TẮC
96: TRIỆU CHÂU BA CHUYỂN NGỮ
CÔNG
ÁN: Triệu Châu dạy chúng ba chuyển ngữ.
GIẢI
THÍCH: Triệu Châu dạy chúng ba chuyển ngữ xong, rốt sau lại
nói: Chân Phật ngồi trong thất. Một câu này rõ ràng quá
mức. Cổ nhân mở một con mắt đưa tay tiếp người, tạm
mượn lời này để thông tin tức, cốt yếu vì người. Nếu
ông một bề toàn nêu chánh lệnh thì trước pháp đường
cỏ cao một trượng. Tuyết Đậu không hài lòng câu rốt sau
ló đuôi của Sư, vì thế bỏ bớt chỉ tụng ba câu. Phật
đất nếu độ nước thì tan hoại. Phật vàng nếu độ lò
đúc thì chảy. Phật gỗ nếu độ lửa thì bị đốt. Có
cái gì khó hiểu ? Tuyết Đậu tụng cổ một trăm tắc, so
sánh sắn bìm, chỉ có ba bài tụng này quả có hơi hám Thiền
tăng. Chỉ bài tụng này cũng thật khó hiểu. Nếu ông thấu
được ba bài tụng này, cho ông khỏi tham.
TỤNG:
Nê Phật bất độ thủy
Thần Quang chiếu thiên địa
Lập tuyết như vị hưu
Hà nhân bất điêu ngụy.
DỊCH:
Phật đất chẳng độ nước
Thần Quang soi trời đất
Đứng ngoài tuyết chưa thôi
Người nào chẳng dối trá.
GIẢI
TỤNG: “Phật đất chẳng độ nước, Thần Quang soi trời
đất”, hai câu tụng này rõ ràng rồi. Hãy nói vì sao lại
dẫn Thần Quang ? Nhị Tổ khi mới sanh, thần quang soi sáng
nhà thẳng đến trên trời. Lại một đêm, thần nhân hiện
bảo Nhị Tổ: Ở đây làm gì ? Ông sẽ đắc đạo, thời
cơ đã đến, nên sang phương Nam. Nhị Tổ do gặp Thần nên
gọi là Thần Quang. Ngài cư ngụ vùng Y Lạc, đọc hết các
sách, mỗi khi than: “Khổng, Lão dạy về thuật phong qui.”
Được nghe Đại sư Đạt-ma ở Thiếu Lâm, Ngài bèn đến
đó sớm tối tham vấn. Tổ Đạt-ma ngồi thẳng ngó mặt vô
vách, chẳng được nghe dạy bảo điều gì. Ngài tự suy nghĩ:
Người xưa cầu đạo, chẻ xương lấy tủy, chích máu giúp
người đói, trải tóc che bùn, gieo mình cho cọp ăn, xưa còn
như thế, ta lại là sao ? Ngày mùng chín tháng chạp năm ấy,
ban đêm tuyết dày, Nhị Tổ đứng dưới thềm đến sáng,
tuyết lên đến đầu gối. Tổ Đạt-ma thương hỏi: Ông đứng
dưới tuyết như thế để cầu việc gì ? Nhị Tổ buồn khóc
thưa: Chỉ mong Ngài từ bi mở cửa cam lồ rộng độ chúng
sanh. Tổ Đạt-ma nói: Diệu đạo của chư Phật nhiều kiếp
tinh cần, khó làm mà hay làm, khó nhẫn mà hay nhẫn, há lấy
đức nhỏ trí nhỏ, tâm khinh tâm mạn, mong được chân thừa,
không có lẽ ấy. Nhị Tổ nghe dạy răn, lòng mộ đạo càng
thiết, lén lấy dao bén tự chặt tay trái, đến trước dâng
Tổ Đạt-ma. Đạt-ma biết là pháp khí, bảo: Ông đứng ngoài
tuyết chặt tay, sẽ vì việc gì ? Nhị Tổ thưa: Tâm con chẳng
an, xin Thầy pháp an tâm. Đạt-ma bảo: Đem tâm ra, ta vì ông
an. Nhị Tổ thưa: Con tìm tâm trọn không thể được. Đạt-ma
nói: Vì ông an tâm xong. Sau Đạt-ma đổi tên cho Ngài là Huệ
Khả. Sau Ngài gặp được Tam tổ Tăng Xán, truyền pháp xong,
ở ẩn tại núi Hoàn Công Thơ Châu, gặp thời Hậu Châu, vua
Võ Đế phá diệt Phật pháp, sa thải Tăng Ni, Tam Tổ qua lại
huyện Thái Hồ vùng núi Tư Không, không ở chỗ nào cố định,
hơn mười năm mà không có người biết. Cao Tăng Truyện của
Tuyên Luật sư chép việc Nhị Tổ không được rõ. Truyện
Tam Tổ nói: Diệu pháp của Nhị Tổ chẳng truyền ở đời,
nhờ sau gặp người như trước ngộ được chỗ của Ngài
đứng trong tuyết. Vì thế Tuyết Đậu nói: “Đứng ngoài
tuyết chưa thôi, người nào chẳng dối trá.” Đứng ngoài
tuyết nếu chưa thôi, đủ khiến bọn người dối trá bắt
chước theo, một lúc chỉ thành dối trá, tức là bọn dối
trá. Tuyết Đậu tụng Phật đất chẳng độ nước, vì sao
lại dẫn nhân duyên này để dùng ? Sư tham đến dưới ý
căn không còn một việc, lột trần mới tụng được như
thế. Ngũ tổ Diễn bình thường bảo người xem ba bài tụng
này. Đâu chẳng thấy Hòa thượng Thủ Sơ có bài tụng dạy
chúng: “Trên núi Ngũ Đài mây nấu cơm, trước nhà Phật
cổ chó đái trời, ở đầu cột phướn toan nướng bánh,
ba đứa trẻ Hồ đêm rải tiền.” Hòa thượng Đỗ Thuận
tụng: “Hoài Châu trâu ăn lúa, Ích Châu ngựa no đầy, mọi
người tìm thầy thuốc, chích heo đùi trái này.” Phó Đại
sĩ tụng: “Tay không cầm cây cuốc, bộ hành cỡi trâu đi,
trên cầu người qua lại, cầu trôi nước chẳng trôi.” Lại
nói: “Người máy đá giống ông, cũng biết bài ca hát, ông
nếu giống người đá, bản tuyết nên cùng hòa.” Nếu hiểu
được lời này là hiểu được bài tụng của Tuyết Đậu:
TỤNG:
Kim Phật bất độ lô
Nhân lai phỏng Tử Hồ
Bi trung sổ cá tự
Thanh phong hà xứ vô.
DỊCH:
Phật vàng chẳng độ lò
Người đến hỏi Tử Hồ
Trong bia có mấy chữ
Gió mát chỗ nào không.
