.
BỒ
ĐỀ ĐẠT MA
Tổ
Thiền Tông thứ nhất Trung Hoa
Bách
khoa toàn thư mở Wikipedia
 |
 |
Bồ
Đề Đạt Ma - Wikipedia
Bồ
Đề Đạt Ma - HT. Thích Thanh Từ
Linh
THoại Bồ Đề Đạt Ma, Trúc Thiên
Đôi
Mắt Tổ Sư Bồ Đề Đạt Ma, Hạnh Chiếu
Bồ-đề-đạt-ma
(zh. 菩提達磨, sa. bodhidharma, ja. bodai daruma), dịch nghĩa là
Đạo Pháp (zh. 道法), ~470-543, là Tổ thứ 28 sau Phật Thích-ca
Mâu-ni của dòng Thiền Ấn Độ và là Sơ tổ của Thiền tông
Trung Quốc. Bồ-đề-đạt-ma là đệ tử và truyền nhân của
Tổ thứ 27, Bát-nhã-đa-la (sa. prajñādhāra) và là thầy của
Huệ Khả, Nhị tổ Thiền Trung Quốc. Sự tích truyền pháp
của Bát-nhã-đa-la cho Bồ-đề-đạt-ma được truyền lại
như sau:
Tổ
hỏi: "Trong mọi thứ, thứ gì vô sắc?" Bồ-đề-đạt-ma đáp:
"Vô sinh vô sắc". Tổ hỏi tiếp: "Trong mọi thứ, cái gì vĩ
đại nhất?" Bồ-đề-đạt-ma đáp: "Phật pháp vĩ đại nhất".
Sau
khi trở thành Tổ thứ 28, Bồ-đề-đạt-ma đi thuyền qua Nam
Trung Quốc năm 520. Sau khi truyền đạo cho Lương Vũ Đế không
thành, Bồ-đề-đạt-ma đến Lạc Dương, lên chùa Thiếu Lâm
trên rặng Tung Sơn. Nơi đây, Bồ-đề-đạt-ma tu thiền định,
chín năm quay mặt vào vách không nói; cũng tại đây, Huệ
Khả đã gặp Bồ-đề-đạt-ma để lại truyền thuyết bất
hủ về việc quyết tâm học đạo của mình.
Tư
liệu về cuộc đời của Bồ-đề-đạt-ma là một vương
tử Nam Ấn Độ không rõ ràng. Có truyền thuyết cho rằng
sư phụ của Bồ-đề-đạt-ma là Bát-nhã-đa-la từng dặn
Sư hãy đợi 60 năm sau khi mình chết mới được đi Trung Quốc.
Như thế Bồ-đề-đạt-ma phải cao tuổi lắm lúc đến Trung
Quốc. Theo tài liệu khác thì Bồ-đề-đạt-ma đến Trung Quốc
lúc 60 tuổi. Cả hai thuyết này không phù hợp với cuộc đời
Sư, từ 470-543, là ngày tháng được phần lớn nguồn tài
liệu công nhận. Sau khi đến, Sư nhận lời mời của Vũ Đế
đi Nam Kinh. Cuộc gặp gỡ giữa Bồ-đề-đạt-ma và Vũ Đế
được các ngữ lục ghi lại như sau:
Là
một người phụng sự đạo Phật, Lương Vũ Đế đã cho xây
trong nước mình nhiều chùa chiền, bảo tháp. Vũ Đế hỏi
nhà sư Ấn Độ: "Trẫm từ lên ngôi đến nay, xây chùa, chép
kinh, độ tăng không biết bao nhiêu mà kể. Vậy có công đức
gì không?"
Đạt
Ma đáp: "Không có công đức."
- "Tại
sao không công đức."
- "Bởi
vì những việc vua làm là nhân "hữu lậu", chỉ có những
quả nhỏ trong vòng nhân thiên, như ảnh tùy hình, tuy có nhưng
không phải thật."
- "Vậy
công đức chân thật là gì?"
Sư
đáp: "Trí phải được thanh tịnh hoàn toàn. Thể phải được
trống không vắng lặng, như vậy mới là công đức, và công
đức này không thể lấy việc thế gian (như xây chùa, chép
kinh, độ tăng) mà cầu được."
Vua
lại hỏi: "Nghĩa tối cao của thánh đế là gì?"
- "Một
khi tỉnh rõ, thông suốt rồi thì không có gì là thánh."
- "Ai
đang đối diện với trẫm đây?"
- "Tôi
không biết."
Đó
là những lời khai thị về yếu tính Phật pháp rất rõ ràng,
nhưng Vũ Đế không lĩnh hội.
Cuộc
gặp với Lương Vũ Đế cho Bồ-đề-đạt-ma thấy rõ là chưa
đến thời truyền pháp tại Trung Quốc. Sau đó - theo truyền
thuyết - Sư vượt sông Dương Tử bằng một chiếc thuyền
con (chiếc thuyền về sau trở thành một đề tài của hội
hoạ Thiền), đến chùa Thiếu Lâm ở Bắc Trung Quốc. Người
ta không biết rõ Sư mất tại đó hay rời Thiếu Lâm sau khi
truyền tâm ấn cho Huệ Khả. Theo một truyền thuyết thì Bồ-đề-đạt-ma
về lại Ấn Độ sau chín năm lưu lại Trung Quốc.
Sư
có ý muốn hồi hương, trước khi về, gọi đệ tử trình
bày sở đắc: "Giờ ta ra đi sắp tới, vậy mỗi đệ tử
hãy nói cho ta nghe sở đắc của mình".
Đạo
Phó bạch: "Theo chỗ thấy của tôi, muốn thấy đạo phải
chẳng chấp văn tự, mà cũng chẳng lìa văn tự."
Sư
đáp: "Ông được lớp da của tôi rồi."
Ni
Tổng Trì nói: "Chỗ giải của tôi như cái mừng vui thấy
nước Phật (tâm) bất động, thấy được một lần, sau không
thấy lại nữa."
