Phần
7
TẮC
THỨ SÁU MƯƠI MỐT
MỘT
HẠT BỤI CỦA PHONG NGUYỆT
THÙY:Dựng
pháp tràng lập công chỉ, là khả năng của tông sư. Định
rồng rắn phân trắng đen, phải có tri thức chuyên gia. Trên
lưỡi kiếm luận sát hoạt, nơi đầu gậy phân cơ nghi. Điều
ấy tạm gác qua một bên. Thử nói một câu mà tất cả sự
việc trong vũ trụ dựa trên ấy xem .Thử nêu lên.
CỬ:Phong
Huyệt dạy rằng, “ Lập một hạt bụi, nước nhà hưng thịnh.
Không lập hạ bụi, nước nhà suy vong.”
Tuyết
Đậu dơ gậy lên nói, “ Có còn các nạp tăng đồng sinh
đồng tử không?”
BÌNH:
Như Phong Huyệt dạy chúng rằng, “ Lập một hạt bụi , nước
nhà hưng thịnh. Không lập hạt bụi, nước nhà suy vong.”
Thử nói xem, lập một hạt bụi là đúng hay không lập một
hạt bụi là đúng? Đến chỗ này cần phải đại dụng hiện
tiền mới được. Cho nên Phong Huyệt mới nói, “ Dù cho các
ông có hiểu được trước khi ( công án) được nói lên,
vẫn cứ là bị vướng kẹt trong vỏ, mê mờ trong gò bó;
dù cho các ông vừa nghe nói một câu đã tinh thông ngay, vẫn
chưa hẳn là tránh được các kiến giải điên cuồng trên
đường.”
Tuyết
Đậu là bậc tôn túc trong dòng của Lâm Tế, sử dụng vốn
liếng của riêng mình, “ Lập một hạt bụi, nước nhà hưng
thịnh, lão quê nhăn nhó.” Ý muốn nói rằng muốn an bang
lập quốc, cần phải cậy vào mưu thần mãnh tướng, sau đó
kỳ lân xuất hiện, phượng hoàng bay lượn, đó mới là những
điểm lành của thái bình. Các kẻ nhà quê trong thôn làng
bé nhỏ làm sao biết được là có sự việc như thế? Không
lập hạt bụi, nước nhà suy vong, gió thổi vun vút, tại sao
các lão nhà quê lại ca hát vui mừng? Chỉ bởi vì quốc gia
suy vong. Trong tông phái Tào Động gọi việc này là chỗ chuyển
biến, đã không Phật không chúng sinh, không thị không phi,
không tốt không xấu. Không một âm hưởng tung tích gì cả.
Cho nên mới có câu nói rằng, “ Bụi vàng tuy quí, vào mắt
thành chướng .” Lại cũng có câu nói rằng , “ Bụi vàng
là chướng trong mắt, viên ngọc trong vạt áo là vết nhơ
trong Pháp. Tâm linh của mình dù không trống, Phật Tổ là
những ai?” Soi mói dùi đục, thần thông diệu dụng, cũng
không phải là kỳ đặc. Đến chỗ này, áo nạp che đầu,
vạn sự đều dứt. Lúc này sư núi tôi chẳng còn hiểu gì
cả. Nếu như còn nói tâm nói tính nói huyền nói diệu, thảy
đều vô dụng mà thôi. Tại sao vậy? “ Nhà ấy tự có cảnh
thần tiên.”
Nam
Truyền dạy chúng rằng, “ Bảy trăm bậc cao tăng trên núi
Hoàng Mai đều là những người hiểu Phật pháp. Cho nên họ
mới không được y bát của Ngũ Tổ. Chỉ có Lư hành giả
là không hiểu Phật pháp, vì thế cho nên mới được ý bát
của Ngũ Tổ.” Lại nói, “ Tam thế chư Phật không biết
là có, song mèo và trâu lại biết là có.” Các lão quê một
là nhăn mặt hai là âu ca. Nhưng mà thử nói xem, phải hiểu
như thế nào? Thử nói xem, họ có mắt gì mà lại như thế?
Nên biết rằng trước cửa nhà các lão quê, chẳng hề có
pháp lệnh.
Tuyết
Đậu sau khi đã nêu cả hai, lại dơ gậy lên nói, “ Còn
có các nạp tăng đồng sinh đồng tử không?” Nếu như lúc
ấy mà có một tay nào bước ra nói được một câu, cùng
nhau làm chủ khách, hẳn đã tránh được không bị Tuyết
Đậu tự điểm vào ngực mình sau này.
TỤNG
Lão
quê có thể không nhướng mày,
Mong
rằng nhà nước được vững mạnh.
Mưu
thần mãnh tướng giờ đâu hết?
Vạn
dặm gió mát chỉ tự biết.
BÌNH:
Vừa rồi nêu lên cả hai, ở đây lại chỉ nêu lên một phía,
mà bỏ một phía. Bớt dài thêm ngắn, bỏ nặng theo nhẹ.
Cho nên mới nói rằng, “Lão quê có thể không nhướng mày.
Mong rằng nhà nước vững mạnh luôn. Mưu thần mãnh tướng
giờ đâu hết?” Khi Tuyết Đậu dơ gậy lên nói, “ Có còn
các nạp tăng đồng sinh đồng tử không ?” Cũng giống như
thể nói rằng, “ Có còn có mưu thần mãnh tướng không?”
Một miệng nuốt luôn tất cả mọi người. Cho nên mới nói
rằng đất rộng người thưa, kẻ gặp gở ít. Còn có kẻ
biết nhau không? Bước ra đây cùng chọn chung một chỗ với
nhau luôn. “ Vạn dặm gió mát chỉ tự biết.” Đây chính
là chỗ Tuyết Đậu tự điểm vào ngực mình.
TẮC
THỨ SÁU MƯƠI HAI
VIÊN
NGỌC CỦA VÂN MÔN
THÙY:
Bằng vào vô sư trí phát vô tác diệu dụng; bằng vào vô
duyên từ[1] làm thiện hữu vô điều kiện. Ở trong một câu,
có sát có hoạt; Ở trong một cơ, có buông có nắm. Thử nói
xem, có ai từng được như thế. Thử nêu lên xem.
CỬ:
Vân Môn dạy chúng rằng , bên trong trời đất, ở giữa vũ
trụ, có một viên ngọc, ẩn trong núi hình [2]. Cầm đèn giấy
đi vào Phật điện, đem tam môn đến đặt trên đèn.
BÌNH:
Vân Môn nói, “ Bên trong trời đất, ở giữa vũ trụ, có
một viên ngọc, ẩn trong núi hình.” Thử nói xem, ý của
Vân Môn là ở đầu cần câu hay ở trên đèn giấy? Đây là
những lời dựa theo lời của Triệu Pháp Sư[3] trong Bảo Tàng
Luận. Vân Môn dẫn ra để dạy chúng. Vào thời hậu Tấn
Tăng Triệu ở trong vườn Diêu Tần viết luận. Lúc chép Kinh
Duy Ma[4] Tăng Triệu mới biết rằng cái học của
Lão Trang chưa tát cạn được cái vi diệu. Tăng Triệu mới
lậy ngày La Thập làm thầy. Lại cùng tham học luôn cả với
Bạt Đà Bà La ( Buddhabhadra) Bồ Tát ở chùa Ngõa Quan, đem
tâm ấn của tổ thứ hai mươi bảy từ Tây Trúc qua. Tăng
Triệu đạt được chỗ hiểu thâm sâu. Một hôm Tăng Triệu
gặp nạn, lúc sắp sửa bị hành hình, xin được hoãn bảy
ngày để viết bộ Bảo Tàng Luận.
Vân
Môn bèn dẫn bốn câu trong luận ấy để dạy chúng. Đại
ý nói rằng làm sao có thể lấy viên ngọc vô giá mà ẩn
trong ấm giới? Những lời dậy trong luận ấy đều phù hợp
với các lời nói trong tông môn của chúng ta. Há không nghe
Kính Thanh hỏi Tào Sơn, “ Cái lý của không tất cánh vô
thân là như thế nào?” Tào Sơn nói, “ Lý thì như thế,
còn sự thì như thế nào?” Kính Thanh nói, “ Sự với lý
đều như nhau cả.” Tào Sơn nói, “Ông có thể lừa Tào
Sơn này được, nhưng mà làm sao lừa được mắt của các
chư thánh?” Kính Thanh nói, “ Nếu như không có mắt của
các chư thánh, làm sao biết được nó không như thế?” Tào
Sơn nói, “ Cứ theo lẽ công thì mũi kim cũng đừng cho lọt,
song dựa vào tư tình thì xe ngựa để cũng cho qua.”
Cho
nên mới có câu nói rằng, “ Bên trong trời đất, ở giữa
vũ trụ có một viên ngọc, ẩn trong núi hình.” Đại ý rằng
mọi người ai cũng có đủ, ai cũng viên mãn. Vân Môn nêu
lên để dạy chúng, kể đã rõ ràng hết sức, thầy
ta không thể nào còn đi chú giải gì thêm cho các ông giống
như các giảng sư được cả. Song Vân Môn vốn từ bi cho nên
để thâm một cước chú cho các ông rằng, “ Cầm đèn
giấy đi vào Phật điện, đem tam môn đến đặt trên đèn.”
Thử
nói xem, Vân Môn nói như vậy là ngụ ý gì? Há không nghe có
bậc cổ nhân nói, “ Vô minh thực tính là Phật tính, huyễn
hóa không thân là Pháp Thân.”[5] Lại nói, “ Phàm tâm tức
là Phật tâm.” “ Núi hình” tức là tứ đại và ngũ uẩn.