GIẢI
TỤNG: “Phật vàng chẳng độ lò, người đến hỏi Tử Hồ”,
hai câu này cũng tụng xong, vì sao lại dẫn người đến hỏi
Tử Hồ ? Phải là hàng tác gia rèn luyện mới được. Hòa
thượng Tử Hồ có làm tấm bia ở đường lên núi, trong bia
viết: “Tử Hồ có một con chó, trên thì cắn đầu người,
giữa thì cắn lưng người, dưới thì cắn chân người, suy
nghĩ thì tan thân mất mạng.” Phàm thấy người mới đến
liền hét: Coi chừng chó ! Tăng vừa xoay đầu nhìn, Tử Hồ
trở về phương trượng. Hãy nói vì sao cắn Triệu Châu chẳng
được ? Lại một đêm giữa khuya, Sư ở trong phòng kêu to:
Bắt ăn trộm ! Bắt ăn trộm ! Trong lúc tối mù mịt gặp
một vị Tăng, chụp vào ngực nói to: Bắt được rồi ! Bắt
được rồi ! Tăng thưa: Bạch Hòa thượng ! Con, chẳng phải.
Tử Hồ bảo: Phải thì phải, chỉ chẳng chịu thừa nhận.
Nếu ông hiểu lời nói này, nhận ông cắn chết mọi người,
nơi nơi gió mát rười rượi. Nếu chưa được như thế, “trong
bia có mấy chữ” quyết định không thể nào thông. Nếu
cần thấy Sư, chỉ thấu được tột mới thấy.
TỤNG:
Mộc Phật bất độ hỏa
Thường tư Phá Táo Đọa
Trượng tử hốt kích trước
Phương tri cô phụ ngã.
DỊCH:
Phật gỗ chẳng độ lửa
Thường nhớ Phá Táo Đọa
Cây gậy chợt đánh đến
Mới biết cô phụ ta.
GIẢI
TỤNG: “Phật gỗ chẳng độ lửa, thường nhớ Phá Táo Đọa”,
hai câu này tụng xong. Tuyết Đậu nhân Phật gỗ chẳng độ
lửa này thường nghĩ đến Phá Táo Đọa. Hòa thượng Phá
Táo Đọa ở Tung Sơn chẳng biết tên họ, ngôn hạnh khó lường,
thường ở ẩn Tung Sơn. Một hôm, Sư dẫn chúng vào lòng núi,
có một cái miếu rất linh, trong điện chỉ để một vị
táo, gần xa đến cúng kính liên miên, sát sanh hại mạng rất
nhiều. Sư vào trong miếu lấy cây gậy gõ vị táo ba cái,
nói: Dốt ! Ngươi vốn đất gạch hợp thành, linh từ đâu
lại, Thánh từ chỗ nào hiện, mà sát sanh hại mạng thế
ấy ? Lại gõ ba cái, táo tự nghiêng ngả rồi bể nát. Chốc
lát, có người đầu đội mũ mặc áo xanh, bỗng nhiên đứng
trước mặt Sư, lễ bái thưa: Tôi là thần Táo thọ nghiệp
báo đã lâu, ngày nay nhờ Thầy nói pháp vô sanh, đã thoát
khỏi chỗ này, sanh vào cõi trời, đến đây bái tạ. Sư nói:
Tánh bản hữu của ông chẳng phải tôi gắng nói. Thần lại
lễ bái rồi ẩn. Thị giả thưa: Chúng con theo hầu Hòa thượng
đã lâu, chưa nhờ chỉ dạy, thần Táo được yếu chỉ thẳng
tắt gì, liền sanh cõi trời ? Sư đáp: Ta chỉ nói với y,
ngươi vốn đất gạch hợp thành, linh từ đâu lại, Thánh
từ chỗ nào hiện, mà sát sanh hại mạng thế ấy ? Thị giả
không nói được. Sư hỏi: Hiểu chăng ? Thị giả thưa: Chẳng
hiểu. Sư bảo: Lễ bái đi. Thị giả lễ bái. Sư bảo: Bể
rồi ! Bể rồi ! Rơi rồi ! Rơi rồi ! Thị giả bỗng nhiên
đại ngộ. Sau có người thuật lại cho Quốc sư Huệ An nghe.
Quốc sư khen: “Kẻ này hiểu tột vật ngã nhất như, thần
Táo ngộ lẽ này là phải, vị Tăng kia là năm uẩn hợp thành,
cũng nói bể rồi rơi rồi, cả hai đều khai ngộ.” Vả lại,
tứ đại ngũ uẩn cùng ngói gạch bùn đất là đồng là khác
? Đã như thế, vì sao Tuyết Đậu dẫn nói: “cây gậy chợt
đánh đến, mới biết cô phụ ta” ? Tại sao lại thành cô
phụ ? Chỉ là chưa được cây gậy. Hãy nói Tuyết Đậu tụng
Phật gỗ chẳng độ lửa, tại sao lại dẫn công án Phá Táo
Đọa ? Lão tăng thẳng thừng vì ông nói: Ý kia chỉ là bặt
được mất, tình trần ý tưởng lột trần, tự nhiên thấy
chỗ thân thiết kia.
TẮC
97: KINH KIM CANG TỘI NGHIỆP TIÊU DIỆT
LỜI
DẪN: Nắm một buông một chưa phải tác gia, đưa một rõ
ba vẫn trái tông chỉ. Dù được trời đất bỗng đổi, bốn
phương bặt tiếng, sấm vang chớp nhoáng mây bay mưa đuổi,
hồ nghiêng núi ngả, chậu bể bồn nghiêng, cũng chưa đề
được phân nửa. Lại có người khéo chuyển cửa trời hay
dời trục đất chăng, thử cử xem ?
CÔNG
ÁN: Kinh Kim Cang nói: “Nếu bị người khinh tiện, người
ấy tội nghiệp đời trước nên đọa đường ác, vì đời
nay bị người khinh tiện nên tội nghiệp đời trước ắt
là tiêu diệt.”
GIẢI
THÍCH: Kinh Kim Cang nói: “Nếu bị người khinh tiện, người
ấy tội nghiệp đời trước nên đọa đường ác, vì đời
nay bị người khinh tiện nên tội nghiệp đời trước ắt
là tiêu diệt.” Căn cứ chỗ bình thường giảng cứu là
thường luận trong kinh. Tuyết Đậu nêu ra tụng là ý muốn
đả phá các nhà giảng kinh nhằm trong hang quỉ tìm kế sống.
