A.
TẬP MỘT
HIỂN
MẬT VIÊN THÔNG
THÀNH
PHẬT TÂM YẾU
1.
Hiển giáo Tâm yếu
2.
Mật giáo Tâm yếu
3.
Hiển Mật Song Biên
4.
Vui mừng được gặp lời trước thuật
5.
Chuẩn Ðế Sám Pháp
6.
Vào đạo tràng trì Chú Chuẩn Ðề
7.
Cách dùng kính đàn và an chín chữ chú Chuẩn Ðề
8.
Nhập nhà mới và trị bệnh
9.
Chú Tỳ Lô Giá Na Phật
10.
Chú Quảng Bát
VUI
MỪNG GẶP ÐƯỢC LỜI TRƯỚC THUẬT NÀY
Một
đời Thánh Giáo của đức Như Lai không ngoài hai môn Hiển
Mật. (Nhơn Vương Kinh Sao nói: Tất cả giáo pháp của Ðức
Phật, không vượt ra ngoài hai tôn: Hiển Mật.)
Ở
trong Hiển giáo tuy Ngũ giáo không đồng mà một bộ kinh Hoa
Nghiêm rất tối tôn, tối diệu; là tủy của chư Phật, là
tim của Bồ Tát. Ðầy đủ cả ba tạng, tổng hàm cả Ngũ
giáo. (Phạn bổn có mười vạn bài kệ, ở đây đã dịch
ra, 80 quyển, 60 quyển, hoặc 40 quyển… Tuy văn nghĩa rộng
rãi bao la, trong đó rất cốt yếu, chỉ riêng một quyển kinh
văn, phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện là then chốt của Hoa Nghiêm,
bộ máy của việc tu hành, đáng khen ngợi và tôn sùng, các
đạo lưu ở Ấn Ðộ đều y theo đây mà tu hành vậy.)
Nơi
trong Mật bộ, tuy Ngũ bộ có khác mà một chú Chuẩn Ðề
rất linh diệu và thù thắng; chú là mẹ của chư Phật, là
mạng của Bồ Tát bao gồm đủ Tam Mật, tổng hàm cả ngũ
bộ. (Phạn bản có mười bài kệ, phương này đã phiên dịch
có các bản của chư Sư,tuy nghĩa thức khác nhau chút ít, nhưng
trong đó có phần rất cương yếu, thì bản dịch của Ngài
Thiện Vô Úy Tam Tạng đời Ðường là lãnh tụ của các Ðàn,
là thuốc bổ của bảy chúng; có thể truyền thừa và sùng
thượng. Các bậc cao đức ở Tây Thiên, Ðông Ðộ đều nương
nơi đây mà trì tụng vậy.
Nay
hai tôn này chỉ ghi soạn ra đây những pháp linh diệu mà Ngài
đã truyền nói. Sau thời kỳ Phật nhập diệt, người đời
bây giờ không nghe, không biết (không nghe Hiển viên,
không biết Mật viên). Cách 700 năm sau đến khi Ngài Long Thọ
ra đời đều hoằng truyền cả hai tông Hiển viên và Mật
viên rồi đem lưu hành trong nhơn thế. Nay ở trong đời mạt
pháp, được gặp Quốc Vương Thiên Hựu Hoàng Ðế Bồ Tát,
trong cả nước như được thuốc bổ lưu thông. (Tức là hai
giáo Hiển Mật).
Tôi
là một vị Tăng tài mọn, may mắn gặp được lòng cảm động
vui mừng; ôm hoài bão trọn đời cũng như người bịnh gặp
được linh đơn, diệu dược; kẻ nấu bếp được ngọc Như
ý Bảo châu, lòng rất vui mừng hớn hở, bèn sáng tác ra bài
thơ ngâm ca tụng rằng:
Bao
năm hân hạnh, dứt quên sầu,
Gặp
hai Hiển Mật toại lòng mong.
Thần
công Ngũ bộ đáng nên nhờ.
Mười
huyền diệu quán, quán không thôi.
Âm
cao giọng thấp Chơn ngôn chuyển.
Thân
được đến đi chơi HOA TẠNG.
Pháp
giới chúng sanh việc vui mừng.
