Xưa
kia, có một con voi chúa trắng sáu ngà đẹp đẽ lạ thường
đang đi trong rừng, bỗng bị một gã thợ săn bắn cung tên
trúng vào tim. Ngay lập tức, voi chúa biết rằng do hành động
sát hại đó, gã thợ săn sẽ bị đàn voi giết để trả
thù cho nó. Voi chúa bèn dang rộng sáu ngà ra để bảo vệ
gã thợ săn, rồi bảo voi cái rằng:
- Nàng
là vợ của Ta, chớ khởi tâm sân hận! Lý do duy nhất mà
hắn bắn Ta, là vì hắn bị phiền não gì đó.
Vừa
nói, voi chúa vừa quay sang, hỏi gã thợ săn:
- Tại
sao ông bắn tôi?
Gã
thợ săn tham lam trả lời:
- Vì
tôi muốn những cặp ngà trắng của Ngài.
Voi
chúa quay sang voi cái, rồi nói thêm:
- Bây
giờ, nàng có hiểu chăng! Hãy tha tội cho hắn!
Nói
xong, voi chúa tự bẻ các cặp ngà, rồi đưa cho gã thợ săn,
và bảo:
- Đã
có những cặp ngà của tôi rồi, ông được tự do rời khỏi
chỗ này!
Voi
chúa muốn dạy đàn voi hạnh từ bi khi bị kẻ khác hãm hại.
Voi chúa đâu phải ai xa lạ, chính là tiền thân của Phật
Thích Ca, khi Ngài còn hành hạnh Bồ Tát.
~oOo~
Thuở
nọ, có một con rùa chúa bò lên bãi biển phơi nắng rồi
ngủ trưa, nhưng vì thân thể cồng kềnh nặng nhọc nên giấc
ngủ trưa của nó kéo dài hàng tháng. Lại nữa, vì mu của
nó quá lớn giống như một ngọn đồi cao trồi lên giữa
bãi cát, nên sau khi nó thiêm thiếp mơ màng trong giấc ngủ,
một ông chủ lái buôn dẫn năm trăm khách lái buôn đến,
cất tiệm và nhà cửa trên đó, mà nào biết ngọn đồi chính
là mu rùa chúa. Lần hồi, những việc của các lái buôn đánh
thức rùa chúa, khiến nó rất khó chịu, nhất là sức nặng
của các căn nhà lớn và những nồi nước sôi lửa bỏng.
Rùa chúa muốn đứng dậy, bò xuống ngâm mình dưới làn sóng
biển để giảm cơn đau phỏng, nhưng lại không dám, vì biết
rằng nếu làm như thế, sẽ gây tổn hại và khiến các lái
buôn hoảng sợ, nên đành an nhẫn nằm yên. Cuối cùng, vì
không thể chịu đựng nổi nữa, rùa chúa bèn đứng dậy,
khiến các lái buôn trên mu rùa vô cùng sợ hãi, chạy tới
chạy lui, hoảng hốt hô hoán:
- Động
đất! Động đất! Động đất!
Rồi
rùa chúa lại bò từ từ xuống bãi biển, ngâm mình dưới
làn nước mát, để giảm cơn đau phỏng. Thấy nước biển
bao bọc xung quanh các lái buôn lại la hoảng:
- Lụt
đến nơi! Lụt đến nơi! Chúng ta chắc chết đuối!
Nghe
họ la hoảng như thế, rùa chúa xoay đầu lại, từ bi an ủi:
- Không
sao đâu! Chớ hoảng hốt! Tôi không hất quý vị xuống biển
đâu! Vì không biết, nên quý vị xây nhà trên lưng của tôi.
Để tôi đưa quý vị vào bờ an toàn.
Nói
xong, rùa chúa bò trở lên bờ, mang chiếc mu nặng nề đến
bãi cát khô để họ đi xuống. Vừa bước xuống bãi biển
an toàn, họ quỳ xuống và cầu nguyện chúc phúc cho rùa chúa
mau chóng thành Phật để cứu độ họ trong tương lai.
Đức
Phật kể lại câu chuyện này và nhắc lại rằng rùa chúa
xưa kia chính là Ngài khi còn hành hạnh Bồ Tát, còn ông chủ
lái buôn và năm trăm lái buôn khác chính là ngài Xá Lợi Phất
và năm trăm người đệ tử.
~oOo~
Không
riêng gì hai câu chuyện trên nói về lòng từ bi và hạnh nguyện
xả thân vì chúng sanh của đức Phật trong lúc Ngài còn hành
hạnh Bồ Tát, mà còn rất nhiều câu chuyện tiền thân của
Ngài nằm rải rác trong kinh điển Nam Tông lẫn Bắc Tông,
như quyển Tiền Thân Đức Phật (The Jataka Tales) chẳng hạn.
