Theo
đức tin Phật giáo Tây Tạng, đức Đạt Lai Lạt Ma là hóa
thân của Quán Thế Âm Bồ Tát, một vị Bồ Tát thể hiện
lòng từ bi.
Ngày
nay, lòng từ bi ấy bị thách thức đến tận cùng cho vị
Đạt Lai Lạt Ma thứ 14.
Sinh
ngày 5 năm tháng 5, năm Ất Hợi (mùng sáu Tháng Bảy năm 1935),
tại làng Takster trong vùng Amdo ở miền Đông Bắc Tây Tạng,
chú bé Lahmo Dhondup cảm thấy gì khi mới lên hai thì gia đình
đã ngỡ ngàng đón tiếp một phái đoàn long trọng tìm đến
từ điện Potala của kinh đô Lhasa? Cái tâm của chú là của
một đứa trẻ, nhưng cái thần tất nhiên cảm nhận thấy
nhiều điều khác.
Phái
đoàn Lhasa yêu cầu chú làm một số thử nghiệm và cuối
cùng xác nhận điều mà họ đã cảm biết được từ những
chỉ dạy bí hiểm của đức Đại Lai Lạt Ma đời thứ 13
trước khi ngài viên tịch: Lahmo Dhondup là hoá thân đời thứ
14.
Hai
năm sau, chú bé Lahmo Dhondup được long trọng rước về Lhasa
làm lễ tấn phong là đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14, với
pháp danh là Jetsun Jamphel Ngawang Lobsang Yeshe Tenzin Gyatso. Vào
mùa Xuân đó, dọc đường, cả ngàn vị tăng và dân chúng
Tây Tạng đứng hai bên chào mừng với quần áo đẹp nhất
dưới hàng cờ phướn rực rỡ. Họ mừng như tìm được
cha mẹ, còn chú bé thì bàng hoàng vì đời mình từ nay sẽ
đổi khác.
* Lên
ngai Đạt Lai Lạt Ma
Là
cậu bé trong một gia đình nông gia hiền hoà, Lhamo Dhondup bước
vào ngôi chùa tại kinh đô và khởi sự cuộc sống của một
nhà tu, để sẽ lên lãnh đạo cả Phật giáo lẫn quốc gia
của người Tây Tạng. Tại Lhasa, chú bé có hai nơi cư ngụ
là điện Potala vào mùa lạnh và điện Norbulingka vào mùa Hè,
nhưng mùa nào cũng là một hành trình của trí tuệ và trí
huệ để tiến về cội nguồn: về chân tâm của mình.
Và
về nhiệm vụ phải hoàn thành viên mãn cho chúng sinh trong
kiếp này.
Dù
phải sống giữa một thế giới khắc khổ nghiêm trang toàn
những người lớn, bên các vị cao tăng và đại trí, cậu
bé Lhamo Dhondup là một đứa trẻ nghịch ngợm, có năng khiếu
về khoa cơ khí, tự mình tháo tung đồng hồ hay máy móc và
cả xe hơi ở trong điện để tìm hiểu, sửa chữa và... ráp
lại như người lớn.
Vào
một hoàn cảnh khác, cậu bé có thể trở thành một kỹ sư
đại tài.
Nhưng
nay cậu đã thành một tiểu sa di, chú tiểu hiếu học Tenzin
Gyatso. Trong quãng đời tu tập ấy, chú tiểu này thường quyến
luyến bà mẹ. Nỗi quan hoài của chú với bà mẹ hiền hậu
là một đặc điểm trong cuộc đời của nhân vật này. Mãi
về sau, cho tới giờ đây, người ta vẫn còn thấy nhân cách
của vị từ mẫu tỏa sáng trong ký ức và cả những lời
luận giải của vị Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14 về tính
từ bi.
