Khu
vực tôi ở có một con đường hai hàng thông cổ thụ, tàn
lá giao nhau như lọng che, vừa tạo nét đặc thù, vừa luôn
luôn cho bóng mát. Tôi lò dò mua căn nhà ở đây cũng vì cái
lọng che lồng lộng giữa không gian, thoảng hương thông ngan
ngát này. Có lẽ cũng vì con đường đẹp và râm mát nên
rất nhiều người đi bộ chọn đi ngang đây. Tôi nghĩ, 99%
người địa phương chịu khó dành một ít thì giờ nào đó
trong ngày để đi bộ vì lý do sức khỏe. Không ông bà bác
sỹ nào không khuyên thân chủ của mình đi bộ, như hình thức
thêm vào một toa thuốc, tùy theo tuổi tác, sức lực mà giới
hạn lộ trình dài hay ngắn. Còn 1% kia chỉ đi khi hứng thú,
đi hóng gió, hoặc đi để mà .... đi (như tôi chẳng hạn).
Ấy,
tuy không có mục đích rõ ràng nhưng tôi cũng đi khá thường
xuyên vì cảm thấy một tiếng đồng hồ tản bộ đã cho
tôi sự thư dãn tinh thần lúc nào không hay. Trời vừa sắp
tắt nắng là tôi xỏ đôi giầy Bata vào chân, chụp cái nón
nỉ lên đầu, mở cửa sau, chào mấy gốc bưởi, hít hà dăm
nụ huệ trắng rồi bước ra đường, cứ theo hai hàng thông
cao mà chậm rãi bước.
Tôi
cũng chẳng đặt cho mình một hình thức cố định nào. Khi
thì bỏ một băng giảng vào máy nghe, đeo theo, vừa đi vừa
nghe giọng Thầy Phước Tịnh rất nhẹ nhàng, lịch lãm "Thưa
đại chúng, hôm nay là ngày ..... chúng ta sẽ nói chuyện về
....” hoặc Thầy Trí Siêu giảng Kinh Kim Cang rất xúc tích
mà lại đơn giản, dễ hiểu vô cùng ! (Phật tử vô minh như
tôi mà hiểu được chút chút, đủ biết thầy Trí Siêu đã
lựa lời, uyển chuyển theo căn cơ chúng sanh chừng nào)
Nhưng
hôm nay hơi khác thường. Trời còn nắng gắt mà tôi đã mở
cửa sau, bước ra đường, quên chào gốc bưởi, quên thưởng
thức hương huệ và hình như quên cả cái nón nỉ ! Nhưng
chẳng sao. Tâm tôi đang có điều bất an. Tôi chỉ cần “Làm
một cái gì đó” thay vì ngồi trong bốn bức tường, tự
gậm nhấm phiền não và để mặc cho phiền não gậm nhấm
mình ! Và thói quen đi bộ đã vô tình kéo tôi ra đường khi
trời còn nắng.
Mấy
ngày nay, thời tiết bỗng nóng hực. Rải rác đó đây đã
có những đám cháy rừng có cơ nguy lân lan vào đô thị. Mây
rất cao, trong vắt, như đành nhường lối cho ông mặt trời
giương oai, phà xuống mặt đất sức nóng trên trăm độ.
Dưới sức nóng này, dù tôi đang đi giữa những tàng thông
cũng vẫn nóng. Có phải thực sự thời tiết đang nóng như
vậy không, hay chính từ tôi ? Ba cõi không an giống như nhà
lửa mà !
Mặc
! Nóng thì nóng, nắng thì nắng, tôi cứ chậm rãi bước.
Phải chi tôi đeo theo một băng giảng, và nếu Thầy Phước
Tịnh có tha-tâm-thông, tôi chắc Thầy sẽ từ bi mở đầu
thế này: “Thưa đại chúng, hôm nay là một ngày rất nóng,
chúng ta sẽ nói chuyện về Giòng-Suối-Mát-Tự-Thân ...”