Chỉ
nghi vì bởi tại lòng tin.
CHUẨN
ÐỀ SÁM PHÁP
Kinh
dạy:
Trước
khi vào Ðạo tràng, nên làm lễ Phật, Sám hối, Tùy hỷ, Khuyến
thỉnh, Phát nguyện.
Nên
thọ Bồ đề Tâm Giới; năm pháp này là quy tắc sáu thời
hành đạo của các vị Bồ Tát.
Ðầu
tiên vào Ðạo tràng quỳ gối, chấp tay, niệm chú dâng
hương.
Ðọc
Tịnh Pháp Giới Chơn ngôn: Án Lam (7 biến)
Tịnh
Khẩu Nghiệp Chơn ngôn: Tu Rị, Tu Rị, Ma Ha Tu Rị, Tu Tu
Rị Ta Bà Ha. (3 lần).
Tịnh
Tam Nghiệp Chơn ngôn: Án, Ta Phạ Bà Phạ Thuật Ðà Ta Phạ,
Ðạt Ma Ta Phạ, Bà Phạ, Thuật Ðộ Hám (3 lần)
Phổ
Cúng Dường Chơn ngôn: Án, Nga Nga Nẵng Tam Bà Phạ Phiệt
Nhựt Ra Hộc. (3 lần)
Ðọc
bài nguyện hương:
Nguyện
thử hương hoa vân,
Biến
mãn Thập phương giới.
Nhứt
nhứt chư Phật độ.
Vô
lượng hương trang nghiêm.
Cụ
túc Bồ Tát đạo,
Thành
tựu Như Lai hương.
Phổ
lễ Chơn ngôn: Án Phạ Nhựt Ra Vật. (7 lần)
ÐẢNH
LỄ:
Nhứt tâm đảnh lễ A Súc Thế Tôn
Nhứt tâm đảnh lễ Bảo Sanh Thế Tôn.
Nhứt tâm đảnh lễ Quán Tự Tại Vương Thế Tôn.
Nhứt tâm đảnh lễ Cực Lạc thế giới A Di Ðà Thế Tôn.
Nhứt tâm đảnh lễ Thập phương Pháp giới chư Phật Thế
Tôn.
Nhứt tâm đảnh lễ Thất Cu Chi Phật Mẫu Sở Thuyết, Ðại
Chuẩn Ðề, Ðà Ra Ni
Nhứt tâm đảnh lễ Thập phương Pháp giới Tu đa la Tạng
Nhứt thế Ðà Ra Ni môn.
Nhứt tâm đảnh lễ Tỳ Lô Giá Na cung điện trung Thất Cu
Chi Phật Mẫu Chuẩn Ðề Bồ Tát Ma ha tát.
Nhứt tâm đảnh lễ Quán Tự Tại Bồ Tát Ma ha tát.
Nhứt tâm đảnh lễ Di Lặc Bồ Tát Ma ha tát.
Nhứt tâm đảnh lễ Hư Không Tạng Bồ Tát Ma ha tát.
Nhứt tâm đảnh lễ Phổ Hiền Bồ Tát Ma ha tát.
Nhứt tâm đảnh lễ Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma ha tát.
Nhứt tâm đảnh lễ Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Ma ha tát.
Nhứt tâm đảnh lễ Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma ha tát.
Nhứt tâm đảnh lễ Ðịa Tạng Bồ Tát Ma ha tát.
Nhứt tâm đảnh lễ Vô Năng Thắng Bồ Tát Ma ha tát.
Nhứt tâm đảnh lễ Ðại Thế Chí Bồ Tát Ma ha tát.
Nhứt tâm đảnh lễ Thập phương pháp giới Nhứt Thế Bồ
Tát Ma ha tát.
Nhứt tâm đảnh lễ Ma Ha Ca Diếp Tôn giả Chư Ðại Thanh Văn
Tăng.
Nhứt tâm đảnh lễ Thập phương pháp giới Nhứt thế Tam
thừa Hiền Thánh Tăng.
Sám
hối:
Ngã
đệ tử … chí tâm sám hối.
Ðại
Thánh Chuẩn Ðề Tôn.
Nhứt
thế Hiền Thánh chúng.
