Quyết
Định

Khi yêu
thương và thù hận vắng bóng, mọi sự việc trở nên rõ
ràng và chân thật.
Dharamsala,
Ấn Đô.
Tiếng
chuông trầm hùng của tu viện đánh thức thầy vào lúc 6 giờ
sáng. Trời vẫn còn tối sẫm. Rời chiếc túi ngủ màu xanh
biển dầy cộm thầy lần bước trong không khí lạnh buốc
người của vùng núi rừng Hy Mã Lạp Sơn và đi ngang căn phòng
với khoảng sàn nhà xi măng trần trụi về hướng phòng tắm
để làm vệ sinh buổi sáng. Phòng tắm chỉ gồm một vòi
nước lạnh băng và nơi nền nhà đào lõm xuống một vũng
to bằng cái chậu được tráng men dùng làm bồn cầu.
Vệ
sinh xong, thầy khoác lên người chiếc tăng y màu đỏ thẫm,
lần bước xuống cầu thang với những bậc cấp sứt mẻ
cùng tay vịn cũ kỹ. Thầy yên lặng nhập đoàn cùng chúng
tăng đang tiến về Phật đường cho thời công phu sáng. Để
đôi dép ngoài cửa, thầy tiến vào điện Phật, cúi đầu
đảnh lễ tượng đức Thế Tôn mạ vàng trên cao và chậm
rãi ngồi xếp bằng hai chân theo thế kiết già dưới chân
tượng Phật. Trong tư thế liên hoa, tấm thân mảnh khảnh
của thầy hơi nhô lên, đầu cúi nhẹ, đôi môi thầy khẽ
động hòa nhịp với âm thanh trầm hùng trang nghiêm của chúng
tăng trong lời cầu nguyện như một ca khúc nhẹ nhàng siêu
thoát. Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng...
Vài
năm trước đây, tên của thầy là Donald Phạm. Thầy sống
với gia đình trong một căn nhà sang trọng tại thành phố
Laguna Niguel thuộc vùng Orange County, miền Nam California, Hoa Kỳ.
Căn nhà với những mái trần cao vời vợi, sàn nhà trải thảm
thật dày, trong một khu vực gồm nhiều ngôi nhà sang trọng
trên những ngọn đồi thơ mộng. Ở trường thầy là một
học sinh xuất sắc. Ở nhà thầy thường chơi trò chơi điện
tử Nintendo, thổi kèn Clarinet và bơi đùa trong hồ tắm với
chiếc phao to bảng bằng nhựa cho trẻ em. Căn phòng ngủ của
thầy được mẹ gắn nhiều ngôi sao lân tinh trên trần để
khi tắt đèn là cả một vũ trụ bao la nhiều tinh tú lung linh
lấp lánh hiện ra ru thầy vào giấc ngủ trẻ thơ. Thầy rất
thích đọc truyện khoa học giả tưởng và chơi những món
đồ chơi thích hợp với ý tưởng sau này sẽ trở thành văn
sĩ hoặc bác sĩ.
Giờ
đây, thầy có pháp danh là Konchog Kusho Osel, có nghĩa là Quang
Minh, vị tăng sĩ trẻ tuổi nhất của Viện Lý Luận Phật
Học, một học viện chuyên đào tạo những vị Lạt Ma nổi
tiếng của chính phủ Tây Tạng lưu vong dưới sự lãnh đạo
của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14.
Vào
lứa tuổi này, những đứa con trai khác ở Mỹ luôn nhộn
nhịp với tiệc tùng, và bạn gái hoặc mãi mê với những
trận túc cầu, thì thầy đã tự hiến mình cho thệ nguyện
từ bi, với ước mong xóa tan mọi khổ đau cho chúng sinh. Và
thầy cũng bắt đầu tập trò chơi banh gậy (cricket). Thầy
đã hứa nguyện điều phục mọi dục vọng của xác thân,
cương quyết nghiêm trì giới luật, kiểm soát thân, khẩu,
ý và không bao giờ phạm sát giới giết hại sanh linh, dù
là sinh mạng một con muỗi bé nhỏ. Thầy đã hiểu rõ tánh
Không và sự vô thường của vạn pháp, kể cả chính xác
thân mình. Thầy đang chiến đấu để vượt thắng sự chấp
thủ ràng buộc, không chỉ riêng đối với sự vật, mà ngay
cả đối với những người thân thích.
Chấp
thủ ràng buộc là đau khổ. Buông xả là giải thoát.
Mục
đích tối hậu của vị tiểu tăng Kusho, và cũng là mục đích
của tất cả tu sĩ Phật Giáo, là sự giác ngộ. Giác ngộ
là một trạng thái tâm linh trí tuệ viên mãn. Đây là một
cảnh giới, như Đức Đạt Lai Lạt Ma đã viết, hành giả
có thể thi triển thần thông huyền nhiệm. Nhiều vị Lạt
Ma khi nhập thiền định có thể ngồi hàng giờ ngoài tuyết
giá mà thân nhiệt vẫn ấm áp bình thường không bị lạnh
cóng. Có những vị sau khi nhập diệt thân xác vẫn còn tươi
tốt không hư rữa trong nhiều tuần lễ. Có những vị Lạt
Ma mà nhân gian đã từng truyền thuyết là có thể khinh thân
bay bổng nhẹ nhàng. Cậu bé đã từng có tên Donald Phạm đang
trên con đường thử thách cam go của chính mình. Một hướng
đi mà cậu cần phải theo suốt đời để đạt đến đích.
Ông ngoại của cậu cương quyết phản đối việc nầy. Cô
dì chú bác cũng chống đối và cho rằng đây là cả một
sự điên rồ. Tại Ấn Độ, vào thời gian đầu thầy cũng
đã ngã bệnh vì lạ nước lạ miệng, đã từng khóc vì nhớ
nhà và có lúc tự hỏi tại sao mình lại chọn cuộc sống
này. Nhiều thử thách đã xảy ra, nhưng đối với thầy thử
thách lớn lao nhất vẫn là sự ràng buộc trong tình cảm gia
đình với cha mẹ chị em.
Tay
nắm góc chiếc tăng y, thầy khoác chéo qua vai như một vầng
mây màu đỏ thẫm. Hai tay thầy kéo y che trùm kín mặt như
tìm một nơi an trú. Nam mô Đại đạo sự Nam mô Phật. ( Con
nguyện quy y đấng đại đạo sự Con nguyện quy y chư Phật.
)
Cậu
con trai chỉ mới 16 tuổi đời nhưng đã là một tăng sĩ Phật
giáo. Thầy là người ngoại quốc đầu tiên được chấp
thuận vào nhập chúng tại viện Phật học Tây Tạng nổi
danh này. Bằng cách nào thầy đã được như thế? Ai đưa
quyết định này? Và liệu thầy có giữ được những hạnh
nguyện này suốt đời chăng?
Cơn
Đau Răng Định Mệnh
Cuộc
tình của cha mẹ thầy bắt đầu từ một cơn đau răng dữ
dội từ bên kia nửa vòng trái đất.
Vào
một buổi sáng năm 1971, cô Nguyễn Lệ Huyền hối hả bước
vào khuôn viên trường đại học Nha Khoa Sài Gòn với một
bên hàm đau nhức và nửa khuôn mặt sưng vù. Cô định tìm
gặp vị giảng sư kinh nghiệm ngay tức thì vì cơn đau răng
khủng khiếp đang hành hạ. Nhưng chàng sinh viên Phạm Hỷ
đã bắt gặp cô gái trong chiếc váy ngắn này trước tiên
và nhất định đòi chữa trị cho cô ta.
Cô
gái Lệ Huyền chính là bệnh nhân đầu tiên của chàng sinh
viên họ Phạm. Chị Huyền kể lại: Anh ấy chẳng làm cho
cơn đau răng của tôi giảm đi chút nào cả. Còn tệ hơn là
đằng khác.
Nghe
cô bệnh nhân than phiền, chàng sinh viên Phạm Hỷ càng cuống
quýt. Anh ta liền trao cho cô một số thuốc giảm đau. Và tối
hôm đó, chàng sinh viên lặn lội đến tận nhà bệnh nhân
với một hộp kẹo trên tay kèm theo lời xin lỗi. Chàng sinh
viên trường Nha xin phép được trở lại thăm để theo dõi
bệnh trạng. Cô gái vui lòng chấp thuận.
Thế
là một năm sau, hai người làm lễ đính hôn và dự tính sẽ
làm đám cưới sau khi Hỷ hoàn tất thời hạn nhiệm kỳ 2
năm quân ngũ. Nhưng vào tháng Tư năm 1975, Sài Gòn rơi vào
tay Cộng Sản, khiến anh Hỷ phải di tản sang Hoa Kỳ. Ở lại
quê nhà, chị Huyền đã ba lần và đã tốn khá nhiều lượng
vàng tìm mọi cách vượt biên để đoàn tụ cùng người hôn
phu chưa cưới. Lần đầu tiên bất thành vì chị ngã bệnh
vào lúc tàu khởi hành ra biển. Lần thứ hai, sau khi đã ra
khơi thì chiếc tàu bị công an biên phòng rượt bắt. Chị
bị giam hai tháng trong tù vì tội vượt biên trốn ra nước
ngoài. Lần thứ ba, chị tìm cách vượt biên đường bộ theo
ngã Kampuchia để sang Thái Lan. Sau bao nhiêu ngày vượt rừng
băng suối trong lo sợ hãi hùng, phải chịu đói khát và tránh
rắn độc, thú rừng cùng mìn bẫy. Cuối cùng chị đã đến
được biên giới Thái Lan. Khi chị Huyền nhập trại tỵ nạn
ở Thái, mọi người trong trại đều tin rằng, chị còn sống
sót và an toàn đến trại chính là nhờ sự hộ trì của chư
Phật chứng giám sự thành tâm cầu xin của chị trong suốt
quãng đường đầy nguy hiểm mà nhiều người đã bỏ mạng.
Sang
năm 1980, chị Huyền được sở Di Trú nhận vào Hoa Kỳ để
đoàn tụ cùng anh Hỷ lúc ấy đang theo học để lấy lại
bằng Nha Sĩ. Cả gia đình chị sau đó cũng lần lượt đoàn
tụ tại Hoa Kỳ. Đến năm 1981 hai người làm đám cưới và
anh Hỷ mở một phòng mạch Nha khoa tại thành phố Long Beach.
Một năm sau, Connie, cô con gái đầu lòng ra đời. Hai vợ chồng
Huyền Hỷ đều tin rằng sự hiện diện của bé Connie đã
đem lại nhiều điều tốt lành cho gia đình.
Tử
Thư Tây Tạng
Chị
Huyền vốn là một Phật tử thuần tín. Chị hiểu rõ chữ
Nghiệp trong nhà Phật. Đây chính là luật nhân quả quyết
định mọi hoàn cảnh tốt xấu của đời người. Chị hoàn
toàn tin tưởng vào thuyết luân hồi. Sau cái chết đau đớn
của mẹ vào năm 1984, nhiều câu hỏi đã khiến chị càng
suy nghĩ.
Có
thể nào một người kiểm soát được sự ra đi của chính
mình khi chết? Và họ sẽ đi về đâu sau thời gian chuyển
tiếp? Kiếp sống tái sinh sẽ như thế nào? Những câu hỏi
tương tự về sự sống, chết và tái sinh khiến chị ngày
càng suy nghĩ mà vẫn chưa tìm được câu trả lời thỏa đáng.
Năm
1985, chị Huyền mang thai bé Donald. Trong lần mang thai này những
thắc mắc như thế càng làm cho chị suy nghĩ nhiều hơn. Sinh
mạng đang nằm trong bào thai này là ai? Điều gì tiếp tục
xảy ra sau khi một con người trút hơi thở cuối cùng? Tái
sinh và luân hồi thực sự là như thế nào? Chị Huyền nêu
những thắc mắc này cùng chồng và hai người tìm đến tham
vấn vị tu sĩ tại một chùa Việt Nam trong cộng đồng để
nhờ chỉ giáo. Nhưng hình như cả hai vợ chồng vẫn chưa
hoàn toàn thỏa mãn.
Thế
rồi chị Huyền tình cờ đọc được một cuốn sách đã
hoàn toàn thay đổi cuộc sống của gia đình. Lúc ấy chị
mang thai bé Donald được hai tháng.
Đó
là cuốn Tử Thư của Phật Giáo Tây Tạng. Đối với chị
Huyền đây là một điều khá mới lạ so với truyền thống
Phật Giáo Việt Nam của gia đình mà chị đã từng quen thuộc
từ thuở nhỏ. Cuốn sách mang tựa đề Cái Chết, Thân Trung
Ấm và Sự Tái Sinh. Tác giả là đại sư Lati (Lati Rinpoche),
vị phụ tá tinh thần của Đức Đạt Lai Lạt Ma, và cũng
là bậc đạo sư mang nhiều chuyển biến lớn đến tương
lai đứa con trai chưa ra đời của chị.
Chị
Huyền kể lại: Tôi mừng rỡ khi có được quyển sách và
tôi đọc một cách say mê thích thú. Nam mô Phật. Qua cuốn
sách, đại sư Lati đã giải đáp tất cả những thắc mắc
của tôi từ những thực chứng của chính ngài. Ngài là hóa
thân của một vị cao tăng đắc đạo và ngài đã từng sống
qua nhiều kiếp như thế.
Cuốn
Tử Thư nói về khoảng thời gian chuyển tiếp từ khi chết
đến lúc tái sinh trong vòng 49 ngày, còn gọi là thất tuần.