Thái tử Chiêu Minh phân khoa phần này là “hay sạch nghiệp
chướng”. Đại ý kinh nói, kinh này linh nghiệm, người như
thế đời trước tạo nghiệp địa ngục, vì sức lành mạnh
chưa thọ, do đời nay bị người khinh tiện, tội nghiệp đời
trước ắt là tiêu diệt. Kinh này vẫn hay tiêu tội nghiệp
từ vô lượng kiếp đến giờ, chuyển nặng thành nhẹ, chuyển
nhẹ khỏi thọ, lại được Phật quả Bồ-đề. Cứ theo các
nhà kinh luận thì tụng hơn hai mươi chương kinh này, gọi
là trì kinh. Có gì dính dáng. Có người nói, kinh tự có linh
nghiệm. Nếu như thế, ông thử đem một quyển kinh bỏ ở
chỗ trống, xem có cảm ứng hay không ? Pháp Nhãn nói: “Người
chứng Phật địa gọi là trì kinh này.” Trong kinh nói: “Tất
cả chư Phật và pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của
chư Phật đều từ kinh này ra.” Hãy nói gọi cái gì là kinh
này ? Đâu phải là gáy vàng bìa đỏ là phải sao ? Chớ nhận
lầm trái cân bàn. Kim Cang là dụ cho pháp thể kiên cố nên
vật không thể phá hoại, vì cái dụng bén hay phá dẹp tất
cả vật, nghĩ đến núi thì núi băng, nghĩ đến biển thì
biển cạn, căn cứ trên dụ đặt tên, pháp ấy cũng vậy.
Bát-nhã có ba thứ:
1)-
Thật tướng Bát-nhã.
2)-
Quán chiếu Bát-nhã.
3)-
Văn tự Bát-nhã.
Thật
tướng Bát-nhã tức là chân trí, một đoạn đại sự đang
ở dưới chân các ông, sáng tột xưa nay, vượt hẳn thấy
biết, lột trần bày lồ lộ. Quán chiếu Bát-nhã tức là
chân cảnh, trong mười hai giờ phóng quang khắp nơi, nghe tiếng
thấy sắc. Văn tự Bát-nhã tức là văn tự nói ra, tức như
hiện nay người nói kẻ nghe. Hãy nói là Bát-nhã hay chẳng
phải Bát-nhã ? Người xưa nói: Mỗi người tự có một quyển
kinh. Lại nói: Tay chẳng cầm quyển kinh, thường tụng như
thế. Nếu căn cứ sự linh nghiệm của kinh này, đâu những
chuyển nặng thành nhẹ, chuyển nhẹ khỏi thọ, giả sử công
năng bằng bậc Thánh cũng chưa phải là kỳ đặc. Bàng cư
sĩ nghe giảng kinh Kim Cang, hỏi Pháp sư: “Kẻ tục có việc
nhỏ muốn hỏi, chẳng biết được không ?” Pháp sư đáp:
Có nghi xin hỏi. Bàng Uẩn hỏi: Không tướng ngã, không tướng
nhân, đã không tướng ngã nhân, bảo ai giảng ai nghe ? Pháp
sư không đáp được, lại nói: Tôi y văn giải nghĩa chẳng
biết ý này. Bàng Uẩn làm một bài tụng: “Không ngã cũng
không nhân, làm gì có sơ thân, khuyên ông thôi đừng giảng,
đâu bằng thẳng cầu chân. Tánh Kim Cang Bát-nhã, ngoài dứt
mảy bụi trần, tôi nghe cùng tin nhận, cả thảy đều giả
danh.” Bài tụng này rất hay, rõ ràng một lúc nói xong. Khuê
Phong phân khoa tứ cú kệ nói: “Phàm đã có tướng, đều
là hư vọng, nếu thấy các tướng chẳng phải tướng, tức
thấy Như Lai.” Đây là nghĩa bốn câu kệ, giống như “Người
chứng Phật địa gọi là trì kinh này”. Lại nói: “Nếu
do sắc thấy ta, do âm thanh cầu ta, người ấy hành đạo
tà, không thể thấy Như Lai.” Đây cũng là bốn câu kệ.
Chỉ ở trong đó nhận nghĩa nó thì đúng vậy. Có vị Tăng
hỏi Hối Đường: Thế nào là tứ cú kệ ? Hối Đường đáp:
Lời rơi rồi, chẳng biết. Tuyết Đậu ở trên “Kinh này”
chỉ ra, nếu có người trì “Kinh này” tức là Bản địa
phong quang, Bản lai diện mục của các ông. Nếu căn cứ Tổ
lệnh đang hành Bản địa phong quang, Bản lai diện mục cũng
chặt làm ba đoạn, chư Phật ba đời, mười hai phần giáo
chẳng tiêu một cái ấn tay. Đến trong đây giả sử có muôn
thứ công năng cũng không thể xem xét được. Người nay chỉ
cần tụng kinh, trọn chẳng biết là đạo lý gì ? Chỉ thích
nói tôi một ngày tụng được nhiều hay ít, nhận lấy bìa
vàng gáy đỏ, chạy theo những hàng chữ mực. Đâu chẳng
biết toàn do tự kỷ trên bản tâm dấy khởi, cái này chính
là chỗ tụng vậy. Hòa thượng Đại Châu nói: “Nhằm trong
thất chồng mấy hòm kinh, xem có phóng quang chăng ? Chỉ do
chính mình một niệm phát tâm là công đức. Vì sao ? Bởi
muôn pháp đều xuất phát nơi tâm mình, một niệm tức linh,
đã linh tức thông, đã thông tức biến.” Cổ nhân nói: “Trúc
biếc xanh xanh trọn là chân như, hoa vàng rợp rợp đều là
Bát-nhã.” Nếu thấy được triệt tức là Chân như, nếu
thấy chưa được hãy nói cái gì là Chân như ? Kinh Hoa Nghiêm
nói: “Nếu người muốn biết rõ tất cả Phật ba đời,
nên quán tánh pháp giới, tất cả do tâm tạo.” Nếu ông
biết được rồi, chạm cảnh gặp duyên làm chủ làm tông.
Nếu chưa thể rõ được, hãy lắng nghe xử phân. Tuyết Đậu
mở mắt tụng đại khái, cốt rõ sự linh nghiệm của “Kinh
này”.
TỤNG:
Minh châu tại chưởng
Hữu công giả thưởng
Hồ Hán bất lai
Toàn vô kỹ lưỡng.
Kỹ lưỡng ký vô
Ba Tuần thất đồ
Cù-đàm ! Cù-đàm !
Thức ngã dã vô ?
DỊCH:
Minh châu trong tay
Có công ắt thưởng
Hồ Hán chẳng đến
Toàn không xét nét.
Xét nét đã không
Ba Tuần mất lối
Cù-đàm ! Cù-đàm !
Biết tôi cùng chăng ?
Lại nói: Khám phá xong.