Thế
rồi tuổi thiếu niên yên bình tầm đạo ấy của vị Đạt
Lai Lạt Ma đã sớm chấm dứt vào mùa Thu năm Kỷ Sửu 1949:
ở bên kia, bên dưới đỉnh tuyết, Trung Hoa đã đổi chủ,
trở thành Trung Cộng, vào tháng 10. Chỉ một năm sau, tháng
10 năm 1950, Giải phóng quân của Mao Trạch Đông đã lên nhấc
súng đập vào cửa ngõ Tây Tạng. Năm ấy, vị Đạt Lai Lạt
Ma đời thứ 14 mới còn là một thiếu niên 15 tuổi và chưa
hoàn tất hành trình tu chứng để thực sự trở thành một
vị sư. Mà càng chưa hiểu gì về thế giới ở bên ngoài
nhà chùa hay cung điện, ở bên ngoài Tây Tạng.
Nhưng
trách nhiệm với đạo và đời thì đã nặng trỉu trên vai
và tràn đầy trong trí.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma như chúng ta gọi ngày nay đã từ tuổi thanh
xuân bước thẳng vào lịch sử - một giai đoạn lịch sử
nhiễu nhương khi cục diện Á châu chuyển động
suốt 10 năm liền. Năm 1950 đó, khi Ngài đăng quang là Quốc
trưởng, là người lãnh đạo đất nước Tây Tạng thì cũng
là năm Tây Tạng đã bị cuốn vào trận cuồng phong Cộng
sản Trung Hoa.
Rồi
từ đấy, Tây Tạng bị chìm dưới hai làn sóng dữ. Chủ
nghĩa Cộng Sản không dung thứ được vai trò tinh thần của
tôn giáo, của Phật giáo. Còn Chủ nghĩa Đại Hán thì muốn
đồng hóa Tây Tạng vào cộng đồng Trung Hoa: giống "Di Tạng"
sẽ chỉ được tồn tại như một nhánh nhỏ của ngôi vườn
lớn, do đảng Cộng sản Trung Hoa vun trồng, cải tạo, uốn
nắn....
Với
thế giới bên ngoài, Tây Tạng là một vùng đất kỳ bí ít
ai biết và người được dân Tây Tạng tôn sùng là Đạt
Lai Lạt Ma còn kỳ bí hơn, một nhân vật nửa người nửa
Phật, có khi lại còn biết phép thần thông như một vị Thiên
tướng nhà Trời. Thế giới mơ hồ nghĩ vậy. Và thực ra
thế giới cũng còn mơ hồ không kém khi nghe nói đến Trung
Quốc, đến người lãnh tụ nông dân xuất phát từ Hồ Nam
là Mao Trạch Đông.
Ngược
lại, đức Đạt Lai Lạt Ma và cả xã hội Tây Tạng cũng
mơ hồ hiểu ra rằng thế giới từ nay đã đổi thay và sự
đổi thay ấy đang dội vào xứ Tây Tạng. Biến động lịch
sử mà người ta gọi là "Giải phóng Trung Hoa" do Mao Trạch
Đông đề xướng đang dẫn tới "Xâm lăng Tây Tạng" mà thế
giới bên ngoài không biết và có lẽ cũng không muốn biết.
Trong
10 năm liền, từ 1950 đến 1959, đức Đạt Lai Lạt Ma đã
phải vừa hoàn tất việc tu tập để trở thành một nhà
sư - một tiến trình gian khổ và khó khăn cho trí tuệ - lại
vừa học hỏi về thế giới bên ngoài và về trách nhiệm
lãnh đạo của mình.
Sự
thúc giục tàn khốc của địa dư chính trị khi Trung Quốc
áp đặt Hiệp ước 17 điều vào năm 1951 để chiếm một
phần lãnh thổ Tây Tạng càng khiến vị Quốc sư phải sớm
đảm đương trọng trách của một vị Quốc trưởng. Ngài
đã qua tận Bắc Kinh gặp gỡ Mao Trạch Đông và lãnh đạo
cộng sản và tìm giải pháp hòa giải hầu cứu vãn tình hình.