Sư
nói: "Bà được phần thịt của tôi rồi."
Đạo
Dục, một đệ tử khác, bạch: "Bốn đại vốn không, năm
uẩn chẳng phải thật có, vậy chỗ thấy của tôi là không
một pháp nào khả được."
Sư
đáp: "Ông được bộ xương của tôi rồi."
Cuối
cùng, đến phiên Huệ Khả. Huệ Khả lễ bái Sư rồi đứng
ngay một chỗ, không bạch không nói gì cả. Sư bảo: "Ngươi
đã được phần tuỷ của ta."
Rồi
ngó Huệ Khả, Sư nói tiếp: "Xưa Như Lai trao 'Chánh pháp nhãn
tạng' cho Bồ tát Ca Diếp, từ Ca Diếp chánh pháp được liên
tục truyền đến ta. Ta nay trao lại cho ngươi; nhà ngươi khá
nắm giữ, luôn với áo cà sa để làm vật tin. Mỗi thứ tiêu
biểu cho một việc, ngươi nên khá biết."
Huệ
Khả bạch: "Thỉnh Sư chỉ bảo cho."
Sư
nói: "Trong, truyền pháp ấn để khế chứng tâm; ngoài, trao
cà sa để định tông chỉ. Đời sau, trong cảnh cạnh tranh,
nếu có người hỏi ngươi con cái nhà ai, bằng vào đâu mà
nói đắc pháp, lấy gì chứng minh, thì ngươi đưa bài kệ
của ta và áo cà sa ra làm bằng. Hai trăm năm sau khi ta diệt
rồi, việc truyền y dừng lại. Chừng ấy, đâu đâu người
hiểu đạo và nói lý rất nhiều, còn người hành đạo và
thông lý rất ít, vậy ngươi nên cố xiển dương đạo pháp,
đừng khinh nhờn những người chưa ngộ. Bây giờ hãy nghe
bài kệ của ta:"
吾本來玆土
傳法救迷情。
一華開五葉
結果自然成
Ngô
bản lai tư thổ
Truyền
pháp cứu mê tình.
Nhất
hoa khai ngũ diệp
Kết
quả tự nhiên thành.
Ta
đến đây với nguyện,
Truyền
pháp cứu người mê.
Một
hoa nở năm cánh,
Nụ
trái trổ ê hề.
Sư
lại nói thêm: "Ta có bộ kinh Lăng Già bốn cuốn, nay cũng
giao luôn cho ngươi, đó là đường vào tâm giới, giúp chúng
sanh mở được cửa kho tri kiến của Phật. Ta từ Nam Ấn
sang đến phương Đông này, thấy Xích Huyện Thần Châu có
đại thừa khí tượng, cho nên vượt qua nhiều nơi, vì pháp
tìm người. Nhưng bao nhiêu cuộc gặp gỡ không làm ta mất
lòng, bất đắc dĩ phải ừ hử vậy thôi. Nay được ngươi
để truyền thọ y pháp, ý ta đã toại!"
Tranh
Thiền: Bồ-đề-đạt-ma của Thiền sư Bạch Ẩn Huệ Hạc
(Hakuin Ekaku) tông Lâm Tế (ja. rinzai) hình minh hoạ bên phải
Theo
một thuyết khác thì Bồ-đề-đạt-ma sống đến 150 tuổi,
cuối cùng bị đầu độc và được chôn ở Hồ Nam. Sau đó
một vị tăng đi hành hương ở Ấn Độ về gặp Bồ-đề-đạt-ma
trên núi Hùng Nhĩ. Bồ-đề-đạt-ma, tay cầm một chiếc dép,
cho biết mình trên đường về Ấn Độ và Trung Quốc sẽ
tiếp nối dòng Thiền của mình. Về tới Trung Quốc vị tăng
này vội báo cho đệ tử, đệ tử mở áo quan ra thì không
thấy gì cả, chỉ còn một chiếc dép. Vì tích này, tranh tượng
của Bồ-đề-đạt-ma hay được vẽ vai vác gậy mang một
chiếc dép.
Bồ-đề-đạt-ma
truyền phép thiền định mang truyền thống Đại thừa Ấn
Độ, đặc biệt Sư chú trọng đến bộ Nhập Lăng-già kinh
(sa. laṅkāvatāra-sūtra). Tuy nhiên, Thiền tông Trung Quốc chỉ
thành hình thật sự với Huệ Năng, Tổ thứ sáu, kết hợp
giữa thiền (sa. dhyāna) Ấn Độ và truyền thống đạo Lão,
được xem là một trường phái đặc biệt "nằm ngoài giáo
pháp nguyên thuỷ". Thiền tông Trung Quốc phát triển rực rỡ
kể từ đời nhà Đường.
Theo
Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật giáo sử luận thì Bồ-đề-đạt-ma
có thể từng đến Việt Nam (Giao Châu) cuối đời nhà Tống
(420-447) cùng với một vị sư Ấn Độ tên là Pháp Thiên (sa.
dharmadeva).