GIẢI
TỤNG: Hai câu “minh châu trong tay, có công ắt thưởng”,
nếu có người trì được “Kinh này” có công nghiệm thì
đem châu thưởng cho. Kia được châu này tự nhiên biết dùng,
Hồ đến hiện Hồ, Hán đến hiện Hán, vạn tượng sum la
dọc ngang hiển hiện, đây là có công huân. Pháp Nhãn nói:
Người chứng Phật địa gọi là trì kinh này. Hai câu này
là tụng xong công án. Hai câu “Hồ Hán chẳng lại, toàn không
xét nét”, Tuyết Đậu vặn lỗ mũi lại, nếu có Hồ Hán
đến thì bảo ông hiện, nếu khi Hồ Hán đều chẳng đến
thì làm sao ? Đến trong đây con mắt Phật nhìn cũng chẳng
thấy. Hãy nói là công huân, là tội nghiệp, là Hồ là Hán
? Thật giống con linh dương mọc sừng, chớ nói là tiếng
vang, dấu vết đến hơi hám cũng không, nhằm chỗ nào dò
tìm ? Dù là chư Thiên dâng hoa cũng không có đường, ma ngoại
lén nhìn cũng không có cửa. Thế nên Hòa thượng Động Sơn
một đời trụ viện mà thần Thổ địa tìm không thấy dấu
vết. Một hôm thấy trước nhà trù cơm bún rơi lan lệ, Ngài
khởi tâm bảo: Đồ vật của thường trụ đâu nên khinh rẻ
như thế. Thần thổ địa thấy được Ngài liền lễ bái.
Tuyết Đậu nói: “Xét nét đã không”, nếu đến đây không
có chỗ xét nét thì Ma-ba-tuần cũng phải mất lối. Thế Tôn
xem tất cả chúng sanh như con đỏ, nếu có một người phát
tâm tu hành thì cung điện Ba-tuần bị rạn nứt, nó liền
đến não loạn người tu hành. Tuyết Đậu nói, dù cho Ma-ba-tuần
đến thế ấy, cũng khiến mất hết đường lối, không thể
đến gần chỗ người tu. Tuyết Đậu lại tự vỗ ngực nói:
“Cù-đàm ! Cù-đàm ! Biết tôi cùng chăng ?” Chớ nói là
Ma-ba-tuần, dù là Phật đến, lại biết tôi cùng chăng ? Ông
già Thích-ca còn chẳng thấy, các ông nhằm chỗ nào dò tìm
? Lại nói: Khám phá xong. Hãy nói là Tuyết Đậu khám phá
Cù-đàm hay Cù-đàm khám phá Tuyết Đậu ? Người đủ mắt
thử xét định xem ?
?
TẮC
98: THIÊN BÌNH HÀNH CƯỚC
LỜI
DẪN: “Một hạ lăng xăng tạo sắn bìm, tợ hồ cột được
Ngũ Hồ tăng. Kim Cang kiếm báu ngay đầu chặt, mới hiểu
từ lâu trăm bất năng.” Hãy nói thế nào là kiếm báu Kim
Cang ? Nhìn lên lông mày, mời thử bày mũi nhọn xem ?
CÔNG
ÁN: Hòa thượng Thiên Bình khi đi hành cước, đến tham vấn
Tây Viện, tự thường nói: “Chớ nói hội Phật pháp, tìm
người nói thoại cũng không có.” Một hôm, Tây Viện xa!
Thiên Bình ra đi. Tây Viện nói: Hãy ở lại đây qua hạ, sẽ
cùng Thượng thấy gọi: Tùng Ỷ ! Thiên Bình ngưỡng đầu.
Tây Viện nói: Lầm ! Thiên Bình đi hai ba bước. Tây Viện
bảo: Lầm ! Thiên Bình lại gần. Tây Viện bảo: Vừa rồi
hai cái lầm, là Tây Viện lầm, là Thượng tọa lầm ? Thiên
Bình thưa: Tùng Ỷ lầm ! Tây Viện nói: Lầm! Thiên Bình ra
đi. Tây Viện nói : Hãy ở lại đây qua hạ, sẽ cùng Thượng
tọa thương lượng hai cái lầm này. Khi ấy Thiên Bình liền
đi. Sau Thiên Bình trụ viện bảo chúng: Ta khi ban đầu đi
hành cước bị gió nghiệp thổi đến chỗ Trưởng lão Tư
Minh, liên tiếp hạ hai cái lầm, lại cầm ta qua hạ sẽ cùng
ta thương lượng, ta chẳng nói khi ấy là lầm, cất bước
đi phương Nam, ta sớm biết lầm rồi.
GIẢI
THÍCH: Tư Minh trước tham vấn Đại Giác, sau kế thừa tiền
Bảo Thọ. Một hôm hỏi: Khi đạp nát hóa thành đến thì
thế nào ? Thọ đáp: Kiếm bén chẳng chém kẻ chết. Minh nói:
Chém. Thọ liền đánh. Tư Minh mười lần nói chém. Bảo Thọ
mười lần đánh, nói: Kẻ này chết gấp, đem cái thây chết
chống lại đòn đau, bèn nạt đuổi ra. Khi ấy có vị Tăng
thưa Bảo Thọ: Vị Tăng hỏi thoại vừa rồi rất có đạo
lý, Hòa thượng nên phương tiện tiếp y. Bảo Thọ cũng đánh
đuổi vị Tăng này ra. Hãy nói Bảo Thọ cũng đánh đuổi
vị Tăng này là vì nói phải nói quấy, hay riêng có đạo
lý, ý thế nào ? Về sau hai vị đều kế thừa Bảo Thọ.
Một hôm Tư Minh ra yết kiến Nam Viện. Nam Viện hỏi: Ở đâu
đến ? Tư Minh thưa: Hứa Châu đến. Nam Viện hỏi: Đem được
gì đến ? Tư Minh thưa: Đem được con dao cạo tóc ở Giang
Tây đến dâng Hòa thượng. Nam Viện hỏi: Đã từ Hứa Châu
lại, tại sao có con dao cạo tóc ở Giang Tây ? Tư Minh nắm
tay Nam Viện bấm một cái. Nam Viện bảo: Thị giả nhận lấy.