Đây cũng là thời gian Đức Phật Thích Ca ngồi thiền định
dưới cội Bồ Đề và chứng quả Giác Ngộ. Chúng sinh đắm
chìm trong dục vọng và ngã chấp sau khi chết sẽ trải qua
giai đoạn thân trung ấm. Nếu những hành vi của đời trước
là thiện nghiệp thì sau thời gian trung ấm vong linh sẽ được
tái sinh vào cõi trời hoặc người. Nếu là ác nghiệp thì
sẽ bị đọa vào trong các cõi súc sinh hay ngạ quỷ.
Hằng
đêm, chị Huyền đọc cuốn Tử Thư một cách say mê thích
thú. Thai nhi trong bụng mẹ cũng đang lớn dần. Ngày 18 tháng
Ba năm 1986, bé Donald Phạm ra đời. Chị Huyền nhớ lại lúc
nằm trên giường trở dạ sinh bé Donald một cách dễ dàng
không một chút đau đớn. Chị Huyền cho rằng chính bé Donald
đã đưa chị về với Phật Pháp.
Cậu
Bé Khác Thường
Kể
từ khi ra đời, Donald là một đứa bé hoàn toàn khác lạ
so với những đứa trẻ khác. Chị Huyền cho biết: Donald rất
chửng chạc, trầm tỉnh. Cháu giống như một cụ già.
Ngay
từ lúc tuổi thơ, bé Donald thường thích ngồi yên lặng hàng
giờ nhìn chị Connie đùa nghịch với các món đồ chơi. Hai
chị em dường như khác nhau hoàn toàn. Connie, 4 tuổi, luôn
đòi hỏi, táy máy và năng động, trong khi đứa em trai chỉ
thích ngồi im lặng chăm chú ngắm nhìn mọi việc một cách
cẩn thận, theo dõi từng chi tiết như đang cố tình ghi nhận
cả thế giới vào đôi mắt bé thơ.
Mười
bốn tháng sau, Christine, đứa em gái thứ ba trong gia đình ra
đời. Mọi người trong nhà thường bảo Christine và Donald
là hai anh em song sinh. Cả hai có tính tình rất giống nhau,
trầm tỉnh, chửng chạc và nụ cười cũng giống nhau như
đúc. Hai anh em thường quấn quít bên nhau không chịu rời
nửa bước ngay cả lúc bắt đầu tập bò hay tập đi. Điều
này khiến cho chị hai Connie đôi lúc phải ganh tỵ vì bị
hai em bỏ rơi.
Vừa
đi làm và phải chăm sóc ba cháu bé, khiến chị Huyền gần
như quên hẳn vấn đề sâu xa của sự chết. Mãi cho đến
một hôm vào năm 1990, khi đang ngồi chờ nơi phòng mạch, bà
mẹ chồng tình cờ trao cho chị một tờ báo đăng mẫu tin
cho biết một vị Lạt Ma Tây Tạng từ Ấn Độ sang Hoa Kỳ
sẽ thuyết pháp tại tu viện ở Los Angeles.
Vị
cao tăng đó là Lati Rinpochẹ Chị Huyền mừng rỡ như vừa
tìm gặp một điều đã từng chờ đợi từ bao lâu naỵ Chị
cho biết: Tên của ngài được in trên tờ báo với nét chữ
rất nhỏ. Nhưng đối với tôi như cả một thế giới rực
rỡ huy hoàng. Và tôi phải gặp ngài bằng mọi giá.
Đại
sư Lati chính là tác giả cuốn Tử Thư mà chị Huyền đã
say mê đọc hằng đêm trong lúc mang thai bé Donald. Ngày hôm
sau, chị Huyền lái xe đến Los Angeles để gặp đại sự Chị
cho biết: Mặc dù đây là lần đầu tiên tôi gặp Rinpochẹ
Nhưng tôi có cảm giác là đã gặp ngài rất nhiều lần trước
đây ở một nơi nào đó mà tôi không thể nhớ được. Những
câu chuyện ngài kể về vùng núi rừng Hy Mã Lạp Sơn tôi
cũng thấy quen thuộc một cách kỳ lạ. Tôi cảm thấy, Mô
Phật, dường như tôi cũng đã từng sống ở đó trước đây.
Ngày
hôm sau, chị Huyền trở lại chùa cùng đem theo ba đứa con
ngồi nơi hàng ghế cuối giảng đường để nghe đại sư
thuyết Pháp. Ngay khi đại sư Lati vừa bước vào tòa giảng
thì chú bé Donald, lúc ấy được 4 tuổi, nhoài người và
rơi khỏi ghế khiến trên trán nổi một cục u thật lớn.
Nhưng Donald vẫn thản nhiên không hề khóc la. Chị Huyền phải
dùng mấy cục nước đá để tạm chữa vết sưng cho con.
Donald cùng hai chị em ngồi yên lặng không hề quấy rầy hay
nghịch phá trong suốt hai tiếng đồng hồ trong khi đại sư
Lati giảng bài pháp về bản chất của ý thức. Chị Huyền
kể lại, tối hôm đó, lúc về đến nhà thì cục u to tướng
trên trán bé Donald đã biến mất một cách kỳ diệu không
hề để lại vết bầm.
Đại
sư Lati tiếp tục giảng pháp tại California trong hai tuần lễ.
Chị Huyền cùng ba đứa con cũng tham dự liên tục không bỏ
sót một ngày. Chị cảm nhận được một niềm an lạc lớn
lao khi nghe đại sư khai thị qua những thời pháp quý báu.
Cả
gia đình chị đều là Phật tử của chùa Tây Tạng ở Los
Angeles, và thường xuyên đến chùa vào mỗi thứ Tư, thứ
Sáu và Chủ Nhật hàng tuần để nghe đại sư trụ trì Geshe
Tsultim Gyeltsen thuyết pháp. Phật tử trong chùa đều rất mến
đại sư Tsultim Gyeltsen và thân mật gọi ngài là Geshe-la.
Bốn
mẹ con chị Huyền cùng đi chùa nghe Pháp một cách đều đặn
như vậy quả là một điều không dễ dàng. Mỗi tuần ba lần,
chị Huyền phải lái xe với một đoạn đường dài 50 dặm
trên xa lộ nhiều xe cộ, vừa lái xe vừa phải chăm lo cho
ba cháu bé. Chị Huyền muốn Donald và Christine, hai đứa con
nhỏ tuổi nhất, ở nhà chơi với các đứa trẻ con của anh
chị. Nhưng cả hai nhất định đòi phải theo mẹ đến chùa.
Ba đứa bé ngồi suốt nơi hàng ghế cuối trong giảng đường
yên lặng vẽ hình và tô màu trong khi Geshe-la trụ trì giảng
cho đại chúng những phương pháp Thiền Định và sự tỉnh
thức trong Thân, Khẩu, Ý trên con đường tu tập để đạt
đến giác ngộ. Ngài nêu ra những khó khăn cùng chướng ngại
mà hành giả có thể gặp phải khi thực hành phương pháp
Thiền quán. Ngài giảng cho đại chúng biết rõ tâm ý của
con người luôn lăng xăng từ ý tưởng này sang ý tưởng khác
như một con khỉ chuyền cành không bao giờ yên nghỉ. Ngài
cũng nêu những chướng ngại có thể gặp phải khi hành giả
muốn điều phục tâm ý.
Có
một lần, chị Huyền nhẹ nhàng rầy con trai không chịu chú
ý nghe thầy giảng thì Donald bảo rằng cậu vẫn chăm chú
nghe. Chị Huyền kể lại: Tôi nói, OK. Vậy ngày hôm nay Geshe-la
giảng điều gì, con nói cho mẹ nghe thử xem? . Và cháu trả
lời ngay tức thì, Geshe-la bảo tâm ý con người lăng xăng
như con khỉ. . Nghe con trai trả lời, chị Huyền thực sự
kinh ngạc. Đây quả là một điều khá cao xa khó hiểu đối
với một đứa bé chỉ mới bốn tuổi đầu.
Tezin
Dorjee, một người bạn đạo của gia đình chị Huyền và
từng là một tu sĩ Phật giáo Tây Tạng cho biết ngay từ lúc
còn bé, Donald đã chứng tỏ lòng vị tha quên mình luôn chăm
lo cho người khác. Một hôm, Dorjee dẫn ba đứa bé đi mua kem,
thì Donald nhất định không chịu mua kem ăn, sợ tốn tiền
cha mẹ và chỉ muốn chị và em gái của mình mua ăn kem mà
thôi. Dorjee kể lại: Cháu lo lắng mọi điều. Vượt quá tuổi
đời của cháu. Tôi thường khuyên, Cháu đừng nên lo lắng
như vậy. Cháu hãy còn là một đứa bé mà thôi. . Mặc dù
đang còn tuổi bé thơ, Donald đã chứng tỏ một tinh thần
trách nhiệm rất cao. Khi lỡ tay sát hại một côn trùng bé
nhỏ cháu lấy làm xót thương cho con vật và buồn rầu hối
hận suốt cả ngày.
Sự
thể hiện tâm tính của Donald càng rõ rệt hơn vào một buổi
chiều khi cả nhà đang ngồi ăn. Lúc ấy bé Christine lỡ tay
đánh bễ đĩa thức ăn và lo sợ khóc òa. Thấy em gái khóc,
Donald nhẹ nhàng an ủi: Em đừng có lo sợ. Nó chỉ là một
đồ vật mà thôi. Nếu em cứ mãi để ý và chấp chặt vào
những điều nhỏ nhặt như vậy thì làm sao em có thể từ
bỏ xác thân này khi chết? Nghe đứa con trai khuyên em như vậy,
cả hai vợ chồng chị Huyền anh Hỷ cùng mở to mắt nhìn
con lòng đầy kinh ngạc. Chị Huyền kể lại: Tôi không bao
giờ quên được cảnh tượng khi cháu nói điều đó. Lúc
bấy giờ cháu chỉ mới có 5 tuổi.
Chị
Huyền tin rằng đây chính là biểu hiệu rõ ràng về đời
sống tâm linh của Donald. Chị trình bày điều này cùng đại
sư trụ trì. Nghe chị kể, Geshe-la rất vui mừng nhưng khuyên
chị hãy im lặng và đừng nói gì về điều đó cả. Họ
sẽ âm thầm theo dõi xem bé Donald phát triển tâm linh theo chiều
hướng nào. Đại sư cho biết cả ba đứa con chị Huyền đều
có căn cơ về Phật Pháp một cách rất đặc biệt ngay từ
khi tuổi rất còn bé. Đại sư nói: Những gì các cháu thu
nhận được thì chúng ta chưa biết rõ. Nhưng chúng đang thường
xuyên ghi nhận từ những điều nhỏ nhặt, vào mọi lúc, nghe,
nghe, nghe và nghe... Vào mọi lúc mọi thời, các cháu đang thu
thập và ghi nhận vào tâm thức.
Vị
Luận Sư Việt Nam Đầu Tiên
Mặc
dù là Phật tử của chùa Phật Giáo Tây Tạng tại Los Angeles,
gia đình anh chị Huyền Hỷ vẫn thường xuyên đến các chùa
Việt Nam trong vùng vào những dịp lễ vía quan trọng. Trong
những dịp nầy, mọi người cùng nhau lễ Phật, cầu nguyện,
làm công đức và cúng dường chư tăng nhưng ít có chùa tổ
chức những buổi thuyết Pháp quan trọng cho đại chúng. Điều
này cũng đã khiến bé Donald chú ý. Cậu bé thắc mắc: Mẹ.
Tại sao ở các chùa Việt Nam các thầy ít có thuyết pháp?
Nếu mình không học Phật Pháp thì làm sao biết đúng hay sai?
Nghe
con trai hỏi, chị Huyền trả lời con với một lời khuyến
khích. Tôi nói, OK, bây giờ thì con thấy rồi đó. Con cũng
có thể trở thành một vị tăng sĩ Việt Nam để có thể
giảng Pháp cho mọi người. Donald bảo rằng cháu sẽ đi tu,
và cháu không hề do dự. Nghe thế tôi bảo cháu. Mẹ hy vọng
trong tương lai, con sẽ đem đến cho khu vườn nhiều bông hoa
hương sắc nầy một đóa hoa đặc biệt khác thường.
Một
sự kiện xảy ra đã khiến chị Huyền không còn nghi ngờ
gì về tương lai của Donald. Có một hôm, trên đường đưa
con đến chùa, vừa lái xe chị vừa mở radio để nghe chương
trình phát thanh tiếng Việt. Từ chiếc radio, người xướng
ngôn đang ca ngợi những thành công của cộng đồng người
Việt tỵ nạn trong nhiều lãnh vực bác sĩ, kỷ sư, luật
sự Nghe như thế, Donald đang ngồi nơi ghế sau chồm về phía
trước hỏi: Mẹ. Tại sao có quá nhiều bác sĩ, kỷ sư và
luật sư trong cộng đồng người Việt mà chưa có một vị
Luận Sư Phật Giáo nào cả? Con sẽ là một Geshe đầu tiên.
Geshe
là tiếng Tây Tạng, có nghĩa là Luận Sư Phật Học, một
vị cao tăng giáo lý uyên thâm và sở đắc những kiến giải
tâm linh thực chứng trong Phật Pháp. Nghe con trai nói như vậy,
chị Huyền quyết định đã đến lúc chị phải trình bày
điều này với Geshe-la về tương lai cho đứa con trai của
mình.
Trí
Tuệ Tây Tạng
Ở
vào tuổi 79, gương mặt của đại sư Tsultim Gyeltsen chỉ vừa
thoáng những vết nhăn nhẹ. Ra đời tại một vùng phía đông
Tây Tạng, Geshe-la đã theo tu học tại tu viện Gaden Shartse
khi vừa 8 tuổi. Và ngài đã sống tại nơi nầy trong suốt
30 năm.