Hình
bên trên (hình mầu): Bodhidharma, tranh khắc gỗ của Yoshitoshi,
1887
Thiền
sư Trung Quốc
Bồ-đề-đạt-ma
đến Huệ Năng
Huệ
Khả, Tăng Xán
Đạo
Tín, Hoằng Nhẫn
Huệ
Năng, Pháp Dung
Hành
Tư, Hoài Nhượng
Huyền
Giác, Huệ Trung, Thần Hội
Nhánh
Thanh Nguyên Hành Tư
Hi
Thiên, Đạo Ngộ, Duy Nghiễm
Sùng
Tín, Thiên Nhiên
Đàm
Thạnh, Đạo Ngô
Đức
Sơn, Thiện Hội
Thạch
Sương, Lương Giới
Nghĩa
Tồn, Nham Đầu, Thuý Nham
Vân
Môn, Huệ Lăng, Huyền Sa
Nhánh
Nam Nhạc Hoài Nhượng
Mã
Tổ Đạo Nhất
Hoài
Hải, Nam Tuyền
Huệ
Hải, Pháp Thường
Triệu
Châu, Quy Sơn
Hoàng
Bá, Vô Ngôn Thông
Huệ
Tịch, Nghĩa Huyền
Trí
Nhàn, Chí Cần
Lâm
Tế tông
Huệ
Nhiên, Hưng Hoá
Định
Thượng Toạ, Đồng Phong Am Chủ
Nam
Viện Huệ Ngung
Phong
Huyệt Diên Chiểu
Thủ
Sơn Tỉnh Niệm
Thiện
Chiêu, Quy Tỉnh
Thạch
Sương, Huệ Giác
Hoàng
Long, Dương Kì
Tổ
Tâm, Thủ Đoan
Ngộ
Tân, Pháp Diễn
Huệ
Khai, Viên Ngộ
Đại
Huệ, Thiệu Long
Tào
Động tông
Động
Sơn, Tào Sơn, Long Nha
Đạo
Ưng, Nghĩa Thanh
Đạo
Khải, Tử Thuần, Chính Giác
Như
Tịnh
Quy
Ngưỡng tông
Quy
Sơn Linh Hựu
Ngưỡng
Sơn Huệ Tịch
Quang
Dũng, Tây Tháp, Văn Hỉ
Huệ
Thanh, Tư Phúc, Thanh Nhượng
Vân
Môn tông
Trừng
Viễn, Trí Môn, Tuyết Đậu
Thảo
Đường, Chính Thụ
Pháp
Nhãn tông
Pháp
Nhãn, Đức Thiều
Diên
Thọ, Đạo Nguyên
TỔ
BỒ ĐỀ ĐẠT MA
Tổ
thứ nhất Trung Hoa
(Trích
trong “Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn-Hoa”,
Thích
Thanh Từ soạn, 1972, trang 157-171)
 |
 |
Ngài
dòng sát-đế-lợi ở Nam Ấn, cha là Hương chí vua nước này.
Vua Hương Chí sanh được ba người con trai, Ngài là vương
tử thứ ba. Thuở nhỏ, Ngài đã có chí siêu việt và đặc
tài hùng biện.
Nhân
vua Hương Chí thỉnh Tổ Bát-nhã-đa-la vào cung cúng dường,
Ngài mới có duyên gặp Tổ. Qua cuộc nghiệm vấn về hạt
châu, Tổ đã biết Ngài là người siêu quần bạt tục sẽ
kế thừa Tổ vị.
Sau
khi vua cha băng, Ngài quyết chí xuất gia cầu xin Tổ Bát-nhã
độ làm đệ tử, Tổ hoan hỉ làm lễ thế phát và truyền
giới Cụ túc. Tổ bảo Ngài:
- Hoàng
tử đối các pháp đã được thông suốt, nay nên đổi hiệu
là Bồ-đề-đạt-ma. Từ đây, Ngài luôn hầu hạ bên thầy.
Một
hôm, Tổ gọi Ngài đến truyền pháp và dặn dò:
- Ngươi
tạm giáo hóa ở nước này, sau sang Trung Hoa mới thật là
nhân duyên lớn. Song, đợi ta diệt độ khoảng sáu mươi năm
sau sẽ đi. Nếu ngươi đi sớm, sau e có việc không tốt.
Những
điều kiết hung về sự giáo hóa ở Trung Hoa sau này, Ngài
đều cầu xin Tổ chỉ dạy. Tổ dùng những lời sấm ký tiên
đoán sự kiết hung vận số Phật pháp ở Trung Hoa, nói có
hơn mười bài kệ.
Tổ
tịch rồi, Ngài vẫn ở tại nước nhà giáo hóa. Người huynh
đệ đồng sư với Ngài là Phật Ðại Tiên cùng chung sức
giáo hóa. Thời nhân gọi hai Ngài là “Mở hai cửa cam lồ”.
Song, sau môn đồ của Phật Ðại Tiên lại chia làm sáu tông:
1.- Hữu tướng, 2.- Vô tướng, 3.- Ðịnh tuệ, 4.- Giới hạnh,
5.- Vô đắc, 6.- Tịch tịnh, đua nhau truyền bá. Ngài thấy
sự chia ly ấy, ngại cho chánh pháp suy vi. Vì thế, Ngài dùng
phương tiện cảm hóa họ hồi đầu quay về chánh pháp.
Vua
Nguyệt Tịnh băng, con vua là Thái tử Dị Kiến nối ngôi.
Dị Kiến lên ngôi không bao lâu lại tin theo tà thuyết bài
bác Phật giáo. Ngài sai đệ tử là Ba-la-đề đến cung vua
để nhiếp hóa. Sau khi cải tà qui chánh, vua Dị Kiến hỏi
ra mới biết Ba-la-đề là đệ tử của chú mình. Nhà vua cho
người thỉnh Ngài về cung giáo hóa.
Về
cung giáo hóa một thời gian, Ngài thấy cơ duyên sang Trung Hoa
đã đến, bèn đem lời huyền ký của Tổ Bát-nhã-đa-la thuật
lại cho vua biết. Vua không còn lời gì dám ngăn cản, đành
sắm một chiếc thuyền buôn, cho thủy thủ đưa Ngài sang Trung
Hoa. Vua và quần thần tiễn đưa Ngài ra tới cửa biển.
Ngài
ở trên thuyền gần ngót ba năm, thuyền mới cặp bến Quảng
Châu, nhằm đời nhà Lương niên hiệu Phổ Thông năm đầu
(520 sau T.C.), ngày hai mươi mốt tháng chín năm Canh Tý. Thích
sử tỉnh này ra đón tiếp Ngài, đồng thời dâng sớ về
triều tâu vua Lương Võ Ðế. Vua được sớ, liền sai sứ
lãnh chiếu chỉ đến thỉnh Ngài về Kim Lăng (Kinh đô nhà
Lương). Vua Võ Ðế hỏi:
- Trẫm
từ lên ngôi đến nay thường cất chùa, chép kinh, độ tăng
ni, không biết bao nhiêu, vậy có công đức gì chăng?