Tôi có thể hình dung được nhân dáng Thầy Phước Tịnh,
ông thầy tu nhỏ nhắn, hòa ái, nhẹ nhàng mà từ cách di động
viên phấn trên bảng đen viết đôi giòng chữ Hán đến cách
nâng tách nước, hớp một ngụm nhỏ .... nhất nhất đều
biểu lộ chánh niệm. Nhân cách đó như coi nhẹ mọi sự,
như chẳng có chi quan trọng mà đồng thời lại là trân quý
từng hạt sỏi, giọt sương. Tôi chưa đủ sức diễn tả
gẫy gọn những cảm nghĩ này của mình nhưng rõ ràng là mỗi
lần hội đủ duyên đi nghe giảng, tôi đều cảm nhận như
thế, từ Thầy.
“Cái
gì đây?”.
Tôi
dừng vội lại, đến mức suýt ngã chúi về phía trước !
Một
bông hoa dại vàng rực nở từ khe nứt của lề đường xi
măng !
Trời
đang hừng hực nắng, nền xi măng tưởng như có thể bốc
khói. Vậy mà, bông hoa vẫn từ đó vươn lên, nở rộ ! Tôi
thấy mình quỳ xuống bên hoa, nhìn cho kỹ. Vết xi măng nứt
rất nhỏ, có sự tình cờ nào của bụi phấn hoa nhờ gió
thoảng đưa qua ? Hay sự vụng về của con chim nào tha hạt,
nhả rơi vào đó ? Hay duyên của bông hoa vừa hội đủ, từ
kiếp nào ? Hay duyên của chính tôi đã bước tới đúng sát
na này ? Thật là kỳ diệu ! Quỳ xuống chưa đủ, tôi đưa
tay, sờ nhẹ cánh hoa như để chứng nghiệm đây là thật.
Đây
là thật.
Không
phải chỉ bông hoa là thật mà tôi sửng sốt vì thông điệp
cực kỳ uyên nguyên, cực kỳ hiển lộ, bông hoa đang mang
cho tôi cũng là thật. Đó là: THÔNG ĐIỆP CỦA SỰ HIỆN HỮU
CHÂN NHƯ, MẦU NHIỆM.
Thời
xưa, có lần ngài Triệu Châu hỏi ngài Nam Tuyền Phổ Nguyện:
- Như
hà thị đạo ? (Thế nào là đạo?)
Ngài
Nam Tuyền trả lời:
- Bình
thường tâm thị đạo (Tâm bình thường là đạo)
Câu
trả lời quá đơn giản đến mức khó tin nhưng khi ngài Nam
Tuyền khai triển thêm thì ngài Triệu Châu lãnh hội ngay.
Tâm
không bình thường là tâm ở trong hai trạng thái: vọng thức
và vô ký. Những tạp nghĩ lao xao quen huân tập không dừng,
dẫn đến vọng thức; sự mơ màng, ngầy ngật dẫn đến
vô ký.
Tâm
bình thường là trí tuệ Bát Nhã, sáng trong, nhận biết rõ
ràng nhưng thinh lặng, rỗng rang. Đó là Tâm Đạo.
Dưới
ánh nắng chói chang , từ khe nứt nhỏ của nền xi măng cháy
bỏng, bông hoa vàng đã nhẹ nhàng nở, rất tự nhiên, thanh
thản, như không cần bất cứ một sự cố gắng nào ! Chỉ
có người đang chiêm ngưỡng hoa mới bàng hoàng vì sức mạnh
kỳ diệu của duyên hợp cho hoa có mặt phút giây này, cho
tôi chứng nghiệm sự mầu nhiệm của lẽ đạo mà nhận ra
mình quá yếu đuối, quá bé nhỏ trước bông hoa bên đường
kia !