Nhà sư Tenzin Gyatso thì bàng hoàng nghe Mao Trạch Đông tâm sự
như một người sùng tín, rằng đạo Phật là một thứ độc
dược cho con người. Còn vị Đạt Lai Lạt Ma lãnh đạo Tây
Tạng thì lo sợ khi nghe Mao Trạch Đông nói đến kế hoạch
phát triển Tây Tạng trong toàn cục của cuộc Cách mạng Vô
sản.
Cả
đạo và đời đều bị đe dọa. Mối đe dọa ấy trở thành
thực tế vào mùa Xuân Kỷ Hợi 1959. Khi đức Đạt Lai Lạt
Ma trẻ tuổi vừa vượt qua những thử thách cuối cùng để
hoàn tất bậc Tiến sĩ về Phật học thì cũng là lúc Tây
Tạng bị thôn tính.
Nghĩa
là năm 1950, khi Ngài lên làm Quốc trưởng thì Tây Tạng bị
uy hiếp. Năm 1959, khi Ngài thực thụ là Tỳ kheo Tenzin Gyatso
Shakya Bhikshu Tenzin Gyatso thì Tây Tạng bị mất chủ
quyền.
* Lãnh
đạo Lưu vong
Ngày
mùng 10 tháng Ba năm 1959, dân chúng tại Kinh đô Lhasa nổi dậy
chống lại sự đàn áp của Hồng quân Trung Quốc và bị tàn
sát. Một tuần sau, nửa đêm 17 tháng Ba, đức Đạt Lai Lạt
Ma phải cải trang thành thường dân cùng một số nhỏ trong
triều đình trốn khỏi Lhasa và băng rừng vượt núi tìm đường
thoát ra ngoài.
Kể
từ đấy, y như cả lục địa Trung Hoa, Tây Tạng cũng lần
lượt trải qua ngần ấy cơn động đất nhân tạo do Mao Trạch
Đông phát động: Bước nhảy vọt Vĩ đại, Cải cách ruộng
đất, Chiến dịch tiêu diệt bọn hữu khuynh, Cách mạng Văn
hoá Vô sản Vĩ đại, v.v... Tính ra thì trong số từ 20 đến
70 triệu người đã chết vì loạt động đất chính trị
kéo dài hơn một phần tư thế kỷ đó, có hơn một triệu
người Tây Tạng - chừng 15% dân số.
Và
trong hơn phần tư thế kỷ, từ 1959 đến 1985, Tây Tạng chỉ
là vùng khai thác tự do mà không có một công trình xây dựng
nào là đáng kể, từ đường xá tới học đường, nhà thương,
v.v...
Ở
bên ngoài, với vỏn vẹn chừng 100 ngàn người Tây Tạng lưu
vong bị vứt ra năm châu bốn biển, đức Đạt Lai Lạt Ma
phải xây dựng lại một chính quyền cho hai thực thể: cho
cộng đồng lưu vong trong hiện tại và cho dân tộc Tây Tạng
cho tương lai.
Tại
đất Dharamsala của Ấn Độ, Chính phủ Lưu vong Tây Tạng
(Central Tibetan Authority) đã lặng lẽ làm một cuộc cách mạng
dưới sự hướng dẫn của đức Đạt Lai Lạt Ma: dân chủ
hóa hệ thống chính trị với việc soạn thảo Hiến pháp,
bầu ra Quốc hội, thiết lập nền giáo dục cho cộng đồng
lưu vong. Nhờ Ngài mà cộng đồng ấy đã mở ra một kỷ
nguyên vận động quốc tế chưa từng thấy trong lịch sử
Tây Tạng và đạt những kết quả chưa từng thấy từ nhiều
cộng đồng lưu vong khác.
Kể
về lực, cộng đồng Tây Tạng lưu vong thật ra không đông
mà cũng chẳng giàu, nhưng nói về thế, thì cộng đồng này
có sức tác động hiếm có ở nhiều diễn đàn khác nhau chính
là do vị lãnh đạo tinh thần của họ.