Ngài
đáp:
- Ðều
không có công đức.
- Tại
sao không có công đức?
- Bởi
vì những việc ấy là nhân hữu lậu, chỉ có quả báo nhỏ
ở cõi người cõi trời, như bóng theo hình, tuy có mà chẳng
phải thật.
- Thế
nào là công đức chân thật?
- Trí
thanh tịnh tròn mầu, thể tự không lặng, công đức
như thế chẳng do thế gian mà cầu.
- Thế
nào là thánh đế nghĩa thứ nhất?
- Rỗng
rang không thánh.
- Ðối
diện với trẫm là ai?
- Không
biết.
Vua
Lương Võ Ðế không lãnh ngộ được, lui về nghỉ. Ngài biết
căn cơ chẳng hợp, tạm lưu lại đây ít hôm.
Ðến
ngày mười chín, Ngài bỏ vua Lương, lén sang sông qua Giang
Bắc. Ngài nhập cảnh nước Ngụy đi đến Lạc Dương nhằm
đời Hậu Ngụy vua Hiếu Minh Ðế niên hiệu Chánh Quang năm
đầu (520 sau T.C.) ngày hai mươi ba tháng mười một.
Ngài
dừng trụ tại chùa Thiếu Lâm ở Tung Sơn, trọn ngày ngồi
xây mặt vào vách im lặng. Tăng chúng đều không hiểu được.
Người đời gọi Ngài là “Thầy Bà-la-môn ngồi nhìn vách”
(Bích quán Bà-la-môn).
Có
vị tăng tên Thần Quang học thông các sách, giỏi lý diệu
huyền, nghe danh Ngài tìm đến yết kiến. Thần Quang đã đủ
lễ nghi mà Ngài vẫn ngồi lặng yên ngó mặt vào vách không
màng đến. Quang nghĩ: “Người xưa cầu đạo chẳng tiếc
thân mạng, nay ta chưa được một trong muôn phần của các
ngài.” Hôm ấy, nhằm tiết mùa đông (mùng chín tháng chạp),
ban đêm tuyết rơi lả tả, Thần Quang vẫn đứng yên ngoài
tuyết chấp tay hướng về Ngài. Ðến sáng tuyết ngập lên
khỏi đầu gối, mà gương mặt Thần Quang vẫn thản nhiên.
Ngài thấy thế thương tình, xây ra hỏi:
- Ngươi
đứng suốt đêm trong tuyết, ý muốn cầu việc gì?
Thần
Quang thưa:
- Cúi
mong Hòa thượng từ bi mở cửa cam lồ, rộng độ chúng con.
- Diệu
đạo vô thượng của chư Phật, dù nhiều kiếp tinh tấn,
hay làm được việc khó làm, hay nhẫn được việc khó nhẫn,
còn không thể đến thay! Huống là, dùng chút công lao nhỏ
này mà cầu được pháp chân thừa?
Thần
Quang nghe dạy bèn lén lấy đao chặt cánh tay trái để trước
Ngài để tỏ lòng thiết tha cầu đạo. Ngài biết đây là
pháp khí bèn dạy:
- Chư
Phật lúc ban đầu cầu đạo, vì pháp quên thân, nay ngươi
chặt cánh tay để trước ta, tâm cầu đạo như vậy cũng
khá.
- Pháp
ấn của chư Phật con có thể được nghe chăng?
- Pháp
ấn của chư Phật không phải từ người khác mà được.
- Tâm
con chưa an, xin Thầy dạy pháp an tâm.
- Ngươi
đem tâm ra đây, ta an cho.
- Con
tìm tâm không thể được.
- Ta
đã an tâm cho ngươi rồi.
Thần
Quang nhân đây được khế ngộ. Ngài liền đổi tên Thần
Quang là Huệ Khả.
Từ
đây kẻ tăng người tục đua nhau đến yết kiến Ngài, tiếng
tăm vang dậy. Vua Hiếu Minh Ðế nước Ngụy sai sứ ba phen
thỉnh Ngài, Ngài đều từ chối. Nhà vua càng kính trọng,
sai sứ đem lễ vật đến cúng dường: một cây tích trượng,
hai y kim tuyến, bình bát, v.v... Ngài từ khước nhiều lần,
nhưng nhà vua cố quyết cúng dường, rốt cuộc Ngài phải
nhận.
Mở
cửa phương tiện, Ngài có dùng bốn hạnh để giáo hóa môn
đồ: 1.- Báo oán hạnh, 2.- Tùy duyên hạnh, 3.- Vô sở cầu
hạnh, 4.- Xứng pháp hạnh(1).
Ở
Trung Hoa gần chín năm, Ngài thấy cơ duyên đã đến, liền
gọi đồ chúng hỏi:
- Giờ
ta trở về sắp đến. Các ngươi mỗi người nên nói chỗ
sở đắc của mình.
Ðạo
Phó ra thưa:
- Theo
chỗ thấy của con, chẳng chấp văn tự, chẳng lìa văn tự,
đây là dụng của đạo.
Ngài
bảo:
- Ngươi
được phần da của ta.
Bà
ni Tổng Trì ra thưa:
- Nay
chỗ hiểu của con, như Tổ A-nan thấy nước Phật A-súc, chỉ
thấy một lần, không còn thấy lại.
Ngài
bảo:
- Ngươi
được phần thịt của ta.
Ðạo
Dục ra thưa:
- Bốn
đại vốn không, năm ấm chẳng có, chỗ thấy của con không
một pháp có thể được.
Ngài
bảo:
- Ngươi
được phần xương của ta.