Cuộc
đời trong tu viện của ngài đã bị chấm dứt một cách đột
ngột sau thời cầu nguyện tối vào ngày 14 tháng Ba năm 1959,
khi Hồng Quân Trung Cộng tiến chiếm thủ đô Lhasạ Chính
phủ Trung Hoa đang nêu cao chiêu bài giải phóng Tây Tạng thoát
khỏi tình trạng xã hội tôn giáo lạc hậu và nền kinh tế
nghèo nàn. Lúc bấy giờ Geshe-la đã biết Đức Đạt Lai Lạt
Ma đang trên đường vượt Hy Mã Lạp Sơn sang Ấn Độ. Và
đại sư cũng được lệnh phải rời khỏi Tây Tạng.
Gần
nửa khuya, Geshe-la đem theo những quyển Kinh quý báu làm hành
trang và mang theo một ít thực phẩm rồi vội vàng cất bước.
Chỉ khoác trên người chiếc y tăng già, ngài quay lưng từ
giã quê hương bắt đầu con đường lưu vong về hướng Ấn
Độ. Cuộc hành trình gian khổ qua dãy Hy Mã Lạp Sơn phải
vượt nhiều đoạn đường nguy hiểm cheo leo phủ đầy băng
tuyết. Dọc theo lộ trình, rất nhiều người Tây Tạng đã
bị thiệt mạng vì tai nạn, đói lạnh hoặc bị quân đội
Trung Hoa sát hại. Thời tiết băng giá của vùng rừng núi
đã khiến nhiều người phải bị mất tay, mất chân vì tê
cóng. Nhưng đại sư Tsultim Gyeltsen đã may mắn không gặp những
tai nạn này. Sau cuộc hành trình 35 ngày gian khổ và đói lạnh,
Geshe-la đến được trại tỵ nạn Ấn Độ. Lúc bấy giờ
ngài mới biết tu viện Gaden Shartse đã bị Hồng Quân Trung
Hoa hủy diệt hoàn toàn. Nhiều tăng sĩ đã bị tù đày, tra
tấn hành hạ và sát hại.
Nơi
quê hương tạm dung, Đức Đạt Lai Lạt Ma khuyến khích mọi
người hãy quyết tâm tiếp tục xây dựng lại từ những
gì đang còn dang dỡ. Geshe-la lại vùi đầu vào những nghiên
cứu Phật Pháp và các khóa trình tu học để có được học
vị Lharampa Geshe (Luận Sư). Đây là học vị cao nhất một
tu viện Phật Giáo Tây Tạng dành cho tăng sĩ, tương đương
với học vị tiến sĩ tâm linh trong Phật học. Một học kỳ
phải cần trên 20 năm để hoàn tất.
Năm
1963, Đức Đạt Lai Lạt Ma gửi ngài sang Anh Quốc và Hoa Kỳ
để hoằng dương Phật Pháp. Chính quyền Trung Hoa có thể
đã chiếm Tây Tạng, giết hại hàng trăm ngàn người dân
Tây Tạng, hủy diệt vô số tự viện và sử dụng nhiều
chính sách nhằm xóa bỏ tiếng Tây Tạng. Nhưng truyền thống
Phật Giáo Tây Tạng đang bắt đầu được truyền bá khắp
thế giới.
Với
kinh nghiệm đã từng giúp đỡ nhiều Phật tử tại California,
Geshe-la chăm chú nghe chị Huyền trình bày về Donald. Đối
với Geshe-la, ở Tây Tạng các bậc cha mẹ cho con mình theo
tu học tại tu viện là điều bình thường. Nhưng đây là
Laguana Niguel, Hoa Kỳ, cách Tây Tạng cả nửa vòng trái đất.
Vị
đại sư trụ trì rất vui mừng khi biết được anh chị Huyền
Hỷ muốn con trai mình trở thành tăng sĩ. Ngài đồng ý với
hai người rằng Donald quả là một đứa bé dịu dàng, thông
minh và có thể sẽ thích hợp với đời sống trong tu viện.
Nhưng ngài cũng hiểu được sợi dây ràng buộc giữa tình
mẹ con là một điều không dễ dàng dứt bỏ. Không biết
bậc cha mẹ này thực sự hiểu rõ tại sao họ muốn con mình
vào sống trong tu viện? Họ có khái niệm gì về đời sống
của một tăng sĩ hay không? Họ có biết rằng, khi đã là
một tăng sĩ thì phải từ bỏ tất cả những ham muốn vật
chất thế gian, giữ gìn giới luật nghiêm minh, phải thực
hành những thời công phu thiền quán nhất định, cùng thời
gian nghiên cứu Kinh Luật Luận với một thời khóa biểu nghiêm
nhặt? Họ có hiểu được đời sống ở Ấn Độ như thế
nào chăng? Một quốc gia đã một thời phát triển cực thịnh
nhưng xã hội đang trên đà hủy diệt trầm trọng. Biết Ấn
Độ là một quốc gia gồm những người giàu có đang trên
đà suy sụp cùng sự nghèo đói kinh niên, khí hậu nóng cháy
da người, và những cơn mưa nhiệt đới mịt mù cũng vẫn
chưa đủ. Geshe-la đề nghị vợ chồng anh chị Huyền Hỷ
nên thực hiện một chuyến viếng thăm Ấn Độ, tìm hiểu
đời sống tăng sĩ trong một thời gian để có được những
kinh nghiệm thực tế cho chính mình trước khi quyết định
về bé Donald.
Chị
Huyền được đại sư cho biết cuộc sống trong một tu viện
là cả một đại dương. Có nhiều trân châu quý giá nằm
sâu trong lòng biển cả, nhưng cũng có những bầy cá mập
kinh người. Trong cõi Ta Bà nầy chúng ta không thể tìm được
một nơi chốn nào toàn thiện toàn mỹ được.
Lễ
Vấn Linh
Vấn
đề của cậu bé Donald có nên sang Ấn Độ tu học để trở
thành một tăng sĩ Phật Giáo hay không sẽ được quyết định
qua một buổi lễ vấn linh. Vị cao tăng hành lễ sẽ cầu
xin sự hướng dẫn từ các đấng linh thiêng để có câu trả
lời cho vấn đề nan giải này. Trong buổi lễ những vật
dụng như lửa, gương, chuỗi tràng hạt, cùng những mẫu xương
sẽ được sử dụng cho nghi thức hành lễ. Và lễ vấn linh
này phải được chính đại sư Lati thực hiện tại Ấn Độ.
Vì
gia đình biết Christine cũng rất ham thích Phật Pháp ngay từ
thuở bé và luôn muốn sống gần anh Donald nên câu hỏi cầu
xin trong lễ vấn linh là không những Donald mà ngay cả Christine
có thể theo tu học trong tu viện hay không. Sau buổi vấn linh,
đại sư Lati cho biết Donald nên theo học trong tu viện, nhưng
cô em gái Christine thì còn phải chờ đợi.
Chị
Huyền và anh Hỷ rất vui mừng khi biết được những gì mình
nghĩ về cậu con trai là đúng. Anh Hỷ bảo: Cháu là một đứa
con ngoan và rất đặc biệt trong gia đình. Tôi tin rằng đây
là con đường đúng đắn để cháu có thể nương về, và
cháu cũng tin tưởng như thế.
Tuy
thế, anh chị Huyền Hỷ cũng biết rằng gia đình hai bên nội
ngoại khó mà chấp nhận khi nghe tin này. Cả hai vợ chồng
suy nghĩ rất nhiều, không biết phải giải thích thế nào
khi Donald trong một lúc vui mừng đã nói điều này với người
anh họ. Thế là cả gia đình của chị Huyền đều biết tin.
Donald sẽ sang Ấn Độ tu học để trở thành một vị Lạt
Ma Tây Tạng.
Ba
của chị Huyền, cụ Nguyễn Văn Nam, đã nổi trận lôi đình
khi nghe tin. Cụ có tất cả bốn người con trai và tám cô
con gái, nhưng mất một và chỉ còn lại bảy. Lúc còn ở
Việt Nam, cụ đã từng là một thương gia kinh doanh xe đạp,
có thời làm cố vấn trong chính phủ và làm nhà báo. Thời
trai trẻ cụ cũng đã đăng lính và mang lon Trung Úy trong quân
đội Pháp. Sau khi đất nước rơi vào tay Cộng Sản cụ phải
rời bỏ quê hương. Sang Hoa Kỳ cụ bắt đầu tạo dựng lại
cuộc đời từ con số không. Những người con của cụ nay
đã trở thành bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ. Các cháu của cụ
cũng đang theo học đại học. Những thành đạt này chính
là niềm vui sướng và tự hào của cụ nơi quê hương thứ
hai. Hoa Kỳ là vùng đất hứa cho mọi cơ hội tiến thân.
Một xứ sở của sự thịnh vượng sung túc mà mọi người
trên thế giới đều mong được sống. Tại sao cô con gái
của cụ lại muốn cho Donald, đứa cháu ngoại dễ thương,
từ bỏ tất cả để sang Ấn Độ sống trong một đất nước
nghèo đói như thế?
Cụ
Nam liền tức tốc triệu tập một buổi họp toàn thể đại
gia đình gồm 11 người con. Cả gia đình hy vọng sẽ thuyết
phục được chị Huyền từ bỏ ý định điên rồ khi quyết
định gởi Donald sang Ấn Độ tu học.
Cuộc
Đối Đầu
Buổi
họp toàn gia đình bên ngoại được tổ chức tại nhà chị
Huyền dưới sự chủ tọa của cụ Nam. Chung quanh cụ là các
người con và dâu rể đều hiện diện. Trong buổi họp cụ
rất giận dữ và bất bình.
Cụ
Nam không có cảm tình cho lắm đối với những vị tăng sĩ
Phật Giáo. Thời còn làm nhà báo ở Việt Nam, cụ có viết
bài phê bình đả kích chính phủ và bị bắt cùng với một
số tăng ni. Cụ tận mắt chứng kiến những vị tăng sống
trong nhà giam mà hằng ngày được tín đồ vào thăm mang theo
đủ thứ trái cây, sữa đường và món ăn ngon cung phụng
cho các sự Có một lần cụ muốn vào một phòng giam để
tiếp chuyện với một vị tăng có chức vụ trong giáo hội
thì bị từ chối. Nhưng cụ nhất định xô cửa bước vào.
Khi cửa mở, cụ nhìn thấy cảnh vị sư nọ đang ngồi ăn.
Trên bàn nhiều món ăn ngon, hai người đệ tử đứng hầu
quạt hai bên, hai người khác thì lo sửa soạn thức ăn cho
sư. Thấy cảnh nầy cụ Nam vô cùng bất bình. Và cụ không
muốn đứa cháu ngoại của mình sẽ giống như thế.
Cụ
Nam cho biết Donald là một đứa cháu dễ thương trong gia đình.
Lòng thương người của cháu là hiển nhiên và đáng quý.
Nhưng sau này cháu vẫn có thể giúp đỡ nhiều người khác
bằng cách chăm lo học hành để có được bằng bác sĩ hay
nha sĩ như cha của cháu bây giờ. Lúc đó cháu có thể giảm
giá hoặc chữa bệnh miễn phí cho người nghèo để giúp đỡ
họ. Cháu nhất thiết không cần phải đi tu.
Cụ
Nam cho rằng Donald thực sự không muốn đi tu. Mà đây chỉ
là ý muốn của cha mẹ cháu mà thôi. Cháu làm điều này chỉ
vì muốn cha mẹ vui lòng. Cô dì chú bác của Donald cũng phụ
họa theo lập luận của cụ Nam. Đối với họ, Donald chỉ
là một đứa bé. Cả gia đình cật vấn chị Huyền mọi điều.
Tại sao chị lại gởi Donald sang Ấn Độ sống một mình như
vậy? Sao chị lại chia cách con trai của mình với gia đình?
Tại sao chị lại bắt cháu bỏ học rời khỏi ghế nhà trường
trong khi cháu là một học sinh ngoan giỏi? Tại sao chị có
thể nhẫn tâm làm điều này?
Cụ
Nam cho rằng bé Donald đáng thương đã không có quyền quyết
định cuộc đời của chính mình.
Giã
Từ
Khi
biết rõ vạn pháp đều là hư huyễn, con người sẽ giải
thoát khỏi mọi xiềng xích của chấp thủ ràng buộc.
Dharamsala,
Ấn Đô.
Chú
rắn hổ mang trườn mình băng qua khu vườn và thản nhiên
lè lưỡi chích nọc độc vào mọi chướng ngại gặp phải
trên lối đi. Từ hơn 400 năm nay điều này cũng chẳng có
gì thay đổi ở đây.
Một
nhóm tăng sinh đầu cạo sạch tóc, khoác trên người bộ tăng
y đang hăng say tham dự buổi tranh luận giáo lý sôi nổi. Họ
vỗ tay, dậm chân và lớn tiếng đối đáp. Nơi khu vườn,
khung cảnh sinh hoạt xảy ra như một cuộc khiêu vũ lạ lùng.
Các sư vặn người như chuẩn bị ném banh, vung tay vào không
khí, hai bàn tay vỗ mạnh vào nhau, chân dậm mạnh và cất
giọng sang sảng: Ngộ! Ngộ! Âm thanh chữ Ngộ vang rền dội
ngược lại từ phía cuối vườn.
Bây
giờ là 9 giờ sáng tại viện Lý Luận Phật Học. Các tăng
sinh đang tham dự một buổi lý luận về giáo lý. Thầy Konchog
Kusho Osel là người yên lặng nhất trong nhóm. Thầy là cậu
bé từng có tên Donlad Phạm từ thành phố Laguna Niguel, California,
Hoa Kỳ. Cậu bé người Mỹ gốc Việt Donald thích truyện khoa
học giả tưởng, nghe nhạc trẻ và thích ăn món Del Taco bây
giờ là một tăng sĩ hành trì giới luật nghiêm cẩn và nói
tiếng Tây Tạng một cách thông suốt. Tay lần chuỗi tràng
hạt, thầy đang sử dụng những kiến giải Phật Pháp để
lý luận và chất vấn hai vị tăng sinh lớn tuổi khác. Thầy
bảo: Không phải tất cả mọi chúng sinh đều hiểu được
bản thể vô thường của âm thanh.
