B.
TẬP HAI
KINH
ÐẠI THỪA
TRANG
NGHIÊM BẢO VƯƠNG
1.Kinh
Ðại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương, quyển 1
2.Kinh
Ðại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương , quyển 2
3.Kinh
Ðại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương, quyển 3
4.Kinh
Ðại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương, quyển 4
5
Kinh Thất Câu Chi Phật Mẫu Tâm Ðại Chuẩn Ðề Ðà La Ni
6
Thất Câu Chi Phật Mẫu Tâm Ðại Chuẩn Ðề Ðà La Ni Pháp
7
Thất Câu Chi Ðộc Bộ pháp
8
Chuẩn Ðề Biệt pháp
9
Kinh Thánh Lục Tự Tăng Thọ Ðại Minh Ðà La Ni
NAM
MÔ ÐẠI THỪA TRANG NGHIÊM
BẢO
VƯƠNG KINH HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT MA HA TÁT
(3
lần)
PHẬT
NÓI KINH
ÐẠI
THỪA TRANG NGHIÊM BẢO VƯƠNG
QUYỂN
BỐN
Lúc
bấy giờ Trừ Cái Chướng Bồ Tát bạch Phật rằng: Thưa
Thế Tôn! Con nay làm thế nào được sáu chữ Ðại Minh Ðà
Ra Ni? Nếu được thì vô lượng thiền định tương ưng không
thể nghĩ bàn. Tức đồng được Vô thượng Bồ đề Chánh
đẳng chánh giác, vào môn giải thoát, thấy được địa vị
Niết Bàn, tham sân vĩnh diệt, pháp tạng viên mãn, phá hoại
luân hồi của ngũ thú và tịnh các địa ngục, đoạn trừ
phiền não, cứu độ các loài bàng sanh, pháp vị viên mãn
của tất cả trí, dùng trí ấy diễn nói vô tận. Thưa Thế
Tôn! Con cần sáu chữ Ðại Minh Ðà Ra Ni ấy. Con sẽ làm thế
này, lấy của thất bảo đầy trong bốn đại châu làm việc
bố thí để chép viết. Bạch Thế Tôn! Nếu thiếu giấy bút,
con sẽ chích thân lấy máu làm mực, lột da làm giấy, chẻ
xương làm bút. Thật như vậy! Thưa Thế Tôn! Con không có
hối tiếc, mà tôn trọng như bậc đại cha mẹ.
Lúc
bấy giờ Phật dạy Ngài Trừ Cái Chướng Bồ Tát: Thiện
nam tử! Ta nhớ thời quá khứ, vì sáu chữ Ðại Minh Ðà Ra
Ni này mà đã trải qua khắp vô số thế giới như vi trần.
Ta cúng dường vô số trăm ngàn vạn Câu chi an khố đa của
đức Như Lai, ta ở chỗ của đức Như Lai ấy, mà cũng không
được nghe. Thời kỳ đó có Ðức Phật gọi là Bảo Thượng
Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ,
Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên
Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Ta ở trước Ðức Phật đó mà rơi
lệ buồn khóc. Khi bấy giờ đức Như Lai Ứng Chánh Ðẳng
Giác kia dạy Ta rằng: Thiện nam tử! Ông chớ nên buồn khóc!
Thiện nam tử! Ông hãy qua bên kia, sẽ thấy đức Liên Hoa
Thượng Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác, tại nơi ấy Phật kia
biết sáu chữ Ðại Minh Ðà Ra Ni.
Thiện
nam tử! Ta từ từ rời chỗ đức Bảo Thượng Như Lai, qua
đến cõi Phật sát của Liên Hoa Như Lai, đến rồi đảnh
lễ chân Phật mà chấp tay đứng trước: Cúi mong đức Thế
Tôn! Cho con sáu chữ Ðại Minh Ðà Ra Ni, Chơn ngôn Vương kia
là bổn mẫu của tất cả, nhớ niệm tên ấy thì tội cấu
tiêu trừ, mau chứng Bồ đề. Vì cớ ấy mà con rất mong muốn,
con đã chịu khổ nhọc trải qua vô số thế giới mà cũng
không được nên nay con mới trở lại đây.
Khi
ấy Ngài Liên Hoa Thượng Như Lai liền nói công đức sáu chữ
Ðại Minh Ðà Ra Ni rằng: Thiện nam tử! Vi trần đã có ta
có thể đếm được số lượng. Thiện nam tử! Lại như số
cát trong biển lớn, ta có thể đếm từng hạt một. Thiện
nam tử! Nếu niệm sáu chữ Ðại Minh một biến thì công đức
ấy ta không thể đếm được. Thiện nam tử! Lại như trời
người tạo lập kho lẫm, chu vi một ngàn du thiện na, cao một
trăm thiện na chứa hạt mè đầy trong kho mà không kẽ
hỡ dẫu bằng một mũi kim, người giữ kho không già không
chết, trải qua năm trăm kiếp, ném bỏ ra ngoài từng hạt
mè một, như vậy trong kho ném hết không sót, ta có thể đếm
số lượng kia. Thiện nam tử! Nếu niệm sáu chữ Ðại Minh
một biến thì được công đức, ta không thể đếm được.
Thiện nam tử! Lại như bốn đại châu gieo trồng hết thảy
các loại lúa nếp, Long vương mưa nắng thuận thời, lúa nếp
đã trồng hết thảy chín vàng, thu cắt đều xong. Lấy Nam
Thiệm bộ châu mà làm sân chứa, dùng xe vận tải chở hết
các lúa về sân, đập để xong xuôi, dồn thành đống lớn.