“ Có một viên ngọc, ẩn trong núi hình.” Cho nên mới có
câu nói, “ Chư Phật ở trong tâm, kẻ mê tìm bên ngoài. Ngọc
vô giá trong lòng , mà cả đời không biết.” Lại nói rằng,
“ Phật tính hiển hiện rõ ràng , hữu tình[6]trụ tướng
khó thấy. Nếu ngộ chúng sinh vô ngã, tính mình nào khác tính
Phật?[7] Tâm là tâm bổn lai, mặt là mặt mẹ sinh. Đá tảng
dễ di động , vậy này kh6ng cãi biến.”
Có
người nhận cái chiêu chiêu linh linh[8] là viên ngọc quí kia,
có điều không đạt được cái dụng cũng như cái diệu của
nó. Cho nên chuyển động không được, khai mở không xong.
Cổ nhân nói, “ Cùng tắc biến, biến tắc thông.”
“
Cầm đèn giấy đi vào Phật điện,” nếu như là việc thường
tình thì có thể đo lường được. Song “đem tam môn đến
đặt trên đèn,” có thể đo lường được chăng? Vân Môn
một lúc đã phá tình thức, ý tưởng, đắc thất, thị phi
cho các ông. Tuyết Đậu nói, “ Tôi thích cái cơ biến mới
mẻ của Thiều Dương ( Vân Môn), cả đời chỉ lo nhổ đinh
bạt chốt cho thiên hạ.”Lại nói, “ Chẳng biết mấy
người ngồi ghế cao,[9] kiếm sắt chặt đi khiến người
thương.”Khi Vân Môn nói, “ Cầm đèn giấy đi vào Phật
điện,” chỉ một câu này thôi cũng đủ cắt đứt hết
các kiến chấp rồi; lại còn, “đem tam môn đến đặt trên
đèn.” Nếu như các ông luận ( công án) này thì như đá
lửa như điện chớp.
Vân
Môn nói, “ Nếu như nhất định đi, cố chọn một đường
vào. Chư Phật nhiều như vị trần, ở cả dưới chân các
ông. Ba tạng thánh giáo, ở trên đầu lưỡi các ông. Song
cũng vẫn không bằng được ngộ. Các thầy đừng có vọng
tưởng, trời là trời, đất là đất, núi là núi, sông là
sông, tăng là tăng, tục là tục.” Sau đó thầy ta lại nói
tiếp, “Đem ngọn núi b1ât động trước mặt các ông đến
đây xem.” Có ông tăng bước ra hỏi, “ Lúc kẻ học thấy
núi là núi sông là sông rồi thì như thế nào?” Vân Môn
nói, “ Tam môn tại sao lại bắt đầu từ đây?” Sợ các
ông chết, cho nên Vân Môn lấy tay vạch một đường rồi
nói, “ Nếu hiểu được thì là vị đề hồ, nếu không
hiểu được nó lại thành ra độc được.” Cho nên mới
có câu nói rằng, “ Hiểu hiểu, lúc hiểu rồi chẳng
có gì để hiểu. Huyền huyền, chỗ huyền vẫn đáng bị
la.”
Tuyết
Đậu lại nêu lên nữa, nói rằng, “ Bên trong trời đất,
ở giữa vũ trụ, có một viên ngọc, ấn trong núi hình. Treo
ở trên tường, suốt cả chín năm, chẳng dám nhìn thẳng.
Nếu như các nạp tăng bây giờ muốn thấy, ta sẽ đập cho
mấy gậy vào lưng sống.”[10] Nhìn xem các bậc tông sư có
khả năng, chẳng bao giờ đem thực Pháp ra trói buộc thiên
hạ.Huyền Sa nói, “ Bẫy rập không giữ được, kêu gọi
chẳng quay đầu. Tuy thế vẫn cứ là con rùa thiêng lê lết
cái đuôi.” Tuyết Đậu tụng rằng:
TỤNG
Nhìn
nhìn!
Bến
cũ ai kẻ cầm nhánh câu?
Mây
chập chùng,
Nước
miên man.
Hoa
lau dưới trăng, hãy tự nhìn.
BÌNH:
Nếu hiểu được lời của Vân Môn, các ông mới thấy được
chỗ vì người của Tuyết Đậu. Thầy ta bỏ cước chú cho
hai lời dạy cuối của Vân Môn rằng, “ Nhìn nhìn!” Nếu
như các ông hiểu lối trợn mắt nhướng mày, thì chẳng có
gì là nhằm nhò cả. Cổ nhân nói, “ Linh quang độc chiếu,
vượt trên căn trần.[11] Thể lộ chân thường,không
nệ văn tự. Tam tính vô nhiểm, vốn tự viên thành. Chỉ lìa
vọng duyên, tức như như Phật,” Nếu như cứ ngồi ì ra
đó mà trợn mắt nhướng mày, há có thể siêu việt được
căn trần sao?
Tuyết
Đậu nói, “ Nhìn nhìn!” Vân Môn như thể đang cầm nhánh
câu trên bến cũ; trong khi mây chập chùng nước miên man. Trăng
sáng phản chiếu hoa lau, hoa lau phản chiếu trăng sáng. Chính
vào lúc ấy, thử nói xem, đó là cảnh giới gì vậy? Nếu
như các ông có thể trực tiếp thấy được, trước sau chỉ
giống như một câu mà thôi.
TẮC
THỨ SÁU MƯƠI BA
NAM
TUYỀN GIẾT MÈO
THÙY:
Nơi mà con đường của ý thức không đạt đến được, đó
lại chính là nơi đáng đề cập đến; nơi ngôn ngữ không
diễn tả được, lại chính là nơi các ông phải mau ghé mắt
nhìn. Nếu điện chuyển sao bay, thì các ông có thể khuấy
biển xô núi. Trong chúng hội há không có ai làm được như
thế sao? Thử nêu lên xem.
CỬ:
Một hôm ở tự viện của Nam Tuyền, tăng chúng của đông
đường và tây đường tranh nhau một con mèo. Nam Tuyền thấy
thế bèn nắm lấy con mèo dơ lên nói, “ Nếu như các ông
nói được thì tôi sẽ không chem. Mèo.” Chúng hội không
ai nói được gì cả. Nam Tuyền bèn chặt con mèo ra làm đôi.
BÌNH:
Nhìn cái động tĩnh xuất nhập của bậc tông sư. Thử nói
xem ý chỉ của thầy ta như thế nào? Chuyện chém mèo này
được các tự viện khắp nơi bàn bạc sôi nổi. Có người
bảo rằng lúc dơ lên là đúng, có người bảo cốt yếu nằm
ở chỗ chém. Song chẳng có gì là nhằm nhò cả. Nếu như
Nam Tuyền không dơ mèo lên, mọi người hẳn có huyên thuyên
lý luận như vậy được chăng? Đâu có hay rằng bậc cổ
nhân kia có đôi mắt định càn khôn, có lưỡi kiếm định
càn khôn.
Các
ông thử nói xem, rốt cuộc ai là người chém mèo? Ngay lúc
Nam Tuyền dơ mèo lên nói rằng, “ Nếu như các ông nói được
thì tôi sẽ không chém mèo,” bỗng nhiên có người nói được,
thì thử nói xem Nam Tuyền có chém nữa hay không? Cho nên mới
có câu nói rằng, “ Chính lệnh thi hành, mười phương an
ổn.” Thử thò đầu ra ngoài trời đất mà nhìn xem đó là
ai vậy?
Kỳ
thực lúc ấy Nam Tuyền vốn chẳng hế chém.Câu chuyện
này không nằm ở chỗ chém hay không chém. Chuyện này đã
được hiểu rõ vì nó quá hiển nhiên. Không thuộc nơi tình
trần và ý kiến. Nếu như các ông hướng vào tình trần và
ý kiến mà tìm kiếm là các ông cô phụ Nam Tuyền mất rồi.
Hãy nhìn ngay vào mũi kiếm lưỡi dao. Có cũng được mà không
cũng được, không có cũng được mà không cũng được. Cho
nên cổ nhân nói, “ Cùng tắc biến, biến tắc thông.” Người
bây giờ không biết biến thông, chỉ lo lăng xăng trong ngôn
ngữ. Nam Tuyền dơ mèo lên như vậy, không phải là muốn cho
thiên hạ nói được gì; mà chỉ muốn cho thiên hạ hiểu
thấu, mọi người tự thụ dụng , tự biết. Nếu như các
ông không hiểu được như thế, rờ rẫm mà cũng chẳng được
đâu. Tuyết Đậu tụng rằng:
TỤNG
Hai
bên đều là Thiền giả mạo
Quơ
bụi cát lên chẳng được gì.
May
mà Nam Tuyền ra được lệnh,
Một
dao hai mảnh kệ thiên kiến.
BÌNH:
“Hai bên đều làn Thiền giả mạo.” Tuyết Đậu không bị
chết trong câu, song thầy ta cũng chẳng chịu chấp nhận lừa
trước ngựa sau. Tuyết Đậu có chỗ xoay chuyển cho nên mới
lại nói, “ Quơ bụi cát lên chẳng được gì.” Tuyết Đậu
và Nam Tuyền cùng nắm tay nhau mà đi, một câu nói lên được
cả. Các vị thủ tòa của lưỡng đường không có chỗ để
mà nghỉ đầu, chỉ biết quơ bụi cát lên mà chẳng làm gì
được. May mà có Nam Tuyền phán đoán công án này cho họ,
thu dọn được một cách gọn ghẽ. Song thầy ta làm gì được
cho những kẻ trước không về nhà sau chẳng đến tiệm? Do
đó mà Tuyết Đậu nói, “ May mà Nam Tuyền ra được lệnh,
một dao hai mảnh kệ thiên kiến.” Nam Tuyền một dao cắt
ra ngay làm hai mảnh chẳng quan tâm đến các thiên lệch. Song
thử nói xem, Nam Tuyền dựa vào lệnh gì vậy?