Từ
khô cằn đất đá, hoa còn biết nương khe nứt mà nở cho
đời thì sự phiền não trong tôi có đáng gì mà tôi không
nở được Đóa Hoa Tâm ?
Có
phải chăng hoa mang Tâm Bình Thường nên hoa đang là Đạo ?
Chắc
chắn, đây không phải lần đầu tôi nhìn thấy bông hoa dại
nở từ vết nứt xi măng, nhưng sao chỉ ở ngày hôm nay, phút
giây này, tôi mới bắt được thông điệp vô ngôn mầu nhiệm
? Có phải ở một sát na nào nhanh như lằn chớp, tôi cũng
mang Tâm Bình Thường trong trạng thái rỗng rang đúng khi nhìn
thấy bông hoa; hay bông hoa đã ở đó, chờ bước chân người
phiền não để lóe lên một ánh minh quang ?
Dù
thế nào, những chiêu cảm tuyệt vời này đang cho tôi niềm
tin mãnh liệt ở lời Phật dạy, là mọi chúng sanh đều sẵn
có Phật tánh như nhau, chỉ khác ở mức độ dầy, mỏng của
màn vô minh che lấp, ở mức cạn, sâu của trí tuệ phản
quang tự kỷ, và quan trọng hơn cả là ở thời gian dài, ngắn
giữ được Phật tánh đó. Quý đạo hữu hãy thử kiểm lại
mà xem, thế nào cũng nhận ra nhiều lúc tâm mình rất an lạc,
rỗng rang, cái nhìn của mình trước vạn hữu rất thanh thản
mà lại rất sâu sắc nên có thể nhận ra bản chất chân
thật mà mình không hay. Nhưng tiếc rằng tâm chúng ta đã huân
tập lâu đời, luôn chạy theo cảnh, theo tình bên ngoài nên
phút giây chạm vào Chân Như, chưa kịp nhận biết thì cảnh
đó tình kia đã cuốn ta trôi lăn vào vọng tưởng ! Nói thế
có nghĩa là, trong đời sống bát nháo chập chùng vô minh này,
chúng ta từng có phút trở về với cái ta vô sinh bất diệt,
tức là có những phút giây ta từng là Phật mà ta không biết,
hay chưa kịp biết đã trở lại chúng sanh ! Đó chính là câu
Đức Phật khẳng định: “Ta là Phật đã thành, các con là
Phật sẽ thành”. Đức Thế Tôn ĐÃ THÀNH Phật vì Ngài giữ
được Phật tánh thường xuyên, không từng đứt đoạn. Chúng
sanh SẼ THÀNH vì tâm điên đảo luôn làm biến diệt giòng
chân như. Cái tâm luôn chạy nhảy là thủ phạm ngăn chúng
sanh thành Phật mà câu chuyện ẩn dụ về tâm, cho chúng ta
thấy rõ hơn ở điểm này.
Câu
chuyện như vầy: Một hôm, hai thầy trò mang trà xuống núi
đổi gạo, muối. Sư phụ thong dong đi trước, chú tiểu đeo
tay nải đi sau. Được một quãng, Thầy bỗng dừng lại, nhìn
đệ tử của mình và bảo:
- Con
đi trước thầy đi.
Chú
tiểu không hiểu sao thầy bảo mình đi trước nhưng cũng phải
vâng lời và rụt rè đi trước sư phụ. Được một quãng,
thầy lại bảo:
- Này
con, bước chậm lại, đi sau thầy đi.
Mới
qua rừng sồi, chú tiểu ngạc nhiên thấy thầy dừng lại,
nhìn mình rồi điềm đạm:
- Con
hãy bước đi trước thầy.
Cứ
thế, lúc thầy bảo chú đi trước, lúc lại bảo đi sau nên
khi hai thầy trò nghỉ chân bên bờ suối, chú tiểu không đừng
được mà hỏi thầy rằng:
- Bạch
sư phụ, chắc là sư phụ đang dạy con điều chi nên suốt
chặng đường núi, khi thì bảo con đi trước, lúc lại bảo
đi sau ?