Vì vậy, đức Phật thường nói rằng xương tủy máu thịt
mà Ngài đã từng ban bố cho chúng sanh khi hành hạnh nội thí
(bố thí thân thể), ngoại thí (bố thí tài sản vật chất),
vô úy thí (cứu giúp chúng sanh hết những sự sợ hãi, hoảng
hốt), pháp thí (bố thí Phật pháp) nhiều như số cát bụi
trong cõi Ta Bà. Thật vậy, trải qua ba A Tăng Kỳ kiếp, dù
thị hiện thân trời, người, súc sanh, v.v…, Ngài luôn hành
hạnh bố thí cho tất cả chúng sanh hữu duyên, nên mới tích
tụ đầy đủ công đức lành, thành Phật trong đời nay. Thế
nên, vào dịp Phật đản, lúc làm lễ tắm Phật, chúng ta
cùng nhau cung kính đọc bài kệ tán thán báo thân trang nghiêm
của Ngài:
“Con
nay quán đảnh đức Như Lai
Trí
tịnh trang nghiêm, tụ công đức
Khiến
chúng sanh năm trược rời cấu uế
Đồng
chứng Như Lai, tịnh pháp thân”.
Nghĩa
là chúng ta hôm nay làm lễ tắm Phật, đấng có trí huệ thanh
tịnh tròn đầy, với báo thân trang nghiêm, đầy đủ tụ
công đức lành do đã từng tu tập và hành hạnh bố thí trong
suốt ba A Tăng Kỳ kiếp. Ngài muốn độ chúng sanh chúng ta
trong cõi đời năm uế trược như kiếp trược, kiến trược,
phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược, để mau
chóng xa rời các sự cấu uế, và tất cả đồng chứng pháp
thân thanh tịnh như Ngài, nên mới thị hiện xuống cõi Ta
Bà trong suốt 80 năm với 45 hoằng hóa, để lại gia tài Pháp
Bảo vô giá cho chúng sanh hữu duyên suốt hơn 2500 năm và mãi
mãi về sau.
Lúc
còn tại thế, bên trong tham thiền thể nghiệm pháp vị Thường,
Lạc, Ngã, Tịnh, bên ngoài, Ngài tích cực độ chúng sanh hữu
duyên thoát khỏi vòng phiền não trong từng giờ từng phút.
Buổi sáng sớm, sau khi nằm nghỉ khoảng một tiếng và dùng
thiên nhãn quán sát xem coi có chư thiên hay người nào đáng
được độ, Ngài sẽ tự đi hay dùng thần thông để đến
gặp họ. Kế tiếp, khi trời vừa hừng sáng, Ngài mang y bát
đi một mình hay với chư tăng chu du hóa duyên khắp tất cả
tầng lớp trong xã hội, tĩnh mặc khất thực suốt mọi nẻo
đường cho đến trưa mới dùng ngọ. Sau đó, Ngài thuyết
pháp, ban đề mục thiền quán, hay truyền giới cho các đệ
tử xuất gia và tại gia, rồi trở về tịnh thất nghỉ ngơi
đôi chút. Kế đến, Ngài nhập định Đại Bi, quán chiếu
xem coi những đệ tử xuất gia gần gũi mình có cần được
chỉ dạy điều gì, thì hoặc đi, hoặc dùng thần thông, đến
gặp họ để dẫn dắt. Buổi chiều, khi các thiện nam tín
nữ tới tịnh xá, Ngài tùy theo căn cơ và nhân duyên mà thuyết
pháp cho họ tỏ ngộ, nhập đạo, chứng thánh quả như Tu
Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm. Buổi tối, nếu các vị tỳ
kheo có thắc mắc điều gì, Ngài đều hoan hỷ chỉ dạy,
hay cho đề mục thiền quán, để đạt đạo giải thoát, chứng
quả thánh A La Hán. Đến đêm khuya, có các chư thiên ở những
cõi Dục giới, Sắc giới, Vô Sắc giới bay xuống cầu Ngài
chỉ dạy. Cứ như thế, trong suốt 45 năm hoằng hóa, mỗi
ngày từ sáng đến tối, Ngài luôn tích cực cứu độ chúng
sanh hữu duyên. Thật vậy, tuy đã thành Phật, trong suốt 45
năm, dù việc lớn hay nhỏ, dù việc quan trọng hay thứ yếu,
dù gặp kẻ sang người hèn, trai hay gái, già hay bé, dù thuyết
pháp hay dạy thiền cho tăng ni, dù cố vấn hay khuyên giải
các quốc vương quần thần trong việc dùng chánh pháp trị
quốc an dân, dù may giúp một vị tăng mù lòa hay săn sóc những
vị tăng bịnh tật, Ngài đều không nệ hà gian nan khổ cực,
mà luôn rãi lòng đại từ bi, mang ánh sáng trí huệ giải
thoát đến muôn loài, như ánh mặt trời chiếu sáng thế gian
rực rỡ, như ánh trăng rằm tỏa sáng mát rượi trong đêm
tối, như cơn mưa trưởng dưỡng thấm nhuần cỏ cây. Đó
là lý do tại sao công đức của Ngài rộng sâu không thể
nghĩ bàn. Là Phật tử, để cúng dường đền đáp công ơn
của Phật trong muôn một, chúng ta phải ngày đêm ghi nhớ
và cố gắng hành theo những công hạnh lành đó, để mau thành
Phật như Ngài.
