TẮC
91: DIÊM QUAN CÂY QUẠT TÊ NGƯU
LỜI
DẪN: Vượt tình lìa kiến mở trói gỡ niêm, dựng dậy tông
thừa hướng thượng, đỡ đứng chánh pháp nhãn tạng, phải
là mười phương đồng ứng, tám mặt linh lung, thẳng đến
điền địa ấy. Hãy nói lại có đồng đắc đồng chứng,
đồng tử đồng sanh hay không, thử cử xem ?
CÔNG
ÁN: Một hôm, Diêm Quan gọi thị giả: Đem cây quạt tê ngưu
lại cho ta. Thị giả thưa: Cây quạt rách rồi. Diêm Quan bảo:
Cây quạt đã rách trả con tê ngưu cho ta. Thị giả không đáp
được. Đầu Tử nói: Chẳng từ đem ra, ngại đầu sừng
chẳng đủ. Tuyết Đậu niêm: Ta cần cái đầu sừng chẳng
đủ. Thạch Sương nói: Nếu trả Hòa thượng thì không vậy.
Tuyết Đậu niêm: Con tê ngưu vẫn còn.Tư Phước vẽ một
vòng tròn, ở trong vẽ một chữ ngưu. Tuyết Đậu niêm: Vừa
rồi vì sao chẳng đem ra ? Bảo Phước nói: Hòa thượng tuổi
cao, riêng mời người thì tốt. Tuyết Đậu niêm: Đáng tiếc
nhọc mà không công.
GIẢI
THÍCH: Một hôm Diêm Quan gọi thị giả: “Đem cây quạt tê
ngưu lại cho ta.” Việc này tuy chẳng ở trên ngôn cú, song
cần nghiệm tác lược ý khí bình sanh của người, lại cần
mượn lời như thế để hiểu. Đến ngày ba mươi tháng chạp
vẫn được đắc lực làm chủ, muôn cảnh đầy dẫy trông
thấy mà chẳng động, đáng gọi công mà vô công lực mà
vô lực. Diêm Quan là Thiền sư Tề An. Thời xưa lấy sừng
con tê ngưu làm quạt. Khi ấy Diêm Quan há chẳng biết cây
quạt tê ngưu đã rách, mà cố hỏi thị giả. Thị giả thưa:
Cây quạt tê ngưu đã rách. Xem cổ nhân trong mười hai giờ
thường ở trong ấy sờ đến chạm đến. Diêm Quan bảo: Cây
quạt đã rách, trả con tê ngưu lại cho ta. Hãy nói Sư cần
con tê ngưu làm gì ? Chỉ cần nghiệm người biết được
chỗ rơi hay không ? Đầu Tử đáp: Chẳng từ đem ra, ngại
đầu sừng chẳng đủ. Tuyết Đậu nói: Ta cần cái đầu
sừng chẳng đủ. Cũng là nhằm dưới câu liền đầu cơ.
Thạch Sương nói: Nếu trả Hòa thượng thì không vậy. Tuyết
Đậu nói: Con tê ngưu vẫn còn. Tư Phước vẽ một vòng tròn,
ở trong vẽ một chữ ngưu. Vì Sư kế thừa Ngưỡng Sơn nên
bình sanh thích lấy cảnh tiếp người để rõ việc này. Tuyết
Đậu nói: Vừa rồi vì sao chẳng đem ra ? Lại xỏ lỗ mũi
kia vậy. Bảo Phước nói: Hòa thượng tuổi cao riêng mời
thì tốt. Lời này nói được ổn đáng. Ba câu trước dễ
thấy, một câu này có ý xa xôi. Tuyết Đậu cũng đã phá
xong. Sơn tăng khi xưa ở chỗ Khánh Tạng chủ lý hội, nói:
Hòa thượng tuổi cao già nua, được đầu quên đuôi, vừa
rồi đòi cây quạt, giờ đây lại đòi con tê ngưu, khó vì
hầu hạ, cho nên nói riêng mời người khác thì tốt. Tuyết
Đậu nói: Đáng tiếc nhọc mà không công. Đây đều là cách
thức hạ ngữ. Cổ nhân thấy tột việc này, mỗi mỗi tuy
chẳng đồng, mà nói ra đều trăm phát trăm trúng, cần có
con đường xuất thân, mỗi câu chẳng mất huyết mạch. Người
nay bị hỏi đến, chỉ cần tạo đạo lý suy gẫm. Vì thế
trong mười hai giờ cần người gặm nhấm, dạy một giọt
cô đọng một giọt, cần chỗ chứng ngộ. Xem Tuyết Đậu
tụng nhất quán.