Kim
thân nhược tiền thân.
Sở
tạo chư ác nghiệp.
Chúng
tội giai sám hối. (3 lễ).
Khuyến
thỉnh:
Ngã
đệ tử … chí tâm khuyến thỉnh
Thập
phương nhứt thiết Phật.
Hiện
tại thành đạo giả,
Ngã
thỉnh chuyển Pháp luân,
An-Lạc
chư chúng sanh,
Thập
phương nhứt thế Phật,
Nhược
dục Bát Niết Bàn.
Ngã
kim đầu diện lễ,
Khuyến
thỉnh cửu trụ thế (3 lễ).
Tùy
hỷ:
Ngã
đệ tử … chí tâm tùy hỷ.
Tam
thế chư Như Lai,
Bồ
Tát Thanh Văn chúng.
Tu
tập tam thừa nhơn,
Nãi
chí phàm phu loại.
Sở
hữu chư phước thiện,
Thí
giới thiền định huệ.
Nhẫn
nhục tịnh tinh tấn,
Ngã
kim giai tùy hỷ (3 lễ)
Phát
nguyện:
Ngã
đệ tử … chí tâm phát nguyện.
Nguyện
chư chúng sanh đẳng,
Tất
phát Bồ đề tâm.
Vĩnh
đoạn chư phiền não,
Ðương
chứng nhứt thế trí.
Phục
nguyện ngã kim tu,
Chuẩn
Ðề bí mật hạnh.
Sở
cầu chư Tất Ðịa,
Tùy
tâm tốc thành tựu. (3 lễ)
Hồi
hướng:
Ngã
đệ tử … chí tâm hồi hướng.
Dĩ
ngã sở tu phước,
Cập
dữ Chơn ngôn hạnh.
Hồi
hướng chư hữu tình,
Cọng
thành Vô thượng đạo.
Phục
dĩ kim sở tu,
Lễ
bái cập sám hối.
Khuyến
thỉnh tịnh tùy hỷ,
Phát
nguyện hồi hướng thiện.
Tất
thí dữ chúng sanh,
Vĩnh
đoạn tam đồ khổ.
Ðồng
thú đạo Bồ đề,
Pháp
giới chơn như hải. (3 lễ)
Thất
Phật Diệt Tội Chơn ngôn (3 lễ)
Ly
bà ly bà đế, cầu ha cầu ha đế, đà ra ni đế, ni ha ra đế,
tỳ ni nể đế, ma ha già đế, chơn lăng càn đế ta bà
ha.
VÀO
ÐẠO TRÀNG TRÌ CHÚ CHUẨN ÐỀ
CÁCH
NGỒI KIM CANG TỌA
(Nghĩa
là lấy bàn chân mặt gác lên trên vế chân trái, hoặc tùy
ý ngồi cũng được.)
HAI
TAY KIẾT ẤN TAM MUỘI: (Nghĩa là lấy tay mặt duỗi ra,
để ngửa lên bàn tay trái, rồi hai ngón tay cái giáo móng
với nhau). Ðể ngang dưới rún, thân cho tề chỉnh, tâm cho
an tịnh. Rồi tưởng trên đỉnh đầu ta có một chữ LAM rất
tròn sáng như ngọc Minh Châu hay như mặt trăng rằm. Khi tưởng
như vậy rồi thì xả ấn Tam Muội trên Ðảnh, tay trái kiết
ấn Kim Cang Quyền (nghĩa là lấy ngón tay cái bấm vào ngón
áp út ở giáp bàn tay, rồi 4 ngón tay kia nắm chặt lại hình
như tay cầm cú), rồi tay mặt lần chuỗi mà tụng sau đây:
1)
Chú Tịnh Pháp Giới: Án Lam (108 biến)
2)
Chú Hộ Thân: Án Xỉ Lâm (108 biến)
3)
Chú Lục Tự Ðại Minh: Án Ma Ni Bát Di Hồng (108 biến)
Khi
tụng xong chú nói trên thì xả ấn Kim Cang Quyền trên đảnh,
rồi quỳ xuống tụng bài kệ Chú Chuẩn Ðề:
Chuẩn
Ðề công đức tụ.