Ðến
Huệ Khả bước ra đảnh lễ Ngài, rồi lui lại đứng yên
lặng.
Ngài
bảo:
- Ngươi
được phần tủy của ta.
Ngài
gọi Huệ Khả đến dặn dò:
- Xưa
Như Lai đem đại pháp nhãn tạng trao cho Tổ Ca-diếp, lần
lượt truyền đến ta. Nay ta đem trao lại cho ngươi, ngươi
phải truyền trao không để dứt mất. Cùng trao cho ngươi y
Tăng-già-lê và bát báu, để làm pháp tín. Mỗi thứ tiêu
biểu cho mỗi việc, ngươi nên biết.
Huệ
Khả thưa:
- Xin
Thầy từ bi chỉ dạy mọi việc.
Ngài
dạy:
- Trong
truyền tâm ấn để khế hợp chỗ tâm chứng, ngoài trao ca-sa
để định tông chỉ. Ðời sau có nhiều người cạnh tranh
nghi ngờ, họ nói “Ta là người Ấn, ngươi là người Hoa,
căn cứ vào đâu mà được pháp, lấy cái gì để minh chứng?”
Ngươi gìn giữ pháp y này, nếu gặp tai nạn, ngươi đem
ra làm biểu tín, thì sự giáo hóa không bị trở ngại. Hai
trăm năm sau khi ta diệt độ, y bát này dừng lại không truyền,
vì lúc đó, Phật pháp rất thạnh hành. Chính khi ấy, người
biết đạo thật nhiều, người hành đạo quá ít, người
nói lý thì nhiều, người ngộ lý thì ít. Tuy nhiên, người
thầm thông lặng chứng có hơn ngàn vạn. Ngươi gắng xiển
dương, chớ khinh người chưa ngộ. Nghe ta nói kệ:
Ngô
bản lai tư độ,
Truyền
pháp cứu mê tình.
Nhất
hoa khai ngũ diệp,
Kết
quả tự nhiên thành.
Dịch:
Ta
sang đến cõi này,
Truyền
pháp cứu mê tình.
Một
hoa nở năm cánh,
Nụ
trái tự nhiên thành.
Ngài
lại bảo:
- Ta
có bộ kinh Lăng-già bốn quyển, là Phật nói tột pháp yếu,
cũng giúp cho chúng sanh mở, bày, ngộ, nhập kho Tri kiến Phật,
nay ta trao luôn cho ngươi. Ta từ Nam Ấn sang đây đã năm phen
bị thuốc độc mà không chết, vì thấy xứ này tuy có khí
Đại thừa mà chưa ứng hợp, nên ta lặng lẽ ngồi lâu chờ
đợi. Nay đã truyền trao xong, đã có thủy ắt phải có chung
vậy.
Xong
rồi, Ngài cùng đồ chúng đi đến Võ môn ở chùa Thiên Thánh
dừng lại ba hôm. Quan thái thú thành này tên Dương Huyễn
Chi là người sùng mộ Phật pháp. Nghe tin Ngài đến, liền
tới đảnh lễ. Ông hỏi:
- Thầy
ở Ấn Ðộ được kế thừa làm Tổ, vậy thế nào là Tổ,
xin Thầy dạy cho?
Ngài
đáp:
- Rõ
được tâm tông của Phật, không lầm một mảy, hạnh và
giải hợp nhau, gọi đó là Tổ.
- Chỉ
một nghĩa này hay còn nghĩa nào khác?
- Cần
rõ tâm người, biết rành xưa nay, chẳng chán có không, cũng
chẳng cố chấp, chẳng hiền chẳng ngu, không mê không ngộ.
Nếu hay hiểu như thế, cũng gọi là Tổ.
Huyễn
Chi lại thưa:
- Ðệ
tử vì bị nghiệp thế tục, ít gặp được tri thức, trí
nhỏ bị che lấp không thể thấy đạo. Cúi xin Thầy chỉ
dạy, con phải noi theo đạo quả nào? dùng tâm gì được gần
với Phật, Tổ?
Ngài
vì ông nói kệ:
Diệc
bất đổ ác nhi sanh hiềm,
Diệc
bất quán thiện nhi cần thố,
Diệc
bất xả trí nhi cận ngu,
Diệc
bất phao mê nhi tựu ngộ.
Ðạt
đại đạo hề quá lượng,
Thông
Phật tâm hề xuất độ,
Bất
dữ phàm thánh đồng triền,
Siêu
nhiên danh chi viết Tổ.
Dịch:
Cũng
đừng thấy dữ mà sanh chê,
Cũng
đừng thấy lành mà ái mộ,
Cũng
đừng bỏ trí mà gần ngu,
Cũng
đừng ném mê mà về ngộ.
Ðạt
đạo lớn chừ quá lượng,
Thông
Phật tâm chừ vô kể,
Chẳng
cùng phàm thánh đồng vai,
Vượt
lên, gọi đó là Tổ.
Huyễn
Chi nghe dạy hoan hỉ đảnh lễ, lại thưa:
- Xin
Thầy chớ vội tạ thế, để làm phước lợi cho quần sanh.
Ngài
bảo:
- Ðời
mạt pháp, kẻ tệ ác quá nhiều, dù ta còn ở lâu e chẳng
lợi ích, mà thêm tai nạn, làm tăng trưởng tội ác cho người.
- Từ
Thầy đến đây ai thường hại Thầy, xin Thầy chỉ họ, con
sẽ sắp xếp.
- Nói
ra ắt có tổn hại, ta nên đi vậy. Ðâu cam hại người để
mình được vui.
Huyễn
Chi nài nỉ thưa:
- Con
không hại người, chỉ muốn biết đó thôi.
Ngài
bất đắc dĩ nói bài kệ:
Giang
tra phân ngọc lãng,
Quản
cự khai kim tỏa.
Ngũ
khẩu tương cộng hành,
Cửu
thập vô bỉ ngã.