Giọng
của thầy nhẹ nhàng thân ái khác hẳn những người khác.
Khi thầy vỗ hai tay vào nhau cũng dịu dàng hơn. Khi đối phương
bị kém thế, thầy cất tiếng nói chữ Ngộ! theo nghi thức
cũng khoan hòa hơn. Những buổi thực tập lý luận Phật học
gay go như thế này là phương tiện các vị Lạt Ma Tây Tạng
giúp tăng sinh mài dũa trí tuệ để đạt được những kiến
giải thâm diệu trong giáo lý Phật môn. Đây là phần quan
trọng trong suốt học kỳ 20 năm đào tạo các vị Luận Sư
Phật Học. Vị tăng đang đối chất với thầy vừa chuẩn
bị cật vấn thầy trở lại, thì bỗng có người la lớn.
Rắn! Rắn hổ mang.
Thầy
Kusho cùng các tăng sinh khác chạy ùa về hướng chú rắn nhỏ
đang lẫn nhanh vào đám cỏ. Đó chỉ là một chú rắn con.
Nhưng bây giờ cậu bé từng lớn lên trong một gia đình hiếm
khi có một con ruồi trong nhà đã hiểu rằng nọc đọc của
một chú rắn hổ mang nhỏ bé cũng nguy hiểm vô cùng. Thầy
bước lùi về phía sau khi chú rắn thè lưỡi như muốn tấn
công. Sát sinh là điều cấm kỵ trong Phật giáo. Bởi vì chú
rắn nhỏ bé kia có thể là người thân của mình trong một
tiền kiếp nào đó. Thầy cầm một cành cây dài tiến về
chú rắn nhưng không phải để tự vệ. Thầy không nỡ sát
hại một sinh vật. Nhẹ nhàng và cẩn thận thầy dùng thanh
cây từ từ đưa chú rắn ra khỏi khu vườn.
Thầy
Kusho đang sống ở một nơi xa thật xa căn nhà của thầy trước
đây. Căn nhà với những thảm cỏ xanh mướt luôn được
chăm sóc cẩn thận hàng tuần.
Ý
Chí Sắt Đá
Cụ
Nguyễn Văn Nam, ông ngoại của Donald, vô cùng tức giận khi
biết tin cô con gái quyết định gửi đứa cháu ngoại sang
sống trong tu viện ở Ấn Độ.
Cụ
lập tức triệu tập khẩn cấp một buổi họp toàn gia đình.
Hàng chục người con của cụ đều hiện diện nơi phòng khách
tại căn nhà ở Hunginton Beach. Chị Huyền cũng có mặt với
nhiều lo âu hồi hộp.
Một
buổi thảo luận sôi nổi trong gia đình đã diễn ra. Các cậu
và dì của Donald cho rằng cháu trai mình mới có 12 tuổi đầu.
Tại sao chị có thể bắt cháu một thân một mình sống xa
gia đình cả nửa vòng trái đất như vậy?
Chị
Huyền trả lời rằng cháu đâu có phải sống một mình. Donald
sẽ được sự chăm sóc của bậc đạo sư đáng kính nhất
trong thời đại của cháu. Đại sư Lati cũng là vị phụ tá
tinh thần của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14.
Nhưng
tại sao chị lại chia cách cháu với gia đình? Cháu là một
học sinh xuất sắc đang sống tại Hoa Kỳ, một đất nước
mà mọi người trên thế giới đều muốn con mình được
theo học. Tại sao chị lại gửi cháu sang Ấn Độ, một trong
những quốc gia nghèo nhất trên thế giới? Chị Huyền cho
gia đình biết rằng Donald là người ngoại quốc đầu tiên
được chấp nhận vào tu viện Gaden Shartse nổi danh. Đây là
một đặc biệt lớn lao trong suốt 600 năm quạ Và chương
trình học tại đây còn khó hơn những trường tư thục tại
Hoa Kỳ.
Ông
ngoại bảo rằng Donald là đứa cháu ngoan và dễ thương. Cháu
muốn giúp đỡ người khác là điều đáng khuyến khích. Nhưng
Donald đâu có muốn vào sống trong tu viện. Đây chỉ là ước
muốn của cha mẹ cháu mà thôi. Cháu không có con đường nào
khác để lựa chọn.
Chị
Huyền trả lời cụ rằng chị không hề ép buộc Donald. Mà
chính Donald đã tự nguyện như thế. Ngay từ lúc mới 8 tuổi,
Donald cũng đã muốn đi tu rồi. Chị tin chắc rằng trong tiền
kiếp vừa qua Donald là một vị cao tăng. Chị cũng tin rằng
chính Donald đã đưa chị về với Phật Giáo Tây Tạng ngay
khi còn trong bụng mẹ.
Chị
Huyền tin rằng đây là một hướng đi mà cháu cũng nên thử
quạ Nếu không thích, bất cứ lúc nào cháu cũng có thể trở
về với gia đình. Chị có biết một vị là tu sĩ trong 20
năm, từng là thông dịch viên cho Đức Đạt Lai Lạt Mạ Nhưng
sau đó người này xả giới và học lấy văn bằng tiến sĩ
của đại học California (UCLA) và hiện đang giảng dạy tại
đại học Santa Barbarạ Chị Huyền bảo rằng Donald rất thông
minh, và là công dân Hoa Kỳ, cháu có thể xả giới trở về
với gia đình, theo học lấy văn bằng tiến sĩ bất cứ lúc
nào cháu muốn.
Chị
Huyền tin rằng, được sinh ra làm người là một phước báu
và con người phải sống một cuộc đời có ý nghĩa cao thượng.
Người thế tục có thể tạo lập công đức bằng cách làm
những công việc phước thiện thế gian. Nhưng một tăng sĩ
quy nguyện cả cuộc đời với giáo lý của Đức Thế Tôn
sẽ có được công đức vô lượng. Điều này không những
giúp tự giải thoát cho chính mình mà còn có thể xoa dịu
khổ đau của chúng sinh trong hạnh nguyện tự độ độ thạ
Nhờ thế trong kiếp lai sinh cháu sẽ có một cuộc sống toàn
mỹ hơn. Đây chính là điều vô cùng quan trọng đối với
chị Huyền.
Chị
Huyền nói với gia đình: Con chỉ muốn cháu thử qua. Rồi
ngoại sẽ thấy. Đây là con đường thích hợp nhất cho cháu.
Những
Ngày Cuối Cùng
Trong
nhiều tháng, Donald vẫn tiếp tục theo học tại trường trung
học Aliso Viejo, và chăm chỉ làm bài cho chương trình lớp
7 tại trường. Vào những ngày thứ Tư, thứ Sáu và Chủ Nhật
hàng tuần, Donald cũng đều đặn theo mẹ đến chùa để luôn
ghi nhớ trong đầu rằng: Nếu không được soi sáng bởi chánh
kiến chúng sinh sẽ mãi mãi chìm đắm trong đau khổ của bóng
tối vô minh.
Nhưng
mọi việc đã không còn bình thường như trước nữa.
Từ
bé đến giờ, Donald chưa hề rời khỏi Hoa Kỳ, ngoại trừ
một chuyến du lịch sang Canadạ Đó là lần duy nhất Donald
sống xa gia đình trong một vài ngày. Từ lúc nào đến giờ
hai chị em gái và các anh em con cậu dì là những người bạn
thân nhất đối với Donald. Ở nhà đã có mẹ chăm lo mọi
thứ, từ làm giường, dọn phòng đến mua sắm áo quần cùng
lo những bữa ăn. Từ lúc bé cho đến giờ, Donald vẫn luôn
ngủ bên cạnh bố.
Rồi
đây cậu bé sẽ sống cách xa gia đình cả 10.000 dặm với
12 múi giờ sai biệt.
Căn
phòng ngủ là một thế giới riêng biệt của Donald. Những
con thú nhồi bông cùng các nhân vật phim ảnh tuổi thơi như
Batman, Mickey Mouse, Wile Ẹ Coyote chất đầy nơi kệ tủ. Trên
trần nhà được gắn đầy những ngôi sao lân tinh sáng lung
linh khi tắt đèn. Một bộ đồ bơi treo nơi tủ áo quần.
Chiếc giường ngủ gọn gàng được phủ tấm trải giường
thẳng nếp và thơm mùi vải sạch. Căn phòng được lót thảm
dày êm mịn, phòng vệ sinh sạch sẽ không một vết bẩn.
Từ phòng ngủ nhìn ra khung cửa sổ là biển Thái Bình Dương
với màu xanh thẫm bao la trải rộng cuối chân trời.
Hầu
như mọi buổi tối, chị Connie luôn thích vào nghịch phá trong
căn phòng của Donald. Chị hai Connie rất thích đứa em trai.
Donald là người mà chị Connie có thể chuyện trò tỉ tê Chị
thì thích nói luôn miệng, em thì im lặng ngồi chăm chú nghe.
Connie luôn thao thao nói về mọi đề tài bất công trong cuộc
sống, từ những biến động trên thế giới cho đến những
sinh hoạt trong trường lớp. Nhưng kể từ khi biết tin gia
đình sẽ gửi Donald sang Ấn Độ tu học giọng nói của Connie
trở nên trầm buồn khác xưa.
Connie
rất lo lắng cho đứa em trai. Chú em luôn sẵn sàng làm mọi
điều để vui lòng cha mẹ. Connie cảm thấy bổn phận của
mình là phải cho Donald biết rõ những gì em sẽ phải từ
bỏ một khi sống xa gia đình. Căn nhà êm ấm tiện nghi, trường
học và bè bạn, cùng những áo quần đắt tiền và ngay cả
những món ăn ngon do mẹ nấu. Connie cho biết: Tôi không khuyến
khích cũng chẳng chống đối sự việc nầy. Tôi chỉ muốn
Donald biết rõ những gì em đang làm.
Hàng
đêm, Connie thường hỏi em: Em có biết chắc rằng em thật
sự muốn sống như vậy hay không? Và cứ mỗi lần nghe chị
hỏi, câu trả lời của Donald cũng vẫn giống nhau. Đó là
im lặng thản nhiên.
Donald
chỉ im lặng nhìn lên trần nhà và đôi lúc liếc nhìn tôi
như muốn nói, Bộ chị khùng rồi sao? Chị nghĩ rằng em sẽ
làm như vậy dù em không thích? . Nhưng Donald không hề trả
lời thẳng với tôi. Em không bao giờ nói rõ ràng một tiếng
ừ. Điều này khiến tôi rất khó chịu, và ngay cả đến
hôm nay tôi cũng chẳng an tâm tí nào.
Lịch
trình cho chuyến đi đã được chuẩn bị. Cả gia đình sẽ
cùng sống với Donald tại Ấn Độ trong 6 tuần lễ. Donlad,
chị Connie, em gái Christine cùng mẹ và một người dì sẽ
được vị đại sư trụ trì chùa Tây Tạng ở Los Angeles hướng
dẫn qua Ấn Độ. Đi theo phái đoàn còn có thêm một số đệ
tử của Geshe-lạ Mọi người sẽ khởi hành trong tháng Hai
năm 1999. Nha sĩ Hỷ vì phải trông coi phòng mạch không thể
vắng mặt lâu ngày nên hẹn sẽ gặp mặt con trai cùng gia
đình tại Ấn Độ vào tháng Bạ Sau đó, cả nhà sẽ trở
về Mỹ vào ngày 18 tháng Ba, riêng Donald thì ở lại Ấn Độ.
Một sự trùng hợp lạ lùng. Hôm ấy cũng chính là ngày sinh
nhật thứ 13 của Donald Phạm.
Donald
lo thu xếp đồ đạt cho chuyến ra đi. Cậu con trai mang theo
những vật dụng cần thiết, vài quyển sách, giày vớ, CD
và máy nghe nhạc, thêm một vài nhân vật Batman, Goofy, Wile
Ẹ Coyote. Cậu bé hoàn toàn chưa có khái niệm gì về cuộc
sống mới đang chờ đón.
Ấn
Độ.
Chuyến
phi cơ hạ cánh vào lúc trời sẫm tối. Ấn Độ vẫn còn
trong mùa đông, nên thời tiết tương đối mát mẻ dễ chịu.
Sau
24 giờ bay, đôi mắt cả ba chị em đều mỏi mệt vì thiếu
ngủ. Donald, Connie và Christine chen nhau ngồi trong chiếc taxi
đưa mắt nhìn ra cửa. Dọc theo con đường từ phi trường
về thành phố là những khu nhà nghèo nàn tồi tệ liên tục
hiện qua khung cửa xe, như những hình ảnh bất tận phản
chiếu qua lại từ hai mảnh gương đối mặt. Những căn nhà
tồi tàn được dựng lên sơ sài bằng một vài tấm tôn và
những tờ giấy hộp. Căn nọ tựa sát căn kia, lởm chởm,
xiêu vẹo, nghiêng ngả như một con người say rượu đang lè
nhè bước thấp bước cao. Đám trẻ con nô đùa đuổi chạy
trên những mảnh đất ngập đầy rác rưới.