Về
chuyện đời và tương lai Tây Tạng, thì mãi cho đến khi Mao
qua đời vào năm 1976 Trung Quốc mới chuyển hướng dần
ra khỏi con đường sắt máu và thế hệ lãnh đạo mới tại
Bắc Kinh có vẻ cởi mở hơn chút đỉnh. Họ mời đức Đạt
Lai Lạt Ma gửi phái đoàn về quan sát tình hình sinh hoạt
của người dân Tây Tạng, nhờ vậy mà nhiều phái đoàn đã
được đức Đạt Lai Lạt Ma phái về, lồng bên dưới là
những tiếp xúc kín đáo để thảo luận về tương lai Tây
Tạng.
Cách
đây đúng 20 năm, vị lãnh đạo Tây Tạng còn mở một chiến
dịch tấn công ngoại giao từ diễn đàn của Quốc hội Hoa
Kỳ bằng Kế hoạch Hoà bình Năm điểm nhằm kêu gọi Bắc
Kinh cùng hợp tác để biến Tây Tạng thành khu vực hoà bình,
tôn trọng nhân quyền của người Tây Tạng, chấm dứt việc
gửi di chuyển người Hoa vào đất Tây Tạng, tôn trọng môi
sinh Tây Tạng. Và quan trọng nhất, mở ra việc thương thảo
về Tây Tạng.
Qua
năm sau, đức Đạt Lai Lạt Ma còn tiến xa hơn trên mặt trận
ngoại giao khi đề nghị trước Quốc hội Âu châu tại thành
phố Strasbourg một số điểm chiến lược: Tây Tạng không
đòi độc lập nhưng yêu cầu được quyền tự trị, với
một chính quyền dân chủ do dân bầu lên, và sống chung hoà
bình với Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc.
"Đề
nghị Strasbourg" của đức Đạt Lai Lạt Ma bị Bắc Kinh bác
khước, chuyện ấy không ngạc nhiên. Điều đáng nói là một
số người Tây Tạng lưu vong, nhất là thành phần trẻ đang
sôi sục ý chí dân chủ, lại giận dữ nghĩ rằng vị lãnh
đạo của họ đã nhượng bộ. Trong nội bộ người dân lưu
vong, đề nghị hoà hoãn của Ngài trở thành đề tài tranh
luận gay gắt và nếu không có uy tín của Ngài, nỗ lực mưu
cầu hòa bình và xây dựng dân chủ cho Tây Tạng có thể bị
đẩy lui và làm cộng đồng vỡ đôi.
Những
thử thách chính trị ấy càng trở thành nguy ngập vì ở trong
nước, dân Tây Tạng đã nổi dậy chống đối ách trực trị
Bắc Kinh và bị đàn áp nặng nề năm 1987.
Nhưng,
vụ Thiên an môn vào tháng Sáu năm 1989 tại Bắc Kinh khiến
mọi người cùng giật mình. Hàng ngàn người bị thảm sát
bởi một chế độ mà thế giới tưởng rằng đã cởi mở
và văn minh hơn. Lúc ấy người ta mới hiểu vì sao vị lãnh
đạo Tây Tạng đã kêu gọi dân chúng phải đấu tranh bất
bạo động và sẵn sàng nói chuyện hoà giải.
Năm
1989 ấy, đúng 30 năm sau khi phải bôn tẩu ra khỏi quê hương,
đức Đạt Lai Lạt Ma được tôn vinh với Giải Nobel Hoà bình.
Vị
cao tăng Tây Tạng chẳng cần gì đến giải thưởng ấy, nhưng,
là người lãnh đạo Tây Tạng, Ngài hoan hỉ đón nhận, như
một phần thưởng tinh thần của thế giới gửi tới sáu
triệu dân Tây Tạng. Đối với đức Đạt Lai Lạt Ma, giải
Nobel hay mọi sự vinh danh khác dành cho Ngài đều có nghĩa
là thế giới công nhận và ủng hộ cuộc đấu tranh có chính
nghĩa của người Tây Tạng.