Thiện nam tử! Ta có thể đếm số lúa ấy từng hạt một
như vậy. Thiện nam tử! Nếu niệm sáu chữ Ðại Minh này
một biến, công đức ấy ta không thể đếm được. Thiện
nam tử! Cõi Nam Thiệm Bộ Châu có những con sông lớn
ngày đêm chảy mãi gọi là sông Di Ða, sông Kinh Nga, sông Nại
Ra, sông Tán Nại Ra, sông Bà Nghiệt, sông Ái Ra Phạ Ðể,
sông Tô Ma Na Ðà, sông Hế Ma, sông Ca Lã Thú na Lị. Mỗi một
con sông lớn này có năm ngàn con sông nhỏ làm chi nhánh, ngày
đêm chảy vào biển lớn.
Thiện
nam tử! Như vậy mỗi con sông lớn kia ta có thể đếm số
mỗi một giọt nước kia. Thiện nam tử! Nếu niệm sáu chữ
Ðại Minh một biến được công đức ta không thể đếm số
lượng. Thiện nam tử! Lại như loài hữu tình bốn chân trong
bốn đại châu như sư tử, voi, ngựa, trâu đồng, trâu nước,
cọp, beo, nai, vượn, chồn, heo, dê, thỏ; những loài bốn
chân như vậy ta có thể đếm số lượng từng sợi lông một.
Thiện nam tử! Nếu niệm sáu chữ Ðại Minh này một biến
thì được công đức ấy ta không thể đếm số lượng được.
Thiện nam tử! Lại như núi Kim Cang Câu Sơn Vương kia, vuông
mỗi bên tám vạn bốn ngàn du thiện na, nơi núi ấy có người
không già không chết, trải qua một kiếp nhiễu quanh núi chỉ
được một vòng. Núi Vương như vậy ta lấy y Kiều Thi Ca
có thể trải hết không sót. Nếu có người niệm sáu chữ
Ðại Minh này được công đức ta không thể nói hết số
lượng. Thiện nam tử! Lại như biển lớn sâu đến tám vạn
bốn ngàn du thiện na, lỗ miệng rộng lớn vô lượng, ta có
thể lấy một sợi lông nhét vừa hết không dư. Thiện nam
tử! Nếu có người niệm một biến sáu chữ Ðại Minh này
được công đức mà ta không thể nói hết số lượng. Thiện
nam tử! Lại như rừng cây Thi Lợi Sa, ta có thể đếm hết
mỗi một lá. Thiện nam tử! Nếu niệm một biến sáu chữ
Ðại Minh được công đức không thể nghĩ lường. Thiện
nam tử! Lại như bốn đại bộ châu những kẻ nam người
nữ, con trai con gái ở đầy khắp trong đó, những người
này đều chứng Thất Ðịa Bồ Tát, chúng Bồ Tát ấy đã
có công đức cùng với công đức người niệm sáu chữ Ðại
Minh này không khác. Thiện nam tử! Trừ một năm mười hai
tháng ra còn gặp năm nhuần mười hai tháng, lấy tháng dư
nhuần ấy làm số năm đủ mãn một kiếp trên cõi trời,
ở đó ngày đêm thường mưa lớn.
Thiện
nam tử! Ta có thể đếm số mỗi một hạt mưa kia được.
Nếu có người niệm sáu chữ Ðại Minh này một biến, công
đức số lượng rất nhiều. Nơi ý ông nghĩ sao? Thiện nam
tử! Lại như vô số một trăm ức đức Như Lai ở tại một
chỗ trải qua một kiếp của cõi trời, lấy các thức ăn
uống, y phục, ngọa cụ và thuốc thang đồ cần dùng, các
thứ ấy đem cúng dường cho các đức Như Lai mà cũng không
thể đếm hết số lượng công đức của sáu chữ Ðại Minh.
Chẳng những ta ngày nay ở thế giới này mà ta từ trong định
ra cũng không thể nghĩ bàn.
Thiện
nam tử! Pháp gia hạnh vi diệu tương ưng của tất cả quán
trí này, người đời sau sẽ được tâm pháp vi diệu ấy.
Ngài Quán Tự Tại đại Bồ Tát, khéo an trụ sáu chữ Ðại
Minh Ðà Ra Ni như thế.
Thiện
nam tử! Ta lấy phước gia hạnh trải qua vô số trăm ngàn
vạn Câu chi na khố đa thế giới, đến chỗ đức Như Lai
Vô Lượng Thọ chấp tay ở trước, vì pháp ấy mà rơi lệ
buồn khóc. Bấy giờ đức Vô Lượng Thọ Như Lai thấy ta
tại đó và vì đời sau mà bảo ta rằng: Thiện nam tử! Ông
cần sáu chữ Ðại Minh Vương quán hạnh Du Già đấy ư?
Bấy giờ ta bạch: Con cần pháp ấy Thế Tôn! Con cần pháp
Thiện Thệ ấy, như người quá khát nước mà cần nước.
Bạch Thế Tôn! Con vì sáu chữ Ðại Minh Ðà Ra Ni ấy mà du
hành vô số thế giới, vâng thờ cúng dường vô số trăm
ngàn vạn Câu chi na khố đa Như Lai mà chưa từng được sáu
chữ Ðại Minh vương Ðà Ra Ni, xin mong đức Thế Tôn
cứu cái ngu độn cho con; như không đầy đủ khiến con được
đầy đủ; mê mất đường về, dắt dẫn cho con thấy đường
trở về; nắng trời gay gắt, làm bóng che mát; nơi ngã tư
đường trồng cây Ta La. Tâm con
khao
khát mong cầu pháp ấy, cúi xin chỉ dạy, kiến được thiện
trụ nơi đạo cứu cánh, mặc được áp giáp đội mũ
Kim Cang. Bấy giờ đức Vô Lượng Thọ Như Lai Ứng Chánh
Ðẳng Giác dùng diệu âm Ca Lăng tần già bảo Ngài Quán Tự
Tại đại Bồ Tát: Thiện nam tử! Ông thấy đức Liên Hoa
Thượng Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác, vì sáu chữ Ðại
Minh Ðà Ra Ni này mà Ngài phải trải qua vô số trăm ngàn vạn
Câu chi na khố đa thế giới.