Thầy
đưa tay khua nhẹ giòng suối mát, dịu dàng nói:
- Có
chi đâu con, khi thầy bảo con đi trước thầy, đó là lúc
thầy nhìn thấy tâm con, hoặc trong vắt không vẩn một vọng
tưởng, hoặc tràn đầy ý thiện lành không mong gì cho mình
mà chỉ mong lợi ích cho người. Khi đó, con đang là Phật,
thầy phải thỉnh con đi trước thầy. Nhưng tâm Phật ấy,
con chẳng giữ được lâu, vọng tưởng buông lung lại dắt
con vào những cơn mê, xoay quanh tham sân si hơn thiệt ở đời.
Khi đó, con không là Phật nữa mà là chúng sanh nên thầy truyền
con đi sau thầy là vậy.
Chú
tiểu giật mình, nhớ ra là sư phụ đã đạt tha-tâm-thông
nên NHÌN thấy tâm mình rõ như đọc chữ trên trang giấy !
Thưa
quý đạo hữu, câu chuyện nhỏ này có cho chúng ta niềm hoan
hỷ là chúng ta cũng từng có phút giây là Phật mà ta không
biết, không nắm bắt kịp, hoặc có chợt nhận ra cũng chưa
đủ năng lực giữ được lâu dài ? Nếu có chút hoan hỷ
nào thì sau đó cũng nên băn khoăn “Làm sao giữ được Phật
tánh đó ở cùng ta?”
Để
tự kiểm điểm, mỗi tối, trước khi đi ngủ, chúng ta thử
nhớ lại trong ngày, xem có phút giây nào ta mang Tâm Bình Thường
không ? Nếu có, dù chỉ ngắn ngủi, ta hãy thả vào hồ-tâm
một mầm sen. Rồi cũng chính ta sẽ lặng lẽ ngắm hồ, xem
có đóa sen nào nhô lên không ?
Bạn
muốn thấy hồ-tâm mình thơm ngát hương sen hay chờ mãi chỉ
có bùn lầy nước đọng ?
Nam
Mô Phương Tiện Thánh Cư Độ, A Di Đà Như Lai, Giải Thoát
Tướng Nghiêm Thân, Biến Pháp Giới Chư Phật.
Diệu
Trân
(Như-Thị-Am,
tháng bảy, 2006)
PHÁO
BÔNG
Diệu
Trân
 |
 |
Tôi
đã nhiều lần được nhìn ngắm pháo bông rực rỡ trên bầu
trời Hoa Kỳ và lần nào cũng không thể không trầm trồ “Đẹp
quá ! Tuyệt ! Thật tuyệt đẹp !” Lẽ dĩ nhiên, tôi đang
nói về những loại pháo bông bắn vút lên thật cao, thật
xa, rồi mới bùng nở ra muôn hình vạn trạng, muôn mầu sắc
hài hòa, tùy theo sự chế tác mỹ thuật của những nhà thực
hiện phác kiểu.
Mới
ngày lễ Độc Lập của Hoa Kỳ, đầu tháng 7 vừa qua, thời
tiết quá nóng nên chập tối tôi mới ra sân trước tưới
nước cho bãi cỏ khá rộng và những bụi hồng, khóm trúc
kêu khát vì nắng hè chói chang. Nhiều người đã nghĩ, xăng
đang lên giá kéo theo mọi thứ hàng hóa khiến đời sống
dân chúng eo hẹp, chắc là ngân khoản mua pháo bông mừng
lễ Độc Lập cũng phải bị cắt xén theo. Tôi cũng nghĩ như
thế. Nhưng tôi lầm và nhiều người đã lầm ! Vừa tưới
vườn ngoài sân trước, tôi vừa được ngắm pháo bông nở
rộ, sáng rực khắp bầu trời sẫm tối. Cao điểm là khoảng
từ 9 tới 10 giờ vì lúc này trời đã mát hẳn. Trẻ nhỏ,
người lớn tràn ra lề đường, ai có pháo thì đốt, ai không
có thì bắc ghế ra sân, ngắm ... ké. Những bông hoa pháo đủ
mầu, đủ kiểu bung lên phía trước, phía sau, bên phải, bên
trái, hai con mắt không kịp nhìn hết, nao nức, rộn ràng những
âm thanh trầm trồ, xuýt xoa, reo hò của người thưởng ngoạn.
