ dàng.
Chư
thiên của cõi trời dục giới (kama-dhatu) và sắc giới (rupa-dhatu)
có nhiều vui thú và nhiều sở hữu đẹp đẽ. Do giữ giới
và đạt được các thiền trong những đời trước, họ có
một sự tái sanh cao như vậy. Bởi thế, nếu người ta so
sánh giới và thiền định của mình với chư thiên, bấy giờ
người ta sẽ nhớ những phẩm tính của họ để tăng cường
hoạt động tâm linh của mình.
b.
Lời khuyên sống vững chắc trong mười giới
Hãy
luôn luôn thực hành con đường của mười thiện hạnh (được
thực hiện) qua thân, ngữ và tâm ; tránh rượu, và cũng thích
thú với một cuộc sống lành mạnh. 5
Cần
thiết thực hành thường trực mười giới. Đây là sự thực
hành con đường chân chánh dẫn đến kết quả chánh. Bởi
thế người ta phải tránh mười bất thiện hạnh này : ba
của thân – giết, trộm, tà dâm ; bốn của ngữ – nói dối,
vu khống, lời nói man trá, lời nói vô tích sự ; ba của tâm
– tham muốn, ác tâm và những quan niệm sai lầm.
Biết
rằng sung túc thì không bền và không có tự tánh, đáng trao
tặng cho những vị tăng, bà la môn, người nghèo và bạn bè
những món đồ tặng ; thế nên đối với đời tới không
có một người bà con nào tuyệt hảo cho bằng bố thí. 6
Người
ta cần bố thí cho những nhà sư và những bà la môn vì những
phẩm tính tốt lành của họ ; cho cha mẹ, thầy dạy và bạn
đạo vì lòng tốt của họ ; và cho những người đói và
bệnh vì nhu cầu của họ. Như có nói trong Abhidharmakosùa,
Phước
đức vô lượng (sẽ có được nếu người ta bố thí) cho
những Bồ tát nhập thân, hay thậm chí cho những người không
phải thánh như cha, mẹ, người bệnh và thầy dạy Pháp.
Hơn
nữa, hãy luôn luôn ghi nhớ rằng sự sung túc thì không có
tự tánh, bởi vì nó thường trực chuyển sang tay người khác
và hướng đến hư hao và mất mát.
Ngài
cần thực hành giới luật, nó không hư hại, không thể chê
trách, không trộn lẫn và không nhiễm ô – vì giới được
nói là nền tảng của mọi đức hạnh, như đất là chỗ
nâng đỡ cho cả hai loài hữu tình và vô tình. 7
Như
người ta thấy đất là nền tảng của mọi sự trong thế
giới, người ta cần thấy giới luật là nền tảng của mọi
phẩm tính thế gian và vượt khỏi thế gian cũng như những
thiền và trí huệ. Như Kinh Silasamyukta nói,
Cũng
như một cái bình tốt là một đồ chứa đựng ngọc quý,
giới là nền tảng của sự tăng trưởng của các pháp.
Hơn
nữa, giới là cơ sở nền tảng nhất cho sự đạt đến sau
cùng sự tự do của Niết bàn.
Giới
được phú bẩm với bốn phẩm tính đặc biệt. Thứ nhất,
nó được gọi là không hư hại bởi vì những luật lệ của
nó không bị phá và những lầm lỗi do sự vi phạm được
tránh khỏi. Thứ hai, nó được gọi là không thể chê trách
bởi vì sự bám luyến vào nguyên nhân (tức là những ô nhiễm)
của sự phá vỡ những lời thệ nguyện được từ bỏ. Thứ
ba, nó được gọi là không trộn lẫn bởi vì nó hoàn toàn
thoát khỏi những tư tưởng không đức hạnh. Nó không trộn
lẫn với cái bất tịnh bởi vì những cái cải tạo cho những
ô nhiễm thường xuyên được thực hành. Thứ tư, nó được
gọi là không nhiễm ô bởi vì cái được mong ước là sự
đạt đến giác ngộ tối thượng hơn là sự sung túc thế
gian hay Niết bàn không hoạt động (của hàng Thanh Văn).
c.
Lời khuyên thực hành sáu sự hoàn thiện (ba la mật) của
Đại thừa
Hãy
tăng trưởng những hoàn thiện vô lượng bố thí, giữ giới,
nhẫn nhục, tinh tấn, tập trung, và trí huệ, và như vậy
trở thành Chúa Tể của những Bậc Chiến Thắng đã đạt
đến bờ bên kia của đại dương sanh tử. 8
Mọi
con đường của truyền thống Đại thừa được bao gồm trong
sáu hoàn thiện (ba la mật). Sáu cái này được chia thành hai
nhóm : sự tích tập công đức (bố thí, giữ giới và nhẫn
nhục) và sự tích tập trí huệ (tập trung và trí huệ). Tinh
tấn nằm trong cả hai nhóm vì nó cần trong mọi lãnh vực
của những hoạt động và những phẩm tính. Những Bồ tát,
những chúng sanh vĩ đại, dù trong Sanh tử hay Niết bàn, tất
cả đòi hỏi cho vị ấy được đáp ứng bởi hai tích tập
này.
Khi
ở trong sanh tử, Bồ tát có đức tính sáu hoàn thiện, tránh
khỏi những lỗi lầm của cuộc sống thế gian mà giúp đỡ
cho những chúng sanh khác. Ở lại trong sanh tử, Bồ tát nhờ
những hoàn thiện bố thí, giữ giới, nhẫn nhục và tinh tấn
sống trong hạnh phúc. Đạt đến Báo thân (Sambhogakaya) và
Hóa thân (Nirmanakaya), vị ấy đáp ứng những nhu cầu cho chúng
sanh. Đạt đến giác ngộ, Bồ tát sống trong hạnh phúc nhờ
những hoàn thiện tập trung và trí huệ. Hơn nữa, đã đạt
đến giải thoát Bồ tát sẽ có Thân của cái Tối Hậu (Dharma-kaya,
Pháp thân) nhờ tập trung siêu việt và trí huệ siêu việt
(siêu việt : ba la mật).
2.
Lời khuyên chủ yếu cho cư sĩ
a.
Kính trọng cha mẹ mình
Dòng
giống của người thờ phụng cha và mẹ thì cùng với dòng
giống của Phạm thiên và của những thầy giáo ; nhờ tôn
kính họ mà người ta sẽ có tiếng tăm và về sau sẽ đạt
đến những cõi cao hơn. 9
Người
ta cần kính trọng cha mẹ mình, bởi vì họ là những người
tốt lòng nhất với mình ở trong đời này. Những ai kính
trọng cha mẹ mình thì hiền hòa, lạc phúc và sẽ có được
nhiều phẩm tính tốt trong đời này và đời sau. Đức Phật
tuyên bố rằng người giúp đỡ cha mẹ mình thì được gọi
là thuộc dòng giống của Phạm thiên. Như có nói trong Kinh
Samadhiraja,
Hãy
luôn luôn tôn kính các thầy dạy, cha mẹ cũng như tất cả
chúng sanh, chớ rơi vào sự thống trị của kiêu căng (để
cho) ba mươi hai tướng tốt của một vị Phật có thể đạt
được.
b.
Tuân thủ sự tiết chế vào những ngày đặc biệt
Hãy
từ bỏ giết hại, trộm cắp, tà dâm, nói dối, rượu, ăn
không đúng thời, thích thú ghế giường cao, và mọi loại
ca hát, khiêu vũ và hoa. 10
Thường
thì rất khó cho cư sĩ thực hành tám giới điều này trong
mọi lúc. Tuy nhiên, quan trọng là chúng được thực hành khi
có dịp, nhất là trong những ngày lễ tôn giáo, như ngày Phật
thành đạo v.v… Ý nghĩa của sự thực hành tám giới điều
được chỉ ra trong những câu kệ sau.
Nếu
ngài có tám đặc tánh này giống như đạo đức của một
A la hán, bấy giờ, được nuôi dưỡng bởi những lời nguyện,
ngài sẽ ban cho những người đàn ông và đàn bà hình sắc
đáng ưa của chư thiên cõi dục. 11
c.