Tư Minh lấy y phất một cái rồi đi. Nam Viện nói: A thích
thích ! A thích thích ! Thiên Bình từng tham vấn Tiến Sơn chủ
đến. Vì Sư đến các nơi tham được cái Thiền rau cải để
trong bụng, đến nơi nào cũng khai đại khẩu nói ta hội thiền
hội đạo, thường nói: “Chớ nói hội Phật pháp, tìm người
nói thoại cũng không.” Phân hôi thúi huân người, chỉ quản
tuôn cái khinh bạc. Vả như chư Phật chưa ra đời, Tổ sư
chưa từ Ấn sang, trước khi chưa có vấn đáp, chưa có công
án, lại có thiền đạo chăng ? Cổ nhân sự bất đắc dĩ
đối cơ dạy bảo, người sau gọi là công án. Nhân Thế Tôn
đưa cành hoa, ngài Ca-diếp cười chúm chím. Sau đến A-nan
hỏi Ca-diếp: Thế Tôn ngoài truyền y Kim Lan, còn truyền pháp
gì riêng chăng ? Ca-diếp gọi: A-nan ! A-nan ứng: Dạ ! Ca-diếp
nói: Cây phướn trước cửa ngả. Nếu như trước khi chưa
đưa cành hoa, A-nan chưa hỏi, chỗ nào được công án ? Chỉ
quản bị các nơi dùng ấn bí đao ấn định, rồi nói ta hội
Phật pháp kỳ đặc chớ bảo người biết. Thiên Bình chính
như thế, bị Tây Viện kêu liên tiếp hai chữ lầm khiến
phải sợ hãi kinh hoàng bối rối, trước chẳng đến thôn
sau chẳng tới quán. Có người nói: Nói ý Tây sang sớm đã
lầm rồi. Đâu chẳng biết chỗ rơi hai chữ lầm của Tây
Viện. Các ông hãy nói rơi tại chỗ nào ? Vì thế nói: Kia
tham câu sống chẳng tham câu chết. Thiên Bình ngưỡng đầu
đã rơi hai rơi ba rồi. Tây Viện nói lầm, Sư lại không tiến
được chỗ dùng hiện tại, chỉ nói ta trong bụng có thiền,
chẳng cần người, lại đi hai ba bước. Tây Viện nói lầm,
vẫn như xưa tối mù mịt. Thiên Bình đến gần, Tây Viện
nói vừa rồi hai chữ lầm, là Tây Viện lầm hay Thượng tọa
lầm ? Thiên Bình nói Tùng Ỷ lầm. Đáng tức cười không
dính dáng. Đã là đầu thứ bảy thứ tám rồi vậy. Tây Viện
bảo: Hãy ở lại đây qua hạ, cùng Thượng tọa thương lượng
hai chữ lầm. Khi ấy Thiên Bình liền đi. Giống thì cũng giống,
phải thì chưa phải, cũng chẳng nói Sư không phải, chỉ là
tiến chẳng lên. Tuy nhiên như thế, cũng có chút ít hơi hám
của Thiền tăng. Thiên Bình sau trụ viện bảo chúng: Ta buổi
đầu đi hành cước bị gió nghiệp thổi đến chỗ Hòa Thượng
Tư Minh bị liên tiếp hạ hai chữ lầm, lại lưu qua hạ cùng
ta thương lượng, ta chẳng nói khi ấy là lầm. Ta cất bước
phương Nam, sớm biết lầm rồi vậy. Gã này dầu nói tột,
chỉ là rơi vào đầu thứ bảy thứ tám, trước sau không
liên hệ. Như hiện nay có người nghe Sư nói, khi cất bước
sang phương Nam, sớm biết lầm rồi, liền suy nghĩ nói:
Khi chưa đi hành cước không có nhiều Phật pháp thiền đạo,
đến khi đi hành cước bị các nơi quở gạt. Chẳng bằng
khi chưa đi hành cước, gọi đất là trời, gọi núi là nước,
may thay không một việc. Nếu khởi kiến giải lưu tục thế
ấy, sao chẳng mua một chiếc mũ đội cho tất cả để qua
thời, có dùng được chỗ gì ? Phật pháp chẳng phải đạo
lý này. Nếu luận việc này há có nhiều thứ sắn bìm. Nếu
ông nói tôi hội, kia chẳng hội, là gánh một gánh thiền
chạy quanh khắp thiên hạ, bị người mắt sáng khám phá,
một điểm sử dụng cũng không được, Tuyết Đậu chính
như thế tụng ra:
TỤNG:
Thiền gia lưu, ái khinh bạc
Mãn đổ tham lai dụng bất trước
Kham bi kham tiếu Thiên Bình lão
Khước vị đương sơ hối hành cước.
Thố ! Thố !
Tây Viện thanh phong đốn tiêu thước.
DỊCH:
Dòng thiền gia, thích đơn sơ
Đầy bụng tham rồi dùng chẳng được
Đáng thương, đáng cười lão Thiên Bình
Lại bảo ban sơ hối hành cước.
Lầm ! Lầm !
Tây Viện gió lành thổi tiêu sạch.
Lại
nói: Chợt có Thiền tăng ra nói lầm. Tuyết Đậu lầm đâu
giống Thiên Bình lầm.
GIẢI
TỤNG: Hai câu “dòng thiền gia, thích đơn sơ, đầy bụng
tham rồi dùng chẳng được”, gã này hiểu thì hiểu chỉ
là dùng chẳng được. Bình thường mắt nhìn trời mây nói
kia hội nhiều ít thiền, đến khi gặp lò lửa vừa đốt
thì một điểm sử dụng cũng không được. Ngũ Tổ tiên sư
nói: “Có một nhóm người tham thiền giống như giả bánh
dầy trong bình lưu-ly, xoay lăn không được, trút ra chẳng
ra, chạm đến thì bể. Nếu cần chỗ linh động, chỉ tham
được cái thiền vỏ rách, đi thẳng lên núi cao vạch ra cũng
không bể không hư.” Cổ nhân nói: “Giả sử trước lời
nói tiến được, vẫn là kẹt vỏ dính niêm, dù cho dưới
câu tinh thông, chưa khỏi chạm đường thấy loạn.” Hai câu
“đáng thương đáng cười lão Thiên Bình, lại bảo ban sơ
hối hành cước”, Tuyết Đậu nói đáng thương Sư đối
người nói chẳng ra, đáng cười Sư hiểu một thứ thiền
da bụng, lại dùng chút ít chẳng được. “Lầm ! Lầm !”
Hai cái lầm này, có người nói Thiên Bình chẳng hội là lầm.
Lại có người nói: Không lời nói ấy là lầm. Có dính dáng
gì ? Đâu chẳng biết hai cái lầm này như chọi đá nháng
lửa, tợ làn điện chớp, là chỗ hành lý của người hướng
thượng. Như cầm kiếm chém người, phải chặt ngay cổ người
thì mạng căn mới chết. Nếu nhằm trên kiếm bén này đi
được, liền bảy dọc tám ngang. Nếu hiểu hai cái lầm, có
thể thấy “Tây Viện gió lành thổi tiêu sạch”. Tuyết
Đậu thượng đường cử thoại đầu này rồi, ý nói lầm.
Tôi hỏi ông cái lầm của Tuyết Đậu có giống cái lầm
của Thiên Bình chăng ? Hãy tham ba mươi năm.
?
TẮC
99: TRUNG QUỐC SƯ MƯỜI THÂN ĐIỀU NGỰ
LỜI
DẪN: Rồng ngâm mù khởi, cọp rống gió sanh, tông đạo xuất
thế, vàng ngọc chạm nhau, tác lược của bậc thông phương
như hai mũi tên chọi nhau, khắp cõi chưa từng ẩn, xa gần
đồng bày, xưa nay biện rõ. Hãy nói là cảnh giới người
nào, thử cử xem ?
CÔNG
ÁN: Vua Túc Tông hỏi Quốc sư Huệ Trung: Thế nào là mười
thân Điều Ngự ? Quốc sư đáp: Thí chủ đạp trên đảnh
Tỳ-lô đi. Vua nói: Quả nhân chẳng hội. Quốc sư nói: Chớ
lầm nhận Pháp thân thanh tịnh chính mình.
GIẢI
THÍCH: Vua Túc Tông khi còn ở vị Thái tử đã tham vấn Quốc
sư Huệ Trung. Sau lên ngôi vua, lại càng cung kính, Quốc sư
ra vào đích thân vua đỡ lên xe. Một hôm, vua đặt câu hỏi
này ra hỏi Quốc sư: Thế nào là mười thân Điều Ngự ?