TẮC
THỨ SÁU MƯƠI BỐN
NAM
TUYỀN HỎI TRIỆU CHÂU
CỬ:
Nam Tuyền lại nêu câu chuyện trên ra để hỏi Triệu Châu.
Triệu Châu bèn cởi giầy cỏ ra đội lên đầu rồi bỏ đi.
Nam Tuyền nói, “ Nếu như có ông ở đây, hẳn ông đã cứu
được mèo rồi.”
BÌNH:
Triệu Châu đúng là người thừa của Nam Tuyền. Nam Tuyề
vừa nói đầu Triệu Châu đã hiểu đuôi, vừa nêu lên đã
biết chỗ cốt yếu. Buổi tối Nam Tuyền lại nêu câu chuynệ
trên ra để hỏi Triệu Châu. Triệu Châu là tay chuyên gia lão
luyện, bèn cởi giầy cỏ ra đội lên đầu rồi bỏ đi. Nam
Tuyền nói, “ Nếu như có ông ở đó, hẳn ông đã cứu được
mèo rồi.” Song thử nói xem, có phải là thật sự như vậy
không? Nam Tuyền nói, “ Nếu như các ông nói được thì tôi
không chém.” Như đá lửa điện chớp. Triệu Châu bèn cởi
giầy cỏ đội lên đầu rồi bỏ đi. Thầy tat ham câu sống
chứ không tham câu chết. Ngày ngày đổi mới, lúc lúc đổi
mới, ngay cả ngàn bậc thánh cũng chẳng di dịch được một
tơ hào. Các ông phải vận dụng tất cả gia bảo của nhà
mình ra, mới thấy được cái đại cơ đại dụng của thầy
ta.Triệu Châu nói, “ Ta là Pháp vương, tự tại nơi pháp.”
Nhiều
người hiểu lầm nói rằng Triệu Châu tạm lấy giày cỏ
làm
con mèo. Có người bảo, Triệu Châu ngụ ý muốn nói, “ Khi
ông nói, ‘Nếu các ông nói được thì tôi không chém,’
lập tức tôi đội giầy cỏ lên rồi bỏ đi. Chém mèo là
chuyện của ông , chẳng can dự gì đến việc của tôi cả.”
Song giải thích như thế chẳng có gì là đúng cả, trái lại
chỉ là chỉ là cái trò ma quỉ mà thôi. Đâu có biết rằng
ý của cổ nhân tựa như che trời chống đất.
Cha
con họ ăn khớp với nhau, cơ phong hợp với nhau. Khi Nam Tuyền
nêu đầu Triệu Châu lập tức hiểu đuôi. Người học bây
giờ không biết chỗ xoay chuyển của người xưa, mà chỉ
phù phiếm noi theo con đường của ý thức mà suy đoán. Nếu
như các ông muốn thấy, thì cứ nhìn vào chỗ xoay chuyển
của Nam Tuyền và Triệu Châu là thấy rõ ngay.
TỤNG
Công
án viên mãn hỏi Triệu Châu,
Trong
thành Trường An cứ nhàn du.
Giầy
cỏ đội đầu không ai hiểu,
Về
đến núi nhà bèn nghỉ ngơi.
BÌNH:
“Công án viên mãn hỏi Triệu Châu.” Khánh Tàng Chủ nói,
“ Giống như thể một người quyết định công án, tám gậy
là tám gậy, mười ba gậy là mười ba gậy. (Nam Tuyền) kể
như đã phán đoán xong xuôi rồi. Song lại vẫn nêu lên hỏi
Triệu Châu.”
Triệu
Châu là người trong nhà của Nam Tuyền cho nên hiểu ý
chỉ của Nam Tuyền. Thầy ta vốn là một người triệt để;
bị khích là lập tức phản ứng và xoay chuyển. Thầy ta có
mắt và óc của một bậc chuyên gia. Vừa nghe nêu lên đã
lập tức vươn vai hành động. Tuyết Đậu nói, “ Trong thành
Trường An cứ nhàn du.” Lậu đậu không phải ít. Cổ nhân
nói, “ Trường An tuy vui song không phải là nơi để ở lâu
dài.” Lại cũng nói, “ Trường An náo nhiệt quá, xứ của
tôi yên tĩnh.” Song các ông cần phải hiểu cơ nghi, phân
biệt được lỗi phải thì mới được.
“Giầy
cỏ đội đầu không ai hiểu.” Việc đội giầy cỏ lên
đầu này là việc vặt không có gì lắm chuyện, cho nên mới
nói, “ Chỉ có tôi mới hiểu được, chỉ có tôi mới chứng
được.” Lúc ấy các ông mới thấy được cái đồng đắc
và đồng dụng giữa Nam Tuyền, Triệu Châu và Tuyết Đậu.
Song thử nói xem, hiện giờ các ông hiểu như thế nào? “
Về đến núi nhà bèn nghỉ ngơi.” Núi nhà của thầy ta là
chỗ nào? Nếu như thầy ta không hiểu hẳn sẽ không nói như
vậy. Thầy ta đã hiểu, vậy thì thử nói xem núi nhà là ở
đâu?
TẮC
THỨ SÁU MƯƠI LĂM
NGOẠI
ĐẠO HỎI PHẬT VỀ HỮU VÔ
THÙY:
Hình mà vô tướng, tràn đầy mười phương, dàn trải khắp
nơi, vô tâm mà ứng, phổ biến cả đất lẫn biển mà không
phiền phức; nêu một hiểu ba, thoáng nhìn mà phân biện cân
lượng. Dù cho gậy rơi như mưa, hét vang tựa sấm, vẫn chưa
đáng được kể là noi theo được bước chân của bậc hướng
thượng. Song thử nói xem, thế nào là việc của kẻ hướng
thượng? Thử nêu lên xem.
CỬ:
Một ngoại đạo hỏi Phật, “ Không hỏi hữu ngôn, không
hỏi vô ngôn.” Đức Thế Tôn im lặng. Ngoại đạo tán than
rằng, “ Thế Tôn đại từ đại bi, khia mở mây mờ
cho tôi, khiến tôi có được chỗ vào (đạo).” Sau khi
ngoại đạo đi rồi, A Nan hỏi Phật, “ Ngoại đạo chứng
được gì mà nói có chỗ vào vậy?” Đức Phật nói,
“ Giống như ngựa tốt, chỉ cần thấy bóng roi cũng chạy
rồi.”
BÌNH:
Việc này nếu thuộc nơi ngôn ngữ, thì tam tạng mười hai
phần giáo há là vô ngôn sao? Có người bảo vô ngôn là đúng.
Vậy thì Tổ Sư phải mất công từ Tây Trúc qua để làm gì/
Còn như bao nhiêu công án từ xưa đến nay, rốt cuộc
phải hiểu như thế nào? Công án này bị rất nhiều người
dựa trên ngôn ngữ mà hiểu. Có người gọi là im lặng, có
người gọi là ngồi im, có người gọi là mặc nhiên không
đáp. May ma chẳng có gì là nhằm nhò cả. Có mấy ai từng
rờ rẫm ra được công án này? Việc này kỳ thực không ở
trong ngôn ngữ song cũng chẳng ngoài ngôn ngữ. Nếu như các
ông chỉ hơi toan bàn cãi là các ông đã ngàn dặm vạn dặm
cách xa rồi. Nhìn xem ngoại đạo kia sau khi tỉnh ngộ rồi,
mới biết rằng sự việc không ở đây mà cũng chẳng ở
kia, không ở phải mà cũng chẳng ở không phải. Thử nói
xem là gì vậy?
Thiên
Ý Hoài Hòa Thượng tụng rằng, “Duy Ma chẳng bao giờ im lặng,
cứ ngồi bàn cãi thành lỗi lầm. Kiếm sắc trong hợp ánh
sáng lạnh, ngoại đạo thiênma đều khoanh tay.” Lúc Bách
Trượng Thường hòa thượng tham học với Pháp Nhãn, Pháp
Nhãn dạy tham câu nói này. Một hôm Pháp Nhãn hỏi, “Ông
quan sát nhân duyên gì vậy?” Thường Hòa Thượng nói, “
Ngoại đạo hỏi Phật.” Pháp Nhãn nói, “Ông thử nêu lên
cho tôi xem thử xem.” Thường hòa thượng vừa định mở
miệng Pháp Nhãn đã nói, “ Ngưng, ngưng. Ông toan dựa vào
chỗ im lặng mà hiểu chứ gì?” Nghe lời ấy, Thường hòa
thượng hốt nhiên đại ngộ. Sau đó dạy chúng rằng, “
Bách Trượng có ba yếu quyết: uống trà, tự biết và nghĩ.
Nếu như các ông vẫn còn toan lý luận hay tư lương, thì các
ông vẫn còn chưa thấu triệt.”
Thúy
Nham Chân nêu công án này lên, nói rằng, “ Lục hợp cửu
hữu, xanh vàng trắng đỏ.”