Xóa bỏ những lỗi lầm của tâm
Hãy
nhìn những cái này như những kẻ thù : keo kiệt, xảo quyệt,
lừa dối, tham luyến tư hữu, lười biếng, kiêu mạn, tham
luyến tình dục, thù ghét, và kiêu căng về giai cấp, hình
sắc, học vấn, tuổi trẻ và quyền lực lớn lao. 12
Người
ta cần nhìn mười ba lỗi lầm này như những kẻ thù :
(i)
hà tiện và keo kiệt ;
(ii)
che dấu những lỗi lầm của mình ;
(iii)
bày tỏ những phẩm tính của mình bằng những phương pháp
giả dối ;
(iv)
tham thân thể và sức khỏe của chính mình ;
(v)
lười biếng (nghĩa là không quan tâm đến việc thực hiện
những hành động đức hạnh) ;
(vi)
kiêu mạn (nghĩa là tự cho là có những phẩm tính mà mình
không có) ;
(vii)
tham dâm ;
(viii)
giận ghét với những kẻ thù của mình ;
(ix)
kiêu căng về dòng giống ;
(x)
kiêu căng về hình thể (nghĩa là cảm thấy thân mình tốt
đẹp hơn của người khác) ;
(xi)
kiêu căng về học vấn ;
(xii)
kiêu căng về “lúc sung mãn” của cuộc đời ; và
(xiii)
kiêu căng về quyền lực.
d.
Thực hành chánh niệm
Bậc
Thánh nói rằng chánh niệm là nguồn gốc của sự bất tử
và không chánh niệm là nguồn gốc của chết (sanh tử) ; bởi
thế để tăng cường đức hạnh của ngài, hãy tận tụy
ở trong chánh niệm. Người trước kia không chánh niệm, nhưng
về sau trở nên chánh niệm – như Nanda, Angulimala, Ajatasatru
và Udayana – cũng sẽ chói sáng như mặt trăng thoát khỏi
đám mây.
13-14
Thậm
chí nếu người ta đã làm những ác hạnh trong quá khứ, cũng
không gì ngăn được người đó chánh niệm và tỉnh giác
vào lúc này. Thí dụ, Nanda có nhiều tham dục, Angulimala có
nhiều hận thù, Ajatasatru đã giết cha, và Udayana đã giết
mẹ, trước hết đều là những người tội lỗi dưới sự
xúi dục của những nhiễm ô của họ. Tuy nhiên, về sau họ
đi vào con đường chân chánh và trở thành những người xứng
đáng. Đã mắc phải nhiều tội lỗi trong quá khứ, người
ta cảm thấy bây giờ họ không xứng đáng hay đủ sức thực
hành Pháp. Tuy nhiên, qua những thí dụ Nanda, Angulimala, Ajatasatru
và Udayana, điều ấy tỏ ra không đúng.
e.
Thực hành nhẫn nhục
Bởi
vì không có sự hối lỗi nào hơn nhẫn nhục, ngài phải không
để cho tức giận có dịp sanh khởi. Đức Phật nói rằng
bằng cách bỏ đi giận dữ, người ta sẽ đạt đến cấp
độ bất thối chuyển.
15
Đốt
thân thể, lặn vào nước, ăn thực phẩm nghèo đói như rễ
cây…, và mặc áo quần nghèo khổ rách rưới không phải
là hành động đích thực của hối lỗi. Có nói rằng những
hành động như vậy thậm chí không bảo đảm một tái sanh
cao hơn trong sanh tử. Hơn thế nữa, hành động lớn nhất
của hối lỗi là nhẫn nhục. Bởi thế quan trọng là thực
hành nhẫn nhục, đặc biệt khi những biến cố khó chịu
– như sự tấn công của người nào, v.v… – xảy ra cho
mình. Theo cách này người ta sẽ có được hạnh phúc, như
chỉ ra ở câu sau.
“Tôi
bị những người này lợi dụng, bị họ trói, bị họ đánh
bại, họ đã giật tài sản của tôi” ; chứa chấp sự thù
địch như vậy sanh ra những tranh chấp, nhưng người bỏ đi
sự chứa chấp thù địch ngủ một cách hạnh phúc. 16
Như
Santideva nói trong Bodhicaryavatara,
Người
nào siêng năng hủy diệt giận dữ sẽ có được hạnh phúc
trong đời này và những đời khác.
f.
Thực hành chánh hạnh trong thân, ngữ và tâm
Hãy
biết rằng tâm giống như một hình vẽ trên mặt nước, trên
đất hoặc trên đá ; cái đầu tiên trong ba cái là tốt nhất
cho những ai có nhiễm ô, và cái cuối cùng cho những ai mong
muốn đạo. 17
Tâm
có thể được xếp thành ba phạm trù, tùy theo thời gian kéo
dài của những tư tưởng, nghĩ nhớ v.v… Nghĩa là, một biến
cố tâm thức có thể kéo dài rất ngắn, có sự kéo dài tương
đối dài, hay có sự kéo dài thật lâu. Ba cái này có thể
dùng thí dụ viết trên nước, hình vẽ sẽ biến mất ngay
khi nước vừa động, viết trên đất sẽ biến mất sau một
cơn mưa, và viết trên đá thì kéo dài một thời gian rất
lâu. Bởi thế có nói rằng người ta cần luôn luôn đối
xử với nhiễm ô khởi lên trong tâm như chữ viết trên nước.
Hơn nữa người ta cần liên tục huấn luyện tâm cho quen với
sự chiếm chỗ của những thiện hạnh như chữ viết trên
mặt đá.
Bậc
Chiến Thắng tuyên bố rằng dịu dàng, chân thật và sai lầm
là ba loại lời nói của con người – những lời nói như
vậy giống như mật, hoa và đồ bẩn. Hãy từ bỏ cái chót
trong ba cái. 18
Vì
lời nói dịu dàng làm những người khác hạnh phúc, nó làm
vui lòng như mật ong. Một lời nói chân thật đáng tán dương,
nó đẹp đẽ như một đóa hoa. Một lời nói sai lầm thì
xấu xa, độc ác đáng ghê tởm như phân. Người ta nên giữ
gìn lời nói dịu dàng và chân thật, nhưng từ bỏ lời nói
sai lầm.
Có
bốn loại người được xem là đi từ : ánh sáng đến ánh
sáng cùng cực ; bóng tối đến bóng tối cùng cực ; ánh sáng
đến bóng tối cùng cực và bóng tối đến ánh sáng cùng
cực ; hãy là loại người đầu tiên. 19
(i)
Người được xếp vào loại đi từ ánh sáng đến ánh sáng
cùng cực : Đã thực hiện những thiện nghiệp trong quá khứ,
người này bây giờ có được một tái sanh thuận lợi. Hơn
nữa, trong đời này người ấy tiếp tục thực hiện những
hoạt động đức hạnh và vững chắc ở trong con đường
Pháp. Như một kết quả của việc này, người ấy không chỉ
sẽ có một tái sanh cao hơn mà sau cùng còn có được giải
thoát. Cuối cùng, người này sẽ hoàn thành sự chứng đắc
tối hậu Phật quả.
(ii)
Người được xếp vào loại đi từ bóng tối đến bóng tối
cùng cực : Đã sanh ra trong một trạng thái thống khổ, người
bất hạnh này tiếp tục thực hành các ác hạnh. Điều này
sẽ dẫn những tái sanh thấp hơn và còn ít điều kiện thuận
lợi hơn nữa.
(iii)
Người được xếp loại đi từ ánh sáng đến bóng tối cùng
cực : Đã thực hiện những thiện nghiệp trong quá khứ, người
này bây giờ có một tái sanh thuận lợi may mắn. Tuy nhiên,
trong đời này người ấy thực hiện những ác hạnh sẽ dẫn
đến tái sanh trong những cõi thấp.
(iv)
Người được xếp loại đi từ bóng tối đến ánh sáng cùng
cực : Người này, sinh trong những hoàn cảnh kém thuận lợi
với ít cơ hội thực hành Pháp, cố gắng giữ giới và làm
những thiện hạnh trong đời này. Như một kết quả của
việc này, nó sẽ có được tái sanh trong một cõi cao hơn.
g.
Biết những phẩm tính của những người cộng sự với mình
Những
con người cần được hiểu giống như những trái xoài : chưa
chín nhưng có vẻ chín, chín nhưng có vẻ chưa chín, chưa chín
và có vẻ chưa chín, và chín và cũng có vẻ chín. 20
Hãy
luôn luôn khảo sát bản chất của người khác trước khi
làm bạn với họ. Thí dụ như trái xoài, những con người
có bốn loại :
(i)
những ý định của con người thì không tốt, nhưng những
hành động của họ thì tốt.
(ii)
những ý định của họ thì tốt, nhưng những hành động
của họ thì không tốt.
(iii)
những ý định lẫn những hành động của họ đều không
tốt.
(iv)
những ý định và những hành động của họ đều tốt.
Người
ta cần giống như loại người thứ tư và nên có những người
bạn với cùng những phẩm tính như vậy.
h.
Từ bỏ sự tham muốn vợ của những người khác
(1)
Kiểm soát những giác quan
(a)
Tri giác những đối tượng là bất tịnh hơn là tịnh
Chớ
nhìn ngó vợ người khác ; tuy nhiên khi thấy họ, hãy nghĩ
theo tuổi của họ : như mẹ mình, em mình, hay chị mình. Nếu
tham dục vẫn còn, bấy giờ hãy thiền định về bất tịnh.