Dịch:
Thuyền
con rẽ sóng ngọc,
Ðuốc
soi mở khóa vàng.
Năm
miệng đồng cùng đi,
Chín,
mười không ta người.
Huyễn
Chi nghe rồi ghi nhớ, đảnh lễ Ngài lui ra.
Ở
đây đúng ba hôm, Ngài ngồi an nhiên thị tịch. Hôm ấy là
ngày mùng chín tháng mười năm Bính Thìn, nhằm niên hiệu
Ðại Thông năm thứ hai nhà Lương (529 T.C.). Ðến ngày mười
tám tháng chạp năm này, làm lễ đưa nhục thân của Ngài
nhập tháp tại chùa Ðịnh Lâm, núi Hùng Nhĩ.
Sau,
vua Hậu Ngụy sai Tống Vân đi sứ Ấn Ðộ về, gặp Ngài
tại núi Thông Lãnh, thấy Ngài tay xách một chiếc dép, một
mình đi nhanh như bay. Tống Vân hỏi:
- Thầy
đi đâu?
Ngài
đáp:
- Về
Ấn Ðộ.
Ngài
lại nói thêm:
- Chủ
ông đã chán đời rồi.
Tống
Vân ngẩn ngơ, từ giã Ngài về triều. Ðến triều thì vua
Minh Ðế đã băng. Hiếu Trang Ðế lên ngôi. Ông đem việc
ấy tâu lại, Vua ra lệnh mở cửa tháp giở quan tài ra, quả
nhiên là quan tài không, chỉ còn một chiếc dép. Vua sắc đưa
chiếc dép về thờ ở chùa Thiếu Lâm. Ðến đời Ðường
niên hiệu Khai Nguyên năm thứ mười lăm (728 sau T.C.) môn đồ
lại dời chiếc dép về thờ ở chùa Hoa Nghiêm.
Vua
phong Ngài hiệu Viên Giác thiền sư, tháp hiệu Không Quán.
Tập
Thiếu Thất Lục Môn nói là tác phẩm của Ngài.
(1)
Xem cửa thứ ba quyển “Sáu cửa vào động Thiếu Thất của
Trúc Thiên dịch
LINH
THOẠI BỒ ĐỀ ĐẠT MA
Trúc
Thiên
 |
 |
Tổ
Ðạt Ma cỡi sóng qua Ðông Ðộ.
Tổ
Ðạt Ma vào đất Ngụy, đường đường như một kiếm khách
chốn bải tần.
Tổ
Ðạt Ma “đơn dao trực nhập” triều đình Lương Võ Ðế
nói pháp như chuyển sóng.
Tổ
Ðạt Ma chín năm trầm hùng ngồi nhìn vách đá chùa Thiếu
Lâm.
Tổ
Ðạt Ma kỳ diệu ban phép an tâm.
Tổ
Ðạt Ma cỡi bè lau về Thiên Trức.
Tổ
Ðạt Ma xách một chiếc dép phi hành trên ngọn Thông Lãnh.
Tổ
Ðạt Ma... và Tổ Ðạt Ma...
Bao
nhiêu là câu chuyện truyền kỳ kết hào quang đưa nhà sư
mắt biếc đất Hồ (Bích nhãn Hồ tăng) vào Huyền Sử.
Từ
Tung sơn, sừng sững bên vách đá chùa Thiếu Lâm, bóng Người
ngả dài suốt lịch sử đông phương như một tượng trưng
thuần túy của Ðạo. Ngót mười lăm thế kỉ nay, lòng người
còn nghe đồng vọng tiếng Người nói; chốn già lam còn nghe
vang dội bước Người đi.
Người
đi qua không gian hiển hiện như chưa-từng-có.
Người
đi qua thời gian, hiển hiện như chưa-từng-không.
Người
đi thẳng vào sự thực, dẫm nát dư luận.
Người
đi thẳng vào lòng người, không mặt nạ.
Ðối
với Người, sự thực là sự thực, không được trả giá.
Trả giá với sự thực là kí kết với ma. Con người đang
đi xuống quá rồi, thế đạo đang nghiêng ngửa quá rồi giữa
sắc tướng; cần cấp thời chận đứng cái đà tuột dốc;
cần vươn mình lên mở lấy một con-đường-không-đường,
cần nhảy thẳng vào tâm điểm của cuộc sống, của giác
ngộ. Căn bịnh đã quá trầm trọng, cần bạo tay thọc thẳng
mũi đao vào tròng ung thư. Trong tinh thần vô úy ấy Người
đã thét giữa những con người bé nhỏ chúng ta chơn lí tối
hậu: hoát nhiên vô thánh.
Từ
huyền sử, Người trang nghiêm tô lại khung đời bằng nét
đạo tâm linh.
Sống
là đạo, ngoài ra không có đạo nào khác. Ðạo nào khác đều
tìm thánh mà bỏ phàm, đều ham ngộ mà ghét mê, đều bỏ
đời mà cầu đạo, đều tự trói buộc mình:
“Bất
dữ phàm thánh đồng triền
Siêu
nhiên danh chi viết tổ”
(Chẳng
cùng phàm thánh sánh vai
Vượt
lên mới gọi là tổ)
Cho
nên bất cứ phương diện nào của cuộc sống cũng là đạo.
Bắt nguồn tự vách núi Tung Sơn, đạo sống Thiền thấm nhuần
khắp giải đất Á Ðông, nung sanh lực cho mấy ngàn năm văn
hóa.
Cho
nên uống trà cũng là đạo, trà đạo: trà Thiền nhất vị.
Võ thuật cũng là đạo, nhu đạo: đạo lấy mềm thắng cứng.
Cắm hoa, viết chữ, bắn cung cũng là đạo: đạo luyện phép
vô tâm, để cho sự vật tự nó sắp xếp lấy một cách viên
mãn nhứt.