Nói
về sự vinh danh - gần ba chục lần từ Đông sang Tây - Ngài
là công dân danh dự của nhiều quốc gia, mới nhất là của
Cộng hoà Ukraine. Là Tiến sĩ danh dự của nhiều Viện hàn
lâm khoa học hay Đại học có uy tín. Năm ngoái, Ngài vừa
được huy chương cao quý nhất của Quốc hội Hoa Kỳ (Congressional
Gold Medal) và được Đại học Third University của Roma tôn
vinh là Tiến sĩ về Sinh học nhờ những lý giải Phật giáo
cho bộ môn khoa học này.
Trong
lịch sử hơn hai ngàn năm của Tây Tạng, Ngài là người lãnh
đạo đầu tiên đã tiến về phương Tây.
Từ
1967 đến nay, Ngài đã thăm viếng gần năm chục quốc gia
trên thế giới.
Trải
qua gần nửa thế kỷ, Ngài đã gặp gỡ hầu hết các vị
lãnh đạo dân chủ. Với Bắc Kinh, việc gặp gỡ ấy là những
khiêu khích không chấp nhận được vì Tây Tạng không là
một quốc gia mà chỉ là một đặc khu "tự trị" của Trung
Quốc! Đáng chú ý là đức Đạt Lai Lạt Ma cũng đã gặp
Tổng thống của Đài Loan, ông Trần Thủy Biển còn dự lễ
khánh thọ mừng sinh nhật của Ngài: không phải là người
Trung Hoa nào cũng muốn thôn tính Tây Tạng, ngược lại!
Ngài
cũng là một vị tăng thống Phật giáo đã gặp ba đức Giáo
hoàng của Giáo hội Công giáo Hoàn vũ (Paul VI năm 1973, năm
lần với John Paul II, và vừa gặp riêng Tân Giáo hoàng Benedictine
16), đã tiếp xúc với Tổng giám mục Canterbury và hàng giáo
phẩm của Anh giáo, và nói chuyện với rất nhiều vị lãnh
đạo Do Thái giáo...
* Tương
lai rồi sẽ ra sao?
Nhờ
nhân cách đặc biệt của đức Đạt Lai Lạt Ma và cuộc đấu
tranh bền bỉ của người Tây Tạng, ngày nay, "hồ sơ Tây
Tạng" đã trở thành vấn đề của thế giới - và của Trung
Quốc. Trên thế giới bây giờ, không ai có thể biết là Bắc
Kinh có thể "thống hợp" Đài Loan được hay không, và bằng
ngả nào, nhưng mọi người đều biết rằng việc Trung Quốc
nuốt chửng Tây Tạng là điều ngang ngược. Nếu muốn bình
thường hoá quan hệ với thế giới để trở thành một cường
quốc văn minh và có trách nhiệm, Trung Quốc phải tìm ra một
giải pháp cho Tây Tạng.
Đề
nghị hoà giải và tự trị của đức Đạt Lai Lạt Ma là
giải pháp thực tiễn nhất. Trong năm Đinh Hợi này, khi Trung
Quốc chuẩn bị ra mắt thế giới như một cường quốc văn
minh qua Thế vận hội Bắc Kinh 2008, thì việc thảo luận với
Chính quyền Lưu vong Tây Tạng về giải pháp này là một điều
hợp lý.
Chủ
tịch Hồ Cẩm Đào là người có thể thực hiện việc đó
khi củng cố được quyền lực trong Đại hội đảng năm
nay. Ông có khả năng mà không ngại chống đối trong nội
bộ: từng là Bí thư của Khu Tự trị Tây Tạng, ông có thành
tích đàn áp năm 1987. Phải là người cứng rắn như vậy
mới có thể và có thế nhả ra cái gân gà Tây Tạng mà Trung
Quốc đã nuốt vào năm 1959 mà cho đến nay vẫn chưa tiêu
được!
Vào
năm Đinh Hợi này, đức Đạt Lai Lạt Ma vừa tròn 72, Ngài
có thể thấy được những chuyển động tốt đẹp hơn cho
quê hương.