Theo
tôi, kỹ thuật thực hiện pháo bông của Hoa Kỳ là nhất
! đầy chất sáng tạo, nghệ thuật và vô cùng rực rỡ !
Từ
hơn một tuần nay, tôi thấy lại hình ảnh quen thuộc của
những chùm pháo bông trên màn ảnh truyền hình khi theo dõi
tin tức chiến tranh Trung-Đông ! Trong màn tối, ánh đèn điện
nhấp nháy như sao đêm, từ những cao ốc chọc trời, những
khu phố sầm uất, bỗng rung chuyển. Phi pháo từ nơi nào đó,
vụt lên không gian, tóe lửa giữa trung tâm thành phố rồi
rơi xuống. Chỉ một tích tắc sau, khối lửa khổng lồ bốc
lên ngùn ngụt, trên thì như đốt cháy trăng sao, dưới thì
thành phố vỡ vụn. Phút giây, toàn bộ địa bàn nơi ngòi
nổ của phi pháo rơi xuống chìm trong biển lửa, trong gạch
ngói tan hoang, trong tiếng khóc la vang trời dậy đất !!!
Hình
ảnh này không mấy khác những chiếc pháo bông được bắn
lên trời để ăn mừng, để vui chơi, để giải trí. Có khác
chăng là độ mạnh của nó có thể gấp triệu triệu lần
pháo bông và mục đích của nó là hủy diệt, tàn phá, gây
chết chóc kinh hoàng. Người đốt pháo bông tung lên trời
để bộc lộ niềm vui trong lòng mình và chia xẻ niềm vui
đó với người khác. Người nhấn nút phi pháo vào những
địa điểm được chỉ định thì mang lòng thù hận ngùn
ngụt và xả lòng thù hận đó vào mục tiêu tàn sát ! Chiếc
pháo bông bung lên, mang theo bao tiếng cười. Đầu đạn pháo
rơi xuống, cày nát nhà cửa, thịt xương trong tiếng khóc
!
Trong
kinh Trung A Hàm có đoạn nói về một buổi sáng vua Pasenadi
đến thăm Đức Thế Tôn ở tu viện Kỳ-Viên-Tự. Vua bảo
đoàn tùy tùng xênh xang người, ngựa ở hết bên ngoài, chỉ
mình nhà vua lững thững vào am thất đảnh lễ Đức Thế
Tôn. Hôm đó, vua Pasenadi băn khoăn thưa rằng:
- Bạch
Đức Thế Tôn, nhờ hưởng ân đức giáo pháp, con đã tuân
lời, cố gắng chăm lo thần dân, thương yêu hoàng tộc nhưng
con vẫn có cảm tưởng là họ chưa được hạnh phúc. Bạch
Đức Thế Tôn, con phải làm gì hơn nữa ?
Đức
Phật ôn tồn bảo:
- Thương
yêu chưa đủ đâu, thương yêu còn phải đi đôi với hiểu
biết mới có thể mang hạnh phúc cho đối tượng mình thương.