Qua
khỏi khu nhà ổ chuột, chiếc taxi đưa mọi người vào thành
phố với những kiến trúc cũ kỹ từ thời Victoria đang vào
thời kỳ hư nát. Những người đàn bà Ấn Độ quấn những
chiếc sari đỏ vàng xanh tím như đang trôi bồng bềnh lạc
lỏng giữa những kiến trúc trang trí kiểu Gothic của đế
quốc Anh. Trên cao dọc theo những hành lang, áo quần nhiều
màu sặc sở vừa được giặt xong đang treo phơi còn nhỏ
nước. Những chú bò chậm rãi bước đi trong dòng xe cộ đông
đúc, thỉnh thoảng dừng chân sục sạo nơi những đống rác
cao ngất. Những chiếc xe bus hai tầng sơn màu đỏ lượn lờ
chung quanh bức tượng nữ hoàng Victoria rồi lao thẳng vào
khu thị tứ ồn ào hỗn loạn. Đây là thành phố với hơn
13 triệu người đang sinh sống. Một nửa trong số đó vẫn
chưa có điện và nước máy.
Những
chiếc xe bán thức ăn cũ kỹ như đang rên mình vì các mớ
thức ăn lạ lẫm được chất từng đống cao nghệu. Đám
người bán hàng rong lớn tiếng rao mời khách mua trầu cau
nhai cho vui miệng. Đàn ông Ấn Độ thường có thói quen nhai
trầu. Họ vừa nhai vừa nhổ vương vải những vệt nước
trầu đỏ loét trên tường hoặc dọc lối đi.
Donald
và Christine run rẩy thu người trong ghế khi hàng chục người
ăn xin ùa nhau chen lấn bên ngoài cửa xe. Những người ăn
xin bị bệnh phong cùi với những vết thương lở lói đưa
tay về phía trước. Có những bàn tay đã rụng hết ngón chỉ
còn trơ lại khoảng xương trắng đục ghê mình. Những đứa
bé gái ăn xin nghèo nàn rách rưới chỉ vừa khoảng tuổi
Conniẹ Chúng bế ngang hông những đứa em ốm chỉ còn da bọc
xương đưa tay năn nỉ: Baksheesh, baksheesh. ( Tiền. Tiền. )
Donald
muốn cho họ một ít tiền, nhưng trong túi cậu không có một
đồng. Chị Huyền có cảm tưởng những người ăn xin đang
muốn nuốt chửng mọi người trong xe.
Ngôi
Nhà Mới
Gia
đình phải mất hai ngày nữa để tiếp tục cuộc hành trình,
lúc bằng phi cơ khi dùng xe bus qua những chặng đường đầy
bụi bặm. Cuối cùng phái đoàn đã đến tu viện Tây Tạng
tại thành phố Mundgod thuộc bang Karnataka vùng Nam Ấn . Khí
hậu ở đây khá nóng. Tu viện Gaden Shartse tọa lạc trên một
ngọn đồi, hoàn toàn độc lập với thế giới bên ngoài.
Bấy
giờ là 10 giờ đêm. Mọi người đều mỏi mệt sau chuyến
hành trình. Trời đã tối khiến Donald không nhận rõ được
khung cảnh nơi cậu sẽ sống trong thời gian tới.
Nhiều
tăng sĩ ra tận cổng để đón khách. Mọi người đều vui
mừng khi biết cả gia đình bình an, không gặp trở ngại dọc
đường dù đã bị trễ hơn 4 tiếng đồng hồ. Sau khi cúi
đầu chào mọi người, các vị tăng hướng dẫn khách ra mắt
đại sư Latị Con đường nhỏ dẫn mọi người đến một
căn nhà 3 tầng, với một khu vườn hoa có hàng rào sắt chung
quanh. Đây là nơi đại sư Lati trú ngụ, vị đạo sư mới
của Donald. Lati Rinpoche sẽ là bậc đạo sư giữ vai trò quan
trọng nhất trong cuộc đời Donald Phạm.
Cả
gia đình tiến vào một căn phòng nhỏ, bài trí đơn giản.
Đây là căn tịnh thất của đại sư Latị Ở tuổi 77, đại
sư có dáng người mảnh khảnh, khuôn mặt hơi gầy, tay chân
khẳng khiu và đôi vai hơi còng xuống. Đỉnh đầu đại sư
được cạo sạch tóc, vòng theo hai bên đầu là những sợi
tóc bạc phơ mọc lưa thưa. Đôi mắt đen tuyền của ngài
ngời sáng. Được ấn chứng là tái sinh của một vị cao
tăng, đại sư được mọi người kính trọng tuyệt đối
và xem người như là một vị thánh tăng cùng là một học
giả uyên thâm Phật Pháp. Đại sư là một trong số rất ít
các vị Lạt Ma tại thế đã từng xuất thân từ tu viện
cổ xưa ở ngay trên đất nước Tây Tạng. Đại sư cũng là
tác giả cuốn Tử Thư mà nhờ đó đã đưa chị Huyền về
với Phật Giáo Tây Tạng.
Hiện
tại, ngài chỉ hướng dẫn riêng biệt cho các tăng sinh được
ấn chứng là tái sinh của những vị Lạt Ma cao cấp. Ngài
đã kỳ vọng rất nhiều vào tương lai của Donald và dành
cho cậu một chương trình tu học đặc biệt.
Donald
cung kính chấp hai tay, cúi đầu sát đất lạy ba lần hành
lễ ra mắt vị đạo sự Điều này không những chứng tỏ
sự cung kính đối với bề trên mà còn là một nghi lễ dùng
phá tan những kiêu căng ngã mạn còn tiềm ẩn trong con người.
Đại
sư Lati vui vẻ cười nhận lễ cùng ban phép lành cho Donald
để chào đón người đệ tử Hoa Kỳ gốc Việt đầu tiên
trong đời của ngài. Sau khi nghi thức ra mắt, mọi người
được mời dùng trà và kể chuyện về cuộïc hành trình
của gia đình. Trong câu chuyện đại sư Lati cho gia đình biết
tin về buổi lễ xuất gia dành cho Donald. Buổi lễ sẽ được
thực hiện trong một vài ngày tới. Đây quả là một biến
cố quan trọng đối với cậu bé. Donald vui mừng vô hạn,
lòng nôn nao chờ đợi như cặp trai gái đang hồi hộp trông
chờ ngày lễ cưới.
Đại
sư mời cả gia đình cùng ăn tối với các đệ tử của ngài
nơi một chiếc bàn dài trong nhà bếp. Sau đó Donald được
hướng dẫn về phòng riêng của mình.
Căn
phòng nằm trên tầng hai của tòa nhà, hoàn toàn khác biệt
với căn phòng riêng của cậu ở nhà. Cửa được khóa bởi
một chốt then cài. Trong phòng, ba chiếc giường ngủ kê thành
một dãy trên sàn xi măng trơ trụi. Tường được sơn màu
xanh nhạt như trong bệnh viện. Trên trần là một chiếc quạt
máy treo hững hờ. Kệ tủ chứa đầy những quyển sách, chai
lọ thuôc men cùng những vật dụng cá nhân lặt vặt. Donald
đặt những con thú nhồi bông vào nơi ngăn kệ dành riêng
cho mình. Nơi cửa sổ được trang trí một hoa văn Tây Tạng
truyền thống bằng sắt. Đó là hoa văn một nút thắt vô
tận không đầu mối, tượng trưng cho sự liên hệ chập chùng
giữa muôn vật. Dưới cầu thang là nhà vệ sinh với chiếc
bồn cầu kiểu Á châu mà Donald sẽ sử dụng chung với hai
bạn đồng tu cùng sống chung phòng. Người nào cũng gấp đôi
tuổi đời của cậu. Họ biết nói tiếng Anh rất ít. Donald
thì chưa biết tiếng Tây Tạng.
Gia
đình của Donald sẽ sống nơi khu vực dành riêng cho khách.
Nhà vệ sinh ở đây là nơi duy nhất có bàn cầu kiểu Tây
phương. Connie khuyên em hãy dùng nhà vệ sinh này khi cần, nhưng
Donald từ chối đặc ân này. Cậu không muốn mình quá đặc
biệt so với người khác như lúc còn ở nhà nữa. Những chuyến
bay dài mệt mỏi khiến mọi người chợp mắt đi vào giấc
ngủ một cách khó khăn.
Tiếng
chuông nơi tu viện vang lên bắt đầu cho một ngày khi mặt
trời chưa mọc. Hàng trăm tăng sĩ trong những bộ tăng y màu
đỏ thẫm yên lặng tiến về Phật đường cho thời công
phu sáng khiến khung cảnh trở nên trang nghiêm lạ thường.
Lời kinh trầm hùng của mọi người trở thành những âm thanh
linh thiêng thoát tục vang đều đều khắp Phật đường.
Sau
thời công phu sáng, tăng sinh bắt đầu dùng điểm tâm. Buổi
ăn sáng hoàn toàn mới lạ đối với Donald. Mọi người dùng
trà có pha muối và bơ cùng những mẫu bánh mì nâu xám cứng
ngắt khó nhai.
Chuyển
Hóa
Sự
chuyển hóa một cậu bé Hoa Kỳ gốc Việt để trở thành
một vị Lạt Ma Tây Tạng bắt đầu từ buổi lễ thế phát.
Đầu tóc của Donald đã mấy tháng trời chưa cắt.
Những
lọn tóc đen bồng bềnh phủ dài che kín mắt. Một vị tăng
dùng tấm vải che quanh cổ Donald và trao cho Geshe-la lưỡi dao
cạo. Vị đại sư nhẹ nhàng cuộn từng mớ tóc và dùng lưỡi
dao cắt ngắn. Từng lọn tóc đen mượt quyện rơi xuống sàn
nhà. Lễ thế phát xuất gia là một nghi thức từ chối mọi
vẻ đẹp hư huyễn thế gian và nguyện lòng quy hướng nếp
sống tâm linh mới. Sau khi cắt ngắn, vị đại sư hành lễ
cẩn thận cạo tận chân tóc. Đầu của Donald bây giờ đã
trở nên bóng loáng sạch nhẵn tóc với hình ảnh của một
vị tăng sĩ xuất gia. Mẹ của Donald cúi xuống nhặt một
vài lọn tóc giữ làm kỷ niệm.
Donald
đưa hai tay lên vò chiếc đầu nhẵn nhụi và cười ngơ ngác.
Connie lên tiếng để em trai an lòng: Donald. Trông em thật ngộ.
Hôm
sau là ngày 14 tháng Hai năm 1999. Đây là ngày đầu năm mới
của lịch Tây Tạng. Lễ tết Losar là một ngày rất tưng
bừng đối với người Tây Tạng cũng là ngày cậu bé Donald
chính thức nhận lễ thọ giới xuất gia. Buổi lễ sẽ được
tổ chức theo nghi thức cổ truyền. Từ đây Donald sẽ trở
thành một tu sĩ, pháp danh Konchog Kusho Osel - Quang Minh - quy nguyện
thân tâm sống đời tăng sĩ trong tu viện.
Thầy
Kusho thức giấc vào lúc 3 giờ sáng, dùng một buổi điểm
tâm nhẹ để chuẩn bị cho buỗi lễ thọ giới xuất gia.
Đại sư Lati trang trọng trao cho thầy bộ tăng y linh thiêng
đầu đời màu đỏ thẫm mịn êm, rực rỡ. Thầy đã từng
nhìn những vị cao tăng mặc những bộ y này. Điều này thật
ngoài sự mong ước của thầy. Giờ đây thầy cũng sẽ khoác
lên người chiếc tăng y như thế.
Bộï
tăng y gồm nhiều lớp vải được khoác nhẹ chung quanh người
và sẵn sàng rơi tuột khi lơ đãng. Điều này cũng nhằm mục
đích răn nhắc tăng sinh phải luôn giữ sự tỉnh thức thân
tâm trong mọi hành vi tạo tác. Những vị tăng phụ lễ giúp
thầy khoác bộ tăng y đầu đời. Đắp xong chiếc y Donald
bước về hướng hành lang để gặp mẹ cùng sẵn sàng cho
buổi lễ.
Nhìn
đứa con trai trong hình dáng hoàn toàn đổi mới, tim chị Huyền
đập mạnh. Donald lúc ấy trông như vị một cao tăng lớn
tuổi, tuy dáng người nhỏ nhắn. Chị Huyền nói: Donald bây
giờ hoàn toàn thay đổi. Ngay phút giây đó, tôi biết cháu
không còn là của mình nữa.
Hơn
1,500 tăng sĩ của tu viện cùng tiến về hướng Phật đường.
Buổi lễ cho ngày đầu năm rộn rã và nhộn nhịp như một
đám cưới đầu xuân. Tiếng kèn đồng, thường chỉ dùng
trong dịp lễ cung nghinh những vị cao tăng khả kính, vang lên
liên tục đón mừng Donald bước vào điện Phật. Tiếng chuông
và tiếng chập chõa hòa cùng tiếng trống dập dồn khi buổi
lễ bắt đầu. Những nén nhang thơm được đốt lên. Phật
đường lại vang rền thời kinh cầu nguyện và bài kệ tán
thán công đức Tam Bảo, Phật - Pháp - Tăng. Donald cảm thấy
lòng choáng ngợp nỗi vui mừng trong ngày đại lễ quan trọng.
Những
vị Lạt Ma cao cấp ngồi xếp bằng nghiêm cẩn trên tòa cao
được phủ vải vàng và đỏ ngay phía trước bàn thờ. Donald
cúi đầu lạy những bậc đạo sư, cầu nguyện cho các vị
luôn được khinh an trường thọ và thành kính dâng lên các
ngài những tấm khăn trắng đã được ban phép lành theo nghi
thức Phật Giáo Tây Tạng. Một buổi điểm tâm được dành
riêng cho gia đình gồm lúa mạch, nho khô và trà chuẩn bị
cho suốt một ngày hành lễ.