* Ánh
từ quang của Phật giáo
Công
chúng Tây phương thường lý luận rằng sở dĩ đức Đạt
Lai Lạt Ma chủ trương đấu tranh bất bạo động là vì ảnh
hưởng tinh thần của Mahatma Ghandi. Những người chống đối
Ngài, hiện tượng ấy cũng có mà không chỉ ở Bắc Kinh,
thì cho rằng Ngài đành phải đấu trang theo phương pháp bất
bạo động sau khi Hoa Kỳ chấm dứt yểm trợ Tây Tạng từ
năm 1969.
Thực
ra, "chiến lược" đấu tranh ấy xuất phát từ một động
lực hay yếu tố khác. Từ cái tâm từ bi của một nhà tu
hành. Nhất là khi Ngài là một vị Phật Sống, một Hoá thân
của đức Bồ Tát Avalokitesvara mà người Việt chúng ta thường
gọi theo người Trung Hoa là Quán Thế Âm Bồ Tát.
Trong
các vị Bồ Tát của Phật giáo Đại thừa, nếu Văn Thù Sư
Lợi thể hiện trí tuệ thì Quán Thế Âm thể hiện từ bi.
Vì vậy, vị Tăng thống Tây Tạng, được dân chúng Tây Tạng
tôn xưng là Bồ Tát Quán Thế Âm tái sinh, luôn luôn coi trọng
lòng từ bi như một thuộc tính của nhà Phật. Người ta có
thể thấy được điều ấy từ những năm 1950, từ khi đức
Đạt Lai Lạt Ma còn ở Lhasa. Ngài luôn luôn tìm giải pháp
hoà hoãn và khổ tâm không ít khi dân Tây Tạng nổi dậy vào
mùa Xuân Kỷ Hợi năm 1959. Ngài thực tâm không muốn vậy
và dù thông cảm với tinh thần quyết tử của những người
khởi nghĩa, Ngài vẫn cố tránh đổ máu. Cái trí cho thấy
rằng đấu tranh võ trang là đem trứng chọi đá và lòng từ
bi thì hướng về phương pháp thuyết phục hoà bình.
Biết
đâu, cái đại nghiệp của Tây Tạng thật ra lại là mối
thiện duyên cho Phật giáo thế giới?
* Nhà
hoằng pháp vĩ đại
Nhìn
về quê hương, đức Đạt Lai Lạt Ma nói đến đấu tranh
bất bạo động cho hoà bình và căn tánh Tây Tạng. Nhìn ra
thế giới, Ngài là người có công trạng và khả năng hoằng
pháp vĩ đại nhất cho Phật giáo. Và thông điệp về hòa
bình và từ bi của đạo Phật đã như những giọt cam lồ
tưới mát cho cục diện nóng bỏng ngày hôm nay của thế giới.
Khi
thế giới văn minh của Tây phương ngày càng xa dần đức
tin tôn giáo và tôn sùng khoa học hay lý trí như một Thượng
đế mới, đồng thời một số khuynh hướng tôn giáo cực
đoan của đạo Hồi lại muốn đặt để vai trò thống trị
của Thượng đế của họ bằng bạo lực và khủng bố, những
luận giải về Phật giáo của đức Đạt Lai Lạt Ma có thể
giúp thế giới nhìn ra con đường trung đạo. Chưa khi nào
Phật giáo lại có sức bành trướng mạnh mẽ như ngày nay,
một phần cũng nhờ vị Tăng thống của Phật giáo Tây Tạng.
Nhiều
người có thể bỡ ngỡ khi Ngài được ngợi ca như một đức
Giáo hoàng của Phật giáo, nhưng vị trí khách quan của đức
Tăng thống Tenzin Gyatso quả là như vậy.
Ngài
là một trong 100 nhân vật có ảnh hưởng nhất thế giới,
tuần báo Time đã nhận định như thế vào năm 2005. Ảnh hưởng
lớn nhất không chỉ thu hẹp trong phạm vi đại thế chính
trị của Tây Tạng mà trong cách suy nghĩ và sinh sống của
nhiều người qua những luận giải của Ngài về Phật giáo.