Quốc sư đáp: Thí chủ đạp trên đảnh Tỳ-lô đi. Bình thường
Quốc sư xương sống cứng như sắt, đến khi ở trước mặt
Đế vương giống hệt bùn lầy. Tuy nhiên đáp được tầm
thường lại có chỗ hay. Sư nói, ông cần hội được, thí
chủ phải nhằm trên đảnh Tỳ-lô mà đi mới được. Vua
lại chẳng tiến, nói: Quả nhân không hội. Phần sau, Quốc
sư quá mức lê thê rơi trong cỏ, lại rót một câu trên đầu
nói: Chớ lầm nhận Pháp thân thanh tịnh chính mình. Nên nói
người người đầy đủ, mỗi mỗi viên thành. Xem Sư một
phóng một thâu, tám mặt thọ địch. Đâu chẳng nghe người
khéo làm thầy hợp cơ nói giáo, xem gió thả buồm. Nếu chỉ
tránh giữ một góc đâu hay hồi hỗ. Xem lão Hoàng Bá đặc
tài tiếp người, gặp được Lâm Tế ba phen ban cho sáu mươi
gậy, Lâm Tế ngay đó liền hội. Đến khi gặp Tướng quốc
Bùi Hưu thì sắn bìm quá nhiều. Đây há chẳng phải khéo
làm thầy người. Quốc sư Huệ Trung dùng phương tiện khéo
léo tiếp vua Túc Tông, bởi vì Sư có thủ đoạn tám mặt
thọ địch. Mười thân Điều Ngự là mười thứ thân tha
thọ dụng. Ba thân: Pháp thân, Báo thân, Hóa thân tức là Pháp
thân. Cớ sao ? Vì Báo và Hóa không phải Phật thật, cũng
chẳng nói pháp. Pháp thân là một mảnh rỗng lặng linh minh
tịch chiếu. Thượng tọa Phù ở Thái Nguyên, khi trụ ở chùa
Quang Hiếu Dương Châu giảng kinh Niết-bàn, có một du Tăng
tức là Điển tọa ở Giáp Sơn, vì trở tuyết tạm trú trong
chùa, nhân đó đến nghe giảng. Khi giảng đến ba nhân Phật
tánh, ba đức Pháp thân, nói rộng về diệu lý của Pháp thân,
Điển tọa bỗng nhiên phát cười. Thượng tọa Phù xem thấy,
giảng xong sai thị giả mời Thiền sư đến hỏi: Tôi trí
ý kém cỏi, y văn giải nghĩa, trong khi đang giảng thấy Thượng
tọa cười, có chỗ thiếu sót xin Thượng nhân vì chỉ dạy.
Điển tọa nói: Tọa chủ chẳng hỏi thì không dám nói. Tọa
chủ đã hỏi thì không thể chẳng nói, thật tôi cười Tọa
chủ chẳng biết Pháp thân. Thượng tọa Phù hỏi: Giải nói
như thế, chỗ nào chẳng phải ? Điển tọa nói: Mời Tọa
chủ nói lại một lần. Thượng tọa Phù nói: Lý Pháp thân
ví như hư không, dọc cùng tam tế ngang khắp mười phương,
đầy dẫy bát cực, bao trùm nhị nghi, tùy duyên đến cảm
ứng đâu chẳng khắp giáp. Điển tọa nói: Chẳng nói Tọa
chủ giảng chẳng phải, chỉ biết việc bên lượng của Pháp
thân, thật chưa biết Pháp thân. Phù nói: Đã hẳn như thế,
Thiền giả nên vì tôi nói. Điển tọa nói: Nếu như thế,
Tọa chủ nghỉ giảng một tuần lễ, ở trong tịnh thất ngồi
ngay lặng nghĩ, thâu tâm nhiếp niệm, các duyên thiện ác một
lúc buông hết, tự nghiên cứu tột xem. Phù y như lời dạy,
từ đầu hôm đến canh năm, nghe tiếng trống bỗng nhiên khế
ngộ, liền chạy đến gõ cửa Thiền giả. Điển tọa hỏi:
Ai đó ? Phù nói: Tôi. Điển tọa quở: Bảo ông truyền thừa
đại giáo thay Phật nói pháp, giữa đêm vì sao say rượu nằm
ngoài đường ? Phù nói: Từ trước giảng kinh, đã vặn tréo
cái lỗ mũi của cha mẹ sanh rồi, từ nay về sau lại chẳng
dám như thế. Xem kia là hạng kỳ đặc, đâu chỉ nhận cái
chiêu chiêu linh linh, rơi ở trước lừa sau ngựa, phải là
đả phá nghiệp thức không còn một mảy tơ khá được cũng
chỉ được phân nửa. Người xưa nói: “Chẳng khởi mảy
may tâm tu học, trong quang vô tướng thường tự tại.” Chỉ
biết cái thường tịch diệt, chớ nhận thanh sắc, chỉ biết
cái linh tri, chớ nhận vọng tưởng. Vì thế nói: “Giả sử
vòng sắt trên đầu xoay, định tuệ sáng tròn trọn chẳng
mất.” Đạt-ma hỏi Nhị Tổ: Ông đứng ngoài tuyết, chặt
tay chính vì việc gì ? Nhị Tổ thưa: Tâm con chưa an, xin Thầy
an tâm. Đạt-ma bảo: Đem tâm ra vì ông an. Nhị Tổ thưa: Tìm
tâm trọn không thể được. Đạt-ma nói: Vì ông an tâm rồi.
Nhị Tổ bỗng nhiên lãnh ngộ. Hãy nói chính khi ấy Pháp thân
ở chỗ nào ? Trường Sa nói: “Bởi người học đạo chẳng
biết chân, chỉ tại từ xưa nhận thức thần, vô lượng
kiếp rồi gốc sanh tử, kẻ si cho đó người xưa nay.” Như
người hiện nay chỉ nhận được cái chiêu chiêu linh linh,
liền nhìn sững trợn tròng, đùa tinh hồn, có gì giao thiệp.
Đến như Quốc sư bảo: “chớ nhận Pháp thân thanh tịnh
của chính mình”, Pháp thân của chính mình ông còn chưa mộng
thấy, lại nói gì chớ nhận. Các nhà kinh luận cho Pháp thân
thanh tịnh là tột cùng, tại sao lại chẳng bảo người nhận
? Đâu chẳng nghe nói: “nhận được như xưa lại chẳng phải,
dốt ! đáng ăn gậy” ? Hiểu được ý này, mới hiểu Quốc
sư nói: “Chớ nhận Pháp thân thanh tịnh của chính mình.”