Tịch
tịnh tâm thường tụng,
Nhứt
thiết chư đại nạn
Vô
năng xâm thị nhơn,
Thiên
thượng cập nhơn gian
Thọ
phước như Phật đẳng.
Ngộ
thử như ý châu
Ðịnh
hoạch vô đẳng đẳng.
Nam
Mô Thất Cu Chi Phật Mẫu Ðại Chuẩn Ðề Vương Bồ Tát Ma
ha tát. (3 lần rồi lạy)
Lúc
lạy xong, ngồi kiết toàn già và kiết ấn Chuẩn Ðề: Lấy
ngón áp út và ngón út bên mặt cùng bên trái xỏ lộn với
nhau vào trong hai lòng bàn tay, dựng hai ngón tay giữa thẳng
lên, rồi co hai ngón tay trỏ vịn vào lóng đầu của hai ngón
tay giữa; còn hai ngón tay cái thì đè lên lóng giữa của ngón
tay áp út bên mặt; rồi để ấn ấy ngang ngực. Chí tâm tụng
108 lần chú Chuẩn Ðề và chú Ðại Luân Nhứt Tự như vầy:
Nam Mô Tát Ða Nẫm Tam Miệu Tam Bồ Ðề Cu Chi Nẫm, Ðát Ðiệt
Tha. Án Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Ðề Ta Bà Ha Bộ Lâm (tụng
108 lần) muốn trì tụng nữa hoặc tùy lòng. Nên tụng từ
chữ Án trở xuống Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Ðề Ta Bà Ha
Bộ Lâm. Tụng ký số làm chừng như trên, hoặc trì nhiều
hơn cũng tốt. Khi niệm đủ rồi muốn nghỉ thì xả ấn lên
trên đảnh, kế dùng tay mặt kiết ấn Kim Cang Quyến mà ấn
theo thứ tự năm chỗ sau đây:
1)
Trên đảnh.
2)
Nơi vai bên trái.
3)
Ở vai bên mặt
4)
Tại ngang ngực.
5)
Nơi yết hầu.
Trong
lúc tay ấn vào năm chỗ ấy thì miệng đọc Thần chú HỒNG
HỒNG cho liên tục, chừng nào đủ năm chỗ rồi, thôi tụng
xả ấn lên trên đảnh đầu và tụng:
Ngã
kim trì tụng Ðại Chuẩn Ðề.
Tức
phát Bồ đề quảng đại nguyện.
Nguyện
ngã định huệ tốc viên minh
Nguyện
ngã công đức giai thành tựu,
Nguyện
ngã thắng phước biến trang nghiêm,
Nguyện
cọng chúng sinh thành Phật đạo.
Ngã
tích sở tạo chư ác nghiệp,
Giai
do vô thỉ tham sân si,
Tùng
thân ngữ ý chi sở sanh,
Nhứt
thiết ngã kim giai sám hối.
A Di
Ðà Phật thân kim sắc
Tướng
hảo quang minh vô đẳng luân,
Bạch
hào uyển chuyển ngũ Tu Di,
Cám
mục trừng thanh tứ đại hải,
Quang
trung hóa Phật vô số ức,
Hóa
bồ tát chúng diệc vô biên,
Tứ
thập bát nguyện độ chúng sanh,
Cửu
phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn.
Nam
Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Ðại Từ Ðại Bi Tiếp
Dẫn Ðạo Sư A Di Ðà Phật.
Nam
Mô A Di Ðà Phật (108 lần)
Nam
Mô Quán Thế Âm Bồ Tát (10 lần)
Nam
Mô Ðại Thế Chí Bồ Tát (10 lần)
Nam
Mô Chuẩn Ðề Vương Bồ Tát (10 lần)
Nam
Mô Thanh Tịnh Ðại Hải Chúng Bồ Tát (10 lần)
Nguyện
ngã lâm dục mạng vong chung thời
Tận
trừ nhứt thiết chư chướng ngại.
Diện
kiến bỉ Phật A Di Ðà
Tức
đắc vãng sanh Cực Lạc Quốc.
Tự
Quy Y Phật,
Ðương
nguyện chúng sanh
Thể
giải đại đạo,
Phát
Vô thượng tâm.