Ngoại
đạo hiểu được bốn bộ kinh Vệ Đà[12]. tự cho mình là
người toán tri, đi đâu cũng lôi cuốn thiên hạ vào việc
nghị luận. Ngoại đạo đặt câuhỏi, toan làm líu lưỡi
đức Phật. Đức Thế Tôn chẳng phí chút tơ hào khí lực
nào, ngoại đạo lại tự tỉnh ngộ, tán than rnằg, “ Thế
Tôn đại từ đại bi, khai mở mây mờ cho tôi, khiến tôi
có được chỗ vào (đạo).” Thử nói xem , đâu là chỗ đại
từ đại bi của Đức Phật? Một con mắt của Thế Tôn thấu
suốt ba cõi, hai con ngươi của ngoại đạo quán năm tầng
trời.
Qui
Sơn Chân Như nêu lên rằng, “ Ngoại đạo giấu ngọc trong
lòng, Thế Tôn tự đề lên cho. Sâm la hiển hiện, vạn tượng
rõ ràng.”
Rốt
cuộc ngoại đạo ngộ được cái gì? Giống như thể dồn
con chó vào chân tường: đến chỗ cùng rồi thì nó phải
quay lại mà nhảy cẫng lên. Nếu như các ông buông bỏ so
đo với thị phi một lúc, tinh tấn kiên trì, tự nhiên triệt
để.
Sau
khi ngoại đoạo đi rồi, A Nan hỏi Phật, “ Ngoại đạo chứng
được gì mà nói có chỗ vào vậy?” Đức Phật nói, “
Giống như con ngựa tốt, chỉ cần thấy bóng roi cũng chạy
rồi.” Sau này mọi nơi đều nói rằng công án bị gió thổi
thành một điều khác.Lại cũng nói rằng giống như đầu
rồng đuôi rắn. Đâu là bóng roi của đức Thế Tôn? Đâu
là chỗ thấy bóng roi? Tuyết Đậu nói, “ Tà chính không
phân, lời từ bóng roi. Chân Như nói, “ chuông vàng của A
Nan reo hai lần, tứ chúng đều nghe thấy. Tuy là thế, song
giống như hai con rồng tranh viên ngọc. Làm trưởng thành con
rồng của bậc trí giả kia.” Tuyết Đậu tụng rằng:
TỤNG
Cơ
luân chưa từng chuyển,
Chuyển
ắt chạy hai phía.
Gương
sáng bỗng lên đài,
Lập
tức phân xấu đẹp.
Xấu
đẹp phân hề may đen mở,
Cửa
từ ở đâu sinh trần ai?
Nghĩ
ngựa tốt thấy bóng roi,
Thiên
lý truy phong gọi về được.
Gọi
về được, bung tay ba lần.
BÌNH:
“ Cơ luân chưa từng chuyển, chuyển ắt chạy hai phía.”
“Cơ” là linh cơ của ngàn bậc thánh, “ luân” là mệnh
mạch từ xưa đến nay của các ông. Há không nghe cổ nhân
nói, “ Linh cơ ngàn thánh không để gần, rồng sinh rồng
con chớ tò mò. Triệu Châu đoạt được ngọc vô giá,
Tần Chúa Tương Như đều táng thân.” Ngoại đạo nắm vững
được chủ trì được, chưa từng bao giờ động cả. Tại
sao vậy? Ngoại đạo nói, “ Không hỏi hữu ngôn, không hỏi
vô ngôn.” Đó há không phải là chỗ toàn cơ sao?
Đức
Thế Tôn biết ngắm gió để dương buồm, tùy bệnh cho thuốc,
cho nên mới im lặng. Toàn cơ đề lên, ngoại đạo thể hội
hoàn toàn. Cơ luân xoay chuyển một cách trơn tru, không xoay
về phía hữu mà cũng chẳng xoay về phía vô. Không rơi vào
đắc thất, không vướng vào phàm thánh, hai biên chấp bị
cắt đứt cùng một lúc. Thế Tôn vừa im lặng, ngoại đạo
đã lễ lậy. Người bây giờ phần nhiều nếu không rơi vào
vô thì cũng rơi vào hữu; chỉ lăng xăng trong hai thiên chấp
hữu vô này mà thôi.
Tuyết
Đậu nói, “ Gương sáng bỗng lên đài, xấu đẹp lập tức
phân.” Cái này chưa từng bao giờ động, chỉ lặng yên như
gương sáng trên đài, vạn tượng không tránh được phản
ánh trên ấy. Ngoại đạo nói, “ Thế Tôn đại từ đại
bi khai mở mây mờ cho tôi, khiến tôi có được chỗ vào (đạo).”
Thử nói xem chỗ nào là chỗ vào của ngoại đạo? Đến chỗ
này rồi các ông cần phải mời người tự tham tự cứu,
tự ngộ tự tri mới được. Lúc ấy mới ở khắp mọi nơi
dù là đi đứng hay nằm ngồi không hỏi cao thấp lúc nào
cũng hiện thành, chẳng di dịch chút tơ hào. Vừa toan so đo
lý luận ắt bị bế tắc đến chết người, và không còn
chỗ vào nữa.
Phần
cuối tụng” Thế Tôn đại từ đại bi khai mở mây mờ cho
tôi, khiến tôi có được chỗ vào.” Thầy ta lập tức phân
xấu đẹp. “ Xấu đẹp phân hề mây đen mở, cửa từ ở
đâu sinh trần ai?” Cả trời đất này là cửa nẻo đại
từ đại bi của đức Thế Tôn. Nếu như các ông thấu được
chẳng còn đáng để nắm giữ. Đây cũng là cửa nẻo để
ngộ. Há không biết rằng đức Thế Tôn tư duy việc này trong
hai mươi mốt ngày. “ Ta không nên thuyết Pháp, mau nhập niết
bàn ngay.”
“
Nghĩ ngựa tốt thấy bóng roi, thiên lý truy phong gọi về được.”
Ngựa truy phong” vừa thấy bóng roi là đã vượt ngàn dặm,
gọi về là quay về ngay. Tuyết Đậu có ý tán thưởng nói
rằng, “ Nếu như tìm được nhựa giống , thì chỉ cần
đẩy một cái , nó đã tự xoay chuyển; vừa gọi nó đã quay
về. Gọi về được, bung tay ba lần.” Thử nói xem, đây
là chấm phá hay là rải cát?
TẮC
THỨ SÁU MƯƠI SÁU
NHAM
ĐẦU VÀ “TỪ ĐÂU TỚI”
THÙY:Giáp
mặt đương cơ, đề cơ bẫy cọp; đánh thẳng đánh ngang,
bầy sách lược bắt giặc. Sáng hợp tối hợp, buông cả
nắm cả, biết chơi rắn độc- đều là việc của chuyên
gia.
CỬ:
Nham Đầu hỏi ông tăng, “ Từ đâu tới?” Ông tăng nói,
“ Từ Tây Kinh tới.” Nham Đầu nói, “ Sau nạn Hoàng Sào
còn thu được kiếm sao?” Ông tăng nói, “ Thu được.”
Nham Đầu nghển cổ tới trước hét lên. Ông tăng nói, “Đầu
thầy rụng rồi.” Nham Đầu bật cười ha hả.
Sau
đó ông tăng kia đến gặp Tuyết Phong. Tuyết Phong hỏi, “
Từ đâu tới?” Ông tăng nói, “Từ Nham Đầu tới.” Tuyết
Phong nói, “ Nham Đầu có lời dạy gì?” Ông tăng thuật
lại câu chuyện trên. Tuyết Phong đánh cho ba mươi gậy rồi
đuổi ra.
BÌNH:Phàm
gánh gói ômbát, nhổ cỏ ngóng gió, cũng phải có đôi mắt
của (kẻ) hành cước mới được. Đôi mắt của ông tăng
này tựa như sao chổi, song lại bị Nham Đầu khám phá, xuyên
thành một chuỗi. Lúc ấy nếu như là một tay hảo hán, hoặc
sát hoặc hoạt, vừa cử lên là phải nắm lấy chỗ dụng
ngay. Ông tăng này mới lẩm cẩm, lại nói, “ Thu được.”
Nếu như các ông mà đi hành cước như thế nàu thế nào cũng
bị Diêm Vương đòi tiền mãi lộ. Không hiểu ông tăng kia
đi rách mất bao nhiêu đôi giầy cỏ để đến với Tuyết
Phong. Nếu như lúc ấy mà ông ta có mắt chỉ một chút xíu
thôi, chắc chắn là cũng liếc thấy được, há không khoái
sao?
Nhân
duyên này có chỗ khúc mắc trong ấy.Chuyện này tuy không có
được mất, song chỗ được mất lại rất là lớn. Tuy rằng
không có so đo, song đến chỗ này rồi các ông cần phải
có con mắt so đo.
Lúc
Long Nha đi hành cước, có đặt câu hỏi ra để hỏi Đức
Sơn, “ Lúc học trò dựa vào Gươm Mạc Da muốn lấy đầu
thầy thì như thế nào?” Đức Sơn nghển cổ ra bước tới
hét lên. Long Nha nói, “Đầu thầy tụng rồi.” Đức Sơn
bèn quay về phương trượng. Sau đó Long Nha thuật lại câu
chuyện trên cho Động Sơn, Động Sơn nói, “ Lúc ấy Đức
Sơn nói gì?” Long Nha nói, “ Không nói gì cả.” Động Sơn
nói, “ Việc thầy ta không nói gì tạm gác qua một bên, thử
đưa các đầu rụng dưới đất của thầy ta cho tôi xem.”Long
Nha nghe lời ấy bèn đại ngộ, rồi thắp hương hướng
về phía Đức Sơn mà lễ lậy sám hối. Có ông tăng thuật
lại chuyện trên cho Đức Sơn, Đức Sơn nói, “ Lão hán Động
Sơn này không biết tốt xấu, gã kia chết đã lâu rồu, cứu
sống dậy cũng đâu có ích lợi gì đâu?”