Thật
vậy, quả vị Phật không xa vời, nếu mỗi chúng ta cố gắng
tu tập theo lời Phật dạy, và nhất là noi theo gương sáng
của Ngài hành hạnh Bồ Tát, xả thân và phụng sự chúng
sanh để thành tựu cũng như tích tụ công đức trí huệ tròn
đầy. Gần nhất là trong cuộc sống hằng ngày, ở gia đình,
nếu chúng ta biết thương yêu đùm bọc lo lắng cho cha mẹ,
vợ chồng, con cái, anh chị em, bà con, quyến thuộc, cũng như
ở bên ngoài đối đãi từ bi hỷ xả với tất cả những
người hữu duyên, thì đó là chúng ta đi tập tễnh theo những
dấu chân của chư vị Bồ Tát. Ví dụ, khi nghe lời trách
móc nặng nhẹ của chồng hoặc vợ thì phải kiên nhẫn tìm
xem nguyên nhân nào khiến họ có những sự phiền não đó,
rồi cố gắng cùng họ giải quyết. Có thể, những tâm tư
phiền não của họ phát xuất từ sự căng thẳng trong sở
làm, chưa được tăng lương, giám đốc trách móc, hoặc buồn
bực vì con cái bạn bè, v.v…
Hiểu
và cảm thông được những điều này, giúp chúng ta dễ dàng
hành hạnh Bồ Tát với họ, gần gũi an ủi khuyên lơn, xan
xẻ khổ vui, cho dù họ vẫn còn cau có, lớn tiếng, để từ
từ họ giảm bớt những cơn phiền muộn. Nếu có con cái
bướng bỉnh, làm biếng, chỉ lo rong chơi, đương nhiên cha
mẹ nào cũng xót xa buồn rầu. Tuy nhiên, phải kiên trì dạy
dỗ nhắc nhở chúng về mục đích và tương lai của việc
học hành, cũng như thường xuyên liên lạc hay đến trường
hỏi thăm thầy cô giáo về sự học hành của chúng, thì may
ra chúng sẽ cố gắng hơn, vì biết rằng cha mẹ luôn theo
dõi sự học hành. Đó là sự hy sinh của bậc làm cha mẹ,
đang hành hạnh Bồ Tát đối với con cái. Mỗi khi nghe tin
bà con quyến thuộc ở Việt Nam đang lâm cảnh nghèo đói khốn
cùng mà chúng ta chịu nhín chút đỉnh tiền tài vật chất
để gởi giúp họ, thì đó cũng là hạnh bố thí của Bồ
Tát. Ngoài ra, nghe thấy bất cứ một ai đang chịu cảnh màn
trời chiếu đất mà chúng ta phát tâm giúp đỡ về mặt vật
chất cũng như tinh tinh thần thì đó là cách hành hạnh Bồ
Tát trong cuộc sống hằng ngày.
- Một
câu chuyện thật về một bà cụ hành hạnh Bồ Tát ở Việt
Nam như sau. Hai tiếng “Má Năm” được mọi người xung quanh
trìu mến dành tặng cho bà Quách Vạn Niên, ngụ tại 222 Bình
Tiên, phường 4, quận 6. Tuy đã 72 tuổi, trông má vẫn còn
khỏe lắm. Hỏi má bí quyết, má cười nói: “Má khỏe là
do lúc nào cũng vui vì làm được nhiều việc có ích cho bà
con nghèo”. Nghe bà con kể, má thường xuyên mua quần áo,
lương thực, thực phẩm cho Nhà Tình Thương quận 6, Mái Ấm
Bình Minh phường 4, quận 4, Viện Dưỡng Lão quận 8… Mới
đây, má còn trao tặng hơn 100 chiếc xe đạp cho các học sinh
nghèo ở nhiều trường như trường PTTH Mạc Đĩnh Chi, Trường
cấp 2 Phú Định (quận 6), Trường Lê Lai (quận 8)… công
việc hằng ngày của má là lo mua gạo, mì gói, nước mắm…
để đem cho những người nghèo, đặc biệt là cho các chùa
xung quanh.