21
Để
kiểm soát những nhiễm ô của mình, cần phải canh chừng
chính mình. Chẳng hạn, người ta không nên nhìn ngó vợ người
khác một cách thèm muốn. Tuy nhiên, nếu việc thấy một người
đàn bà như vậy gây ra ham muốn trong mình, bấy giờ bằng
cách nhớ những lầm lỗi của những tham muốn của cuộc
đời này (cũng như những hậu quả của chúng trong đời tới),
người ta có thể chiến thắng sự nhiễm ô của dục vọng.
Nếu điều này không hàng phục nổi dục vọng, bấy giờ
người ta nên nhìn người đàn bà theo tuổi tác của họ như
là mẹ mình, em mình hay chị mình. Nếu người ta vẫn chưa
kiểm soát được dục vọng, bấy giờ người ta phải xem
người đàn bà như xấu xa theo nghĩa chỉ là đống thịt,
xương, máu, mỡ… và người ấy là vô thường. Hơn nữa,
người ta cần xem thấy người ấy sẽ trở nên xấu xí, già
nua, và cuối cùng sẽ chết. Đã chết, người ấy thành một
bộ xương, lúc đó người ta không chỉ không muốn nhìn người
ấy mà thấy người ấy còn gây ra sợ hãi. Suy nghĩ như vậy,
người ta sẽ hàng phục nhiễm ô của tham muốn.
(b)
Bảo vệ tâm
Hãy
bảo vệ tâm bất định như (ngài bảo vệ) sự học vấn,
một đứa con trai, một kho tàng, hay mạng sống ; hãy rút tâm
ra khỏi những khoái lạc như (ngài rút lui) khỏi một con rắn
độc, thuốc độc, một vũ khí, một kẻ thù hay lửa. 22
Quan
trọng nhất là bảo vệ, giữ gìn tâm mình. Đã xem tâm mình
như sự giàu có duy nhất, như đứa con trai thân yêu, như một
kho châu báu vĩ đại, hay thậm chí như mạng sống của mình,
người ta cần bảo vệ tâm để nó không vướng mắc trong
những dơ nhiễm của hành động, lời nói và tư tưởng.
Đấng
của những bậc Chiến Thắng đã tuyên bố rằng những tham
muốn thì giống như những trái Kimbu, vì chúng là nguyên nhân
của thống khổ ; bởi vì những xích sắt này cột trói những
người còn mê muội trong ngục tù của sanh tử, hãy từ bỏ
chúng. 23
Đã
kinh nghiệm một sự vui khoái hay cái ban đầu có vẻ vui khoái,
người ta học ra rằng cái ấy chỉ tạo ra phiền muộn không
tránh khỏi. Đức Phật nói, “Trái Kimbu giống như sự vui
khoái thế gian. Da của trái Kimbu thì rất đẹp và xem có vẻ
ngon lành, nhưng bên trong thì độc và đưa đến tai họa. Bởi
thế, người ta cần vất bỏ sự vui khoái thế gian”. Nếu
người ta tiếp tục bám níu vào những vui khoái, người ta
sẽ bị cột chặt bởi những xích sắt của sanh tử và sẽ
không bao giờ ra khỏi. Như Santideva nói trong Bodhicaryavatara,
Tham
muốn sẽ sanh ra những hậu quả xấu trong đời này và cũng
trong đời tới : trong đời này người ta sẽ bị giết, trói
và cắt, và trong đời tới người ta sẽ đi đến địa ngục
v.v…
Giữa
người chinh phục sự tham muốn vào những đối tượng thoáng
chốc và bất định của sáu giác quan và người chinh phục
quân thù nơi chiến trường, người trí biết người thứ
nhất là một anh hùng vĩ đại hơn nhiều. 24
Người
ta phải không để cho những giác quan của nó bị vướng mắc
vào những nhiễm ô. Nếu người ta chiến đấu với những
nhiễm ô của mình bằng cách gỡ những giác quan khỏi chúng,
bấy giờ trận chiến sẽ thắng lợi. Nếu người ta có thể
hành động theo một cách như vậy, y là can đảm hơn và anh
hùng hơn người chiến thắng trên chiến trường. Thậm chí
những con vật cũng có thể chiến thắng trong chiến đấu,
nhưng ít người có thể chinh phục những giác quan.
(c)
Xét xem những lỗi lầm của đối tượng tham luyến và chủ
thể tham luyến
Hãy
nhìn thân thể của một cô gái trẻ nếu không có đồ trang
sức (và áo quần) thì giống như một bình chứa hoàn toàn
bất tịnh phủ bằng da, khó thích thú, bốc mùi hôi, và với
những thứ dơ bẩn thoát ra từ chín cửa. 25
Phương
thuốc cho tham muốn phụ nữ cần được xem theo cách sau đây.
Thứ nhất, người ta cần tưởng tượng một người đàn
bà với áo quần và đồ trang sức đẹp đẽ, nhưng nghĩ rằng
bên trong người ấy bất tịnh. Thứ hai, lấy đi những đồ
trang sức, người ta khám phá rằng cô ấy bất tịnh bên ngoài
cũng như bên trong. Nói cách khác, cô ấy chỉ là một đống
xương, thịt, máu, mỡ… Một người đàn bà giống như một
cái bình đẹp chứa đầy những thứ dơ bẩn.
Hãy
biết rằng cũng như một người bệnh cùi đầy chí rận hoàn
toàn nương dựa vào lửa để có được hạnh phúc, tương
tự sự bám níu vào những tham muốn sẽ không đem lại an
vui. 26
Người
ta càng hưởng thụ những vui khoái thế gian, người ta càng
thèm muốn chúng. Như người khát uống nước muối cũng chỉ
làm tăng thêm khát. Theo cách ấy, những lạc thú thế gian
không bao giờ làm thỏa mãn. Như có nói trong ’khor-lo-sgyur-ba’i-gtam-zhes-pa’i-mdo,
Những
chúng sanh nương dựa vào đam mê sẽ làm tăng thêm những tham
muốn của họ ; nếu người nào bám chặt vào đối tượng
của tham muốn thì sự tham muốn của nó sẽ không bao giờ
được thỏa mãn.
Người
ta cần cố gắng giải thoát tâm mình khỏi những tham muốn
những lạc thú thế gian bằng cách trước hết nghĩ đến
những hậu quả xấu chúng sẽ đem tới. Đã xem xét tham muốn
theo cách này, bấy giờ hãy cố gắng chấm dứt tức thời
tham muốn đó. Những vui khoái thế gian chỉ đưa đến khổ
đau hơn, như người bệnh cùi đặt cánh tay mình trong lửa
(cho đỡ cơn ngứa).
(2)
Nhổ bật những nguyên nhân của bám luyến
(a)
Thiền định để nhổ gốc những nguyên nhân của bám luyến
Hãy
khéo léo trong việc tri giác đúng những sự vật với cái
hiểu về Chân Lý Tối Hậu, bởi vì không có thực hành nào
khác có phẩm tính tương đương. 27
Người
ta cần tìm ra chân lý của tất cả các pháp (nghĩa là năm
uẩn và những sự vật bên ngoài). Nếu người ta khảo sát
cẩn thận tất cả các pháp, bấy giờ nó sẽ thấy rằng
không có dù chỉ một nguyên tử nào thực sự hiện hữu.
Nếu người ta thấy các pháp với cái hiểu về Chân Lý Tối
Hậu và thiền định về tánh không (Sunyata), bấy giờ không
có giáo lý nào tốt hơn để tịnh hóa nghiệp và hủy diệt
những ô nhiễm. Không nghi ngờ gì, Pháp tốt nhất là thấu
hiểu tánh không. Như có nói trong Mula-madhyamaka-karika,
Nghiệp
và ô nhiễm (sanh khởi) từ những tạo tác ý niệm, những
cái này (sanh khởi) từ những sáng tạo của tâm thức, và
những sáng tạo của tâm thức bị diệt mất bởi tánh không.
Dù
mọi sự trong sanh tử rốt ráo không hiện hữu, tuy nhiên sự
vật như chúng xuất hiện và được kinh nghiệm (nghĩa là
mọi sự vật sanh khởi từ nhân và duyên) thì không bị phủ
nhận. Khi được thấy như là Duyên Sanh, mọi sự nương dựa
vào những sự vật khác để hiện hữu (nghĩa là mọi sự
đều không có tự tánh). Tinh túy giáo lý của đức Phật
là “mười hai mắt xích của duyên sanh”. Lý do của sự
kiện này là : (i) Sự vật không sanh từ chính chúng (nghĩa
là nhân và quả không đồng nhất) ; (ii) Sự vật không sanh
từ những cái khác (nghĩa là nhân và quả không khác nhau)
; (iii) Sự vật không sanh từ cả chính chúng và từ những
cái khác (nghĩa là nhân và quả không vừa đồng nhất vừa
khác biệt) ; và (iv) Sự vật không phải không sanh từ cả
chính chúng và từ những cái khác (nghĩa là nhân và quả không
đồng nhất cũng không khác biệt – nghĩa là, sanh khởi không
có nhân).