Gia
đình chị Huyền bắt đầu lễ cúng dường cho 1500 vị tăng
trong tu viện. Chị Huyền mặc một chiếc áo già lam màu nâu
theo truyền thống Phật Giáo Việt Nam, tay khệ nệ Ôm từng
xấp tiền Ấn Độ lần bước qua từng hàng tăng sĩ. Tiếng
cầu kinh vang lên khắp Phật đường. Đến trước mỗi vị
tăng chị Huyền cung kính cúi đầu đặt vào tay mỗi vị 30
rupee để cúng dường. Donald theo sau mẹ, trao tặng cho mỗi
huynh đệ đồng môn 10 rupee. Chị hai Connie và em gái Christine
cũng cúng dường mỗi chư tăng 5 rupeẹ Số tiền khoảng hơn
một dollar Mỹ cho mỗi vị. Đây là một gia tài nhỏ đối
với các tăng sĩ trong tu viện. Buổi lễ cúng dường chư tăng
nhằm tạo lập công đức giúp cho gia đình thoát khỏi những
chướng ngại trong tương lai. Khi buổi lễ cúng dường kết
thúc, mọi người trong gia đình đều cảm thấy lưng mỏi
nhừ vì phải cúi gập người trong suốt bao nhiêu lần trước
tăng chúng.
Những
chiếc trống thật to nơi Phật đường được đánh vang lên
rộn rã. Cậu bé trai này có xứng đáng được gia nhập tăng
đoàn trong tu viện hay không? Cậu đã từng từ bỏ ngai vàng
và sự luyến ái vợ chồng con cái? Cậu đã từng là nô lệ,
ác quỷ, sát nhân, trộm cướp hay bạo chúa?
Không.
Thầy đã được giải thoát. Như tất cả mọi tăng sĩ đã
từng trải qua, hôm nay thầy thành tâm ăn năn sám hối nguyện
tiêu trừ mọi nghiệp chướng đã tạo ra trong kiếp này cũng
như trong vô lượng kiếp trước. Thầy thành tâm sám hối
những lỗi lầm đã tạo ra từ thân khẩu ý do tham sân si
sai khiến.
Tiếp
theo là lễ thọ giới được tổ chức nhưng gia đình không
được phép tham dự. Thầy sẽ thọ 36 giới tỳ kheo giúp thầy
sống cuộc đời kham nhẫn trong tu viện, nguyện chứng quả
giác ngộ, thoát khỏi sinh tử luân hồi và cứu độ chúng
sinh. Nguyện tuân theo giới luật, thầy không được phạm
giới sát sinh giết hại sinh vật, không được trộm cắp,
say sưa, ca hát và luyến ái tình dục. Những giới luật này
cần phải được hành trì nghiêm cẩn dù khó trì khó giữ.
Tăng sĩ phải nguyện giữ giới suốt đời. Một khi phạm
giới cũng có nghĩa là nghiệp chướng sẽ trùng trùng trổi
dậy, không những gây nguy hại đến huệ mạng của chính
cá nhân mà còn ảnh hưởng đến vô số chúng sinh khác.
Vị
đại sư chủ lễ đọc một bài kinh ngắn, thổi những làn
hơi ban phép lành và tay chạm nhẹ vào chiếc tăng y để kết
thúc buổi lễ truyền giới cho thầy Kusho.
Gần
5 tiếng đồng hồ đã trải qua cho buổi lễ truyền giới.
Mặt trời đã lên cao. Cậu bé Donald Phạm giờ đây không
còn nữa. Mẹ của thầy thổn thức khóc trong sung sướng.
Tôi choáng ngợp bởi một niềm an lạc vô biên. Giờ đây
tôi cảm thấy thực sự nhẹ nhàng. Mọi ràng buộc và những
tầm thường của thế gian trong đời sống thường ngày hoàn
toàn tan biến. Lòng tôi vô cùng sung sướng và an lạc. Tôi
đã hoàn thành trong nhiệm vụ nuôi nấng và đưa thầy về
nơi tự viện. Đó là nơi chốn mà thầy luôn mong muốn trở
về.
Lễ
Ban Phép Lành Đặc Biệt
Sau
buỗi lễ thọ giới của thầy Kusho, cả phái đoàn khởi hành
đi Dharamsala, một thành phố nhỏ nằm dưới chân rặng Hy
Mã Lạp Sơn gần biên giới Trung Hoa và Pakistan. Tại đây gia
đình sẽ tham dự những buổi thuyết pháp của Đức Đạt
Lai Lạt Ma trong 3 tuần lễ, và giới thiệu đến ngài vị
tiểu tăng người Hoa Kỳ gốc Việt đầu tiên của Phật Giáo
Tây Tạng.
Mấy
năm trước đây gia đình chị Huyền cũng đã từng tham dự
những buổi thuyết giảng của Đức Đạt Lai Lạt Ma vào mỗi
dịp ngài viếng thăm Hoa Kỳ. Ngài là hóa thân của Đức Quán
Thế Âm trở lại thế giới này với bổn nguyện cứu độ
chúng sinh. Giờ đây cả gia đình có cơ hội được yết kiến
Đức Đạt Lai Lạt Ma là một vinh dự lớn lao và cơ duyên
quý báu đối với mọi người.
Chiếc
taxi chở mọi người chậm chạp leo con đường dốc thẳng
đứng với nhiều ổ gà to tướng. Dọc theo đường tài xế
phải cẩn thận né tránh những chú bò và chó hoang cùng những
chiếc xe bus lao ngược chiều. Con đường chật hẹp trông
thật đáng sợ, bám vào sườn đồi như một sợi dây nơ
rã rời chực đứt. Nhiều lúc mọi người phải hoảng hồn
giật thót khi một chiếc xe tải thình lình hiện ra ngay trước
mặt qua một khúc cua thật gắt. Nghe tiếng kèn xe, người
tài xế taxi phải đạp mạnh chân thắng và bẻ gấp tay lái
để nhường đường.
Cuối
cùng gia đình cũng đến biệt điện Tsuglagkhang một cách an
toàn. Đây là một tòa kiến trúc khiêm nhường tượng trưng
cho thánh điện của Đức Đạt Lai Lạt Ma tại thủ đô Lhasa
nơi quê hương Tây Tạng. Ngôi biệt điện vươn cao, nổi bật
giữa những cánh đồng. Phái đoàn tiến về khu tịnh thất
dành riêng cho Đức Đạt Lai Lạt Ma. Sau khi kiểm soát người
lính gát cổng Ấn Độ lần lượt cho từng người một qua
cánh cổng thường được khóa kỹ.
Không
khí mát mẻ của vùng núi cao khiến mọi người cảm thấy
nhẹ nhàng thoải mái. Phái đoàn tiếp tục đi trên con đường
dốc về ngôi nhà nhỏ nằm trên đỉnh đồi giữa khu vườn
hoa màu tím. Từ đây nhìn xuống, thành phố Tiểu Lhasa của
Tây Tạng như đang bám vào vách núi cheo leo một cách cương
quyết, như tâm hồn người dân Tây Tạng luôn kiên trì bảo
tồn truyền thống dù sống cuộc đời lưu vong.
Mọi
người được hướng dẫn tiến vào căn phòng chờ để được
tiếp kiến. Connie tò mò nhìn vào sổ danh sách khách viếng
thăm thì mới biết rằng nam tài tử điện ảnh nổi tiếng
Hoa Kỳ Richard Gere vừa mới đến đây. Sau đó cả gia đình
tiến về khu vườn nhiều bông hoa xanh biển và tím hồng đang
nở rộ được tự tay Đức Đạt Lai Lạt Ma chăm sóc cẩn
thận.
Thầy
Kusho cảm thấy khô cả miệng khi Đức Đạt Lai Lạt Ma xuất
hiện tiếp kiến phái đoàn. Ngài không dùng chiếc cẩm bào
đính vàng dát ngọc rực rỡ dành cho vua chúa như những vị
LạÏt Ma tiền nhiệm mà chỉ khoác trên người một chiếc
tăng y đơn giản như thầy đang mặc trên người. Đức Đạt
Lai Lạt Ma nheo mắt sau đôi kính một cách thân tình và nhoẻn
miệng cười tươi chào đón những vị khách đến từ Hoa
Kỳ.
Thầy
Kusho bắt đầu sụt sùi khóc trong vui sướng và hạnh phúc.
Hai dòng nước mắt chảy dài trên gò má. Đại diện cho gia
đình chị Huyền, Geshe-la nghiêm trang cúi rạp mình sát đất
hành lễ ra mắt Đức Đạt Lai Lạt Mạ Sau khi hành lễ, Geshe-la
trân trọng giới thiệu thầy Kusho cùng ngài, và thưa rằng
đại sư hy vọng một ngày nào đó thầy Kusho sẽ đem những
sở đắc Phật Pháp thầy có được dùng vào công việc hoằng
pháp nhằm lợi lạc cho cộng đồng Việt Nam hải ngoại.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma nhoẻn miệng cười thân ái. Sự hiện diện
của cả hai cha mẹ chứng tỏ sự hoan hỉ và đồng lòng ủng
hộ của gia đình để thầy có đủ thiện duyên đi theo con
đường đã chọn. Ngài làm lễ ban phép lành cho thầy Kusho
và dùng tiếng Anh để khuyến khích thầy trên con đường
tu học. Hãy cố gắng tu học để trở thành một tu sĩ tốt,
và một tu sĩ có đời sống đơn giản.
Thầy
Kusho không thốt ra được một lời nào vì quá xúc động.
Một vị tăng phụ lễ quàng những chiếc khăn trắng đã được
Đức Đạt Lai Lạt Ma ban phép lành lên cổ từng người. Sau
đó thầy Kusho cùng chụp một tấm hình với Đức Đạt Lai
Lạt Ma.
Buổi
lễ tiếp kiến được hoàn tất trong vòng 10 phút và phái
đoàn chào từ biệt. Tuy nhiên thầy Kusho hầu như hoàn toàn
thay đổi. Sự hiện diện của vị lãnh đạo tối cao trong
hệ thống Phật Giáo Tây Tạng đã khiến thầy cảm nhận
một niềm hân hoan khó diễn tả nhưng đã ảnh hưởng đến
thầy sâu thẳm tận đáy lòng. Thật vậy, Đức Đạt Lai Lạt
Ma không chỉ là một người bình thường. Đạt Lai Lạt Ma
trong tiếng Tây Tạng có nghĩa là Biển Trí Tuệ. Và ngài là
hiện thân của lòng đại từ đại bị Đây là những hạnh
bồ tát mà thầy nguyện noi theo suốt cuộc đời. Có cơ duyên
chiêm ngưỡng khuôn mặt từ bi phúc hậu của ngài khiến thầy
tin chắc rằng thầy đã chọn đúng đường để nương về.
Giã
Từ
Hôm
ấy là sáng ngày 18 tháng ba năm 1999. Mặt trời mọc rất sớm.
Không khí ấm áp trong lành. Hôm nay gia đình chị Huyền sẽ
từ giã thầy Kusho để trở về Mỹ. Và hôm nay cũng là ngày
sinh nhật thứ 13 của thầy Kusho.
Một
buỗi lễ mừng sinh nhật bất ngờ dành cho thầy được mọi
người tổ chức. Trên chiếc bánh sinh nhật ghi hàng chữø
Chúc Mừng Sinh Nhật thầy Kusho, không phải là Donald Phạm.
Cả gia đình cùng khoảng chục vị tăng cùng hát bài Mừng
Sinh Nhật, và cùng nhau ăn bánh sinh nhật vui vẻ. Mọi người
cố gắng tạo một bầu không khí vui vẻ để xóa tan ấn
tượng chia tay từ giã của gia đình trong ngày sinh nhật của
thầy Kusho.
Hôm
nay gia đình của thầy sẽ trở về Hoa Kỳ sau 6 tuần lễ
sống tại Ấn Độ. Các vị tăng giúp gia đình sắp xếp hành
lý đem ra ngoài sân. Thầy Kusho cũng lui tới nhắc chừng mọi
người để khỏi quên hành lý.
Chiếc
xe bus đón gia đình cũng vừa tới. Hành lý được chất lên
xe. Nha sĩ Hỷ quay lại nói lời từ giã cậu con trai. Đứa
con trai mà anh đã từng ru ngủ hằng đêm trên giường. Giờ
đây cậu con trai đã theo chân Đức Thế Tôn, không còn là
con của gia đình nữa. Nha sĩ Hỷ bật khóc. Và Christine cũng
khóc òa theo. Thầy Kusho cố gắng kềm giữ tâm an định để
tránh gây xúc động cho gia đình trong giờ phút chia taỵ Chị
Huyền và Connie ngoảnh mặt không dám nhìn, cố gắng bận
rộn lục lọi từng gói hành lý để kềm dòng nước mắt.
Connie sợ rằng một khi đã chảy nước mắt chắc mình sẽ
khóc mãi không thôi.
Đại
sư Lati thân mật an ủi gia đình. Ngài bảo: Gia đình không
nên lo lắng. Lão tăng sẽ là cha mẹ của Kusho. Lão tăng cũng
sẽ là thầy và bạn của thầy Kusho trong thời gian tới.
Khoảng
chục vị tăng sinh vây quanh thầy Kusho, vẫy tay chào từ giã
khi gia đình bước lên xe. Thầy Kusho nói nhỏ với mẹ. Mẹ
hãy yên tâm, đừng nên lo lắng nhiều cho con. Chị hai Connie
lên xe cuối cùng. Connie vội vàng quay đầu lại thật nhanh
cố gắng ghi nhận những hình ảnh cuối cùng của đứa em
trai. Nhưng trước mắt Connie là cả một đại dương gồm
những chiếc tăng bào màu đỏ thẫm khiến cô gái không phân
biệt được em mình là ai.