Chẳng hạn như đại vương tỏ lòng yêu hoàng-hậu, công chúa
bằng cách tuyển chọn nhiều đoàn ca múa xuất sắc vào cung,
ngày đêm múa hát cống hiến những màn giải trí lộng lẫy,
vui tươi rồi bắt hoàng hậu, công chúa thưởng thức; trong
khi, đại vương có biết rằng hoàng hậu và công chúa chỉ
muốn phục sức đơn giản, cùng đoàn tùy tùng mang lương
thực, vải vóc tới thăm những xóm nghèo ? Đại vương cũng
muốn hoàng tử ngày đêm học kinh Vệ Đà trong khi chàng chỉ
muốn lắng tâm thiền định ? Hãy chỉ nói trong phạm vi rất
nhỏ là gia đình cũng có thể cho ta thấy rằng, nhiều khi
ta tưởng ta yêu thương người khác mà lại không hề tìm
biết đến nhu cầu của đối tượng thì rốt ráo chỉ là
ta thương ta, ta thỏa mãn những điều chính ta muốn mà thôi.
Thương như thế, làm sao mang được hạnh phúc cho người mình
thương ?
Vua
Pasenadi bàng hoàng khi nghe những lời chỉ dạy như vậy. Sự
việc bỗng dưng quá giản dị mà trước đây nhà vua không
hề thấy. Sức mạnh của lòng kính ngưỡng đã khiến vua
Pasenadi sụp lạy dưới chân Phật. Đức Thế Tôn đỡ vua
ngồi lên rồi chậm rãi nói tiếp:
- Cũng
thế, người cai trị quốc gia bằng tình thương, tức là bằng
tâm từ và tinh thần bất bạo động thì dân chúng sẽ luôn
được an lạc, thái bình. Đại vương có muốn nhìn thấy
những người trai trẻ của vương quốc bị chết chóc, thương
vong khi giao chiến với các nước lân bang không ?
Bị
hỏi bất ngờ, vua Pasenadi trả lời ngay:
- Bạch
Đức Thế Tôn, trẫm thương dân chúng trẫm như con cái. Trẫm
rất đau lòng khi các con trẫm phải xông pha ngoài trận mạc.
Đức
Thế Tôn nâng tách trà lên, nhưng rồi lại từ tốn đặt
xuống và nói tiếp:
- Cũng
thế, vua của các nước lân bang cũng không muốn thấy con
cái họ bị thảm sát ngoài chiến trường. Nhưng vì đâu,
không ai muốn mà tranh chấp tàn khốc vẫn xảy ra ? Đó là
vì những người nắm vận mạng người khác đã không bắt
đầu mỗi sự việc bằng TÂM TỪ. Tâm từ ở đây là lòng
thương người như thương chính ta. Nếu đại vương nhìn những
chàng trai trẻ của lân bang bằng cái nhìn yêu thương như
nhìn trai trẻ trong vương quốc thì đại vương cũng sẽ bảo
vệ họ như bảo vệ con cái của đại vương. Ngược lại,
nếu những quốc gia lân bang cũng yêu thương thần dân của
đại vương như thần dân của họ thì làm sao có cảnh cha
mẹ đẩy con cái vào chốn máu đổ, thịt rơi ?! Tất cả
chỉ vì chúng ta không cùng khởi đầu bằng tâm từ mà lại
bằng tâm sân hận. Điểm tới của tâm từ là nối kết yêu
thương và tăng trưởng hạnh phúc. Điểm tới của tâm sân
hận là tàn phá và hủy diệt an lạc. Mùa Xuân năm trước,
khi về thăm hoàng gia, tôi cũng thưa với phụ hoàng tôi như
thế và Người đã mời các quốc vương lân bang tới, cùng
hội ý. Từ đó tới nay, dân chúng những quốc gia lân bang
đều được an lạc, thái bình vì gặp bất cứ vấn đề
gì, các quốc vương đều giải quyết bằng tâm từ.