Tự
Quy Y Pháp,
Ðương
nguyện chúng sanh
Thâm
nhập kinh tạng,
Trí
huệ như hải.
Tự
Quy Y Tăng,
Ðương
nguyện chúng sanh
Thống
lý đại chúng
Nhứt
thiết vô ngại.
Nguyện
dĩ thử công đức,
Phổ
cập ư nhứt thiết
Ngã
đẳng dữ chúng sanh,
Giai
cọng thành Phật đạo.
HẾT
CÁCH
DÙNG KÍNH ÐÀN
(Mua cái
kính tròn mới chưa hề dùng soi mặt đường kính độ 7 phân
tây)
Ðem
kính tròn xông trầm. Ðến 10 giờ đêm tối ngày rằm, trước
tượng Chuẩn Ðề, xây mặt về hướng đông, tướng ngó
hướng tây. Hành giả ngó hướng đông, cúng dường hương
hoa trang nghiêm, xông an tức hương và tịnh thủy, kiết ấn
Chuẩn Ðề, trì chú 108 biến vào Kính đàn (tức là thành
tựu đàn pháp). Mỗi khi tụng niệm, để kính trước mặt,
tụng xong bỏ kính vào cất trong đãy vải, khi đi đâu đem
theo để hộ thân.
Phương
pháp an bố chín chữ Thánh Phạn Chuẩn Ðề”
Hành
giả trước khi trì chú, hoặc sau khi trì,
An
bố khắp thân phần,
Ðược
vô lượng phước đức.
Hoặc
mỗi khi tọa thiền quán tưởng chín chữ an khắp thân thể,
rất là mầu nhiệm: ÁN CHIẾT LỆ CHỦ LỆ CHUẨN ÐỀ TA BÀ
HA.
ÁN:
An ký trên đỉnh đầu,
Ánh sáng như mặt trăng
Phóng ra vô lượng quang,
Trừ diệt tất cả chướng.
CHIẾT:
An ký nơi đôi mắt
Sáng màu như nhật nguyệt
Chiếu phá mọi u ám
Phát sinh trí huệ minh.
LỆ:
An ký nơi cổ,
Màu sáng cám lưu ly (xanh &đỏ)
Hiển bày các sắc tướng,
Ðầy đủ Như Lai trí.
CHỦ:
An ký tại tim (ngực)
Màu trong trắng như tơ,
Khiến tâm được thanh tịnh
Mau đến đạo Bồ đề.
LỆ:
An ký hai vai,
Sắc
màu sáng huỳnh kim,
Người
Quán tưởng chữ này
Thường
mặc giáp tinh tấn
CHUẨN:
An ký ở tại rún
Màu
sắc vàng trắng đẹp,
Chóng
lên diệu đạo tràng
Không
thối Bồ đề tâm
ÐỀ:
An ở hai bắp vế
Sáng
màu vàng hơi lợt,
Mau
chứng đạo Bồ đề
Ðược
ngồi tòa Kim Cang.
TA
BÀ: An ở hai bắp chân
Sắc
màu đỏ rực rỡ,
Nếu
thường quán chữ này
Mau
chuyển được Pháp Luân
HA:
An ở hai bàn chân
Ánh
sáng như trăng tròn,
Hành
giả Quán chữ này
Mau
đến đạo Viên tịch.
NHẬP
NHÀ MỚI
Khi
cất nhà mới, đến ngày nhập trạch thì lấy một cái chén
mới (Lâu nay chưa dùng làm gì) đựng nước trong lấy giữa
lòng giếng vào lúc nửa đêm, rồi tay trái kiết ấn Bảo
Thủ: (Nghĩa là lấy ngón tay giữa và ngón tay áp út, co lại
bấm vào lòng bàn tay, mà giơ ngón tay cái, ngón tay trỏ và
ngón út thẳng lên) rồi bưng chén nước, còn tay mặt thì
kiết ấn Kiết Tường. (nghĩa là lấy ngón tay cái co lại
bấm vào đầu ngón áp út và giơ ngón trỏ, ngón giữa và
ngón út lên rồi thư chữ LAM vào trong chén nước, rồi tụng
21 biến Chuẩn Ðề có ghi sau đây), rồi đứng giữa nhà,
lấy tay nhúng nước đó mà rải về tám phương: trên, dưới.