Thiện
nam tử! Ông nên cho sáu chữ Ðại Minh. Ðức Như Lai này vì
vậy cho nên đến đây. Quán Tự Tại Bồ Tát bạch đức Thế
Tôn: Không thấy được Mạn Noa La (Ðàn Pháp) thì không
thể đắc được pháp này. Làm thế nào biết là Liên Hoa
ấn? Làm thế nào biết là Trì Ma Ni ấn? Làm thế nào biết
được Nhất Thiết Vương ấn? Làm thế nào biết là Thể
thanh tịnh Mạn Noa La?
Nay
tướng Mạn Noa La đây: Chu vi bốn phía vuông, mỗi bề vuông
năm thước, trung tâm Ðàn Pháp (Mạn Noa La) đặt tượng Phật
Vô Lượng Thọ (Phật A Di Ðà). Nên dùng năm thứ bột quý
phân rải trong đàn như: Nhơn nại ra nhĩ la bảo mạc, Bát
nạp ma ra nga bảo mạc, Ma ra kiết đa bảo mạc, Pha để ca
bảo mạc, Tô phạ ra noa lỗ bá bảo mạc. Nơi bên hữu đức
Vô Lượng Thọ Như Lai để trì Ðại Ma Ni Bảo Bồ Tát; nơi
bên tả Phật để sáu chữ Ðại Minh. Bốn tay thì thân sắc
trắng đẹp như ánh trăng thu, trang nghiêm các thứ báu. Tay
trái cầm hoa sen, nơi trên hoa sen để Ma Ni Bảo. Tay mặt cầm
xâu chuỗi, hai tay dưới kiết Nhứt Thiết Vương ấn.
Nơi dưới chân sáu chữ Ðại Minh để trời người và các
thứ trang nghiêm; tay bên hữu cầm Lư hương, tay bên tả bưng
bát đầy các thứ báu. Nơi bốn góc Man Noa La bày bốn vị
Ðại Thiên Vương nắm cầm các thứ khí trượng. Bên ngoài
bốn góc Mạn Noa La để bốn hiền bình đầy các thứ Ma Ni
báu. Nếu người thiện nam và thiện nữ muốn vào Ðàn Pháp
(Mạn Noa La), không thể để cho những quyến thuộc của mình
vào trong Ðàn Pháp, chỉ nên viết tên của họ, kẻ trước
vào Ðàn Pháp ấy, hãy ném tên họ của quyến thuộc mình
vào nơi trong Mạn Noa La, các quyến thuộc ấy đều được
Bồ Tát vị. Người ở trong đó xa lìa các khổ não, mau chứng
đắc Vô thượng Bồ đề Chánh đẳng chánh giác.
Pháp
Mạn Noa La này vị A Xà Lê không được vọng truyền. Nếu
có phương tiện thiện xảo, thâm tín Ðại Thừa, gia công
hành trì, chí cầu giải thoát, người như vậy thì nên truyền
không nên truyền ngoại đạo dị kiến (các đạo khác). Bấy
giờ Ngài Vô Lượng Thọ Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác
bảo Ngài Quán Tự Tại đại Bồ Tát rằng: Thiện nam tử!
Nếu có năm món sắc bảo mạc như vậy mới được kiến
lập Mạn Na Loa. Nếu thiện nam tử và thiện nữ nghèo cùng
thiếu thốn không thể sắm đủ các thứ quý báu ấy thì
làm thế nào? Ngài Quán Tự Tại bạch rằng: Thưa Thế Tôn!
Nên phương tiện dùng các thứ đẹp đẽ mà làm Ðàn Pháp,
lấy các thứ hương hoa để cúng dường. Nếu người thiện
nam ấy cũng không sắm sửa được gì vì: hoặc ở nhờ nơi
quán chợ miễu đình, hoặc có lúc giữa đường thì bây giờ
vị A Xà Lê vận ý tưởng thành Mạn Noa La kết A Xà Lê ấn
tướng.
Khi
bấy giờ đức Liên Hoa Thượng Như Lai Ứng Chánh Ðẳng
Giác bảo Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát rằng: Thiện nam tử!
Hãy nói sáu chữ Ðại Minh Ðà Ra Ni này cho ta, ta vì vô số
trăm ngàn Câu chi na khố đa hữu tình, khiến họ được xa
lìa luân hồi khổ não, mau chứng Vô thượng Bồ đề Chánh
đẳng chánh giác.
Bấy
giờ Ngài Quán Tự Tại đại Bồ Tát nói sáu chữ Ðại Minh
cho Liên Hoa Thượng Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác rằng:
“ÚM
MA NI BÁT NẠP MINH HỒNG”
Khi
đang nói sáu chữ Ðại Minh Ðà Ra Ni này, bốn đại bộ châu
và các cung trời thảy đều chấn động rung lay như tàu lá
chuối. Nước bốn biển lớn sóng nổi cuồn cuộn. Tất cả
quỷ Tỳ Na Dạ Ca và Dược Xoa, La Sát, Củng Bàn Noa, Ma Hạ
Ca … và các quyến thuộc của các ma làm chướng ngại ấy
thảy đều sợ hãi chạy trốn.