Công
án này cũng giống với công án Long Nha. Đức Sơn quay về
phương trượng, trong tối thầy ta vi diệu nhất. Nham Đầu
cười lớn, trong tiếng cười của thầy ta có chỗ độc,
nếu như có người nào phân biện được, thì tha hồ mà hoành
hành trong thiên hạ. Nếu như lúc ấy mà ôngtăng kia phân biện
ra được, thì hẳn là ông ta đã tránh được không bị kiểm
trách suốt thiên cổ. Ông ta đã lỡ mất lúc còn ở trong
môn hạ của Nham Đầu. Nhìn xem lão Tuyết Phong , vì là đồng
bạn với Nham Đầu cho nên biết ngay chỗ cốt yếu. Song Tuyết
Phong lại chẳng nói rõ ra cho ông tăng mà chỉ đánh ông
ta ba mươi gậy rồi đuổi ra ngoài. Có thể bảo là không
tiền khoáng hậu. Đây là khả năng giúp người bằng cách
nắm lỗ mũi của các nạp tử. Chẳng làm gì cho họ cả,
mà chỉ giúp họ tự ngộ mà thôi.
Các
bậc tông sư giúp người, đôi khi đánh bẫy họ không để
họ chui ra ngoài được, có lúc để mặc họ bối rối. Rồi
thì thế nào họ cũng cứ phải có chỗ xuất thân. Vĩ đại
như Nham Đầu và Tuyết Phong rốt cuộc lại bị gã học Thiền
ăn cơm này khám phá. Lúc Nham Đầu nói, “ Sau nạn Hoàng Sào
còn thu được kiếm sao?” Các ông thử nói cho tôi xem ở
đây phải đáp như thế nào để khỏi bị thầy ta cười?
Cũng như tránh khỏi bị Tuyết Phong khện cho rồi đuổi ra
ngoài? Chỗ này hết sức là mơ hồ nếu như các ông chưa
từng tự chứng tự ngộ. Cho dù miệng lưỡi các ông có lanh
lợi đi nữa, rốt cuộc cũng chẳng thấu thoát khỏi sinh tử
được. Sư núi tôi bình thường hay khuyên người ta quán cái
cơ quan chuyển xứ này, nếu như các ông toan lý luận, các
ông đã xa vời biết mấy. Há không nghe chuyện Đầu Tử hỏi
ông tăng ở Diên Bình rằng, “ Còn thu được kiếm không?”
Ông tăng lấy tay chỉ đất. Đầu Tử nói, “ Ba mươi năm
nay ta chơi cưỡi ngựa, hôm nay lại bị con lừa đá.” Nhìn
ông tăng kia xem, ông ta quả thật là bậc chuyên gia. Ông ta
không nói thu được mà cũng chẳng nói thu không được. Ông
ta như thế cách ông tăng từ Tây Kinh cả đại dương.
Chân
Như nêu lên rằng, “ Các cổ nhân một người làm đầu một
người làm đuôi. Chắc chắn thế.” Tuyết Đậu tụng rằng:
TỤNG
Sau
nạn Hoàng Sào từng thu kiếm,
Cười
lớn phải cần chuyên gia hiểu
Ba
mươi gậy núi kể còn nhẹ,
Được
tiện nghi là mất tiện nghi.
BÌNH:
“ Sau nạn Hoàng Sào từng thu kiếm, cười lớn phải cần
chuyên gia hiểu.” Tuyết Đậu lập tức tụng việc ông tăng
kia và Nham Đầu cười lớn. Chỉ chút này thôi mà chẳng ai
trong thiên hạ rờ rẫm ra được cả. Thử nói xem, thầy ta
cười cái gì? Phải là bậc chuyên gia mới biết được. Trong
tiếng cười này có quyền có thực, có chiếu có dụng,
có sát có hoạt.
“Ba
mươi gậy núi kể còn nhẹ,” là để tụng việc ông tăng
kia đến trước mặt Tuyết Phong. Ông tăng này vẫn sơ
hốt, cho nên Tuyết Phong mới theo lệnh đánh cho ba mươi gậy
và đuổi ra. Thử nói xem, tại sao lại như thế? Các ông muốn
tận tình hiểu câu chuyện này sao? “Được tiện nghi là
mất tiện nghi.”
TẮC
THỨ SÁU MƯƠI BẢY
LƯƠNG
VŨ ĐẾ MỜI GIẢNG KINH
CỬ:
Lương Vũ Đế mời Phó Đại Sĩ giảng Kinh Kim Cương. Phó
Đại Sĩ đứng trên tòa lay bàn một cái rồi xuống khỏi
tòa. Vũ Đế ngạc nhiên.Chí Công hỏi, “ Bệ hạ hiểu chứ?”
Vũ Đế nói, “ Không hiểu.” Chí Công nói, “Đại Sĩ đã
giảng xong kinh rồi.”
BÌNH:Lương
Cao Tổ Vũ Đế họ Tiêu. Húy là Diên tên là Thúc Đạt. Lập
được sự nghiệp lớn rồi tiếp ngôi của nhà Tề. Sau khi
tức vị chú giải Ngũ kinh để giảng nghĩa. Vua cũng
tu tập Lão giáo một cách hết sức ráo riết, tính tình thì
lại chí hiếu. Một hôm nghĩ đến Pháp xuất thế để báo
công ơn cha mẹ. Cho nên mới bỏ Lão giáo mà theo Phật giáo.
Sau đó thụ Bồ Tát Giới nơi Lữ Ước Pháp Sư. Vua thường
tự mặc áo cà sa giảng kinh Phóng Quang Bát Nhã để báo ơn
cha mẹ.
Lúc
ấy Chí Công Đại Sĩ, thị hiện thần thông làm dân chúng
mê hoặc cho nên bị giam cầm trong ngục. Chí Công bèn phân
thân du hóa trong thành ấp. Một hôm Vũ Đế khám phá ra điều
ấy, rất lấy làm cảm kích, và rất là tôn trọng Chí Công,Chí
Công lại tiếp tục thực hành phép biến hóa, biến hiện
không biết đường nào mà lường.
Lúc
ấy có bậc Đại Sĩ ở trên Vân Hoàng Sơn tại Vụ Châu.
Chính tay trồng hai cội cây rồi gọi là song thụ, tự gọi
mình là Thiện Huệ Đại Sĩ của tương lai. Một hôm biên
một lá thư rồi sai đệ tử trình lên cho vua. Lúc ấy triều
đình không nhận vì cho rằng thiếu lễ quân thần.
Lúc
Phó Đại Sĩ sắp vào thành Kim Lăng để bán cá, Vũ Đế mời
Chí Công giảng Kinh Kim Cương . Chí Công nói, “ Bần đạo
không giảng được. Trong thành có Phó Đại Sĩ có thể
giảng được kinh này.” Vũ Đế bèn xuống chiếu vồi Phó
Đại Sĩ vào cung cấm. Đại Sĩ vào đến nơi, bước lên giảng
tòa lay bàn một cái rồi xuống khỏi tòa. Lúc ấy nếu như
( Vũ Đế) mà được đẩy một cái hẳn đã tránh khỏi được
một cơn lúng túng. Đằng này lại bị Chí Công hỏi, “ Bệ
hạ hiểu chứ?” Vũ Đế nói, “ Không hiểu,” Chí Công
nói, “Đại Sĩ đã giảng kinh xong rồi.”
Đây
cũng là một người làm đầu một người làm đuôi. Song Chí
Công nói như vậy, có thấy Phó Đại Sĩ chăng dù chỉ là
trong mộng? Ai cũng có lúc dở trò ma quỉ, song đây quả thực
là kỳ đặc. Tuy là con rắn chết xong biết cách vẫn có thể
làm cho nó sống lại được. Phó Đại Sĩ đã giảng kinh,
tại sao lại không biết phân làm hai phương diện như các
vị tòa chủ bình thường hay nói, “ Thể của kim cương kiên
cố vô cùng, chẳng có vật gì có thể hủy hoại nó được
cả. Vì có cái dung sắc bén, cho nên nó có thể cắt vạn
vật.” Giảng thuyết như vậy mới gọi là giảng kinh. Tuy
là thế, song các ông chẳng hề hay rằng Phó Đại Sĩ chỉ
nêu lên điểm hướng thượng then chốt, để lộ điểm sắc
khiến thiên hạ thấy được chỗ cốt yếu. Đặt nó sừng
sững ngay trước mặt các ông như thể vách đá vạn trượng.
Thế mà lại bị Chí Công , chẳng phân biệt được tốt xấu,
nói rằng, Đại Sĩ đã giảng kinh xong rồi,” Đúng là có
hảo tâm mà không được đền bù một cách tốt đẹp. Giống
như một chén rượu ngon bị Chí Công pha nước vào, giống
như một chén canh ngon bị Chí Công bỏ cứt chuột
vào.
Thử
nói xem, đã không là giảng kinh, thì rốt cuộc gọi là gì?
Tụng rằng:
TỤNG
Không
dựa thân này nơi song lâm,
Lại
vướng trần ai nơi đất Lương.
Lúc
ấy nếu không vì Chí Công,
Đã
phải vội vàng bỏ nước đi.