Cho
đến xách nước, bửa củi cũng là đạo:
Bửa
củi là diệu dụng
Xách
nước ấy thần thông
(Bàng
Uẩn)
Mà
rồi im lặng cũng là đạo nốt:
Ði
cũng Thiền, ngồi cũng Thiền
Nói
im động tịnh thảy an nhiên.
(Huyền
Giác)
Sau
khi Tổ viên tịch, “vấn đề” giải thoát được nêu lên
với tất cả tinh thành của hàng đệ tử. Người ta tự hỏi
nhau: “Tổ truyền gì cho Huệ Khả? Bí quyết của pháp Phật
là gì? Huyết mạch của đạo Thiền là gì? Thực chất của
giác ngộ là gì? v.v...” Bao nhiêu là câu hỏì nóng hổi đặt
dài theo bước chân người cầu đạo suốt mười lăm thế
kỉ nay, và có thể đúc kết lại trong câu hỏi độc đáo
sau đây của phép tu Thiền:
“Như
hà thị Tổ Sư tây lai ý?”
(ý
nghĩa tối yếu của việc Tổ Sư qua Tàu là gì?)
Người
ta mang câu hỏi sống chết ấy đến gõ cửa các Thiền sư.
Ðáp lại tấc lòng tinh thành ấy, người ta nhận được những
câu trả lời quái dị như sau:
Sư
Hương Lâm nói: ngồi lâu thấm mệt;
Sư
Cửu Phong nói: một tấc lông rùa nặng chín cân;
Sư
Triệu Châu nói: cây bách ở trước sân, v.v...
Lối
nói ngược ngạo đó gọi là công án. Trong số 1700 công án
Thiền, riêng về câu hỏi trên chiếm đến trên trăm câu,
thế đủ biết Tổ Ðạt Ma luôn luôn có mặt ở khắp nẻo
Thiền. Nên một ông sư Phù Tang nói:
“Người
nào lấy hư không làm giấy, lấy sóng trùng dương làm mực,
lấy núi Tu Di làm bút, viết được năm chữ “Tổ Sư tây
lai ý” thì sãi tôi xin trải tấm tọa cụ ra mà đảnh lễ
dưới chân.”
Sở
dĩ vậy vì người nào hiểu được, chẳng hạn, câu nói “cây
bách ở trước sân” (đình tiền bách thọ tử) của Triệu
Châu là cùng một lúc hiểu tất cả câu nói khác, tất cả
đạo Thiền, tất cả pháp Phật. Một công án là một hột
bồ đề, xâu chung với vô số hột khác thành một chuỗi
bồ đề vô tận; cho nên đập bể một hột bồ đề là toàn
xâu cbuỗi bung ra; nắm được một công án là nắm trọn,
là thông suốt tâm Phật ý Tổ.
Tuy
nhiên, muốn hiểu được “ý nghĩa của Tổ Sư qua Tàu”
không phải suy luận mà được, mà cần phải sống chết với
nó, mang nó trong thịt da như Tôn Hành Giả mang cái niệt kim
cô quanh đầu. Khi Tôn giả tròn xong công quả thì cái niệt
đau khổ kia bỗng chốc hóa thành không; cũng vậy, khi người
tìm đạo “quán” được một công án thì công án ấy, cũng
như vô số công án khác, bỗng hóa thành vô nghĩa, thừa thải,
như một trò đùa rẻ tiền.
Dầu
vậy, suốt thời gian chưa quán được thì công án là một
mũi tên oan nghiệt bắn thẳng vào mạng sống, nhổ không ra
mà muốn chết quách cũng không chết được Ðó là tâm trạng
cùng quẫn, thai nghén cho biến cố ngộ đạo. Tâm trạng ấy
được ví như tâm trạng của người leo lên cây cao, miệng
cắn vào một cành cây, hai tay buông thỏng giữa hư không,
hai chơn không vịn được vào đâu hết. Tình cờ dưới gốc
cây có người hỏi vọng lên: “ý của Tổ Sư qua Tàu là
gì?” Người trên cây không trả lời thì không được mà
trả lời thì rơi chết hốt xương.
(theo
vô môn quan)
Người
kể câu chuyện cổ quái trên đặt câu hỏi: Chính trong hoàn
cảnh ấy, chính người ấy, phải làm sao?
“Phải
làm sao?”
Ðó
là bí thuật của Thiền Ðông Ðộ, mà Đạt Ma là Sơ Tổ:
một linh thoại của muôn đời.
(trích
từ tạp chí Tư Tưởng Đại Học Vạn Hạnh Số 2 & 3)
ĐÔI
MẮT TỒ SƯ BỔ ĐỀ ĐẠT MA
Hạnh
Chiếu
 |
 |
Thiền
viện tôi có treo một bức chân dung Tổ Bồ Đề Đạt Ma.
Đó là một bức họa bằng nước lã và mực tàu với bút
khí thật hùng mạnh. Cặp lông mày, đôi mắt và chiếc cằm
bạnh râu của Ngài biểu lộ một phong cách thật ngang tàng,
khí phách, tương phản với cành sen dịu dàng trước hồ nửa
búp nửa nở, cũng thật tự nhiên, thật tươi tắn.
Cứ
mỗi lần ngắm sen nở là tôi lại thấy Tổ sư nhìn mình,
nhìn sen, dôi mắt sáng. Đôi mắt ấy, cành hoa ấy, có gì
giống, có gì khác đôi mắt xưa, cành hoa xưa của câu chuyện
"Niêm hoa vi tiếu"?
Một
hôm đức Phật ở trước chúng hội Linh Sơn. Quý Thầy im
lặng chờ đợi bài thuyết pháp thường nhật. Nhưng đức
Phật vẫn không nói năng gì. Lâu lắm, Phật mới cầm một
cành hoa sen đưa lên, đôi mắt nhìn thẳng về đại chúng.