Theo
Trung Đạo, những chủ thuyết này được chứng tỏ là sai
lầm vì không có chân lý được tìm thấy trong chúng. Thật
ra, Trung Đạo không có chủ thuyết nào về Chân Lý Tối Hậu
cho riêng phần nó để chứng minh, mà chỉ khảo sát những
chủ thuyết khác.
Chân
Lý Tối Hậu không thể giải thích qua lý luận, lý tính, ngôn
ngữ, thí dụ v.v… Không ai có thể nói khác Chân Lý Tối
Hậu là gì. Nó chỉ có thể được thấy nhờ sự chứng ngộ
của riêng cá nhân và được đặt tên là “trí huệ tự
thấy”.
(b)
Ca ngợi trí huệ và đạo đức
Người
có giai cấp cao, hình sắc đẹp đẽ và có học không được
tôn trọng nếu nó không có trí huệ và đạo đức ; tuy nhiên
người có hai phẩm tính này, dù không có những phẩm tính
kia, thì được tôn sùng. 28
Sakya
Pandita Kunga Gyaltsen Pal Zangpo nói trong legs. bshad. rin. po. chei’i.
gter,
Dù
người ta có giai cấp cao, dòng dõi, gia đình, hình sắc tốt
đẹp và tuổi trẻ, nếu người ta không có hiểu biết, nó
không văn minh.
Người
ta không được cho là một người cao cấp, cũng không được
xem là đáng tôn kính, nếu nó được sinh ra trong một gia đình
danh giá hay có một bề ngoài tốt đẹp, nhiều giàu có, nhiều
học thức, nhiều đức tính, danh tiếng v.v… Tuy nhiên, những
người thấu hiểu tánh không, dù họ không có phẩm tánh trên
nhưng xứng đáng để tôn sùng. Như có nói trong Jataka,
Nếu
người ta không thực hành bố thí, trì giới… dù cho người
ta có dòng dõi cao, hình sắc tốt, tuổi trẻ, rất khỏe mạnh
và giàu có, họ vẫn không bao giờ đạt được hạnh phúc
trong đời tới. Dù cho người ta có dòng dõi thấp v.v… nếu
người ta không bám vào tội lỗi và có khá những phẩm tính
bố thí, trì giới… bấy giờ cũng như những dòng sông chảy
đầy biển cả vào mùa gió mùa, chắc chắn họ sẽ tăng trưởng
hạnh phúc trong đời kế tiếp.
Trí
huệ và đạo đức đã được Acarya Nagarjuna ca ngợi cho những
người muốn thấu hiểu Chân Lý Tối Hậu. Người ta không
thể thánh thiện nếu không có trí huệ và đạo đức. Bởi
vì trí huệ phát hiện cái phải được chấp nhận và cái
phải được từ bỏ, nó là thiết yếu để đạt thánh quả.
(c)
Thản nhiên với “tám pháp thế gian”
Hỡi
người hiểu biết thế giới, tám pháp thế gian – được,
mất, sung sướng, bất hạnh, lời ngọt ngào, lời thô nặng,
khen, chê – cần được xem đều không xứng đáng ở trong
tâm ngài như nhau. 29
Về
“tám pháp thế gian”, bốn cái được người đời mong muốn
là :
(i)
được ;
(ii)
sung sướng hay hạnh phúc ;
(iii)
lời nói ngọt ngào hay làm vui thích (chẳng hạn tiếng tăm…)
(iv)
khen.
Nếu
người ta nhận được cái nào trong bốn cái, nó trở nên
hạnh phúc. Người ta luôn luôn phấn đấu và tìm kiếm những
thứ ấy, và nếu có được, nó rất vui thích. Tuy nhiên, trong
“tám pháp thế gian”, bốn cái không được mong muốn là
:
(i)
mất mát ;
(ii)
bất hạnh hay đau đớn (khổ đau cả tâm và thân ;
(iii)
lời nói thô nặng hay khó chịu (phỉ báng, tai tiếng, khinh
miệt…) ;
(iv)
chê bai hay chỉ trích.
Bốn
cái này luôn luôn làm lo sợ và thành bất hạnh lớn lao khi
chúng được kinh nghiệm. Tuy nhiên đây không phải là một
thái độ thích hợp cho người muốn thực hành tôn giáo. Như
Santideva nói trong Bodhicaryavatara,
Dù
người ta có được nhiều thành quả, danh tiếng và ngợi
khen, không chắc khi nào sự tích tập danh tiếng và giàu có
sẽ mất.
Người
ta cần không hy vọng vào bốn điều kiện đầu, cũng không
sợ hãi bốn cái sau. Tìm thấy sự không khác biệt giữa chúng
– không phấn đấu cho bốn điều thích thú cũng không trốn
tránh bốn điều khó chịu – người thực hành tôn giáo cần
nhìn “tám pháp thế gian” là bình đẳng.
Chớ
phạm những tội lỗi vì những bà la môn, những nhà sư, chư
thiên, những người khách, cha mẹ, con cái, hoàng hậu, hay
những người hầu, bởi vì không có người nào khác chia xẻ
kết quả địa ngục. 30
Người
ta cần tránh kết tập những tội lỗi vì những mục tiêu
của chính mình hay vì những người khác, dù họ là thầy
dạy, nhà sư, các thầy, cha mẹ, hoàng hậu v.v… Dù nếu người
ta phạm vào một tội lỗi để vì người khác, kết quả
của hành động này vẫn là do mình sinh ra chớ không do người
khác. Người ta phải tự mình mang lấy trọn vẹn kết quả
của bất kỳ tội lỗi nào, cũng như người ta phải mang sự
khổ đau của bệnh tật một mình. Như có nói trong Kinh,
(Kết
quả của) những hành vi sẽ không chín trên mặt đất, nước
hay đá, mà chỉ trên các uẩn của mình.
Có
thể có người hỏi, “Nếu những tội lỗi sanh ra những
kết quả tai họa, tại sao chúng không được sanh ra ngay ?”
Trả lời, “Có ba loại kết quả chín từ những ác hạnh.
Thứ nhất, có một số hành vi mà kết quả của chúng sẽ
xuất hiện ngay trong đời này. Chẳng hạn, nếu người ta
phạm một hành vi tội lỗi sớm trong đời này, kết quả
có thể xuất hiện vào cuối đời họ. Thứ hai, có một số
hành vi được thực hiện trong đời này và những kết quả
của chúng sẽ xuất hiện trong đời kế tiếp. Cuối cùng,
có một số hành vi thực hiện trong đời này và những kết
quả của chúng sẽ chỉ xuất hiện sau vài đời.”
Dù
một số hành vi tội lỗi được thực hiện sẽ không làm
ngài bị thương tức khắc như một vũ khí, kết quả từ
những hành động tội lỗi ấy sẽ trở nên biểu lộ khi
thời gian cái chết ập đến. 31
Dù
người ta không kinh nghiệm quả báo tức thời của những
hành vi tội lỗi đã phạm, nhưng khi bị Thần Chết nắm lấy
lúc qua đời, người ta sẽ kinh nghiệm những kết quả thảm
khốc của chúng, như sự khổ đau mãnh liệt của những địa
ngục. Vào lúc đó, chắc chắn người ta sẽ biết những kết
quả của những tội lỗi của mình. Có một số người nghĩ
rằng vì những kết quả của hành động tội lỗi không tri
giác được, họ sẽ không kinh nghiệm chúng. Tuy nhiên, không
phải thế đâu !
(d)
Có được sự giàu có của những bậc Thánh
Bậc
Đại Trí nói rằng đức tin, giới luật, bố thí, học hỏi,
tự hổ thẹn, hổ thẹn với người khác và trí là bảy tài
sản không tỳ vết (bảy thánh tài) ; hãy nhận biết những
tài sản thông thường là không nghĩa lý. 32
Bảy
Tài Sản Cao Cả là :
(i)
tin vào Tam Bảo, định luật nghiệp và những chân lý hiện
tượng (quy ước) và tối hậu ;
(ii)
gắn bó với giới luật ;
(iii)
bố thí, tặng cho ;
(iv)
học hỏi Pháp ;
(v)
tránh những ác hạnh nhờ cảm thức ghét bỏ và xấu hổ
;
(vi)
tránh những ác hạnh do lo sợ bị những người khác lên án
;
(vii)
khả năng phân biệt giữa những hành vi thiện và bất thiện
để quyết định hành động đúng.