BÌNH:
“ Không dựa thân này nơi song lâm, lại vướng trần ai nơi
đất Lương.” Phó Đại Sĩ và lão răng hở (Đạt Ma) kia
gặp Vũ Đế trong một hoàn cảnh tương tự nhau. Đạt Ma thuở
mới đến Kim Lăng gặp Vũ Đế, Vũ Đế hỏi, “ Thế nào
là thánh đế đệ nhất nghĩa?” Bồ Đề Đạt Ma nói, “
Trống không chẳng có gì linh thánh.” Vũ Đế nói, “ Thế
ai đang đối diện với trẫm vậy?” Bồ Đề Đạt Ma nói,
“ Tôi không biết.” Vũ Đế không khế hội, cho nên Bồ
Đề Đạt Ma bèn qua sông sang đất Ngụy. Vũ Đế thuật lại
câu chuyện cho Chí Công, Chí Công hỏi, “ Thế bệ hạ đã
biết người ấy là ai chưa?” Vũ Đế nói, “ Không biết.”
Chí Công nói, “Đó là Quan Âm Đãi Sĩ trao truyền Phật tâm
ấn.” Vũ Đế lấy làm ân hận bèn sai sứ đuổi theo. Chí
Công nói, “Đừng có nói là bệ hạ chỉ sai sứ đuổi theo,
dù cho có cả nước đuổi theo đi nữa, người ấy cũng
không trở lại đâu.” Cho nên Tuyết Đậu mới nói, “ Lúc
âý nếu không vì Chí Công , đã phải vội vàng bỏ nước
đi.” Lúc ấy nếu như không nhờ Chí Công ra sức cho Phó
Đại Sĩ cũng đã lại phải bỏ nước mà đi rồi. Chí Công
lắm miệng như thế, cho nên Vũ Đế cũng bị thầy ta lừa
cho một trận.
Ý
Tuyết Đậu muốn nói là Phó Đại Sĩ chẳng cần
phải đến đất Lương để giảng kinh với lay bàn để làm
gì. Cho nên thầy ra mới nói, “ Tại sao không dựa thân nơi
song lâm kia, ăn cháo ăn cơm, qua ngày một cách an phận, mà
lại phải tới xứ Lương này để mà giảng giải với
lại lay bàn một trận rồi bước khỏi tòa như thế?” Đây
chính là chỗ thầy ta bị vướng trần ai.
Nếu
như các ông muốn pháp thù thắng thì hãy đưa mắt nhìn
trời cao; trên không thấy có Phật, dưới không thấy có chúng
sinh. Nếu như các ông bàn luận về việc xuất thế, khó mà
tránh khỏi đầu mặt lem luốc. Lấy không làm có, lấy có
làm không, lấy đúng làm sai, lấy thô làm tế; trong chợ cá
tiệm rượu, nêu ngang dựng ngược khiến cho tất cả mọi
người hiểu rõ việc này. Nếu như các ông không buông bỏ
như thế, thì dù cho đến lúc Di Lặc hạ sinh cũng chẳng có
lấy một người nào hiểu được. Phó Đại Sĩ đã lê trong
bùn lấm trong nước, may mà có bậc tri âm, Nếu như không
nhờ lão Chí Công kỷ hồ như bị đuổi ra khỏi nước rồi.
Thử nói xem, hiện giờ thầy ta ở đâu?
TẮC
THỨ SÁU MƯƠI TÁM
NGƯỠNG
SƠN HỎI TAM THÁNH
THÙY:
Lật thiên qua, xô trục đất; bắt cọp tê, phân rồng rắn.
Phải là một tay hoạt bát mới có thể mỗi câu đều tương
hợp, mỗi cơ đếu tương ứng. Song từ xưa đến giờ có
ai được như thế? Thử nêu lên xem.
CỬ:Ngưỡng
Sơn hỏi Tam Thánh, “ Thầy tên gì?” Tam Thánh nói, “ Huệ
Tịch.” Ngưỡng Sơn nói, “ Huệ Tịch là tôi.” Tam Thánh
nói, “ Tên tôi là Huệ Nhiên.” Ngưỡng Sơn cười ầm lên.
BÌNH:
Tam Thánh là bậc tôn túc trong dòng Lâm Tế. Từ nhỏ đã có
khả năng xuất chúng. Thầy ta có đủ đại cơ đại dụng;
lúc ở trong chúng hội, rất là hiên ngang lững lẫy, tên tuổi
vang rền khắp nơi. Sau đó thầy ta từ giã Lâm Tế rồi đi
vân du khắp miền Hoài Nam và Hải Châu. Các tự viện khắp
nơi đều đãi Tam Thánh như thể khách quí. Tam Thánh đi từ
bắc xuống nam, thoạt tiên đến gặp Tuyết Phong hỏi rằng,
“ Con cá vàng đã thoát lưới, chẳng hay lấy gì làm
đồ ăn?” Tuyết Phong nói, “Đợi khi nào ông ra khỏi lưới
tôi sẽ nói cho ông nghe.” Tam Thánh nói, “ Là bậc thiện
tri thức của một ngàn năm trăm người mà không nói được
lấy một câu.” Tuyết Phong nói, “ Việc trụ trì của lão
tăng bề bộn quá.” Lúc Tuyết Phong và Tam Thánh đi về phía
trang viên của Tự viện, giữa đường gặp một bầy khỉ,
Tuyết Phong bèn nói,” Mỗi con đều mang một cổ kính.”
Tam Thánh nói, “ Bao nhiêu kiếp không có tên, cớ sao lại
gọi là cổ kính?” Tuyết Phong nói, “Đã có tì vết rồi.”
Tam Thánh nói, “ Bậc thiện tri thức của một ngàn năm trăm
người mà không nói lấy được một câu.” Tuyết Phong nói,
“ Có lỗi thật, việc trụ trì của lão tăng bề bộn quá.”
Sau
đó Tam Thánh đến gặp Ngưỡng Sơn. Ngưỡng Sơn rất yêu
cái linh lợi của Tam Thánh cho nên để cho ngồi chỗ danh dự.
Một hôm có vị quan nhân đến tham kiến Ngưỡng Sơn. Ngưỡng
Sơn nói, “ Quang ở chức vị nào vậy?” Vị quan nói, “
Quan tòa.” Ngưỡng Sơn dơ phất trần lên nói, “ Có xử
được cái này không?” Vị quan kia không nói gì được. Mọi
người trong chúng hội đều bình phẩm song chẳng ai khế hợp
với ý của Ngưỡng Sơn cả. Lúc ấy Tam Thánh bệnh nằm trong
Diên Thọ Đường; Ngưỡng Sơn sai thị giả đem lời ấy đến
hỏi Tam Thánh. Tam Thánh nói, “ Hòa thượng có việc rồi.”
Ngưỡng Sơn lại sai thị giả đến hỏi, “ Chưa rỏ là việc
gì.” Tam Thánh nói, “ Phạm nữa là không dung thứ đâu.”
Ngưỡng Sơn rất là bằng lòng.
Bách
Trượng lúc ấy đã trao lại thiền bản và bồ đoàn cho Hoàng
Bá, trụ trượng và phất trần cho Qui Sơn; Qui Sơn sau đó
trao lại cho Ngưỡng Sơn. Ngưỡng Sơn rất là ưng ý với Tam
Thánh, một hôm Tam Thánh từ biệt, Ngưỡng Sơn lấy trụ trượng
và phất trần ra trao lạo cho Tam Thánh. Tam Thánh nói, “ Kẻ
hèn này đã có thầy rồi.” Ngưỡng Sơn hỏi rõ, thì ra đó
là đệ tử của Lâm Tế.
Lúc
Ngưỡng Sơn hỏi Tam Thánh, “ Thầy tên gì?” Ngưỡng Sơn
không thể nào mà lại chẳng biết tên Tam Thánh, tại sao lại
vẫn cứ đi hỏi như thế? ấy là vì các bậc chuyên gia muốn
thử thách thiên hạ để tìm hiểu họ cho rõ ràng. Một câu
hỏi chỉ tựa như hỏi cho có rằng, “ Thầy tên gì?” và
lại hỏi một cách chẳng có gì so đo. Tại sao Tam Thánh không
nói “ Huệ Nhiên” mà lại đi nói “ Huệ Tịch”? Nhìn
xem những người có mắt, tự nhiên là không giống (những
kẻ bình thường.) Tam Thánh hành sư như thế chẳng có gì
là điên đảo tuy rằng thầy ta giựt cờ cướp trống. Ý
của thầy ta ở ngoài ngôn ngữ của Ngưỡng Sơn. Những lời
này không theo thường tình , rất khó mà rờ rẫm. Phương
pháp của con người này có thể cứu sống thiên hạ, cho nên
mới có câu nói, “ Thầy ta tham câu sống mà không tham câu
chết.” Nếu như tuân theo thường tình, ắt chẳng làm cho
thiên hạ ngồi nghỉ được.
Nhìn
xem các cổ nhân niệm Đạo như thế. Dùng hết tinh thần của
mình cho nên mới đại ngộ được. Sauk hi ngộ rồi, lúc dụng
thì lại giống y như thể chưa ngộ vậy đó. Dù sao đi nữa,
một lời hay nửa câu của họ cũng chẳng theo thường tình.
Tam Thánh biết chỗ cốt yếu của Ngưỡng Sơn cho nên mới
nói với thầy ta rằng, “Tên tôi là Huệ Tịch.” Ngưỡng
Sơn muốn thu Tam Thánh, rốt cuộc Tam Thánh lại thử Ngưỡng
Sơn muốn thu Tam Thánh, rốt cuộc Tam Thánh lại thử Ngưỡng
Sơn. Ngưỡng Sơn chỉ còn biết trả đũa bằng cách nói, “
Huệ Tịch là tôi.” Đây chính là chỗ thầy ta buông bỏ.
Cho nên sau đó Tuyết Đậu mới nói, “ Vừa thu vừa buông,
đâu là tông chỉ?” Chỉ trong một câu mà thầy ta một lúc
tụng ráo hết.