Hội Linh Sơn im phăng phắc. Thời gian như ngừng trôi, không
gian như bất động. Giữ lúc ấy có một Thầy nhìn Phật
mỉm cười, đôi mắt sáng. Đức Phật vui quá, liền nói ngay
lập tức:
- Ta
có chánh pháp nhãn tạng. Niết bàn diệu tâm, thật tướng
vô tướng, pháp môn vi diệu. Nay phó chúc lại cho ông. Ông
nên khéo giữ gìn và làm cho hưng thịnh.
Thầy
ấy chính là Tôn giả Ma Ha Ca Diếp.
Tôn
giả đã đạt được sự giác ngộ triệt để khi nhìn thấy
một cành hoa sen nên nhận được phần thưởng thật xứng
đáng. Đó là tâm ấn của Như Lai. Bấy giờ, Tôn giả trở
thành con người hạnh phúc nhất trần gian, không còn bị lệ
thuộc và khống chế của sinh, lão, bệnh, tử. Tôn giả là
đệ tử của Phật và cũng là tri âm tri kỷ của Phật. Bởi
vì Tôn giả và Phật hiểu nhau.
Trong
bài "Nhân duyên ngộ đạo" có một đoạn Thiền sư Chân Nguyên
viết như vầy:
Nhất
điểm tâm đăng Phật nhãn sinh
Tương
truyền tứ mục cố phân minh
Liên
phương tục diệm quang vô tận
Phổ
phó thiền lâm thọ hữu tình.
Một
ngọn đèn tâm mắt Phật sinh
Truyền
nhau bốn mắt thấy phân minh
Đèn
đèn nối mãi vô tận sáng
Trao
gởi thiền lâm dạy hữu tình.
Bài
kệ đủ tình đủ lý đã nói được thật sâu và thật tròn
đầy cái giây phút thiêng liêng giữa hai thầy trò. Ngài Đại
Ca Diếp đã nhận được trọn vẹn những gì Phật muốn trao.
Mà hai thầy trò có nói gì với nhau đâu! Và, đó là bản
chất của Thiền.
Với
con mắt của một kẻ phàm phu tục tử, tôi không dám lạm
bàn về sự chứng ngộ của Tổ sư. Nơi đây, tôi chỉ xin
được đón nhận và chiêm ngưỡng đôi mắt Tổ sư trước
một cành hoa. Nếu là Ngài Vân Môn, Ngài sẽ bảo: "Ca Diếp
thấy cành hoa là cành hoa". Thế thôi. Nhưng đôi mắt ấy,
cành hoa ấy đối với những ai còn đứng ngoài ngõ, muốn
gõ cửa nhà thiền vẫn là một giai thoại như "tiêu nguyệt
chỉ" (ngón tay chỉ mặt trăng) thật tuyệt vời. Bởi vì thông
qua ánh mắt đó, nụ cười đó, Tổ sư thầm gởi đến những
người bạn đồng hành một bức thông điệp với nhiều mật
ý. Thấy cành hoa là cành hoa tức là thấy được sự hiện
hữu của chính mình và sự hiện hữu của muôn sự muôn vật
mà không cần trí quán. Là thấy được thực tại. Là thấy
tánh. Vì vậy mà Tổ sư đã mỉm cười. Và, Ngài cũng đã
cố gắng hết sức để cho chúng ta cũng mỉm cười khi đối
diện với một niềm vui chớm nở hay một nỗi buồn sắp
tàn. Là vì Ngài không muốn chúng ta chìm trong đau khổ mà
là ung dung trên đau khổ, thoát khổ. Đôi mắt ấy, nụ cười
ấy vì thế được tiếp nối mãi.
Theo
đó, mà đôi mắt của Bồ Đề Đạt Ma dù ở trong tranh nhưng
khi nhìn ngắm một cành hoa vẫn sinh động như đôi mắt của
Tổ Ca Diếp vào thời Phật còn tại thế. Bởi vì, đối với
Thiền sư, khuôn sáo thời gian và không gian có ý nghĩa gì
đâu! Đôi mắt nào cũng biết nhìn, cành hoa nào cũng thật
xinh. Cho nên, các Ngài thấy hoa là thấy Phật. Đôi mắt của
Tổ Bồ Đề Đạt Ma vì thế mang biểu tượng của lòng tự
tin, của trí dũng, của tuệ nhân trực giác. Phong cách và
tinh thần của Tổ sư, vì thế trở nên thần tượng của
những ai muốn có được một sự trầm tĩnh lớn, một an
định lớn, một đức vô uý lớn, một sức mạnh tâm linh
lớn. Có lẽ đó là duyên do mà các thiền viện đều tôn
thờ chân dung Tổ sư.
Tôi
không phải là một Thiền sư, nhưng tôi cũng hữu duyên để
làm một Thiền sinh. Vì vậy, mỗi khi nhìn hoa sen, tuy không
đủ diễm phúc thấy hết sự huyền nhiệm của hoa sen hay
của chính mình, để cười nụ cười của Ngài Ca Diếp, để
nhìn bằng ánh nhìn của Ngài Đạt Ma, nhưng tôi tin tưởng
luôn có sự hiện diện của các Ngài bên cạnh tôi, trợ lực
tôi. Sự hiện diện đó không chỉ trên những biểu tượng
hay những câu chuyện đi vào lịch sử quá vãng mà sự hiện
diện đó chính là sự có mặt thường xuyên của mỗi cánh
sen, cành sen, cọng sen, rễ sen đang cắm sâu trong bùn sình
và sẵn sàng vươn lên một đóa sen hồng tinh khiết để cúng
dường cho sự có mặt của mỗi vị Phật đương lai. Trong
đó, có tôi và huynh đệ tôi.
Sáng
nay, tôi nhìn thấy Tổ sư đang ngắm một hoa sen. Đóa sen hé
nhụy ngắm cả một bầu trời xanh. Bầu trời xanh trở lại
thênh thang trong đôi mắt Tổ sư.
Hạnh
Chiếu
12-01-2007
04:34:23
|