Những
thực hành này, thực hiện không có những mục tiêu và ý
định ích kỷ, thì rất lợi lạc. Dầu người ta không giàu
vàng bạc, nhưng nếu có bảy tài sản này, người ta có những
cái tuyệt hảo nhất trong mọi kho tàng. Hơn nữa, bảy sự
giàu có là điều kiện dẫn đến đạt đại an lạc của
Niết bàn không còn khổ đau.
(e)
Bỏ đi những hành vi hủy hoại sự giàu có của những bậc
Thánh
Hãy
từ bỏ sáu cái này đưa đến mất danh tiếng và sanh trong
những trạng thái xấu : hoang phí, tham dự vào những lễ hội,
lười biếng, chơi với bạn tội lỗi, rượu và đi trong ban
đêm. 33
Sáu
điều có thể hủy hoại “bảy tài sản cao cả” là :
(i)
phung phí,
(ii)
tham dự tiệc tùng, lễ hội,
(iii)
lười biếng,
(iv)
kết hợp với những bạn bè tội lỗi làm tăng thêm những
ô nhiễm cho mình,
(v)
uống rượu,
(vi)
đi lang thang trong đêm không mục đích.
Sáu
lỗi lầm này sẽ là một nguyên nhân cho sự mất mát danh
tiếng… trong đời này, cũng như là một nguyên nhân cho sự
tái sanh của mình vào những cõi thấp trong đời sau. Bởi
thế người ta cần tránh sáu cái đó.
(f)
Sống bằng lòng dẫn tới sự giàu có của những bậc Thánh
Bậc
Đạo sư của trời và người nói rằng hài lòng là tuyệt
hảo nhất trong mọi sự giàu có, thế nên hãy luôn luôn hài
lòng ; nếu hài lòng với sự không giàu có, người ta thật
sự giàu có. 34
Người
ta cần hài lòng thỏa mãn với bất cứ cái gì mình có. Tham
lam sẽ luôn luôn gây cho người ta cảm thấy không thỏa mãn
và bất hạnh. Hơn nữa, lo âu sẽ sanh khởi từ tham muốn
có thêm giàu có, bảo vệ nó v.v… Thậm chí một người dù
nghèo, nếu bằng lòng với cái mình có, bấy giờ nó sở hữu
sự giàu có lớn nhất và được hạnh phúc. Như có nói trong
Bodhi-caryavatara,
Cần
biết rằng giàu có thì đầy những hậu quả xấu qua những
khổ đau của sự gom góp, giữ gìn và mất mát ; trở nên
náo động bởi tham muốn giàu có, người ta sẽ không có cơ
hội giải thoát khỏi khổ đau của hiện hữu sanh tử.
Hỡi
đức vua hào hiệp, cũng như kẻ cao nhất trong loài Rồng chịu
khổ theo số cái đầu nó có, cũng vậy người ta khổ đau
theo số tài sản người ta giành được ; tuy nhiên, không như
vậy đối với người ít tham muốn. 35
Người
ta sẽ khổ tương đương với số tài sản dư dả của mình.
Điều này được minh họa bằng thí dụ những vua loài Rồng
chịu khổ theo số cái đầu họ có. Bởi thế người ta cần
cảnh giác với những tham muốn của mình.
i.
Biết những phẩm tính của một người vợ tương lai
Hãy
tránh ba loại vợ này : người như kẻ đao phủ, hợp với
kẻ thù một cách tự nhiên ; người như một nữ hoàng, không
kính trọng chồng ; và người như một tên trộm, lấy trộm
cả những vật nhỏ. Loại người vợ đáng tôn kính như một
vị thần gia đình là người tốt lòng như một người chị,
người thân thiết như một người bạn, người mong muốn
sự lợi lạc của ngài như một người mẹ, hay người phục
tùng ngài như một người hầu. 36-37
Vì
bức thư này viết cho người thường, nên có lời khuyên này.
Ba loại phụ nữ người ta không nên lấy làm vợ là :
(i)
người tự nhiên liên kết với những kẻ thù, những người
mong muốn sự thất bại, chết chóc của chồng.
(ii)
người luôn luôn muốn cai quản và muốn được nghĩ là nhất
đời, do đó xem thường chồng.
(iii)
người lấy cắp thậm chí những vật nhỏ như một tên trộm.
3.
Lời khuyên cho cả tu sĩ và cư sĩ cần thực hành Pháp để
đạt được cõi thiên và giải thoát
a.
Thực hành tổng quát về Pháp
(1)
Cảnh tỉnh với số thực phẩm người ta dùng
Hiểu
thực phẩm giống như thuốc uống, không dùng nó với sự
ghét bỏ, tham luyến, không vì cường tráng, kiêu căng hay sắc
đẹp, mà chỉ để duy trì thân xác. 38
Ghi
nhớ trong tâm rằng thức ăn chỉ là thuốc thang cho bệnh đói,
người ta nên luôn luôn ăn điều độ. Người ta không nên
ăn với ý định có được sắc đẹp, cường tráng hay kiêu
căng cũng không có tư tưởng tham lam hay ghét bỏ. Bởi thế
người ta cần ăn vì mục tiêu duy trì thân xác để thực
hành Pháp. Như Santideva nói trong Bodhicaryavatara,
Hãy
chia phần thực phẩm với những người rơi vào các trạng
thái xấu, những người không có sự bảo vệ và với những
bạn hữu cùng tu ; hãy ăn điều độ và cho đi (mọi thứ)
trừ ba cái y.
(2)
Cố gắng không ngủ
Hỡi
con người chính trực, sau khi trải qua suốt cả ngày và phần
bắt đầu và phần cuối của đêm, hãy chỉ ngủ một cách
tỉnh giác vào khoảng giữa, thế nên thậm chí thời gian ngủ
sẽ không là vô ích. 39
Khiếp
sợ sanh tử, người ta cần nỗ lực thường trực để giác
ngộ. Không phí mất ngày cũng như đêm, người ta cần sử
dụng tất cả thời gian của mình để thực hành con đường
dẫn đến giải thoát. Hơn nữa, người ta phải ngủ khoảng
giữa đêm với ý nghĩ không ngủ quá lâu và dùng giấc ngủ
đó như một phần của con đường đến giải thoát.
Như
có nói trong Bodhicaryavatara,
Hãy
ngủ như bậc Bảo Vệ đã ngủ (vào lúc Ngài) Niết bàn, theo
hướng nào mình muốn ; trước khi ngủ hãy in vào trí một
cách có ý thức và cương quyết là mình sẽ dậy sớm.
(3)
Thực hành những thiền định vô lượng
Luôn
luôn thiền định đúng đắn về từ, bi, hỷ, xả ; dù (trạng
thái) tối thượng không đạt được bằng cách này, thì vẫn
sẽ đạt được hạnh phúc của thế giới Phạm thiên. 40
Thiền
định vô lượng (bốn tâm vô lượng) gồm bốn phần sau đây.
(i)
Từ : Mong muốn cho tất cả chúng sanh được hạnh phúc và
có được nguyên nhân của hạnh phúc.
(ii)
Bi : Mong muốn cho tất cả chúng sanh lìa khỏi khổ và nguyên
nhân của khổ.
(iii)
Hỷ : Mong muốn cho tất cả chúng sanh cảm thấy vui vẻ, bởi
vì họ có nguyên nhân của hạnh phúc.
(iv)
Xả : Người ta nhìn vào tất cả chúng sanh với sự bình thản
hoàn toàn. Nghĩa là, người ta bỏ sự bám luyến với người
yêu thương và sự ghét hận những người thù địch và đối
xử với tất cả bình đẳng.
Thiền
định này được gọi là vô lượng bởi vì đối tượng
của nó, những chúng sanh, thì vô lượng. Hơn nữa, nó được
gọi là vô lượng bởi vì nhờ thiền định theo cách này,
người ta nhận được công đức không thể tính đếm.
Qua
thực hành người ta sẽ cuối cùng sẽ đạt đến giác ngộ.
Dù nếu giác ngộ không nhanh chóng đạt được, người ta
sẽ có được bốn địa vị của Phạm thiên. Nói cách khác,
người ta sẽ tái sanh trong sắc giới thoát khỏi những khổ
đau trong dục giới.
(4)
Thực hành bốn tập trung
Đã
từ bỏ những lạc thú, niềm vui và khổ của cõi dục nhờ
bốn tập trung, những cấp độ may mắn của chư thiên –
Brahma (Phạm thiên), Abhasvara (Quang Âm thiên) Subhakrtsna (Biến
Tịnh thiên) và Brhatphala (Quảng Quả thiên) – sẽ đạt được.