Tuyết Đậu không thích tâm lão bà tha thiết của Quốc sư,
đâu ngờ trong bùn lại có gai. Há chẳng thấy Hòa thượng
Động Sơn tiếp người có ba con đường: huyền lộ, điểu
đạo, xòe tay. Người sơ cơ học đạo nhằm ba con đường
này đi. Có vị Tăng hỏi: Bình thường Thầy dạy học nhân
đi điểu đạo, chưa biết thế nào là điểu đạo ? Động
Sơn đáp: Chẳng gặp một người. Tăng hỏi: Làm sao đi ? Động
Sơn đáp: Cần phải dướiï chân vô tư đi. Tăng hỏi: Đi
điểu đạo có phải là Bản lai diện mục chăng ? Động Sơn
đáp: Xà-lê tại sao điên đảo ? Tăng hỏi: Chỗ nào là chỗ
con điên đảo ? Động Sơn đáp: Nếu không điên đảo tại
sao nhận tớ làm bạn ? Tăng hỏi: Thế nào là Bản lai diện
mục ? Động Sơn đáp: Chẳng đi đường chim. Cần phải thấy
đến loại điền địa này, mới có ít phần tương ưng. Thẳng
đó hạ thủ công phu, dạy lấp dấu ẩn tiếng, vẫn là kiến
giải đồng hạnh Sa-di ở trong nhà thiền. Cần phải quay đầu
trở lại trong trần lao, dấy khởi muôn ngàn đại dụng mới
được. Tuyết Đậu tụng ra:
TỤNG:
Nhất quốc chi Sư diệc cưỡng danh
Nam Dương độc hứa chấn gia thanh
Đại Đường phù đắc chân Thiên tử
Tằng đạp Tỳ-lô đảnh thượng hành
Thiết chùy kích toái hoàng kim cốt
Thiên địa chi giang cánh hà vật
Tam thiên sát hải dạ trầm trầm
Bất tri thùy nhập thương long huyệt.
DỊCH:
Một nước làm thầy cũng gượng kêu
Nam Dương riêng nhận tiếng vang nêu
Đại Đường phò được nhà vua tốt
Từng đạp Tỳ-lô trên đảnh đi
Chùy sắt đập tan xương vàng mảnh
Trong khoảng đất trời nào có vật
Ba ngàn sát hải đêm lặng chìm
Chẳng biết ai vào hang rồng dữ.
GIẢI
TỤNG: Hai câu “một nước làm thầy cũng gượng kêu, Nam
Dương riêng nhận tiếng vang nêu”, câu tụng này giống hệt
lời tán chân dung. Đâu chẳng nghe “chí nhân không danh”,
gọi là Quốc sư cũng gượng an danh rồi. Đạo của Quốc
sư không thể so sánh, khéo tài tiếp người thế ấy, riêng
nhận Nam Dương là hàng tác gia. Hai câu “Đại Đường phò
được nhà vua tốt, từng đạp Tỳ-lô trên đảnh đi”, nếu
là Thiền tăng đủ mắt sáng, phải nhằm trên đảnh Tỳ-lô
mà đi, mới thấy được mười thân Điều Ngự. Phật gọi
là Điều Ngự, là một trong mười hiệu. Một thân hóa mười
thân, mười thân hóa trăm thân, cho đến ngàn trăm ức thân…
Chủ yếu chỉ là một thân. Câu tụng này cũng dễ nói. Mấy
câu tụng sau, Quốc sư nói: “chớ nhận Pháp thân thanh tịnh
của chính mình”, tụng được nước rưới chẳng dính, hẳn
là khó mở miệng. “Chùy sắt đập tan xương vàng mảnh,
trong khoảng đất trời nào có vật”, hai câu này “chớ
nhận Pháp thân thanh tịnh của chính mình”, Tuyết Đậu rất
mực tán thán kia, một mảnh xương vàng một chùy đập nát
rồi vậy. Trong khoảng trời đất lại có vật gì ? Hẳn phải
lột trần bày lồ lộ, không có một vật khá được, mới
là bản địa phong quang. Giống như “ba ngàn sát hải đêm
lặng chìm”. Tam thiên đại thiên thế giới ở trong biển
Hương Thủy, có vô biên cõi, mỗi cõi có một biển, chính
khi đêm lặng canh khuya, trời đất đồng thời chìm lặng.
Hãy nói ấy là gì ? Tối kỵ khởi hiểu bụm mặt nhắm mắt.
Nếu hiểu thế ấy chính là rơi vào biển độc. “Chẳng
biết ai vào hang rồng dữ”, duỗi chân hay co chân. Hãy nói
là ai ? Lỗ mũi của quí vị một lúc bị Tuyết Đậu xỏ
rồi vậy.
?
TẮC
100: BA LĂNG KIẾM THỔI LÔNG
LỜI
DẪN: Thâu nhân kết quả tột thủy tột chung, đối mặt vô
tư vốn chẳng từng nói. Chợt có người ra nói: Một hạ
thỉnh mời, tại sao chẳng từng nói ? Đợi ông ngộ rồi
vì ông nói. Hãy nói là ngay mặt tránh né? Hay là riêng có
chỗ hay ? Thử cử xem ?
CÔNG
ÁN: Tăng hỏi Ba Lăng: Thế nào là kiếm thổi lông ? Ba Lăng
đáp: Cành cành san-hô chỏi đến trăng.
GIẢI
THÍCH: Ba Lăng chẳng khởi chiến tranh, bốn biển năm hồ bao
nhiêu người lưỡi rơi xuống đất ? Vân Môn tiếp người
đúng như thế. Sư là đích tử của Vân Môn nên mỗi cái
đều có đủ tác lược. Thế nên nói: “Tôi mến Thiều Dương
máy mới định, một đời vì người nhổ đinh tháo chốt.”
Lời thoại này chính là chỗ thế ấy. Ở trong một câu tự
nhiên đủ ba câu: che đậy càn khôn, cắt đứt các dòng, theo
mòi đuổi sóng. Lời đáp quả thật kỳ đặc. Viễn Lục
công ở Phù Sơn nói: Người chưa thấu tham câu chẳng bằng
tham ý, người thấu được tham ý chẳng bằng tham câu. Dưới
Vân Môn có ba vị tôn túc, câu hỏi “kiếm thổi lông” đều
đáp bằng chữ “Liễu”. Chỉ riêng Ba Lăng đáp hơn một
chữ “Liễu”, đây là được câu vậy. Hãy nói chữ “Liễu”
cùng “cành cành san-hô chỏi đến trăng” là đồng là khác
? Trước nói ba câu có thể biện một mũi tên thấu trên không.
Cần hiểu thoại này, phải là tình trần ý tưởng hết sạch
mới thấy. Sư nói: “Cành cành san-hô chỏi đến trăng.”
Nếu khởi đạo lý càng thấy dò tìm chẳng đến. Câu này
là trích trong thơ Thiền Nguyệt Nhớ Bạn: “Dày như sắt
trên núi Thiết Vi, mỏng như tơ áo tiên Song Thành, máy Thục
Phụng Sồ kiễng chân dẫm, cành cành san-hô chỏi đến trăng.