Nghe
tới đây, vua Pasenadi cực kỳ rúng động. Như lời Phật dạy
thì hòa bình và hạnh phúc của nhân loại ở ngay trong tầm
tay. Chỉ cần những người nắm quyền sinh sát đều khởi
Tâm Từ. Tất nhiên, trong đời sống luôn có nhiều va chạm,
bất đồng, từ đơn vị nhỏ là gia đình, xã hội, rồi tới
quốc gia, thế giới. Nhưng dù bất cứ là những tranh chấp
gì, nếu chúng ta khởi đi bằng Tâm Từ để giải quyết với
nhau thì chắc chắn bạo động và chết chóc phải giảm thiểu
được rất nhiều, nếu không muốn nói là sẽ tránh được.
Trong
lịch sử nhân loại, hãy thử đi vào những lý do của từng
phía tranh chấp sẽ dễ dàng thấy rõ những “Cái Ta” chứ
không mấy khi thấy cái “Chúng Ta”. Khi chỉ có “Cái Ta”
thì tất nhiên, ngay sau đó là phải bảo vệ “Cái Của
Ta”. Mà khi cần bảo vệ “Cái Của Ta’ thì phải tiêu diệt
“Cái Của Nó” ... v...v.... Suốt giòng chảy hung hãn đó,
không ai dừng lại để hỏi “ Có làm gì khác được không
? Tiêu diệt nhau rồi tới đâu ?” Tệ hại hơn nữa, nếu
họ có dừng lại đôi phút chỉ là để họp bàn nhau làm
sao tiêu diệt đối phương mau hơn, mạnh hơn. Họ thường
quên cái giá phải trả khi đối phương phản công.
Lịch
sử nhân loại đã có không biết bao nhiêu câu trả lời bi
thảm khi con người tranh chấp nhau bằng bạo lực, nhưng sóng
lớp sau vẫn vỗ lên lớp trước. Bao hình ảnh phi lý khi những
toán cứu thương liều thân vào vòng lửa đạn cõng người
bị thương, chở vội đến những bệnh viện dã chiến gần
khu giao tranh để tận tâm tận lực cứu sống từng nhân mạng
thì cách đó không xa, bom đạn do người tung ra vẫn nhắm
vào người. Rồi người lại can đảm vào cõi chết cứu người
!!! ... Nơi này chủ tâm tàn phá cả đô thị, nơi kia vẫn
chắt chiu dựng từng mái ấm cho người trú thân. Thiện và
ác đều nhân danh những ý-thức-hệ đặc thù vị kỷ để
thỏa mãn nhân sinh quan của mình, dù rằng, khi diệt người
thì ta cũng chẳng toàn thân !
Ai
trách Phật là giáo lý của Ngài toàn năng, sao đã gần 2600
năm mà nhân loại ngày càng thêm vô minh, thống khổ ? Họ
quên một lời điềm đạm Phật từng nói: “Đường ta đã
chỉ. Cất bước lên mà đi hay không là do các con”.
Hãy
thử mơ tưởng môt điều không tưởng, là bỗng nhiên, tất
cả những người đang nắm quyền sinh sát trên thế giới
đều đồng loạt DỪNG LẠI tâm sân hận, nhìn rõ mặt nhau,
nhìn rõ những sự thể điêu linh đang xảy ra. Chỉ cần dừng
lại như thế giây lát thôi, rồi tất cả bỗng đồng loạt
KHỞI ĐI bằng TÂM TỪ để giải quyết những tranh chấp bằng
TÌNH THƯƠNG thì điều gì sẽ xảy ra ?
Thưa
quý vị, điều đầu tiên chúng ta có thể thấy là những
ngòi nổ, những phi pháo mà các phe lâm chiến đang tận lực
nã vào nhau kia, sẽ lập tức biến thành những chùm pháo bông
rực rỡ. Những chùm pháo bông của yêu thương không chỉ
bung trên một bầu trời mà lân tinh đẹp đẽ đó sẽ vượt
thời gian, không gian cho nhân loại nơi nơi được nếm chung
một vị.
Đó
là vị an lạc và giải thoát.
Diệu
Trân
(Như-Thị-Am,
tháng bảy, 2006)