Ngưỡng
Sơn cười ầm lên “ Ha ha!” Vừa có quyền vừa có thực,
vừa có chiếu vừa có dụng. Bởi vì thầy ta tám hướng lung
linh, cho nên chỗ đứng của thầy ta mới được đại tự
tại như thế. Tiếng cười này không giống với tiếng cười
của Nham Đầu; trong tiếng cười của Nham Đầu có độc dược,
song trong tiếng cườinày thì thiên cổ vẫn có gió thổi lạnh
căm. Tuyết Đậu tụng rằng:
TỤNG:
Vừa
thu vừa buông tông chỉ đâu?
Cưỡi
cọp cần phải có tuyệt kỹ
Cười
rồi chẳng biết đi về đâu,
Chỉ
là thiên cổ động bi phong.
BÌNH:
“ Vừa thu vừa buông tông chỉ đâu?” Buông bỏ thay phiên
đóng vai chủ và khách. Ngưỡng Sơn hỏi, “ Thầy tên gì?”
Tam Thánh nói, “ Tên tôi là Huệ Tịch.” Đó là đều buông
bỏ, Ngưỡng Sơn nói, “ Huệ Tịch là tôi.” Tam Thánh nói,”
Tôi tên là Huệ Nhiên.” Đây là đều thu vào. Kỳ thực ,
đây là cái gọi là “ hô hoán chi cơ.” Thu vào thì mọi
người đều thu vào, buông bỏ thì mọi người đều buông
bỏ. Tuyết Đậu trong một lúc tụng hết cả. Ý thầy ta muốn
nói rằng nếu không buông không thu không hổ tương với nhau
thì ông là ông tôi là tôi.
Tất
cả chỉ nằm trong bốn chữ, tại sao lại có chìm hiện cuống
trải như thế? Cổ nhân nói, “ Nếu như ông đứng thì tôi
ngồi, nếu như ông ngồi thì tôi đứng. Nếu như chúng mình
cùng ngồi cùng đứng, thì chúng mình đều là những kẻ mù.”
Đây là đều thu vào đều buông bỏ, có thể coi là tông chỉ.’
Cưỡi cọp cần phải có tuyệt kỹ.” Nếu như các ông có
cao phong như vậy cơ biến tối thượng như vậy, thì các ông
muốn cưỡi là cưỡi, muốn xuống là xuống. Muốn ngồi trên
đầu cọp cũng được mà muốn ngồi trên đuôi cọp cũng
được. Cả Tam Thánh lẫn Ngưỡng Sơn đều có cái phong cách
này.
“
Cưỡi rồi chẳng biết đi về đâu.” Thử nói xem, thầy
ra cười cái gì vậy? Giống như thể cơn gió trong lạnh ngắt.
Tại sao Tuyết Đậu rốt cuộc lại nói rằng, “ Chỉ là
thiên cổ động bi phong”? Đây cũng là chết mà không có
điếu tang, trong chớp nhoáng đã chú giải hết chỗ các ông.
Có điều trong thiên hạ chẳng ai cắn vào được cả, bởi
vì họ không hiểu chỗ cốt yếu của Ngưỡng Sơn. Ngay cả
sư núi tôi cũng chẳng biết. Các ông có biết chăng?
TẮC
THỨ SÁU MƯƠI CHÍN
NAM
TUYỀN BÁI TRUNG QUỐC SƯ
THÙY:Không
có chỗ nào để gậm cắn: Tâm ấn của Tổ Sư có hình dáng
như bộ máy của con trâu sắt. Vượt qua rừng gai góc, kẻ
nạp tăng giống như thể một hòn tuyết trên lò lửa. Việc
dìu đục trên đất bằng tạm gác qua một bên. Không rơi
vào những cơ duyên rối rấm thì như thế nào? Thử nêu lên
xem.
CỬ:Nam
Tuyền , Qui Tông và Ma Cốc cùng đi tham bái Trung Quốc Sư.
Đến nữa đường Nam Tuyền vẽ một vòng tròn trên mặt đất
rồi nói,” Nếu như các ông nói được thì chúng mình tiếp
tục đi.” Qui Tông ngồi xuống trong vòng tròn. Ma Cốc thì
cúi chào theo kiểu đàn bà. Nam Tuyền nói,” Như vầy thì
thôi chẳng đi nữa.” Qui Tông nói, “Đó là tâm hành gì
vậy?”
BÌNH:
Lúc ấy Mã Tổ đang thịnh hóa ở Giang Tây, giáo lý của Thạch
Đầu thì đang xiển dương ở Hồ Sương, còn giáo lý của
Trung Quốc Sư thì hưng hóa ở Trường An.Trung Quốc Sư từng
đích thân gặp Lục Tổ. Lúc ấy không có ai ở phương nam
mà lại không munố thăng đường nhập thất ở chỗ của
Trung Quốc Sư; nếu không được như thế thì sẽ bị nhục
với thiên hạ.
Ba
lão hán này muốn đi tham bái Trung Quốc Sư, đến giữa đường
lại làm nên một màn thối chí này. Nam Tuyền nói, “ Như
vầy thì thôi chẳng đi nữa.” Nếu như ai cũng đã nói được
rồi, tại sao bảo không đi nữa.” Nếu như ai cũng đã nói
được rồi, tại sao lại bảo không đi nữa? Thử nói xem,
ý của vị cổ nhân này như thế nào? Lúc thầy ta nói, “
Như vầy thì thôi chẳng đi nữa,’ cứ tát tai cho thầy ta
ngay một cái, để thầy ta dở trò gì ra? Từ xưa đến nay
chống đỡ tông môn lại chỉ là những cái nhỏ nhặt này
mà thôi. Cho nên Từ minh nói, “ Nếu muốn cầm giữ thì phải
nắm chặt giây cương.” Xô đẩy thì nó xoay tròn, giống
như thể trái bầu trên mặt nước. Nhiều người nói rằng
lời của Nam Tuyền là lời phủ nhận, đâu có biết rằng
việc này một khi đạt đến chỗ cực tắc, cần phải lìa
bùn lìa nước, bạt chốt nhổ đinh. Nếu như các ông dùng
tâm hành mà hiểu thì chẳng có gì là nhằm nhò cả.Cổ
nhân chuyển biến rất khéo; đến chỗ này rồi không thể
không như thế. Cần phải có sát có hoạt. Nhìn xem một
người trong họ ngồi xuống trong vòng tròn, một người nữa
thì cúi chào theo kiểu đàn bà. Điều ấy cũng rất là hay.
Nam Tuyền nói, “ Như vầy thì thôi chẳng đi nữa.” Qui Tông
nói, “Đó là tâm hành gì vậy?” Gã lẩm cẩm này rốt cuộc
cũng thế mà thôi. Ý của qui Tông là để thử thách Nam Tuyền.
Nam Tuyền bình thường hay nói, “ Gọi là như như là nó đã
thấy đổi rồi.” Nam Tuyền, Qui Tông , Ma Cốc rốt cuộc
là người trong một nhà: Một nắm, một buông, một sát, một
hoạt. Quả thật là kỳ đặc.
TỤNG:
Tên
Do Cơ bắn khỉ,
Vòng
cây trực tiếp sao!
Ngàn
kẻ và vạn kẻ,
Có
ai từng bắn trúng?
Kêu
nhau gọi nhau quay về thôi,
Trên
lối Tào Khê dừng bước chân.
Lại
nói, “ Lối Tào Khê bằng Phẳng. Tại sao lại dừng bước
chân?”
BÌNH:
“ Tên Do Cơ bắn khỉ, vòng cây trực tiếp sao!” Do Cơ là
người đời Sở, họ Dương tên Thực, tự là Do Cơ. Có lần
Sở Trang Vương đi săn, thấy một con khỉ trắng, sai người
bắn nó. Con khỉ chụp lấy mũi tên mà chơi rỡn. Trang Vương
sai các quần thần bắn nữa, song chẳng ai bắn trúng cả.
Trang Vương bèn hỏi các quần thần, quần thần tâurằng,
“ do Cơ mới là tay thiện xạ.” Trang Vương bèn sai Do Cơ
bắn. Do Cơ vừa dương cung, con khỉ đã ôm lấy thân cây mà
kêu lên một cách bi ai. Lúc mũi tên bắn ra, con khỉ chạy
vòng quanh cội cây để tránh. Mũi tên cũng bay vòng theo cội
cây rồi trúng và giết chết con khỉ. Đây đúng là mũi tên
thần. Tại sao Tuyết Đậu lại bảo là quá trực tiếp? Nếu
như mũi tên đã bay vòng thì hẳn đã không trúng con khỉ rồi.
Đằng này mũi tên đã bay vòng theo cội cây, tại sao Tuyết
Đậu lại bảo là quá trực tiếp?Tuyết Đậu mượn ý này
mà sử dụng một cách hết sức là khéo léo. Chuyện này có
ghi lại trong sách Xuân Thu. Có người bảo rằng bay vòng theo
cội cây là viên tướng. Nếu hiểu như vậy, quả thực là
không hiểu tông chỉ của lời nói, không hiểu cái trực tiếp
nằm ở chỗ nào. Ba lão hán thù đồ mà đồng qui, đều trực
tiếp như nhau cả. Nếu như các ông biết được cho họ đi,
thì cố tung hoành ngang dọc đi nữa cũng chẳng rời đến
gang tấc. Trăm sông chảy riêng, song đều đổ ra biển lớn.