Lúc
bấy giờ Ngài Liên Hoa Thượng Như Lai Ứng Chánh Ðẳng
Giác duỗi tay như mũi tượng vương trao cho Quán Tự Tại đại
Bồ Tát chuỗi chơn châu anh lạc giá trị trăm ngàn để dùng
cúng dường. Ngài Quán Tự Tại đại Bồ Tát đã thọ nhận
rồi đem dâng lên đức Vô Lượng Thọ Như Lai Ứng Chánh
Ðẳng Giác. Phật kia Ngài thọ nhận rồi trở lại đem dâng
lên đức Liên Hoa Thượng Như Lai mà khi ấy Ðức Phật Liên
Hoa Thượng Như Lai đã thọ được sáu chữ Ðại Minh Ðà
Ra Ni, rồi Ngài đã trở về trong Liên Hoa Thượng thế giới.
Thiện nam tử! Khi xưa ta qua ở chỗ Liên Hoa Thượng Như
Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác kia đã được nghe Ðà Ra Ni như thế.
Bấy
giờ Ngài Trừ Cái Chướng Bồ Tát bạch Phật: Thưa Thế Tôn!
Khiến con làm thế nào được sáu chữ Ðại Minh ấy. Bạch
Thế Tôn! Cam lồ đức vị tương ưng đầy đủ như thế.
Bạch Thế Tôn! Con nếu nghe được Ðà Ra Ni ấy thì lòng không
biếng trễ, tâm niệm suy nghĩ mà thường thọ trì, khiến
các hữu tình nghe được sáu chữ Ðại Minh Ðà Ra Ni được
công đức rất lớn, mong Ngài vì đó mà nói lên.
Phật
dạy: Thiện nam tử! Nếu có người biên chép sáu chữ Ðại
Minh Ðà Ra Ni này thời đồng với chép tám vạn bốn ngàn
Pháp Tạng. Nếu có người lấy vàng báu cõi trời, tạo hình
tượng Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác, số như vi trần,
làm như vậy rồi nơi một ngày khánh lễ tán dương cúng dường,
chỗ thu hoạch quả báo không bằng đã được quả báo công
đức biên chép một chữ trong sáu chữ Ðại Minh Ðà Ra Ni
ấy, đã khéo an trụ nơi đạo giải thoát không thể nghĩ
bàn. Nếu thiện nam tử và thiện nữ, y pháp niệm sáu chữ
Ðại Minh Ðà Ra Ni này thì người đó sẽ đắc tam ma địa
(được đại chánh định) gọi là: Trì ma ni bảo tam ma địa,
Quảng bát tam ma địa, Thanh tịnh địa ngục bàng sanh tam ma
địa, Kim Cang giáp trụ tam ma địa, Diệu túc bình mãn tam
ma địa, Nhập chư phương tiện tam ma địa, Nhập chư pháp
tam ma địa, Quán trang nghiêm tam ma địa, Pháp xa thinh tam ma
địa, Viễn ly tham sân si tam ma địa, Vô biên tế tam ma địa,
Lục ba la Mật môn tam ma địa, Trì đại diệu cao tam ma địa,
Cứu chư bố úy tam ma địa, Hiện chư Phật sát tam ma địa,
Quán sát chư Phật tam ma địa, được một trăm lẻ tám món
tam ma địa như vậy.
Bấy
giờ Trừ Cái Chướng Bồ Tát bạch Phật: Thưa Thế Tôn! Con
nay đến nơi nào để đắc sáu chữ Ðại Minh Ðà Ra Ni. Mong
Ngài vì con chỉ dạy.
Phật
dạy: Thiện nam tử! Ở thành lớn Ba La Nại có một vị Pháp
sư, thường phát tâm khóa tụng thọ trì sáu chữ Ðại Minh
Ðà Ra Ni. Bạch Thế Tôn! Con nay muốn qua thành lớn Ba La Nại,
thấy Pháp sư đó đặng lễ bái cúng dường. Phật dạy: Lành
thay! Lành thay! Thiện nam tử! Pháp sư kia rất khó được gặp
gỡ, người hay thọ trì sáu chữ Ðại Minh Ðà Ra Ni. Thấy
được Pháp sư đó cũng như thấy đức Như Lai, như thấy
công đức Thánh Ðịa, như thấy phước đức chứa tụ, như
thấy trân bảo, như thấy ban cho châu ma ni như ý, như thấy
Pháp Tạng, như thấy cứu đời.
Thiện
nam tử! Ông nếu thấy vị Pháp sư đó không được sanh lòng
khinh mạn nghi ngờ. Thiện nam tử! Sợ ông thoát thất địa
vị Bồ Tát ngược lại sẽ chịu trầm luân, vì vị Pháp
sư kia giới hạnh khuyết phạm, lại có vợ con, đại tiểu
tiện dính dơ Ca sa, không có oai nghi.
Khi
bấy giờ Trừ Cái Chướng bạch đức Thế Tôn rằng: Thưa
Thế Tôn! Như lời Phật ban dạy: Chúng con Trừ Cái Chướng
Bồ Tát và vô số chúng xuất gia Bồ Tát, Trưởng giả, Ðồng
tử, Ðồng nữ, ủng hộ tùy tùng muốn hưng khởi đại lễ
cúng dường mạnh mẽ, nắm cầm Thiên bào cái cõi trời và
các thứ mão báu, vòng ngọc đeo tai anh lạc trang nghiêm, vòng
quý đeo tay, những y phục Kiều Thi Ca, các thứ ngọa cụ bằng
nhung gấm, còn có các thứ
hoa
như: Hoa Ưu bát la, hoa Cự mẫu na, hoa Bôn na lý ca, hoa Mạn
na la, hoa Ma ha mạn na la, hoa Mạn thù sa, hoa Ma ha mạn thù sa,
hoa Ưu mạn bát la rất thơm diệu.