Chiếc
xe bus bắt đầu chuyển bánh. Connie thảng thốt mở to mắt
nhìn ra khung cửa cố gắng tìm từng khuôn mặt khi chiếc xe
từ từ xa dần đoàn tăng chúng. Cuối cùng, Connie cũng nhận
ra được khuôn mặt của thầy Kusho giữa đám tăng ỵ Thầy
đang nhoẻn miệng cười và vẫy tay chào từ biệt gia đình.
Ngay phút giây ấy, Connie bỗng có suy nghĩ rằng thầy Kusho
sống ở đây là điều dĩ nhiên. Nhìn vào cung cách thầy bước
đi, cách thầy khoác chiếc tăng y và sự từ chối đôi giày
đắt tiền để cho người ăn xin Ấn Độ. Thầy không muốn
có một cuộc sống xa cách với mọi người. Connie biết rằng
đây chính là gia đình mới của thầy. Đây chính là nơi thầy
muốn quay về.
Căn
Nhà Cô Đơn
Tại
căn nhà ở Laguna Niguel, Hoa Kỳ, bức hình của thầy Kusho chụp
chung với Đức Đạt Lai Lạt Ma được treo ngay trên bệ lò
sưởi nơi phòng khách. Trong hình, Đức Đạt Lai Lạt Ma nở
một nụ cười từ ái. Bên cạnh là khuôn mặt của Kusho đẫm
đầy nước mắt.
Nha
sĩ Hỷ lại vùi đầu vào công việc. Chị Huyền lo lắng cho
sức khỏe của thầy Kusho rất nhiều. Chị tự hỏi không
biết thầy Kusho có quen với thức ăn và nước uống bên Ấn
Độ hay chưa? Không biết thầy có đau ốm gì hay không? Bệnh
suyễn của thầy có trở lại hay không? Chị nhớ con trai rất
nhiều. Đó là điều bình thường và dĩ nhiên. Nhưng chị
luôn tự nhắc nhở với lòng mình, về phương diện tinh thần
và tâm linh thầy không còn là đứa con trai của chị nữa.
Vắng
thầy, căn nhà trở nên im lặng một cách khác thường. Thầy
là niềm an ủi cho Christine mỗi khi buồn lòng. Thầy là đối
tượng để chị hai Connie trút bầu tâm sự. Giờ đây cả
hai cảm thấy mình chẳng buồn nói năng, và cũng chẳng còn
ai để nói.
Nhớ
em, Connie thường thẩn thờ bước vào căn phòng ngủ của
thầy, nhìn những ngôi sao lân tinh còn gắn trên trần nhà
và chú chuột Mickey đã bị bỏ lại. Giờ đây trông chúng
bơ vơ lạc lỏng như cũng đang nhớ người bạn cũ. Christine
thì bận rộn tính toán về sự cách biệt giữa các múi giờ.
Bây giờ là mấy giờ bên Ấn Độ nhỉ? Có lẽ lúc Christine
thức giấc là lúc anh Donald đang chuẩn bị đi ngủ.
Vào
lúc ăn cơm, xem tivi hoặc khi hai chị em đang làm bài. Connie
hoặc Christine thường ngơ ngác buông câu hỏi: Không biết
bây giờ Donald đang làm gì nhỉ? Donald có cảm thấy cô đơn
hay không? Donald có ai để nói chuyện không?
Thầy
là người Hoa Kỳ duy nhất trong cả một biển người Tây
Tạng. Thầy có cảm thấy lẻ loi, sợ hãi hay nhớ nhà không?
Thầy có vui vẻ khi sống trong một tu viện xa nhà nửa vòng
trái đất không? Thầy có dám nói ra điều này khi thầy không
vui vì sống xa gia đình?
Thử
Thách
Đừng
giận dữ khi bị chửi mắng. Đừng phê bình khi bị chỉ trích.
Không nên trả thù khi bị người hãm hại.
Dharamsala,
Ấn Đô.
Các
vị tăng sinh đang lâm râm niệm Phật. Đối với chúng tăng,
mỗi vị sẽ kiên trì học thuộc lòng từng câu kinh và tụng
lên thật lớn. Và các vị sẽ lập đi lập lại mãi cho đến
khi âm thanh tụng kinh rền to như tiếng sấm vang dội khắp
tu viện.
Bây
giờ là 2 giờ chiều. Đây là thời gian các tăng sinh tự nghiên
cứu nội điển trong thời gian tu học tại Viện Lý Luận
Phật Học. Thầy Konchog Kusho Osel, một cậu con trai Hoa Kỳ
gốc Việt đã từng có thế danh là Donald Phạm, đang ngồi
tựa lưng sát tường, hai chân xếp bằng theo thế kiết già
trên chiếc nệm trải nơi sàn nhà. Ở tuổi 16, thầy trông
giống như một cậu học trò trung học đang ngồi học bài.
Khuôn mặt thầy vừa bắt đầu nhú những sợi râu mép với
đôi gò má mịn màng như trẻ thơ. Cũng như các tăng sinh khác,
thầy đang lâm râm tụng từng lời kinh, thân lắc tới lui
theo nhịp tụng. Thầy đang cố gắng học thuộc lòng từng
chữ từng lời. Điều này rất quan trọng. Thầy sẽ phải
dùng những kiến thức nội điển này để áp dụng vào những
buổi tranh luận giáo lý với chư huynh đệ đồng tu. Đây
là một nghi thức truyền thống đã có từ hàng trăm năm trong
các tu viện Phật học của quê hương Xứ Tuyết.
Từ
khi lớn lên thầy Kusho chỉ biết nói tiếng Anh và tiếng Việt.
Nhưng những trang kinh thầy đang tụng được viết bằng một
loại văn tự hoàn toàn xa lạ. Những nét chữ gồm những
vòng khuyên và nét thảo kỳ ảo. Một loại văn tự mà vài
năm trước đây thầy hoàn toàn không hiểu. Có hai phương
pháp lý luận. Một phương pháp trực dẫn và một phương
pháp truy dẫn...
Đã
hơn ba năm kể từ ngày thầy từ giã gia đình xuất gia tu
học. Kể từ đó, Ấn Độ đã là nhà của thầy, thay thế
cho vùng Orange County của xứ Hoa Kỳ. Kể từ ngày thầy nói
lời từ giã cha mẹ vào ngày sinh nhật thứ 13, thầy đã gởi
trọn đời mình vào cuộc sống kham nhẫn nơi tu viện, một
thế giới nhiều giới luật khắt khe và hoàn toàn xa lạ đối
với thầy.
Thay
Đổi
Các
vị tăng sinh thuộc gia đình mới của thầy vừa dùng xong
chiếc bánh sinh nhật và cùng đứng bên cạnh thầy vẫy tay
chào từ giã khi chiếc xe bus từ từ rời xa, mang theo những
người thân trong gia đình cũ mà thầy đã từng chung sống.
Cha mẹ và hai chị em gái của thầy đã sống nơi tu viện
Gaden Shartse suốt trong 6 tuần lễ giúp thầy được dễ dàng
khi chuyển sang cuộc sống mới. Nhưng khi họ thật sự chia
tay để trở về California thì mọi việc trở nên hoang mang,
mất định hướng. Nỗi lo âu trống vắng choáng ngợp tâm
hồn thầy khi chiếc xe bus mờ dần trong tầm mắt.
Cô
đơn và lẻ loi. Giờ đây thầy chỉ một mình một bóng.
Ngoài
chuyến đi Canada, thầy Kusho chưa hề rời khỏi Hoa Kỳ bao
giờ. Từ bé thầy đã có thói quen thường ngủ với bố mỗi
đêm. Ở nhà mọi việc đều được mẹ lo lắng và chăm sóc
nên thầy không hề đụng tay vào. Hai chị em gái là những
người bạn thân nhất của thầy. Giờ đây thầy sống với
những người hoàn toàn xa lạ tận một vùng hẻo lánh thuộc
miền Nam Ấn. Một cậu bé Hoa Kỳ giữa cả ngàn vị Lạt
Ma Tây Tạng. Nhiều người trong số này là những người tỵ
nạn. Nếu thầy hiểu được tiếng Tây Tạng, thầy sẽ nghe
những mẫu chuyện đầy kinh hoàng trong những chuyến đi mà
người tỵ nạn phải trải quạ Những cuộc hành trình đầy
cam go nguy hiểm khi vượt dãy Hy Mã Lạp Sơn trên đường trốn
thoát sự đàn áp của chính phủ Trung Hoa.
Nhưng
thầy chưa nói được tiếng Tây Tạng. Thầy không hiểu được
những mẫu đối thoại các tăng sinh thường nói trong các
bữa ăn. Thầy không hiểu được những chuyện vui ngoài vườn.
Thầy cũng không hiểu được những cuộc thực tập tranh luận
và cũng không thể bắt chuyện với hai vị tăng sinh cùng phòng.
Trong tu viện có một vài vị biết nói tiếng Anh, nhưng họ
là những vị cao tăng và lớn tuổi hơn thầy rất nhiều.
Thầy chẳng có ai để làm bạn, để chuyện trò tâm sự,
để nói cho họ biết nỗi nhớ nhà đang dâng đầy trong lòng.
Thầy cảm thấy lẻ loi và dường như hoàn toàn cách biệt
với mọi người.
Tất
cả những tiện nghi quen thuộc khi còn sống với gia đình
bây giờ đã là quá khứ.
Ngôi
nhà sang trọng trên ngọn đồi vùng Laguna Niguel giờ đây được
thay thế bằng một căn lầu bốn tầng, xây bằng gạch xi
măng, dùng làm nơi trú ngụ cho các tăng sinh sẽ là căn nhà
mới của thầy. Sàn nhà trải thảm dày và êm mịn bây giờ
là chiếc sàn xi măng trơ trụi. Phòng vệ sinh là một chiếc
bồn cầu theo kiểu Ấn Độ nơi sàn nhà và phòng tắm là
một vòi nước lạnh băng. Lúc trước căn phòng ngủ là cả
một thế giới riêng của thầy, bây giờ là một căn phòng
nhỏ hẹp, vách tường được sơn màu xanh bệnh viện và gồm
ba chiếc giường kê thành một hàng dài. Hai người bạn cùng
phòng là hai vị tăng sinh tuổi đời gấp đôi tuổi thầy.
Họ không biết gì về trò chơi điện tử Nintendo, Cable TV
hay nhạc trẻ.
So
với thời khóa biểu của lớp 7 trường Aliso Viejo, một ngày
nơi tu viện dài đăng đẳng và vô cùng khắt khẹ Tiếng chuông
đánh thức vang lên vào lúc 5 giờ sáng. Sau đó là thời công
phu sáng dài cả mấy tiếng đồng hồ. Sau thời công phu là
buổi ăn sáng. Tiếp theo là 4 tiếng đồng hồ dành cho việc
học hỏi kinh luận cá nhân chỉ có một thầy một trò. Buổi
ăn trưa vào lúc 12:30. Sau đó là 4 tiếng nữa cho việc tham
vấn cá nhân. Sau bữa ăn tối là thời gian các tăng sinh cùng
nghe giảng giáo lý hoặc tranh luận nội điển cho đến 9 giờ
tối. Khi lên giường ngủ thầy cảm thấy mỏi mệt, rã rời.
Thời khóa biểu như thế được áp dụng nghiêm nhặt trong
suốt cả tuần, trừ ngày thứ Hai để các tăng sinh có thời
gian lo những công việc cá nhân.
Thầy
cũng chưa quen với những bữa ăn trong tu viện. Ở nhà thầy
rất thích món Taco, Pizza cùng những tô phở mẹ thường nấu.
Bây giờ thực đơn trong các bữa ăn chỉ toàn là cơm, rau
và một chén canh nhạt nhẻo chỉ đủ để sống qua ngày.
Điểm tâm buổi sáng thì ngày nào cũng giống nhau, buổi ăn
trưa và tối cũng vậy. Nơi tu viện, thực phẩm chỉ có mục
đích nuôi dưỡng xác thân làm phương tiện để tu tâm dưỡng
tánh trên con đường giác ngộ. Trong bữa ăn, các tăng sĩ
không dùng những món ngũ vị tân như hành, tỏi, hẹ, kiệu,
nén để tiết giảm sự ham muốn tình dục và điều phục
lòng sân hận. Ngoài lý do quá đắt tiền, tu sĩ Phật Giáo
tránh không ăn thịt nhằm trưởng dưỡng lòng từ bi đối
với mọi loài chúng sinh.
Thời
gian đầu, nước uống ở đây cũng gây cho thầy khá nhiều
phiền phức. Vì lạ nước, thầy đã bị bệnh trong nhiều
tháng trời. Vào thời kỳ gió mùa, khoảng tháng Năm, nhiệt
độ tại Ấn Độ tăng cao, không khí lại quá ẩm khiến thầy
mệt mỏi, uể oải chẳng muốn làm gì cả. Trong tu viện cũng
không có máy điều hòa không khí.
Một
vài đứa trẻ địa phương bắt đầu làm quen với thầy.
Nhưng khi biết thầy là một chú bé Hoa Kỳ chúng đã lãng
tránh. Qua điện thoại, mẹ thầy thường an ủi và khuyến
khích thầy. Mẹ bảo thầy, qua thời gian mọi việc cũng sẽ
quen dần. Lúc đầu thì ai cũng như thế cả. Hơn nữa, thầy
cũng không nên kỳ vọng mọi người đều hoàn hảo.
Kỹ
luật nghiêm khắc trong một tu viện khiến thầy có cảm tưởng
như một nhà tù. Thầy đang chịu rất nhiều áp lực để
cố gắng tu học và sinh hoạt như một tăng sĩ trưởng thành.