Sau lại dùng son viết chín chữ Phạn của chú Chuẩn Ðề
như vầy vào giấy vàng. ÁN CHIẾT LỆ CHỦ LỆ CHUẨN ÐỀ
TA BÀ HA (Viết bằng chữ Phạn), rồi đem dán đủ trên các
cửa và chí tâm cầu nguyện Phật để tụng chú ấy luôn
ba đêm, thì nhà ở được yên ổn, không có quỷ quái nhiễu
loạn mà lại được sự cát tường. Nhà đương ở mà sanh
yêu quái, thì cũng làm như trên.
TRỊ
QUỶ MỊ LÀM ÐAU ỐM
Bị
quỷ mị làm cho đau ốm, lấy cành dưng liễu hay nhánh thạch
lựu, mắt nhìn vào nhánh cây, miệng chăm tụng chú Chuẩn
Ðề 108 biến, rồi lấy nhành cây ấy mà đập, phủi trên
thân người đau, tức thời lành bịnh.
Nếu
người bịnh ở xa, cũng làm phương pháp ấy; gia trì trong
nhánh cây 108 biến rồi đêm về phủi trên mình bịnh nhơn.
Trẻ
em bị bịnh quan sát (Hay khóc dạ đề)
Mua
chỉ ngũ sắc về, bảo một đứa trẻ (gái) nhỏ xe hiệp
lại, rồi mình cầm chỉ ấy tụng một biến chú Chuẩn Ðề
rồi gút lại một gút, cứ tụng và gút luôn cho đủ 21 gút,
rồi lấy chỉ đeo vàơ mình đứa nhỏ, bịnh nó sẽ lành
ngay. Nếu trong thân người các chi tiết bị đau nhức, nên
gia trì Thần chú vào trong tay 21 biến mà xoa vào chỗ đau cũng
được lành bịnh. (Muốn trị bịnh theo pháp này, phải là
người trì chú tu hành trong thời gian lâu dài mới có hiệu
nghiệm.)
(Còn
người mới tụng Phạn âm chưa thuần tâm không chuyên nhất,
không hiệu nghiệm mà đắc tội nặng. Khi vào tự chữa cho
mình lành bịnh rồi mới trị cho người khác).
Người
bịnh trầm trọng:
Niệm
chú Chuẩn Ðề trong chỉ ngũ sắc, cứ niệm mỗi câu gút
một gút cho đủ số 108 gút đeo trên cổ bịnh nhân thì được
lành bịnh. Nếu người ở xa, nên vẽ hình bịnh nhân rồi
nhìn vào hình, xưng tên một lần, trì chú một biến, cho đến
khi đủ 108 lần rồi mới lấy chỉ đó đeo vào hình nhơn
thì bịnh cũng lành được. Lúc đi đừng, vào rừng, đi thuyền,
tàu, phải nên nhớ tụng chú Chuẩn Ðề để hộ thân và
tránh khỏi tai nạn.
CHÚ
TỲ LÔ GIÁ NA
PHẬT
ÐẠI QUÁN ÐẢNH QUANG CHƠN NGÔN
Bất
Không Quyến Thần Biến kinh nói: Nếu các chúng sanh tạo đủ
thập ác, ngũ nghịch, tứ trọng, tội số như vi trần, đầy
khắp thế giới. Khi thân hoại mạng chung bị đọa vào ác
đạo. Dùng Chơn ngôn này gia trì vào trong đất cát thật sạch
cho đủ 108 biến rồi tán rải trên thi hài của vong nhơn hoặc
trên mồ mả họ. Vong nhơn kia nếu ở địa ngục, ngạ quỷ,
tu la, súc sanh … Nhờ oai lực gia trì của Chơn ngôn, nhờ
sức thần thông của chú lực, lúc bấy giờ liền được
ánh hào quang của chư Phật rọi vào thân và trừ được các
quả báo, xả thân khổ sở, vãng sanh về nước Cực Lạc
tây phương Liên hoa hóa sanh, thẳng đến thành Phật không
còn bị đọa lạc.