Còn
có các loại cây hoa khác như: cây Chiêm ba ca, cây Ca la vĩ
la, cây Ba tra la, cây A để mục ngật đa ca, cây Phạ lật
sử ca thiết, cây Quân đa, cây Tô ma na, cây Ma lý ca.
Còn
có các loại chim: chim Uyên ương, chim Bạch hạc, chim Xá lợi,
từng bầy theo; còn có các thứ lá đủ màu năm sắc trăm
loại: vàng, xanh, đỏ, trắng, hồng, sắc pha lê ca; có các
cây quý báu thơm ngọt.
Ðem
hết thảy các thứ cúng dường như thế, qua đến thành lớn
Ba La Nại, đến chỗ Pháp sư ở, đến rồi cúi đầu đảnh
lễ sát chân Ngài. Tuy thấy pháp sư giới hạnh khuyết phạm
không có oai nghi, vẫn đem đầy đủ lọng tàn, ngoạ cụ,
y phục và các phẩm vật hương hoa trang nghiêm mà làm đại
lễ cúng dường pháp sư rồi chấp tay ở trước vị pháp
sư đó mà thưa rằng: Ðây là Ðại Pháp Tạng, là Cam lồ
vị tạng, là Bể pháp thâm sâu vi diệu, cũng như hư không.
Tất cả người, trời, rồng, dược xoa, Ngạn đạt phạ,
A tô la, Nga Lỗ Noa, Ma hộ la nga, người và chẳng phải người,
hết thảy khi nghe ông nói pháp tất cả đều nhóm hội nơi
đó. Nghe ông noí pháp như đại Kim Cang, khiến các hữu tình
giải thoát quả báo ràng buộc luân hồi; những hữu tình
ấy đều được phước đức. Người ở trong thành lớn Ba
La Nại này thường thấy ông cho nên các tội thảy đều tiêu
diệt, cũng như lửa đốt rừng khô. Ðức Như Lai Ứng
Chánh Ðẳng Giác biết rõ nơi ông. Nay có trăm ngàn vạn vô
số Câu chi na khố đa Bồ Tát, qua đến nơi ông đồng xin
thiết lễ đại hưng cúng dường phụng sự. Trời Ðại Phạm
Thiên vương, trời Na La Diên, trời Ðại Tự Tại, trời Nhật
Thiên, trời Nguyệt Thiên, trời Phong Thiên, trời Phong Thiên,
trơì Thủy Thiên, trời Hỏa Thiên, Diêm Ma Pháp Vương, và
Tứ Ðại Thiên Vương cũng đều đến cúng dường.
Bấy
giờ pháp sư nói rằng: Thiện nam tử! Ông lại đùa giỡn
đó ư? Hay là thật có tam mong cầu? Hay là kẻ Thánh
vì nơi thế gian đoạn trừ phiền não luân hồi ấy ư?
Thiện
nam tử! Nếu có được sáu chữ Ðại Minh Vương Ðà Ra Ni
này thì người đó không thể bị ba độc tham sân si làm nhiễu
ô, cũng như vàng báu tử ma không bị bụi dơ làm bẩn. Thật
như vậy, thiện nam tử! Sáu chữ Ðại Minh vương Ðà Ra Ni
này nếu có người đeo, trì tại trong thân, người đó cũng
không bị nhiễm trước bịnh tham sân si.
Lúc
bấy giờ Trừ Cái Chướng Bồ Tát nắm chân pháp sư mà bạch
rằng: Mắt chưa đủ sáng, mê mất đạo mầu, ai là người
dẫn đường? Tôi nay khao khát Chánh pháp, nguyện cầu ban cho
pháp vị, nay tôi chưa được Chánh đẳng Bồ đề khiến được
an trụ pháp chủng Bồ đề, sắc thân thanh tịnh không hoại
các thiện, khiến các hữu tình đều chắc pháp ấy, những
người thưa hỏi lòng chớ lẫn tiếc, cúi mong pháp sư ban
pháp cho tôi “sáu chữ Ðại Minh Vương”, khiến chúng tôi
mau được Vô thượng Bồ đề Chánh đẳng chánh giác, thường
chuyển mười hai pháp luân, cứu độ tất cả hữu tình ra
khỏi luân hồi khổ não, pháp Ðại Minh Vương này xưa đã
chưa từng nghe. Nay khiến tôi được “sáu chữ Ðại Minh
Vương Ðà Ra Ni”, không cứu giúp, cũng chẳng nhờ nương
mà được làm nơi nương tựa, trong đêm tối tăm làm đèn
đuốc sáng.
Bấy
giờ pháp sư dạy rằng: Sáu chữ Ðại Minh vương Ðà Ra Ni
này khó được gặp, như Kim Cang kia không thể pháp hoại,
như thấy Vô Thượng Trí, như vô tận trí, như trí Như Lai
thanh tịnh, như vào Vô thượng giải thoát, xa lìa tham sân
si luân hồi khổ não, như thiền giải thoát tam ma địa và
tam ma bát để, như vào tất cả pháp mà nơi ấy thường được
Thánh chúng ưa mến. Nếu có thiện nam tử ở các nơi vì cầu
giải thoát mà phải tuân phụng các pháp ngoại đạo như kính
thờ Ðế Thích hoặc thờ bạch y, hoặc thờ thanh y, hoặc
thờ Nhật thiên, hoặc thờ Ðại Tự tại thiên, Na La Diên
thiên, Nghiệt lỗ noa, hoặc trong đám ngoại đạo lõa hình,
họ ưa mến những chỗ như vậy, những kẻ ấy không được
giải thoát hư vọng vô minh, có danh gọi tu hành, mà không
đắc đạo, luống uổng một cuộc đời lao nhọc. Tất cả
chúng trời: Trời Ðại phạm thiên vương, trời Ðế Thích
thiên chủ, trời Na La Diên, trời Ðại Tự tại, Nhật thiên,
Nguyệt thiên, Phong thiên, Thủy thiên, Hỏa Thiên, Diêm Ma Pháp
Vương, Tứ Ðại thiên vương mà ở đó thường khi muốn làm
sau cầu ta “sáu chữ Ðại Minh vương”. Những kẻ nào đắc
ta sáu chữ Ðại Minh Vương đều được giải thoát vậy.