Luận giải mà ai cũng ghi nhận và nhớ lại là ánh từ bi
của đạo Phật trong thế giới âm u hôn ám ngày nay.
Ngoài
việc nhấn mạnh đến từ tâm, như một bản sắc chói lọi
của Phật giáo, đức Đạt Lai Lạt Ma còn hiện đại hoá
đạo Phật cho thế kỷ 21.
Nếu
John Paul II là vị Giáo hoàng kiệt xuất đã làm thay đổi
cục diện thế giới và đưa Giáo hội Công giáo Hoàn vũ vào
Thiên niên kỷ mới thì vị Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 của Tây
Tạng cũng đang làm thay đổi nhận thức của loài người,
và trước tiên của hàng tăng lữ Tây Tạng, về đạo Phật.
Khi
đức Giáo hoàng Benedicto XVI cảnh báo các học giả và trí
thức Tây phương về mối nguy đem lý trí ra chối bỏ đức
tin, đức Đạt Lai Lạt Ma cũng nói đến vấn đề tương tự,
nhìn từ giác độ khác và với cách phát biểu khác. Rằng
đức tin không đối lập với lý trí. Và rằng nếu thấu
hiểu đạo Phật, nhà khoa học có thể tìm thấy trong đó
nhiều lý giải có ích cho khoa học. Người Phật giáo phải
đóng góp cho khoa học của nhân loại bằng cách hiểu rõ để
quảng bá Phật pháp và nếu quy chiếu những chứng nghiệm
từ tu đến tập vào khoa học thì có thể giúp ích cho khoa
học.
Mà
khoa học ở đây không chỉ là khoa cơ khí chú tiểu
Tenzin Gyatso năm xưa là người có năng khiếu về máy móc
mà còn là sinh học, tâm lý học hay thần kinh tâm lý học.
Ngài
không hề kêu gọi mọi người nên - hay phải - tu theo Phật
giáo, mà chỉ muốn thế giới nhìn đạo Phật với con mắt
khác để tìm thấy trong đó những phương pháp tu tập có
ích cho mình, cho tôn giáo của mình. Đồng thời, Ngài khuyến
khích người Phật tử phải nhìn thế giới với từ tâm rộng
mở để cùng góp phần tìm ra sự tiến bộ trong hoà bình.
Ngoài
hai đóng góp lớn về tư tưởng lòng từ bi
và tinh thần hiện đại hoá đức Đạt Lai Lạt
Ma còn thể hiện một đức tính hiếm hoi trong thế giới ngày
nay. Ngài xuất hiện trên mọi diễn đàn như một "minh tinh",
một super star nói theo ngôn từ sân khấu, với cả chục ngàn
người đón rước và lắng nghe. Nhưng, ở mọi nơi, với mọi
người, Ngài luôn luôn là một người khiêm cung. Cung kính
và khiêm nhường.
Khả
năng diễn tả và ứng đối sắc bén đến phi thường của
Ngài đã trở thành một huyền thoại của thế giới. Bậc
nhân thần đầy hùng biện ấy có thể dễ dàng xoay trở trong
mọi tình huống, với những phát biểu đơn giản, dễ hiểu
mà sâu sắc. Nhưng, vào mọi hoàn cảnh, Ngài vẫn cho thấy
một nét chính trong cá tánh là sự khiêm nhường.
Khi
dũng cảm đương đầu với một đế quốc đang lên, khôn
khoan tìm ra phương hướng đấu tranh có lợi nhất cho chúng
sinh - dân Tây Tạng và các dân tộc khác - Ngài luôn luôn thể
hiện lòng từ bi mà quan tâm đến những vấn đề của nhân
sinh, nằm bên ngoài nỗi ưu tư về Tây Tạng. Và khiêm cung
đề nghị ra giải pháp cho các vấn đề ấy.
PHẠM
QUYẾN
(Trích
báo xuân Việt Báo Tết Đinh Hợi 2007)