Chơn
ngôn: Án A Mộ Già Vĩ Lô Tả Nẵng Ma Hạ Mẫu Nại Ra. Mạ
Nỉ Bát Nạp Mạ Nhập Phạ Ra Bát Ra Mạt Ða Dã Hồng.
PHƯƠNG
PHÁP TÁN SA
Lấy
cát giữa lòng sông đem về phơi khô, trộn vào ít châu sa,
thần sa, để trong chén nước sạch. Tay kiết ấn Bảo Thủ
bưng chén cát, còn tay mặt kiết ấn Cát Tường. Mắt ngó
vào chén cát, miệng tụng Thần chú Tỳ Lô 108 biến làm chừng,
gia trì cho được ba đêm rồi đem cát ấy rải lên mồ mả
hay thi hài của người chết trùng, hay chết bất đắc kỳ
tử mà vong nhơn không siêu được, làm phương pháp này liền
được siêu sanh. Hoặc viết Thần chú này trên vải, giấy
vàng rồi đắp lên thi hài người chết, vong họ sẽ nhờ
chú lực được siêu sanh cõi Phật.
ÐẠI
BẢO QUẢNG BÁT LẦU CÁT
THIỆN
TRỤ BÍ MẬT ÐÀRANI
Nẵng
Mồ Tát Phạ Ðát Tha Nghiệt Ða Nẫm Án Vĩ Bổ Lã Nghiệt
Bệ Mạ Nĩ Bát ra Bệ Ðát Tha Ða Nễ Nại Xả Nỉnh Ma Nĩ
Ma Nĩ Tô Bát ra Bệ Vĩ Ma Lê Ta Nghiệt Ra Nghiễm Tỷ Lệ Hồng
Hồng Nhập phạ Lã Nhập Phạ Lã Một Ðà Vĩ Lô Chỉ Ðế
Hủng Hế dạ Ðịa Sắc sỉ Ða Nghiệt Bệ Ta phạ Ha.
Thần
chú này viết chữ Phạn trên chuông, trên bảng, trống, trên
tràng phan, trên vách tường. Viết trên giấy, vải đeo mang
trong thân, viết trên áo mặc vào thân, hoặc đọc hay tụng
các chúng hữu tình nghe tiếng, nghe danh liền được tiêu trừ
bao tội chướng, ngủ thức được yên ổn thân tâm, không
loạn động. Các chúng sanh mắt thấy, tai nghe, thân chạm xúc
đều được tiêu tội đắc phước. Ai thường trì, đọc,tụng,
thân hiện tại không bị các bịnh khổ, khi lâm chung
được sanh về các nước Phật.
PHỤ
THÍCH
LINH
NGHIỆM HẢO MỘNG
CỦA
NGƯỜI TRÌ CHÚ CHUẨN ÐỀ
Tụng
10 vạn biến hay 20 vạn biến trong mộng thấy Phật, Bồ Tát
liền thổ ra vật đen. (Vật đen tiêu biểu cho ác nghiệp,
mửa ra là tướng tội diệt phước sanh, cho nên tự thấy
trong miệng thổ ra vật đen hay cơm đen.) Mộng thấy chư Thiên,
Ðường, Tự Xá (Nhà, chùa, tịnh xá rộng lớn) hoặc trên
núi cao, hoặc thấy ở trên cây cao (Không bị tội nghiệp
hệ lụy, cho nên được thăng lên. Ðây là thiện nhơn được
thành tựu nên thấy thiên, đường, tự, xá) Hoặc thấy ở
trong ao lớn tắm rửa (là tịch trừ tội cấu được thân
thanh tịnh). Hoặc mộng thấy thân bay lên hư không (không bị
tội nghiệp ràng buộc cho nên thân khinh cử nhẹ nhàng) hoặc
thấy cùng chư Thiên nữ an vui khoái lạc (được sức giữ
gìn thiện căn tương ưng nên cùng thấy vui khoái lạc.) Hoặc
thấy thuyết pháp (được thị giáo lợi hỉ). Hoặc thấy
râu tóc rụng rớt (râu tóc rụng rớt là pháp Tây quốc ngoại
đạo, râu tóc rụng rớt đều là tiêu biểu đoạn trừ phiền
não căn gốc vậy). Hoặc nói rằng thấy thân mình cạo bỏ
râu tóc. Hoặc thấy ăn cơm sữa, uống nước cam lồ (thấy