Trừ
Cái Chướng! Tất cả Như Lai Mẫu Bát Nhã Ba la mật đa, tuyên
nói
sáu chữ Ðại Minh vương như thế. Tất cả Như Lai Ứng
Chánh Ðẳng Giác và các Bồ Tát, thảy đều cung kính chấp
tay mà lễ.
Thiện
nam tử! Ở trong pháp Ðại Thừa này, là tối thượng tinh
thuần vi diệu. Vì sao vậy? Bởi đối với các khế kinh Ðại
Thừa như Úng Tụng, Thọ Ký, Phúng Tụng, Thí Dụ, Bổn Sanh,
Phương Quảng, Hy Pháp, Luận Nghị trong đó mà đắc. Thiện
nam tử! Người được bổn mẫu đây thì được Niết Bàn
giải thoát, cần gì phải nhờ nhiều ư? Cũng như thân
ròng lúa nếp của nhà mình. Ðồ đựng đầy phải tràn ra,
trời nắng quá thì phải khô héo, giã sàng rê sảy thì bỏ
vỏ thóc, làm thế nào để thu lấy gạo tinh. Như vậy các
bộ DU GIÀ khác cũng như lúa còn vỏ, trong tất cả các bộ
Du Già. Sáu chữ “Lục Tự Ðại Minh vương” này như đã
bóc vỏ thấy gạo.
Thiện
nam tử! Bồ Tát được pháp đây, tu hạnh bố thí Ba la mật
đa và Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí tuệ
Ba la mật đa. Thiện nam tử! Sáu chữ Ðại Minh vương này
khó được gặp, chỉ niệm một biến thì người đó sẽ
được tất cả Như Lai, lấy y phục, đồ ăn uống, thuốc
thang, và tòa ngọa tất cả đồ cần dùng để cúng dường.
Bấy
giờ Trừ Cái Chướng bồ bạch pháp sư rằng: cho tôi
sáu chữ Ðại Minh Ðà Ra Ni. Bấy giờ Ngài pháp sư chánh niệm
suy nghĩ. Thoạt nhiên nơi hư không có tiếng rằng: Thánh giả
hãy ban cho sáu chữ Ðại Minh vương. Bấy giờ pháp sư kia
suy nghĩ: Là tiếng âý từ đâu pháp ra? Ở trong hư không lại
phát ra tiếng rằng: Thánh giả! Nay đây Bồ Tát gia hạnh chí
cầu nên được minh ứng, cho sáu chữ Ðại Minh vương vậy.
Bấy
giờ pháp sư Ngài quán thấy trong hư không Liên Hoa Thủ, Liên
Hoa Cát Tường, như ánh trăng thu, đầu đảnh búi tóc đội
mão báu, tất cả trí thù diệu trang nghiêm, thấy thân tướng
như vậy, pháp sư bảo Trừ Cái Chướng rằng: Thiện nam tử!
Ngài Quán Tự Tại đại Bồ Tát, khiến nên trao cho ông sáu
chữ Ðại Minh Vương Ðà Ra Ni, ông nên lắng nghe. Lúc ấy
Trừ Cái Chướng chấp tay nép thân cung kính nghe Lục Tự Ðại
Minh Vương Ðà Ra Ni rằng:
“ÚM
MA NI BÁT MINH HỒNG”.
Khi
trao cho Ngài Ðà Ra Ni ấy, cõi đất thảy đều có sáu lần
chấn động. Trừ Cái Chướng Bồ Tát khi ây đắc được
tam ma địa, lại được vi diệu huệ tam ma địa. Ðắc được
tam ma địa rồi, bấy giờ Trừ Cái Chướng đại Bồ Tát
lấy thất bảo đầy trong bốn đại bộ châu phụng hiến
cúng dường pháp sư. Khi ấy pháp sư dạy rằng: Nay sự cúng
dường chưa xứng đáng một chữ thì làm thế nào cúng dường
sáu chữ Ðại Minh? Không thọ nhận đồ ông cúng. Thiện nam
tử! Ông là Bồ Tát Thánh giả hay chẳng phải Thánh giả.
Ngài Trừ Cái Chướng lại lấy các chơn châu anh lạc giá
trị trăm ngàn cúng dường pháp sư. Lúc ấy pháp sư nói: Thiện
nam tử! Nên lắng nghe tôi nói, ông nên đem đồ cúng dường
này mà dâng lên Ðức Thích Ca Mâu Ni Như Lai Ứng Chánh
Ðẳng Giác. Khi ấy Trừ Cái Chướng Bồ Tát đầu mặt đảnh
lễ nơi chân pháp sư mà nói lên lòng mong cầu được đầy
đủ rồi cáo từ Ngài mà về. Trở về nơi vườn rừng cây
Kỳ Ðà, về đến nơi đảnh lễ sát chân Ðức Phật.