41
Nhờ
những chỉnh sửa của suy xét (tư) và tìm cầu của mình,
người ta từ bỏ tham dục và bạo lực của cõi dục. Người
đạt đến sự tập trung thứ nhất (dhyana, thiền) sanh từ
định (samadhi) của nhất tâm có tìm cầu (tầm), hỷ và lạc.
Ở giai đoạn này người ta từ bỏ suy xét (tư). Qua sự chỉnh
sửa của tịnh hóa bên trong, người ta từ bỏ tìm cầu. Rồi
người ta đạt đến sự tập trung thứ hai sanh từ định
nhất tâm thì có hỷ và lạc. Qua những chỉnh sửa của thản
nhiên (xả), tỉnh giác và chánh niệm, người ta bỏ hỷ. Sau
khi đạt đến sự tập trung thứ ba sanh từ định nhất tâm,
người ta có lạc. Qua những chỉnh sửa của chánh niệm và
sự thản nhiên với những cảm nhận, người ta từ bỏ lạc
và khổ. Đã đạt đến sự tập trung thứ tư sanh từ định
nhất tâm, người ta có sự thản nhiên với những cảm nhận
(xả).
(5)
Từ chối hay chấp nhận tội lỗi hay đức hạnh nhờ thấy
những hành vi này là nặng hay nhẹ
Từ
nền tảng của năm yếu tố lớn này – kiên trì, ý định,
không nghịch lại, phú bẩm những phẩm tính, và những việc
hảo tâm – những hành vi đức hạnh và không đức hạnh
sanh khởi (rất nhiều) ; bởi thế, hãy cố gắng làm những
hành động đức hạnh. 42
Năm
yếu tố làm sửa đổi là như sau :
(i)
Người ta cần thực hiện những hành động đức hạnh vào
mọi lúc.
(ii)
Người ta cần có nhiều ý định làm những hành động đức
hạnh và ít ý định làm những hành động không đức hạnh.
(iii)
Không nghịch lại, người ta cần luôn luôn làm đức hạnh.
(iv)
Người ta cần làm những thiện hạnh cho cái được phú bẩm
những phẩm tính tuyệt hảo, như Tam Bảo v.v…
(v)
Người ta cần làm nhiều hơn nữa cho những người hảo tâm
của mình, như cha mẹ và những người tôn giáo… bởi vì
công đức thì lớn hơn nhờ thực hiện những hành vi tốt
cho họ. Tuy nhiên, nếu người ta làm hại cha mẹ và những
người tôn giáo, bấy giờ họ tích tập tội lỗi lớn hơn.
Những hành động được sửa đổi bởi cái nào trong năm
điều này là nền tảng của sự tích tập đức hạnh và
không đức hạnh ở tầm mức lớn lao.
Hãy
hiểu rằng một lượng nhỏ muối làm thay đổi vị của một
ít nước trong khi không thể làm thay đổi vị của sông Hằng
; tương tự, một hành vi tội lỗi nhỏ sẽ không làm hư hỏng
nổi một cội gốc công đức lớn lao. 43
Người
ta cần tránh những hành động không đức hạnh và làm những
hành động đức hạnh lớn lao. Thí dụ, một số lượng muối
ít ỏi trong một ít nước làm cho nước có vị mặn, nhưng
số lượng muối ấy không thể thay đổi vị của một dòng
sông lớn. Cùng cách ấy, những hành vi tội lỗi nhỏ không
thể che đậy bởi một khối nhỏ công đức, trong khi những
hành vi tội lỗi nhỏ ấy bị mờ đi bởi những hành động
đức hạnh lớn lao.
(6)
Trừ bỏ năm che chướng
Hãy
ý thức rằng năm chướng ngại này là những tên trộm cướp
đi sự giàu có của công đức : láo xược và hối tiếc,
những tư tưởng làm hại, lãnh đạm và buồn ngủ, tham đắm
và nghi ngờ. 44
Năm
chướng ngại là :
(i)
Bận rộn với những lạc thú thế gian, người ta hủy hoại
những công đức bằng sự láo xược và hối tiếc những
hành vi đức hạnh đã làm trong quá khứ.
(ii)
Người ta muốn cho những kẻ thù bị bệnh tật.
(iii)
Có sự nặng nề trong thân và tâm, người ta không lưu tâm
đến việc làm thiện. Người ta cũng ngủ quá nhiều.
(iv)
Người ta tham đắm những sự vật và đầy dục vọng.
(v)
Người ta có sự nghi ngờ về Chân Lý.
Năm
cái này là những che chướng với con đường. Vì thật là
tai hại khi làm mất sự giàu có của công đức, người ta
cần tránh những chướng ngại như các tên trộm này.
b.
Thực hành Pháp thành tựu giải thoát
(1)
Thiền định về năm thần lực
Hãy
siêng năng thực hiện năm thực hành tuyệt hảo nhất – đức
tin, tinh tấn, chánh niệm, định và trí huệ. Những cái này
được gọi là sức mạnh, thần lực và cũng là đỉnh được
đạt đến. 45
Năm
thần lực (năm lực) dẫn đến tiến bộ tâm linh là :
(i)
Người ta tin vào Chân Lý với niềm tin lớn lao.
(ii)
Để thấu hiểu Chân Lý, người ta phải vận dụng nhiều
cố gắng và hăng hái.
(iii)
Người ta cần không quên điều nó đã kinh nghiệm về Chân
Lý.
(iv)
Người ta phải phát sanh tập trung nhất tâm vào kinh nghiệm
đó.
(v)
Người ta phải nhận rõ bằng trí huệ thực tại của Chân
Lý mà người ta đã kinh nghiệm.
Bốn
cấp độ khác nhau (tứ gia hạnh) mà người ta tiến bộ qua
được gọi là :
(i)
sức nóng (nỗn địa, TT. drod, Skt. usïma),
(ii)
đỉnh (đỉnh địa, TT. rtse-mo, Skt. murdha),
(iii)
nhẫn (nhẫn địa, TT. bzod. pa, Skt. ksïanti),
(iv)
tuyệt hảo nhất (thế đệ nhất địa, TT. chos. mchog, Skt.
agradharma).
(i)
Bởi vì người ta có thể thấy phần nhiều chân lý khi thực
hành ở cấp độ “sức nóng”, sự thực hành giống như
những cảm nhận giác quan. Cấp độ này giống như sức nóng
báo trước sự cháy tiêu những nhiễm ô. Chẳng hạn, khi cọ
xát hai thanh cây với nhau, sức nóng phát sanh trước khi lửa
bật cháy.
(ii)
Gốc công đức của người ta tăng thêm nhờ sự hiểu biết
này khi đang thực hành ở cấp độ được biết là “đỉnh”.
Ở cấp độ này những nhiễm ô và lửa của hiểu biết là
ngang nhau.
(iii)
Người ta chiến thắng nhiều chướng ngại bằng cách dùng
năm cái này như những thần lực khi thực hành ở cấp độ
“nhẫn”. Ở cấp độ này lửa của hiểu biết trở nên
mạnh hơn những nhiễm ô và cháy tiêu chúng.
(iv)
Người ta đã đạt đến lý do đích thật của Con Đường
cao cả khi thực hành ở cấp độ “tuyệt hảo nhất”. Ở
cấp độ này những nhiễm ô bị thiêu hủy hoàn toàn. Đây
là cái tuyệt hảo nhất trong những thành tựu thế gian.
Đã
hoàn thành bốn cấp độ này, người ta đã trở nên một
bậc Thánh và như vậy đạt đến Địa Thứ Nhất (trong Mười
Địa).
(2)
Từ bỏ tự phụ, nó là một chướng ngại cho việc đạt
được năm thần lực
“Những
hành động (nghiệp) như thế do chính tôi làm là nguyên nhân
không vượt khỏi được bệnh, già, chết và chia ly với người
thân”. Tự phụ sẽ không sanh khởi nhờ sự chỉnh sửa của
tư tưởng này được lập đi lập lại. 46
Người
ta cần tạo sự chỉnh sửa để hủy diệt những nhiễm ô,
và như vậy, thoát khỏi chúng. Để làm điều này, khảo sát
và thiền định là cần thiết. Chẳng hạn, người ta phải
nghĩ rằng người ta không bao giờ thoát khỏi bệnh, già và
chết và khổ đau. Cũng vậy, người ta cần nghĩ rằng hành
động đức hạnh hay không đức hạnh nào đã được thực
hiện sẽ tác động lên một mình nó và không được chia
cho ai khác. Người ta cần nghĩ lập đi lập lại theo cách
này, và như vậy tạo ra sự chỉnh sửa cho những nhiễm ô
của nó.