Cho nên Nam Tuyền mới nói, “ Như vầy thì thôi chẳng đi
nữa.” Nếu như các ông nhìn với con mắt chính đáng của
nạp tăng thì đây chỉ là trò ma quỉ, song vừa gọi
là trò ma quỉ thì nó lại không còn là trò ma quỉ nữa. Ngũ
Tổ nói, “ Ba người ấy là Huệ Cự Tam Muội, Trang Nghiêm
Vương Tam Muội.” Ma Cốc tuy là vái chào theo kiểu đàn bà,
song lại chẳng hiểu đó là vái chào theo kiểu đàn bà. Nam
Tuyền tuy là vẽ một vòng tròn, song lại chẳng hề coi đó
là vẽ một vòng tròn. Đã không hiểu như thế , thì phải
hiểu như thế nào? Tuyết Đậu nói, “Ngàn người vạn người,
có ai từng bắn trúng?” Có được mấy kẻ bách phát bách
trúng?
“Kêu
nhau gọi nhau quay về thôi.” Đây là để tụng lời
Nam Tuyền nói, “ Như vậy thì thôi chẳng đi nữa.” Nam Tuyền
từ đó không đi nữa cho nên mới nói, “ Trên lối Tào Khê
dừng bước chân.” Phá hết rừng gai góc. Tuyết Đậu không
nắm vững được, cho nên lại nói tiếp, “ Lối Tào Khê
bằng phẳng, tại sao lại dừng bước chân?” Lối Tào Khê
tuyệt trần tuyệt tích, lồ lộ rờ rỡ bằng phẳng êm đềm.
Tại sao dừng bước chân? Các ông mọi người hãy tự
quán sát bước chân của mình.
TẮC
THỨ BẢY MƯƠI
QUI
SƠN ĐỨNG HẦU BÁCH TRƯỢNG
THÙY:
Người lanh một lời, ngựa nhanh một roi. Vạn năm một niệm,
một niệm vạn năm. Cần hiểu trực tiếp, trước khi nêu
lên. Thử nói xem, trước khi nêu lên thì biết phải rờ rẫm
như thế nào? Thử nêu lên xem.
CỬ:
Qui Sơn , Ngũ Phong và Vân Nham cùng đứng hầu Bách Trượng.
Bách Trượng hỏi Qui Sơn, “ Không có cổ họng với miệng
môi, làm cách nào để nói đây?”Qui Sơn nói, “ xin để
hòa thượng nói vậy.” Bách Trượng nói, “ Tôi không ngại
gì mà không nói cho ông, song chỉ sợ sau này làm chết hết
con cháu mà thôi.”
BÌNH:
Qui Sơn, Ngũ Phong và Vân Nam cùng đứng hầu Bách Trượng.
Bách Trượng hỏi Qui Sơn, “ Không có cổ họng với miệng
môi, làm cách nào để nói đây?” Qui Sơn nói, xin để hòa
thượng nói vậy.” Bách Trượng nói, “ Tôi không ngại gì
mà không nói cho ông, song chỉ sợ sau này làm chết hết con
cháu mà thôi.” Tuy Bách Trượng làm như thế, nơi của thầy
ta đã bị người khác đoạt mất rồi. Bách Trượng lại
hỏi Ngũ Phong. Ngũ Phong nói, “ Hòa thượng cũng nên im đi.”Bách
Trượng nói, “Ở chỗ không có ai, tôi lấy tay che mặt mà
nhìn ông.” Bách Trượng lại hỏi Vân Nham. Vân Nham nói, “
Hòa thượng đã có cách nói chưa?” Bách Trượng nói, “
Ta đã làm chết hết con cháu rồi.” Ba người này mỗi người
đều là một nhà.
Cổ
nhân nói, “ Trên đất bằng người chết vô số, vượt qua
được rừng gai góc chính là tay hảo thủ.” Cho nên các bậc
thầy trong tông môn của chúng ta mới dùng rừng gai góc ra
để thử thách người khác. Tại sao vậy? Bởi vì làm sao
có thể dựa vào lời lẽ thường tình để mà thử thách
người khác được? Người nạo tăng phải biết trình cơ
biến trong câu, phân biện ý trong ngôn ngữ. Còn như những
kẻ khiêng ván thì chỉ bị vướng mắc trong ngôn ngữ, đi
nói rằng, “ Nếu như không có cổ họng với miệng môi thì
không có cách chi để nói được cả.” Nếu như là người
biện thông được, như sóng ngược dòng nước, chỉ có một
con đường đối với câu hỏi mà thôi. Họ không bị phạm
tay vào mũi nhọn.
Qui
Sơn nói, “ Xin để hòa thượng nói vậy?” Thử nói xem ý
của thầy ta như thế nào? Qui Sơn giống như đá lửa điện
chớp: Vừa gặp phải câu hỏi của Bách Trượng là lập tức
trả lời ngay.Thầy ta có con đường xuất thân mà chẳng phí
chút khí lực nào cả. Cho nên mới có câu nói rằng, “ Thầy
tat ham câu sống, không tham câu chết.” Bách Trượng lại
chẳng buồn quan tâm đến Qui Sơn mà chỉ nói, “ Tôi không
ngại gì mà không nói cho ông, song chỉ sợ sau này làm chết
hết con cháu mà thôi.” Các bậc tông sư bao giờ cũng giúp
người khác nhổ đinh bạt chốt. Người bây giờ bèn nói
rằng câu đáp của Bách Trượng có ý không chấp nhận Qui
Sơn, và không hiểu câu nói của Qui Sơn. Đâu có dè rằng
ở trong công án này có con đường đề tâm cơ linh hoạt,
như vách núi vạn trượng, chủ khách hỗ tương một cách
hết sức là sống động.
Tuyết
Đậu thích ngữ khí của Qui Sơn, có cái uyển chuyển tự
tại song vẫn có đầu mối vững vàng, cho nên mới tụng rằng:
TỤNG
Xin
để hoà thượng nói,
Đầu
cọp mọc sừng chốn cỏ hoang.
Mười
châu xuân tàn hoa rơi rụng,
Mặt
trời rực rỡ rừng san hô.
BÌNH:Ba
người này cách trả lời của mọi người đều khác nhau.
Người thì như vách núi vạn trượng, người thì có chiếu
dụng đồng thời, kẻ thì tự cứu không được. “ Xin để
hòa thượng nói.” Ngay trong câu này Tuyết Đậu đã trình
hiện tâm cơ của mình rồi. Lại khẽ tiến tới để cho người
khác dễ thấy khi thầy ta nói thêm rằng, “Đầu cọp mọc
sừng chốn cỏ hoang.” Câu trả lời của Qui Sơn giống như
thể cắm sừng lên đầu cọp, có cách nào để đến gần
được chăng?
Há
không nghe có ông tăng hỏi La Sơn, “Đồng sinh mà không đồng
tử thì như thế nào?” La Sơn nói, “ Giống như con trâu
không có sừng.” Ông tăng hỏi, “ Thế còn đồng sinh đồng
tử thì như thế nào?” La Sơn nói, “ Giống như con cọp
mọc sừng.”
Tuyết
Đậu chỉ cần một câu là tụng xong cả. Thầy ta có thừa
tài để mà chuyển biến, cho nên bèn nói, “ mười châu xuân
tàn hoa rọi rụng. Trên biển có ba núi, mười châu lấy trăm
năm làm một mùa xuân. Lời của Tuyết Đậu uyển chuyển
bàng bạc. Lúc mùa xuân, trăm ngàn vạn cây hoa đồng thời
rơi rụng, chỉ có rừng san hô là không điêu linh mà thôi,
cũng phản chiếu ánh sáng với vầng tháo dương. Đúng vào
lúc ấy, quả thật là kỳ đặc biết mấy! Tuyết Đậu dùng
hình ảnh này để minh giải lời của Qui Sơn rằng, “ Xin
để hòa thượng nói vậy.”
[1]
“Vô duyên từ” là thứ từ bi cao cả nhất mà chỉ có bậc
Bồ Tát mới thực hành được. Đó là một thứ từ bi “
vô điều kiện,” chỉ có được sau khi Bồ Tát đã chứng
ngộ được “tính không”, không còn thấy bất cứ một
dị biệt nào giữa mình và tất cả các chúng sinh. Trong Đại
Thừa Phật Giáo (Duy Thức Tông) gọi đó là sự chứng ngộ
được “ Bình Đẳng Tính Trí”(samatà-jnàna)
[2]
“Hình” có nghĩa là “ hình tướng.”
[3]
Tức Tăng Triệu.
[4]
Kinh Duy Ma ( Vimalakìrti-nirdesa-sutra), một trong những bộ kinh
quan trọng nhất của Phật Giáo Đại Thừa.
[5]
Trích trong Chứng Đạo Ca của Vĩnh Gia Huyền Giác
[6]
“Hữu tình” (sattva)có nghĩa là chúng sinh.
[7]
Nguyên tác là chữ “diện” (mặt). Chữ diện trong trường
hợp này ám chỉ “ Bổn lai diện mục”, cho nên chúng
tôi dùng chữ tính.
[8]
Ngụ ý nói rằng cái tâm bổn lai thanh tịnh chiếu diệu kia
chính là Phật tính.
[9]
Tức là ngồi trên ghế của bậc thầy.
[10]
Những lời này trích từ Tuyết Đậu Hậu Lục.
[11]
Căn tức là ngũ căn: mắt, tai, mũi,lưỡi và thân. Trần tức
là đối tượng của ngũ căn này.
[12]
Kinh Vệ Đà(veda) là bộ kinh chính yếu của Ấn Độ Giáo
. Bốn bộ Veda gồm có: Rig-Veda,Atharva-Veda, Yajur-Veda và Sama-Veda.