Bấy
giờ đức Thế Tôn, Thích Ca Mâu Ni Như Lai Ứng Chánh
Ðẳng Giác dạy rằng: Thiện nam tử! Tôi biết ông đã được
sở đắc. Ðúng như vậy thưa Thế Tôn!
Khi
bấy giờ tại nơi ấy có bảy mươi bảy trăm ức đức
Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác đều đến nhóm hội. Các đức
Như Lai kia đồng nói Ðại Chuẩn Ðề Ðà Ra Ni rằng: “Nẵng
Mồ Táp Bát Ða Nẫm, Tam Miệu Ngật Tam Một Ðà Câu Trí Nẫm,
Ðát Nễ Dã Tha: Úm - Tả Lệ Tổ Lệ Tôn Nễ Ta Phạ Hạ.”
Khi
bảy mươi bảy trăm ức Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác
nói Ðà Ra Ni này thì Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát nơi thân có
một lỗ chân lông gọi là Nhựt Quang Minh, trong ấy có vô
số trăm ngàn vạn Câu chi na khố đa Bồ Tát. Trong lông Nhựt
Quang Minh kia có một vạn hai ngàn núi vàng, mỗi một núi ấy
có một ngàn hai trăm chót cao, chung quanh núi ấy có hoa sen
báu trang nghiêm, chung quanh có vườn cây, có như ý ma ni báu
cõi trời, có các ao tắm cõi trời có vô số trăm ngàn vạn
lầu các trang nghiêm bằng vàng báu, trên treo trăm ngàn y phục,
chơn châu, anh lạc. Trong lầu các kia có châu báu như ý mầu
nhiệm, cung cấp cho các đại Bồ Tát, tất cả đồ cần dùng
đầu đủ. Bấy giờ các Bồ Tát vào trong lầu các mà niệm
sáu chữ Ðại Minh, lúc ấy thấy được địa vị Niết Bàn.
Ðến địa vị Niết Bàn rồi thấy được Như Lai, thấy Ngài
Quán Tự Tại đại Bồ Tát, lòng sanh vui mừng khi các Bồ
Tát ra khỏi lầu các rồi lại về chỗ kinh hành, trong đó
có các vườn báu, lại về đến ao tắm, rồi đến núi báu
Liên Hoa sắc, ở tại một chỗ ngồi kiết già mà nhập vào
Ðại định, như thế đó thiện nam tử! Các Bồ Tát an trụ
trong lỗ chân lông kia như vậy. Thiện nam tử! Lại có lỗ
chân lông gọi là Ðế Thích Vương, trong số đó có vô số
trăm ngàn vạn Câu chi na khố đa bất thoái chuyển Bồ Tát.
Nơi trong lông Ðế Thích Vương ấy có tám vạn núi vàng báu
cõi trời, trong núi ấy có châu ma ni báu như ý, gọi là Liên
Hoa Quang, tùy tâm của các Bồ Tát ấy suy nghĩ những gì đều
được thành tựu.
Khi
Bồ Tát ở trong núi ấy, nếu nghĩ đến việc ăn uống thì
liền được đầy đủ, không còn chịu khổ phiền não luân
hồi, thường khi tư duy thì thân kia được tương hợp với
sự tư duy. Thiện nam tử! Lại có lỗ chân lông gọi là Ðại
Dược nơi trong ấy có vô số trăm ngàn vạn Câu chi na khố
đa Bồ Tát sơ phát tâm. Thiện nam tử! Nơi trong lỗ chân lông
kia có chín vạn chín ngàn núi, trong núi ấy có hang Kim Cang
báu, hang vàng báu, hang bạc báu, hang đế thanh báu, hang liên
hoa sắc báu, hang sắc màu xanh lục báu, hang pha để ca sắc
báu, núi vương đó có tám vạn chót cao, các thứ như
ý ma ni và các diệu báu khác trang nghiêm trên đó. Trong chót
núi có chúng Ngạn Ðạt Phạ thường tấu các khúc âm nhạc
êm dịu, các sơ phát tâm Bồ Tát kia suy nghĩ: không, vô tướng,
vô ngã, sanh khổ, lão khổ, bịnh khổ, chết khổ, thương
nhau xa lìa khổ, ghét nhau gặp gỡ khổ, đạo A Tỳ địa ngục
khổ, đọa Hắc Thằng địa ngục các hữu tình khổ. Các
hữu tình đoạ vào ngã quỹ thú khổ. Khi suy nghĩ như thế
thì liền ngồi kiết già phu mà nhập vào Ðại định ở trong
núi ấy. Thiện nam tử! Lại có một lỗ chân lông gọi là
Hội Hoạ Vương, trong đó có vô số trăm ngàn vạn Câu chi
na khố đa những vị Duyên Giác, hiện ra hào quang hỏa diệm,
nơi lỗ chân lông kia có trăm ngàn vạn núi vương, các núi
vương ấy có bảy báu trang nghiêm. Còn có các thứ cây Kiếp
Thọ cành lá bằng vàng bạc, vô số trăm báu cùng các thứ
trang nghiêm, trên treo mão báu, vòng ngọc, các thứ y phục
anh lạc, treo các linh báu, áo Kiều Thi Ca, có các linh báu bằng
vàng bạc, tiếng khua âm vang lung linh mầu nhiệm, trong núi
đầy đủ các thứ cây Kiếp Thọ như thế, có vô số Duyên
Giác an trụ trong đó, thường diễn nói Khế Kinh: Ứng tụng,
Thọ ký, Phúng tụng, Thí dụ, Bổn sanh, Phương quảng, Hi pháp,
Luận nghị, các pháp như thế.