Kho nhà Vương Khải giấu khó đào. Nhan Hồi kẻ đói buồn
trời tuyết, thông xưa ngọn thẳng sấm gãy nào, thạch nữ
áo tuyết bàn đào vắng, đeo vào Long cung bước chầm chậm,
rèm thêu chiếu bạc nào khác nhau. Chẳng biết Ly Long mất
châu báu, biết chẳng biết ?” Ba Lăng ở trong đó rút ra
một câu để đáp “kiếm thổi lông” thật là thích. Trên
lưỡi kiếm bén lấy lông thổi qua để thử nó, sợi lông
tự đứt là kiếm bén, gọi là kiếm thổi lông. Ba Lăng chỉ
theo chỗ kia hỏi, liền đáp lời ông tăng này, đầu rơi cũng
chẳng biết.
TỤNG:
Yếu bình bất bình
Đại xảo nhược chuyết
Hoặc chỉ hoặc chưởng
Ỷ Thiên chiếu tuyết.
Đại trị hề ma lung bất hạ
Lương công hề phất thức vị kiệt.
Biệt biệt
San-hô chi chi chưởng trước nguyệt.
DỊCH:
Cần bình chẳng bình
Quá khéo thành vụng
Hoặc chỉ hoặc chưởng
Ỷ Thiên soi tuyết.
Đại trị chừ giũa mài chẳng được
Thợ giỏi chừ chùi quét chưa xong.
Khác khác
Cành cành san-hô chỏi đến trăng.
GIẢI
TỤNG: Hai câu “cần bình chẳng bình, quá khéo thành vụng”,
xưa có một hiệp khách đi đường thấy việc bất bình, dùng
mạnh hiếp yếu, liền phi kiếm lấy đầu kẻ mạnh. Sở dĩ
nhà tông sư mi mắt ẩn bảo kiếm, trong tay áo giấu chùy vàng
để dứt việc bất bình. Quá khéo thành vụng, chỗ đáp của
Ba Lăng cốt bình việc bất bình. Song lời của Sư quá khéo
trở thành vụng. Vì sao ? Vì Sư không đối diện huơi kiếm,
lại ẩn chỗ vắng lén chặt đầu người mà người không
hay. Hai câu “hoặc chỉ hoặc chưởng, Ỷ Thiên soi tuyết”,
hiểu được như kiếm dài Ỷ Thiên thần uy lẫm lẫm. Cổ
nhân nói: “Tâm nguyệt riêng tròn, sáng trùm vạn tượng,
sáng không chiếu cảnh, cảnh cũng chẳng còn, sáng cảnh đều
quên, lại là vật gì ?” Kiếm báu này hoặc hiện trên ngón
tay, chợt hiện trong bàn tay. Ngày xưa Tạng chủ Khánh nói
đến đây, đưa tay lên nói: “Lại thấy chăng?” Không hẳn
ở trên ngón tay vậy. Tuyết Đậu mượn đường đi qua, dạy
cho ông thấy ý cổ nhân. Nên nói: Tất cả chỗ thảy là kiếm
thổi lông vậy. Vì thế nói: “Ba cấp sóng cao cá hóa rồng,
người si vẫn múc nước sông Đường.” Tổ Đình Sự Uyển
chép truyện Hiếu Tử rằng: “Phu nhân của vua Sở thường
mùa hạ đi hóng gió đứng tựa cây trụ sắt, cảm thọ thai,
sau sanh một khối sắt. Vua Sở sai Can Tương luyện làm kiếm,
ba năm mới thành hai cây kiếm, một Thư một Hùng. Can Tương
thầm lưu cây Hùng, đem cây Thư dâng lên vua Sở, vua Sở để
trong giáp, thường nghe tiếng kêu buồn. Vua hỏi quần thần,
thần tâu: Kiếm có Thư và Hùng, kêu buồn là nhớ Hùng vậy.
Vua nổi giận bắt Can Tương giết đi. Can Tương biết sẽ
ứng điều này, lấy cây kiếm giấu trong cây cột trong nhà,
dặn vợ là Mạc Da rằng: Mặt trời mọc cửa Bắc cây tùng
ở núi Nam, tùng sanh nơi đá, kiếm ở giữa đó. Sau vợ ông
sanh con trai tên Mi Gian Xích, được mười lăm tuổi hỏi mẹ:
Cha ở đâu ? Mẹ thuật lại việc trước. Nó suy nghĩ lâu,
chẻ cây cột được kiếm, ngày đêm muốn vì cha trả thù.
Vua Sở cũng ra lệnh tìm kiếm nó, lệnh rằng ai bắt được
Mi Gian Xích sẽ hậu thưởng. Mi Gian Xích trốn đi, chợt có
người khách hỏi: Con có phải Mi Gian Xích chăng ? Xích đáp:
Phải. Khách bảo: Ta là Chân Sơn Nhân có thể vì con trả thù
cha con. Xích thưa: Cha tôi xưa vô cớ bị giết oan, nay ông
thương xót có cần điều gì ? Khách bảo: Phải được đầu
của con và cây kiếm. Xích bèn dâng kiếm và đầu. Khách được
rồi, đến dâng vua Sở. Vua Sở rất vui mừng. Khách tâu: Xin
nấu dầu chưng nó. Vua bèn để trong đảnh. Khách nói dối
vua rằng: Đầu nó chẳng tan. Vua đến gần xem. Khách ở sau
dùng kiếm chặt đầu vua rơi trong đảnh. Hai cái đầu cắn
lộn nhau. Khách sợ Mi Gian Xích không thắng, liền tự cắt
đầu bỏ vào giúp nó. Ba cái đầu cắn nhau, từ từ tan hết.
Tuyết Đậu nói “cây kiếm này hay tựa trời soi tuyết”.
Bình thường nói “trường kiếm Ỷ Thiên sáng hay soi tuyết”,
chỗ dùng này thẳng được, “đại trị chừ giũa mài chẳng
được”, dù là thợ giỏi chùi quét cũng chưa xong. Thợ giỏi
tức là Can Tương ấy vậy, việc xưa đã rõ. Tuyết Đậu
tụng xong, rốt sau bày ra nói “khác, khác”, cũng thật kỳ
đặc, riêng có chỗ hay cùng với kiếm tầm thường chẳng
đồng. Hãy nói thế nào là chỗ khác ? “Cành cành san-hô
chỏi đến trăng”, đáng gọi là suốt trước tột sau, đứng
riêng trong hoàn vũ, không có ai sánh bằng. Cứu kính thế nào
? Các ông đầu rơi vậy. Lão tăng lại có tiểu kệ:
Vạn hộc doanh chu tín thủ noa
Khước nhân thất liệp úng thôn xà
Niêm đề bách chuyển cựu công án
Tát khước thời nhân kỷ nhãn sa.
DỊCH:
Thuyền đầy muôn hộc dễ dàng kéo
Lại nhân một hạt ghè đựng rắn
Nêu lên trăm chuyển công án xưa
Ném cát thời nhân bao mắt đầy.