ăn sữa là thành tựu được phước lành của thế gian, uống
nước cam lồ là được pháp vị xuất thế). Hoặc vượt
qua sông, suối, biển lớn (được khỏi biển khổ). Hoặc
leo ngồi trên tòa sư tử (được tòa pháp vương) Hoặc thấy
cây Bồ đề (là kiến đạo tướng). Hoặc cỡi thuyền (là
nương cỡi thuyền Bát Nhã là được cái tướng đến bờ
giải thoát. Tô Ðất Ðịa kinh nói rằng: Hoặc thấy cỡi
sư tử, cỡi trâu trắng, nai trắng, ngỗng trắng … đều
là cái tướng Tất Ðịa thành tựu). Hoặc thấy bực Sa Môn
(được ly thế nhiễm mà ra khỏi tam giới). Hoặc thấy cư
sĩ mặc áo trắng, áo vàng che đầu (Vàng là tiêu biểu chánh,
trắng là tiêu biểu tịnh, tức là thấy bạch tịnh Chánh
pháp mà phú hộ). Hoặc thấy mặt trời, mặt trăng (tiêu biểu
phá phiền não vô minh ám). Hoặc thấy người đồng nam đồng
nữ (không bị phiền não tham dục làm ô nhiễm). Hoặc thấy
trên cây có nhũ quả (nhũ nghĩa là trắng, trắng là thiện
nghiệp, nghĩa là được thế, xuất thế gian thiện nghiệp
quả báo). Hoặc thấy người hắc trượng phu trong miệng tuôn
ra lửa hừng hẫy cùng với họ đấu chiến được thắng
(nghĩa là cùng phiền não ma cộng chiến mà đắc thắng). Hoặc
thấy ác mã, trâu nước muốn đến húc người trì tụng Thần
chú. Người trì chú hoặc đánh, hoặc nạt nộ, sợ mà bỏ
chạy (nghĩa là đối với si phiền não ma, mà được thắng
vậy). Hoặc ăn sữa cháo, tôn Phạn (là được thượng vị
phước thiện thành tựu). Hoặc thấy Tô Ma Na Hoa (hoa đây
nói là xứng ý hoa, sắc vàng trắng mà rất thơm, cây cao ba,
bốn thước rũ xuống che như tàng lọng. Nghĩa là tiêu biểu
sở cầu thiện pháp quyết được xứng ý. Hoặc thấy có
mùi hương thơm, bạch hoa hương tiêu biểu cho hương của ngũ
phần pháp thân. Nghĩa là được ngũ phần thiện nghiệp).
Hoặc thấy quốc vương (nghĩa là được đại nhơn hộ niệm
được tôn quý thắng nghiệp).
Nếu
không thấy những cảnh giới như vậy, phải biết người
đời trước đã tạo ngũ vô gián tội, nên càng phải trì
tụng mãn 70 vạn biến, 90 vạn biến, trăm vạn biến liền
thấy những cảnh giới như trên, nên biết đó là tội đã
diệt liền thành tiên hạnh. Những cảnh giới hảo mộng như
trên đây đều là cái tướng chứng nghiệm thành tựu của
người hành giả.
CẢM
NIỆM
Ai
ơi! Xem hết quyển này,
Gắng
theo phương pháp trong đây tu hành.
Niệm
Phật trì chú Chuẩn Ðề,
Sống
đời hạnh phúc chết về Tây phương.
Niệm
Phật chẳng khác thuyền trôi,
Thuận
theo gió nước vào bờ rất mau.
Chuẩn
Ðề kiêm niệm chẳng lơ,
Khác
nào phản lực động cơ đời này.
Quyết
đi thì đến không sai,
Chuẩn
Ðề niệm tụng Thánh thai hiện tiền.
Chuyên
cần chí kính lòng thành,
Chuẩn
Ðề như ý toại lòng ước mong.
Tỳ
Khưu THÍCH VIÊN ÐỨC