- 10
giờ, 30 phút ngày 8-10-2003, tại ấp Chợ, xã Định An, huyện
Trà Cú (Trà Vinh), anh Phạm Văn Nghĩa, quê ở xã Yên Tiến,
huyện Ý Yên (Nam Định) là công nhân công trình bến cá Định
An, vận chuyển vật tư từ bờ ra cột mốc để thi công.
Do sóng lớn thuyền nhỏ làm hai anh công nhân cùng đi trên
thuyền của anh Nghĩa té xuống sông. Không quản nguy hiểm,
anh Nghĩa nhảy xuống cứu được hai người bạn, nhưng do
nước chảy mạnh, làm anh Nghĩa kiệt sức chết đuối.
- Chris
A. Cole cứu Michael G. Bradley thoát khỏi tai nạn nổ xăng ở
Bradford, tiểu bang Pennsylvania vào ngày 12, tháng 3 năm 2003. Khi
ông Bradley, 36 tuổi, tài xế lái xe hàng chở 7,000 ga-lông xăng
định quẹo phải thì chiếc xe bị lật, đè lên bờ chắn
bảo vệ, khiến xăng đổ tràn lan rất nhiều, trong khi máy
xe vẫn còn chạy. Ông Bradley lập tức lườn mình qua cửa
sổ của buồng máy, nhưng không nổi vì bị trọng thương.
Vừa lái xe ngang qua chứng kiến cảnh lật xe, một ông lao
công, Cole 29 tuổi, vội dừng xe lại bên lề đường, chạy
băng qua vũng xăng lênh láng, kéo ông Bradley ra khỏi cửa sổ
buồng lái. Sai khi ông Cole dìu ông Bradley ra khỏi xe thì máy
xe cũng vừa tự động tắt, nhưng mình mẫy của cả hai đều
đẫm ướt xăng dầu. Sau đó, ông Bradley nằm nhà thương một
tuần để chữa vết thương bàn tọa, còn ông Cole được
chữa vết phỏng hóa học độ một ở ngoài da bàn chân và
chẳng bao lâu các vết phỏng được lành lặn. Ông Cole sau
này được hội Carnegie Hero Fund Commission thưởng 3,500 đô
la.
- Một
tên cướp cầm dao lẻn vào nhà bếp của tiệm bánh mì ở
vùng Hamilton, Ontario xứ Canada, và yêu cầu ông chủ tiệm,
48 tuổi, phải đưa tiền. Ronald Joseph Crawford, bạn của ông
chủ tiệm và cũng là người mua hành thường xuyên, lúc đó
đang ở đằng sau phòng nhà bếp, nghe tiếng la hét của ông
chủ tiệm, vội bước vào nhà bếp, can ngăn tên cướp, nhưng
lại bị hắn đâm vào ngực rồi bỏ chạy. Ông Crawford ngã
quỵ xuống đất và được nhân viên cứu cấp đưa vào nhà
thương, nhưng qua đời vì tim bị thương nặng.
Bà
“Má Năm”, tìm niềm vui trong việc giúp đỡ dân nghèo. Anh
Nghĩa hy sinh thân mình vì muốn cứu người. Ông Cole không
sợ xe xăng cháy nổ mà quên mình lao vào cứu tài xế Bradley.
Ông Crawford hy sinh thân mạng vì cứu ông chủ tiệm bánh mì.
Và còn rất nhiều những vị Bồ Tát Giữa Đời Thường ở
bất cứ nơi nào, vào bất cứ lúc nào trên thế gian, chứ
chẳng riêng gì Phật tử chúng ta, cũng đều sẵn sang hy sinh
tánh mạng cá nhân cho người khác, vì đó là phương thức
tích tụ công đức lành để thành Phật trong mai sau.
Tóm
lại, mỗi khi chiêm ngưỡng hay làm lễ quán đảnh tượng
Phật Đản Sanh, chúng ta hãy cố gắng tu tập theo lời Phật
dạy và noi gương xả thân vì chúng sanh của Ngài cũng như
các vị “Bồ Tát Giữa Đời Thường”, để tích tụ các
công đức lành, thành tựu quả vị Phật trong tương lai.
Thích
Hằng Đạt
(vanphatdanh.com)
04-23-2006
10:23:12