(3)
Thiền định theo một đường lối dẫn khởi cho chánh kiến
(a)
Trước hết, tóm tắt
Hãy
theo chánh kiến nếu mong muốn cõi cao và giải thoát, vì dù
cho những người làm nhiều hành vi phước đức nhưng qua tà
kiến cũng sẽ có những hậu quả kinh khủng. 47
Nếu
người ta mong muốn một tái sanh cao hơn trong đời tới, hay
muốn giải thoát rốt ráo, bấy giờ người ta phải thực
hành cội gốc của tất cả những “pháp trắng” (đức
hạnh). Nói cách khác, người ta phải tuân thủ luật nghiệp
báo, nó là chánh kiến thuộc thế gian. Người ta cũng phải
hiểu bản tánh của tất cả các pháp là tánh không, đây
là “chánh kiến tối hậu”. Thế nên nếu người ta không
chấp nhận luật Nghiệp báo và tánh Không, bấy giờ người
ta sẽ có những hậu quả kinh khủng, dù có tích tập nhiều
phước đức.
(b)
Thứ hai, giải thích chi tiết
(1)
Thiền định về bốn nền tảng của chánh niệm
Hãy
biết rằng thực ra con người là không hạnh phúc, vô thường,
không có tự ngã, và bất tịnh ; những ai bỏ rơi chánh niệm
thì bị hủy hoại do thấy sai bốn điều này. 48
Nếu
suy nghĩ cẩn thận, người ta sẽ thấy rằng con người là
không bao giờ hạnh phúc và luôn luôn khổ đau. Họ sẽ quan
sát bốn điều sau :
(i)
Người ta là khổ.
(ii)
Người ta là vô thường.
(iii)
Người ta là vô ngã vì tất cả chúng sanh không có một tự
ngã.
(iv)
Người ta là bất tịnh (chỉ là một đống thịt, máu, xương,…)
Nếu
suy nghĩ theo bốn cách sau, thì người ta chấp giữ bốn tà
kiến (cái thấy sai lầm) :
(i)
Người ta là hạnh phúc.
(ii)
Người ta là thường còn.
(iii)
Người ta có một cái ngã.
(iv)
Người ta thì sạch sẽ.
Nếu
cứ luôn luôn cố chấp bốn tà kiến này, người ta sẽ không
bao giờ thoát khỏi khổ và những hậu quả xấu của sanh
tử. Như Santideva nói trong Bodhicarya-vatara,
Thế
nên chớ bao giờ cho phép chánh niệm lìa khỏi cửa của tâm.
Nếu nó bỏ đi, hãy nhớ lại và nhiệt thành thiền định
về những thống khổ của những trạng thái sanh tử.
(2)
Thiền định đặc biệt về nền tảng của Chân Lý
Như
có nói : “Sắc không là tự ngã, tự ngã không sở hữu sắc,
tự ngã không ở trong sắc, và sắc không ở trong tự ngã”,
theo cách này hãy hiểu rằng bốn uẩn còn lại cũng là trống
không. 49
Trong
một Kinh, có nói, “Sắc không phải là ‘Tôi’, v.v…”
Điều này có nghĩa là :
(i)
Sắc vật chất không phải là tự ngã (nghĩa là tôi, cái ta,
linh hồn…). Nếu sắc chết, bấy giờ tự ngã cũng chết.
Vì lý do này, sắc không thể là tự ngã. Lại nữa, sẽ có
nhiều cái Tôi nếu sắc là cái Tôi.
(ii)
Sắc không được sở hữu bởi tự ngã. Sắc và tự ngã không
có sự liên kết. Tự ngã không sở hữu sắc, vì sắc hành
động theo phần nó hay bởi những yếu tố khác. Cũng vậy,
không thể nói rằng tự ngã là khác với sắc bởi vì tự
ngã không bao giờ được thấy là lìa khỏi sắc.
(iii)
Tự ngã không ở trong sắc. Người ta phải khảo sát các uẩn
và tự ngã để thấy chúng đồng nhất hay khác biệt.
(iv)
Sắc không ở trong tự ngã. Điều này chỉ có thể nếu người
ta có thể chứng minh tự ngã và các uẩn là khác nhau.
Nhờ
bốn phương pháp này, người ta có thể thấy rằng sắc, cái
được sanh ra và bị hủy hoại, thì không có một tự ngã.
Hơn nữa, bốn uẩn còn lại (thọ, tưởng, hành, thức) cần
được khảo sát theo cách tương tự.
Hãy
biết rằng các uẩn không sanh ra từ dịp may, thời gian, Tự
Nhiên, tính chất nội tại, Thượng Đế, cũng không phải
không nguyên nhân, mà từ những hành vi vô minh và sự khao
khát. 50
Các
uẩn, như sắc và các cái khác, không phát sanh tình cờ từ
trời rơi xuống, không phát sanh từ thời gian vĩnh cửu, không
phát sanh từ tự nhiên thường hằng, không phát sanh từ tính
chất nội tại, và cũng không phát sanh từ một Thượng Đế
bao giờ cũng hiện diện. Nếu người ta chấp nhận rằng những
uẩn sanh khởi từ những nguyên nhân này thì điều đó cũng
sai lầm vì chúng sanh khởi từ những nguyên nhân mâu thuẫn.
Hơn nữa, những uẩn không phát sanh mà không có một nguyên
nhân, bởi vì nếu như vậy, chúng sẽ luôn luôn hiện hữu
hay mãi mãi không hiện hữu.
Lại
nữa, những uẩn không phát sanh từ thời gian vì chúng có
những nguyên nhân và điều kiện riêng của chúng. Lìa ngoài
những nguyên nhân và điều kiện này, thời gian không thể
được nói đến. Hơn nữa, trong sự bác bỏ triết học Samkhya,
nếu Tự Nhiên (prakrti) là cái sản sanh ra mọi vật thì nó
không thể là vĩnh cửu được.
Sự
tích tập của những hành động qua vô minh là nguyên nhân
của những uẩn. Vô minh này là sự ẩm ướt làm cho hạt
giống của sự khao khát lớn lên, như vậy khiến cho người
ta bị sanh trở đi trở lại mãi.
(3)
Cởi bỏ ba trói buộc ngăn ngại giải thoát
Hãy
hiểu ba cái này là những trói buộc (vào sanh tử) và là những
chướng ngại chặn kín những cổng vào thành phố của giải
thoát : chỉ bám cứng đạo đức và khổ hạnh, cái thấy
sai lầm về cá thể tự ngã và nghi ngờ. 51
Nếu
người ta bám dính vào ba cái này, chúng sẽ là những chướng
ngại lớn nhất để đạt đến giải thoát. Thí dụ, nếu
người ta có một chỗ nào để đi đến, không thể đạt
đến chỗ mong muốn nếu có ba điều sau :
(i)
Người ta không muốn đi.
(ii)
Người ta đi theo một con đường sai.
(iii)
Người ta có những nghi ngờ về con đường mình đang đi theo.
Do
ba chướng ngại này, người ta sẽ không bao giờ đến nơi.
Về
tôn giáo, ba cái này sẽ ảnh hưởng vào sự đạt đến giải
thoát, chúng được giải thích như vầy :
(i)
Người ta tin rằng hễ theo những lề luật nào đó, bám cứng
những kỷ luật đạo đức, làm hành xác để hối lỗi, hay
làm những khổ hạnh thân thể sẽ đủ cho đạt được con
đường đến giải thoát. Tuy nhiên, người ấy không thực
hành thiền định, tích tập công đức và trí huệ… chúng
là cần thiết cho con đường.
(ii)
Người ta tiếp tục nghĩ đến năm uẩn của nó là thực,
như vậy dẫn đến việc quan niệm ra một cái “Tôi” và
một “cái của tôi”. Với những tư tưởng như vậy, người
ta dẫm bước con đường lầm lạc và nắm giữ cái thấy
lầm lạc.
(iii)
Người ta nghi ngờ con đường nó đang theo.
Nếu
còn ba chướng ngại lớn này, bấy giờ cửa vào giải thoát
còn bị đóng.
(4)
Thực hành ba môn dẫn đến giải thoát
Bởi
vì giải thoát tùy thuộc vào chính mình chứ không tùy thuộc
vào sự giúp đỡ nào của những ai khác, hãy trau dồi chân
lý có bốn ngành qua việc học hỏi, giới luật và tập trung.
52
Con
đường giải thoát chủ yếu dựa vào chính mình. Để đạt
đến con đường này người ta phải giải thoát tâm mình khỏi
những nhiễm ô. Cho mục tiêu này, người ta phải quen thuộc
với những phương pháp của con đường.