Điều này gần như vượt quá khả năng của một cậu bé
mới 13 tuổi đời. Hơn thế nữa, thầy là vị tăng sĩ Hoa
Kỳ đầu tiên được chấp nhận vào tu viện, và còn là đệ
tử đặc biệt của đại sư Lati, vị phụ tá tinh thần của
Đức Đạt Lai Lạt Mạ Những điều này là một trường hợp
hết sức đặc biệt, tương tự như thầy được nhận vào
đại học Harvard lại được sự hướng dẫn của một giáo
sư nổi tiếng nhất. Tại tu viện, Lati Rinpoche chỉ nhận hướng
dẫn riêng cho những đệ tử được ấn chứng là tái sinh
của những vị Lạt Ma cao cấp. Điều này đã khiến mọi
người đều kỳ vọng thầy Kusho sẽ trở thành một tăng
sĩ mà những tăng sĩ bình thường không thể sánh được.
Hưởng
sự ưu đãi đặc biệt này thầy cũng phải trả một cái
giá. Đệ tử của ngài Lati phải tuân theo một kỹ luật nghiêm
nhặt hơn so với những tăng sinh khác. Họ không được phép
rời khỏi tu viện. Trong giờ rảnh rỗi cũng không được
chạy nhảy, cười đùa, la hét. Thầy Kusho luôn được những
vị tăng khác kiểm soát mọi hành động và báo cáo cùng đại
sư Latị Điều này khiến một số tăng sinh khác thường nói
đùa thầy rằng: Thầy đang sống trong căn nhà tù.
Trong
tu viện những tăng sinh phạm lỗi phải chịu kỹ luật rất
nghiêm. Những vị tăng được gọi là thiết bảng lạt ma
có nhiệm vụ giữ gìn trật tự và kỹ luật trong tu viện.
Tăng sinh ngủ gật trong khi tọa thiền hay trong các buổi giảng
giáo lý liền bị những vị thiết bảng lạt ma dùng chuỗi
tràng hạt bằng gỗ quất vào người, bất kể vị tăng phạm
lỗi cao tuổi hay còn trẻ. Điều này có mục đích giúp vị
tăng phạm lỗi điều phục thân tâm và diệt trừ ngã mạn.
Có lần, thầy Kusho chứng kiến cảnh một vị tăng bị phạt
kỹ luật. Cảnh tượng lúc đó và sự đau đớn xác thân
của vị tăng này khiến thầy Kusho bị ám ảnh suốt mấy
ngày đêm liền. Mỗi lần nhớ lại thầy rất thương xót
cho vị tăng kia.
Thầy
cảm thấy rất khó khăn và ngại ngùng khi muốn làm quen với
những tăng sinh khác. Thầy cố gắng siêng năng trong mọi công
việc để tránh bị phạt kỹ luật. Lúc còn ở nhà, thầy
không hề phải bận tâm làm việc gì cả. Tại tu viện Gaden
thầy cũng được đặc biệt ưu đãi không phải làm những
công việc tạp dịch như mọi người. Nhưng thầy không muốn
thế. Thầy không muốn nhận bất kỳ sự ưu đãi nào như
thầy đã từng có trước đây. Với một cây chổi giống
như chiếc đuôi ngựa, thầy cũng tham gia quét dọn nhà cửa.
Thầy tự tay pha trà bơ cho các vị sư phụ. Thầy nấu cơm
cho các vị này, mặc dù thầy chưa bao giờ nấu ăn cho chính
mình. Khi các thầy ăn xong thầy cũng lo dọn dẹp rửa chén
bát cho họ.
Tối
đến, trong căn phòng nhỏ nơi tu viện, thầy Kusho nhớ nhà
kinh
khủng. Những kỷ niệm trong thời gian sống với gia đình
trở nên trân quý. Hình ảnh những buổi tối chị Connie vào
phòng gây ồn ào phá phách bây giờ trở nên thân thiết. Những
mẫu chuyện vụn vặt trong bữa cơm gia đình, nghe bố kể
chuyện phòng mạch, nghe chị em nói chuyện trường lớp, bây
giờ không còn là tầm thường vô bổ, nhưng là những kỷ
niệm luôn xoáy sâu trong lòng. Thầy bỗng thấy thèm những
tô phở mẹ thường nấu ở nhà. Thầy ao ước có dịp sẽ
kể cho hai chị em nghe những chuyện kỳ lạ thầy đã gặp
nơi tu viện. Thầy Kusho nhớ nhà và thương gia đình thật
nhiều.
Đoạn
trừ những ràng buộc trong tình cảm gia đình nhằm giải thoát
khổ đau là mục đích tâm linh của Phật Pháp trên con đường
giải thoát. Thầy Kusho ao ước mình có thể thực hiện điều
này. Nhưng vào năm đầu, hằng đêm khi nằm trên giường ngủ
thầy thường âm thầm khóc vì nhớ nhà.
Mỗi
hai tuần một lần thầy thường gọi điện thoại về Mỹ
nói chuyện với bố mẹ. Nhưng thầy không hề thổ lộ điều
này cho gia đình biết. Qua đường dây điện thoại, thầy
trấn an chị Huyền: Mẹ đừng có lo cho con nhiều quá. Mọi
việc ở đây đều bình thường. Con không có hề gì đâu.
Chương
Trình Tu Học
Tại
tu viện, thầy Kusho bắt đầu theo học một chương trình tu
học gian nan để có được học vị Luận Sư Phật học. Đây
là một chương trình đào tạo tăng sĩ đã có từ hàng ngàn
năm qua trong tu viện Phật giáo, trước cả khi nhà thiên văn
học Galileo khám phá ra quỹ đạo của các hành tinh trong thái
dương hệ quay chung quanh mặt trời.
Trong
khi các bạn cùng lớp tại Hoa Kỳ đang tập đo độ của một
góc với môn hình học phẳng, đọc sách truyện tuổi thơ
và tìm hiểu nhiệm vụ của tế bào trong cơ thể, thì thầy
Kusho đang theo học một chương trình mà một học sinh trung
học bình thường không thể nào hiểu nổi. Chương trình tu
học 20 năm của thầy về Tam Tạng kinh điển Phật Giáo gồm:
1.
Các lớp giáo lý căn bản về duy thức học, nghiên cứu tâm
vương cùng các tâm sở, và những khóa lý luận Phật học
căn bản, 8 năm đầu.
2.
Đại Bát Nhã (Prajna Paramita) 7 năm
3.
Trung Quán Luận của Bồ Tát Long Thọ (Madhyamika) 3 năm
4.
Giới Tông, Luật Tạng (Vinaya) một năm
5.
Pháp Tướng Tông, Luận Tạng (A Tỳ Đạt Ma, Abhidharmay) 2 năm
6.
Phật Giáo Luận (Pramana) trong suốt thời kỳ tu học.
Học
vị Luận Sư Phật học, tương đương văn bằng tiến sĩ tâm
linh thần học, là một học vị cao nhất trong các viện Phật
học và ngài Giới Hiền là vị Luận Sư đầu tiên trong lịch
sử Phật Giáo. Tăng sinh phải mất 20 năm để hoàn tất khóa
tu học. Có nhiều vị không đạt được sau nhiều năm tu học.
Hiện nay trên thế giới chỉ có 200 vị luận sư (Geshe) trong
Phật Giáo Tây Tạng. Từ khi còn 8 tuổi, thầy Kusho đã từng
tâm nguyện sẽ là một luận sư Phật Giáo Việt Nam đầu
tiên trong hệ thống Phật Giáo Tây Tạng. Thầy không muốn
sự cô đơn và nỗi nhớ nhà gây chướng ngại trên con đường
tu học của thầy.
Để
thực hiện tâm nguyện này, trước tiên thầy phải học tiếng
Tây Tạng, một ngôn ngữ đang trên đà hủy diệt ngay tại
quê hương xứ sở. Suốt ngày thầy Kusho chuyên tâm học tiếng
Tây Tạng qua sự hướng dẫn của một vị thầy. Đối với
thầy Kusho, các mẫu tự Tây Tạng trông giống như những bức
tranh. Dường như những người sáng tạo chữ Tây Tạng đã
kết hợp giữa tiếng Phạn, Á Rập, Do Thái và Nhật Bản
để tạo ra những mẫu tự hoàn toàn mới lạ. Có mẫu tự
dường như được tạo bởi nhiều nét chân mày hoặc những
cánh chim baỵ Có mẫu tự như tạo bởi những nụ cười rạng
rỡ hoặc những khuyên tròn hoàn hảo. Càng nghiên cứu thầy
càng thích thú. Nhưng hiểu ý nghĩa của từng chữ thì quả
là khó khăn.
Ngay
cả những vị giáo sư ngôn ngữ cũng đồng ý tiếng Tây Tạng
là một loại ngôn ngữ phong phú nhưng khó học. Đây là một
ngôn ngữ đơn âm, thiếu sự uyển chuyển, do đó thứ tự
các chữ trong câu rất quan trọng. Chỉ cần thay đổi âm giọng
là ý nghĩa đã hoàn toàn khác như: cao ngắn, cao dài, thấp
ngắn, thấp dài, rơi ngắn, rơi dài. Điều khó khăn nhất
là khi xử dụng ngôn ngữ quý tộc trong nghi lễ cung kính với
các bậc trưởng thượng, tôn quý. Trong các trường hợp này,
ngôn ngữ sử dụng hoàn toàn khác hẳn lúc nói chuyện bình
thường. Chữ bàn ghế dùng khi nói chuyện với các vị tăng
sinh huynh đệ hoàn toàn khác với chữ bàn ghế khi dùng nói
chuyện với sư phụ. Hầu như tất cả mọi chuyện đều có
cả hai loại ngôn ngữ khác biệt dùng dành riêng cho từng
hoàn cảnh, từ món ăn, sợi tóc cho đến chung trà.
Có
một điều quen thuộc với mọi người là chữ Tây Tạng được
viết từ trái sang phải. Tuy nhiên điều này đối với thầy
Kusho cũng không phải dễ dàng, vì thầy thuận tay trái. Các
quốc gia Á châu không khuyến khích việc sử dụng tay trái
khi viết chữ, cầm đũa và bắt tay mà chỉ dùng tay phải.
Như thế là thầy Kusho phải tập viết lại từ đầu. Thầy
vụng về cầm cây viết với bàn tay phải rồi nắn nót tập
viết từng hàng, một cách chậm chạp kiên nhẫn vào cuốn
tập vở. Buổi tập viết có khi kéo dài cả hàng giờ.
Khi
cảm thấy quá ngán với những công việc nầy, thầy Kusho
thường ngồi yên lặng nghe giảng về giáo lý Phật Pháp.
Thầy rất thích nghe những điều thâm diệu trong giáo lý Phật
Pháp:
Không
một vật gì thực sự biến mất khỏi vũ trụ, pháp giới.
Vật chất biến thành năng lượng, năng lượng trở thành
vật chất. Chúng sinh hữu tình được tạo bởi những yếu
tố tứ đại hoàn toàn giống như cỏ cây hoa lá, ngay cả
đến những hạt mưa. Không có gì khác biệt. Khi chúng ta hủy
diệt môi trường chung quanh, tức là chúng ta đã tự hủy
diệt mình.
- Vạn
pháp vốn vô thường. Kiếp sống như một giòng sông luôn
hằng chuyển. Nhìn từ xa, giòng sông như đang đứng yên lặng
lờ, nhưng mỗi một phân tử nước luôn chuyển động và
thay đổi từng vị trí theo thời gian. Kiếp người cũng như
thế. Con người dường như một là thực thể hiện hữu độc
lập xuyên suốt thời gian. Nhưng thân tâm chúng sinh luôn sanh
diệt, biến đổi trong từng sát nạ Vì vô thường nên không
có tự ngã.
- Luật
Nhân Quả là một quy luật sinh tồn, tạo nên trường nghiệp
lực trong pháp giới. Không có điều gì xảy đến cho chúng
ta nếu chúng ta không đáng được hưởng. Nhân nào quả nấy.
Dục tri tiền thế nhân, kim sinh thọ giả thị. Dục tri lai
thế quả, kim sinh tác giả thị. Muốn biết kiếp trước ta
làm gì hãy nhìn những gì ta đang hưởng. Muốn biết kiếp
sau ta thế nào, hãy nhìn những gì đang tạo trong hiện tại.
Trong mỗi phút giây, chúng sinh luôn tạo ra nghiệp mới qua
thân, khẩu, ý. Nghiệp có thiện nghiệp, ác nghiệp. Chúng
sinh tạo thiện nghiệp sẽ hưởng quả lành trong tương lai.
Chúng sinh tạo ác nghiệp sẽ bị đọa vào địa ngục chịu
muôn vàn đau khổ.
- Tánh
không của vạn pháp trong Phật Giáo là thực tại tối hậu.
Mọi sự việc trong thế gian không hề hiện hữu độc lập
mà luôn liên hệ với những sự việc khác. Không điều gì
có thể tồn tại riêng lẻ độc lập. Vì thế nên không có
tự ngã. Để khai mở trí tuệ thực chứng Tánh Không, hành
giả phải tu tập các phương pháp thiền định, quán chiếu
thực tướng của lục căn lục trần: sắc, thanh, hương, vị,
xúc, pháp nhưng không bám víu vào những điều này. Như một
áng mây trôi lơ lững giữa bầu trời không hề vướng mắc
vào đâu cả. Sau nhiều năm công phu nghiêm mật, hành giả
sẽ đạt tới cảnh giới khai ngộ. Đây là một trạng thái
tâm linh an lạc của trí tuệ vô biên không thể dùng văn tự
ngôn ngữ thế gian diễn tả được.
Điều
khác lạ và hệ trọng nhất trong chương trình tu học tại
tu viện Tây Tạng là những buổi tranh luận theo những nghi
thức cần thiết. Đây là phần quan trọng dùng tập áp dụng
kiến giải Phật học mà tăng sinh đã thu thập, một phương
tiện cổ xưa nhằm mài dũa trí tuệ và phát triển nh