Trừ
Cái Chướng! Khi ấy các Duyên Giác ra khỏi lỗ chân lông kia,
sau cùng có một lỗ chân lông gọi rằng: Phan Vương, rộng
tám vạn du thiện na; ở trong đó có tám vạn núi, các báu
mầu nhiệm và ma ni như ý trang nghiêm, trong núi vương kia có
vô số cây Kiếp Thọ, có vô số trăm ngàn vạn cây chiên
đàn hương tỏa ra mùi thơm ngọt ngào, có vô số trăm ngàn
vạn cây Ðại Thọ. Lại còn có đất Kim Cang báu, có
chín mươi chín lầu các, trên treo trăm ngàn vạn chơn châu
vàng báu y phục, chuỗi ngọc anh lạc, ở trong lỗ chân lông
ấy xuất hiện như thế. Trừ Cái Chướng! Vì ông mà tôi
đã nói pháp xong.
Bấy
giờ Phật bảo Ngài A-Nan Ðà: Nếu có người không biết nghiệp
báo, ở trong tịnh xá làm khạc nhổ và đại tiểu tiện …
Nay tôi vì ông mà nói: Nếu ở nơi đất thường trụ thanh
tịnh ấy mà khạc nhổ thì người đó sanh ở trong cây Ta
La, làm con trùng mỏ nhọn như cây kim trải qua hai mươi năm.
Nếu ở đất thường trụ mà đại tiểu tiện thì người
đó sanh làm con trùng dơ uế ở trong chỗ đại tiểu tiện
nơi thành lớn Ba La Nại. Nến lén dùng riêng của thường
trụ
Tam-Bảo vật chừng bằng cây tăm xỉa răng, đọa làm loài
cá trạnh, cá kình, cá sấu. Nếu trộm lấy của thường trụ
Tam-Bảo những thứ như mè, dầu, gạo, đậu … đọa vào
trong ba ngã quỷ, đầu tóc bờm xờm, lông mình đứng dựng,
bụng to như núi, cổ nhỏ như kim, đốt cháy như rang khô,
chỉ bày hài cốt, người đó chịu khổ báo như thế. Nếu
khinh mạn chúng Tăng, người ấy sẽ đọa sanh vào trong nhà
nghèo cùng bần tiện, sanh ra nơi nào các căn cũng không đầy
đủ, lưng gù, lùn xấu, khi bỏ thân ấy rồi lại sanh chỗ
khác, nhiều bịnh hoạn khô gầy tay chân cong quẹo, máu mủ
tràn lan, da thịt nứt nẻ chảy nước, trải quan trăm ngàn
vạn tuổi chịu khổ báo như thế. Nếu trộm lấn đất cát
của thường trụ, đọa vào địa ngục rên la, ăn nuốt hòn
sắt nóng, răng, môi rơi rụng và yết hầu cháy nát, tim, gan,
ruột, bụng khắp mình hực cháy.
Khi
ấy có vị Tỳ Khưu nói: Nghiệp phong kia thổi đến chết
rồi lại sống, nơi ấy Diêm Ma ngục tốt ắt đầu tội nhơn,
tự nghiệp cảm của người, sanh ra một lưỡi dài lớn,
có trăm ngàn vạn lưỡi cày sắt cày lên lưỡi ấy, chịu
khổ báo trải qua nhiều vạn năm, khi ra khỏi địa ngục ấy
rồi, lại vào địa ngục vạc dầu sôi. Diêm Ma ngục tốt
dắt đầu tội nhơn, lấy trăm ngàn vạn kim châm trên
lưỡi, vì nghiệp lực nên vẫn không chết, như vậy lần
lượt vào các địa ngục, trải qua ba kiếp. Người ấy trở
lại làm thân người ở Nam Thiệm Bộ Châu, sanh vào nhà nghèo
cùng khốn khổ, đôi mắt đui mù, phải chịu những khổ báo
như thế, hãy dè dặt chớ trộm cắp tài vật của thường
trụ Tam-Bảo.
Nếu
Tỳ Kheo trì giới, nên thọ trì ba y, khi vào vương cung mặc
đệ nhất đại y, thường nhựt trong chúng nên mặc đệ nhị
y, làm các công vụ hoặc vào làng xóm hoặc khi đi đường
nên mặc đệ tam y. Các Tỳ Kheo nên thọ trì ba y như vậy.
Nếu trì giới thì được công đức, được trí tuệ. Ta nói
Tỳ Kheo nên trì giới luật, không được trộm dùng tài vật
của thường trụ Tam-Bảo. Như ở trong hầm lửa, ở chốn
độc dược, những nơi như thế mà ta có thể cứu khỏi được,
còn nếu trộm dùng tài vật của thường trụ thì không thể
nào cứu vớt được.
Bấy
giờ Ngài A-Nan Ðà bạch đức Thế Tôn rằng: Như lời Phật
dạy chúng con sẽ thực hành tu học đầy đủ. Nếu Tỳ Kheo
thọ trì giới luật, nên khéo an trụ giữ gìn giới pháp của
đức Thế Tôn.
Bấy
giờ Cù Thọ A Nan Ðà đảnh lễ sát chân Ðức Phật, nhiễu
quanh rồi lui ra. Khi ấy các vị đại Thanh Văn cũng đều trở
về chỗ cũ. Tất cả trong thế gian, trời, rồng, dược xoa,
càn that bà, a tô la, nghiệt lỗ noa, khẩn na la, ma hầu
la già, người cùng chẳng phải ngươì, nghe Phật thuyết pháp
rồi vui mừng tin thọ lễ Phật mà lui về.
Phật
nói kinh Ðại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương
(HẾT
QUYỂN THỨ TƯ)