Không
ai có thể giúp người khác, hay cầm tay người khác để đặt
người ta lên con đường giải thoát. Người ta phải tự mình
làm mọi sự. Người ta cần làm gì để đạt đến con đường
này ? Thứ nhất, người ta phải có nền tảng của hạnh kiểm
đạo đức chân chánh. Ngoài ra, người ta phải nghiên cứu,
học hỏi những Kinh và những Luận của những bậc có thẩm
quyền. Bằng cách nghiên cứu, hiểu và nhất là thiền định
về những bản văn này, bấy giờ con đường giải thoát sẽ
hiện khởi. Hơn nữa, người ta có thể đạt giải thoát nếu
nó thiền định về Bốn Chân Lý Cao Cả với bốn đặc điểm
của mỗi Chân Lý,(1) và nhất là về chân lý tối hậu, tức
là tánh Không.
Người
ta cần hiểu và thực hành con đường đúng theo Bốn Chân
Lý Cao Cả, như thế :
(i)
người ta cần hiểu khổ ;
(ii)
người ta cần từ bỏ nguyên nhân của khổ, nó là khao khát
;
(iii)
người ta cần khám phá và sống theo Chân Lý ;
(iv)
người ta cần bước đi con đường giải thoát.
(1)
Bốn đặc điểm của Chân Lý về Khổ là :
(1)
Vô thường : Năm uẩn là vô thường, vì chúng sanh ra vào một
thời gian nhất định.
(2)
Khổ : Năm uẩn là đầy khổ, bởi vì chúng lệ thuộc vào
những hành vi và những nhiễm ô.
(3)
Trống không : Năm uẩn là trống không, vì chúng không có một
tự ngã.
(4)
Vô ngã : Không có tự ngã trong tự thể của nó.
Bốn
đặc điểm của Chân Lý của Phát Sanh là :
(1)
Nguyên nhân : Khao khát là nguyên nhân của phát sanh, bởi vì
nó là gốc rễ của khổ.
(2)
Phát sanh : Khao khát là nguồn gốc của tất cả khổ, bởi
vì nó sản sanh khổ trở đi trở lại.
(3)
Sản sanh : Khao khát là người sản sanh, bởi vì nó sản sanh
khổ kịch liệt.
(4)
Trở thành : Khao khát trở thành là một điều kiện hỗ trợ
cho nguyên nhân.
Bốn
đặc điểm của Chân Lý của Dừng Diệt là :
(1)
Dừng diệt : Dừng diệt là thoát khỏi những khổ, chúng bị
loại bỏ bởi những cái chỉnh sửa, đối trị.
(2)
Yên tĩnh : Dừng diệt là thoát khỏi những phiền não, vì
những nhiễm ô đã bị loại bỏ.
(3)
Tuyệt hảo : Dừng diệt là tuyệt hảo, bởi vì nó là giải
thoát, cái này có bản chất là hoan hỷ và hạnh phúc.
(4)
Giải thoát : Dừng diệt là thoát khỏi, bởi vì nó giải thoát
khỏi những nhiễm ô, phiền não ; những cái này cuối cùng
bị loại bỏ hết.
Bốn
đặc điểm của Chân Lý của Con Đường là :
(1)
Con đường : Trí huệ là sự chứng ngộ trực tiếp vô ngã,
sự chứng ngộ này đặt người ta trên con đường đưa đến
thành phố của giải thoát.
(2)
Phương pháp đúng : Trí huệ là cái chỉnh sửa trực tiếp
cho những nhiễm ô.
(3)
Thành tựu : Trí huệ là thành tựu, bởi vì nó thành tựu
một cách đúng đắn sự tịnh hóa của tâm.
(4)
Giải thoát : Trí huệ xóa tan khổ, vì nó chắc chắn giải
thoát người ta khỏi ba cõi.
Hãy
luôn luôn được điều phục trong giới cao nhất, huệ cao
nhất và thiền định cao nhất ; có hơn một trăm năm mươi
giới luật(2) hoàn toàn bao gồm trong ba cái này. 53
(2)
Điều này ám chỉ những giới luật gốc của một vị tăng
như nói trong Luật.
Người
ta cần nghiên cứu ba chủ đề.
(i)
Chủ đề Luật là hạnh kiểm đạo đức. Có nhiều điều
luật khác nhau cho những người khác nhau, nghĩa là người
thường, sa di và tăng.
(ii)
Chủ đề Luận là trí huệ thấy rõ mọi sự không có một
tự ngã. Người ta phải cố gắng hiểu rằng, thật ra, mọi
sự không có tự ngã, nghĩa là sự vắng mặt của một tự
ngã trong “con người” cũng như trong “sự vật” (pháp).
(iii)
Chủ đề Kinh là thiền định, và làm sao người ta tập trung
tâm. Đây là con đường đạt đến bốn thiền (dhyana), nghĩa
là những trạng thái tập trung.
Mọi
phương pháp cần thiết để nắm giữ con đường giải thoát
được bao gồm trong ba cái này.
(5)
Giữ gìn chánh niệm về thân thể
Hỡi
đức vua, chánh niệm về thân thể được đấng Thiện Thệ
dạy là con đường độc nhất (đến giải thoát). Bởi vì
mất chánh niệm sẽ hủy hoại mọi đức hạnh, hãy khéo giữ
gìn nó một cách kiên định. 54
Chánh
niệm cần được duy trì khi cần thực hiện bất kỳ hành
động thân thể nào. Tất cả chư Thiện Thệ đã nói rằng
nhớ và nhìn thấy điều người ta đang làm là rất quan trọng.
Bởi thế, người ta cần nhiệt thành chánh niệm về những
hành động được thực hiện, và chánh niệm về những hành
động cần từ bỏ… Nếu người ta ở trong chánh niệm, mọi
công đức sẽ chắc chắn theo tới. Như có nói trong Bodhicaryavatara,
Đã
cột chặt con voi tâm bằng sợi dây thừng chánh niệm triệt
để, mọi lo sợ sẽ không còn và mọi công đức sẽ đến
trong tay.
c.
Rút tỉa lợi lạc từ nền tảng đã hoàn thành
(1)
Từ bỏ bám luyến vào thân thể mình, nó là vô thường và
không có tự tánh
Cuộc
đời thì vô thường bởi vì nó đầy dẫy những rủi ro như
một bong bóng nước gặp phải cơn gió ; đến độ người
ta thở vào được sau khi đã thở ra hoặc việc thức dậy
từ một giấc ngủ là điều kỳ diệu. 55
Người
ta phải nghĩ về vô thường và cái chết để trau dồi chánh
niệm đã nói ở trên. Không thích đáng khi có sự bám luyến
vào cuộc đời và thân thể của mình, bởi vì cuộc đời
thì vô thường và thân thể thì không có tự tánh. Đời sống
thì cực kỳ thoáng chốc, bởi vì có nhiều yếu tố bên ngoài
có thể gây ra cái chết, như kẻ thù tấn công, tai nạn, tiếp
xúc với thuốc độc… Với điều này trong tâm, rõ ràng là
có rất nhiều nguyên nhân để dành cho cái chết. Như có nói
trong Ratnavali,
Sống
với Yama (Thần Chết) thì giống như một ngọn đèn ở giữa
một cơn gió mạnh.
Dù
người ta không có ý tự làm hại mình, nó có thể ăn một
trái cây độc mà nó tưởng bổ dưỡng cho nó, nhưng thật
ra chỉ làm hại nó. Hơn nữa, có nhiều điều kiện bên trong
có thể gây ra cái chết, như : mật, đờm, lạnh, nóng v.v…
Đời
sống giống như một bong bóng nước bị gió thổi tan bất
kỳ lúc nào. Người ta phải rất biết ơn khi thở ra, mà không
chết trước khi thở vào trở lại được. Hơn nữa, người
ta phải nghĩ là một điều kỳ diệu khi đi ngủ ban đêm,
người ta không chết trước khi thức dậy vào buổi sáng.
Hãy
biết rằng thân thể không bản chất này vào lúc cuối cùng
– thành tro tàn, khô, thối hay dơ bẩn – sẽ hoàn toàn bị
hủy hoại và biến mất và những cái cấu thành nó phân tán
hết.
56
Một
ngày nào thân thể người ta sẽ bị đốt cháy, chôn cất,
phơi khô, bị ăn thịt… Như Candrakirti nói trong Bodhisattva-yogacarya-catuhsataka-tika,
Đã
được mang thai, từ đêm đầu tiên một anh hùng của con người
ở trong bào thai thế gian, nó không ngừng tiến đến cái chết
của nó từng ngày một.
Thấy
như vậy, không có lý do nào để bám luyến vào cái thân thể
đặc thù này. Thân thể này sẽ không luôn luôn là một, vì
chắc chắn nó không là một vật vĩnh cửu. Như thế, thân
thể không có tự tánh, và tham đắm nó là không thích đáng.
Như có nói trong Bodhi-caryavatara,
Phân
của bạn không thể ăn, máu của bạn cũng không thể uống,
hơn nữa, ruột gan bạn không thể nếm, thế thì thân thể
này có dùng được gì !