TỤNG:
Tê ngưu phiến tử dụng đa thì
Vấn trước nguyên lai tổng bất tri
Vô hạn thanh phong dữ đầu giác
Tận đồng vân vũ khứ nan truy.
DỊCH:
Cây quạt tê ngưu dụng đã lâu
Hỏi ra như trước thảy không hay
Đầu sừng với gió lành vô hạn
Trọn đồng Vân vũ đi khó tìm.
Tuyết
Đậu lại nói: Nếu cần gió mát trở lại, đầu sừng sanh
ra, thỉnh Thiền khách mỗi người hạ một chuyển ngữ. Hỏi
rằng: Cây quạt đã rách trả con tê ngưu lại cho ta ? Có vị
Tăng ra thưa: Đại chúng đến nhà tham thiền đi. Tuyết Đậu
hét, nói: Thả câu cá kình mà câu được con ếch. Liền xuống
tòa.
GIẢI
TỤNG: Hai câu “cây quạt tê ngưu dụng đã lâu, hỏi ra như
trước thảy không hay”, mỗi người sẵn có cây quạt tê
ngưu, trong mười hai giờ toàn nhờ sức của nó, vì sao hỏi
đến thảy không biết ? Thị giả, Đầu Tử cho đến Bảo
Phước cũng chẳng biết. Hãy nói Tuyết Đậu lại biết chăng
? Đâu chẳng thấy Vô Trước đến tham vấn Văn-thù, khi uống
trà Văn-thù đưa cái chung pha lê lên hỏi: Phương Nam lại
có cái này chăng ? Vô Trước thưa: Không. Văn-thù hỏi: Bình
thường dùng cái gì uống trà ? Vô Trước không đáp được.
Nếu biết được chỗ rơi của công án này, thì biết được
cây quạt tê ngưu có vô hạn thanh phong, cũng thấy được
đầu sừng con tê ngưu sừng sững. Bốn vị Trưởng lão nói
thế ấy, như sáng mây chiều mưa, một phen đi thật khó tìm.
Tuyết Đậu lại nói: Nếu cần gió mát trở lại, đầu sừng
sanh ra, thỉnh Thiền khách mỗi người hạ một chuyển ngữ.
Hỏi: Cây quạt đã rách, trả con tê ngưu lại cho ta ? Có một
Thiền khách đáp: Đại chúng đến nhà tham thiền đi. Vị
Tăng này đoạt được quyền bính của chủ nhà, nói đến
tột chỉ nói được tám phần. Nếu cần mười phần, liền
lật ngược giường thiền. Ông hãy nói, vị Tăng này hiểu
con tê ngưu hay chẳng hiểu ? Nếu chẳng hiểu sao lại biết
nói thế ấy ? Nếu hiểu, tại sao Tuyết Đậu chẳng chấp
nhận y ? Vì sao nói: “thả câu cá kình mà câu được con
ếch” ? Hãy nói cứu kính thế nào ? Quí vị vô sự thử
nêu lên xem ?
?
TẮC
92: THẾ TÔN ĐĂNG TÒA
LỜI
DẪN: Nhạc điệu bản hay ngàn năm khó gặp, thấy thỏ thả
chim ưng một lúc thật tài, gom tất cả ngữ ngôn làm một
câu, góp đại thiên sa giới làm một hạt bụi, đồng chết
đồng sống, bảy xoi tám phủng, lại có người chứng cứ
hay chăng, thử cử xem ?
CÔNG
ÁN: Một hôm Thế Tôn đăng tòa, Văn-thù bạch chùy rằng:
Quán kỹ pháp đấng Pháp Vương, pháp đấng Pháp Vương như
thế.
GIẢI
THÍCH: Trước kia Thế Tôn đưa cành hoa, sớm đã có tin tức
này. Buổi đầu từ vườn Lộc Uyển, sau cùng đến sông Bạt-đề,
đâu từng dùng đến cây bảo kiếm Kim Cang Vương. Trong chúng
khi đó, nếu có người có hơi hám Thiền tăng nhận ra được,
mới khỏi sau này Ngài đưa cành hoa khiến một trường rối
bời. Thế Tôn trong khoảng im lặng bị Văn thù đẩy một
cái, liền xuống tòa. Khi ấy cũng có tin tức này. Đức Thích-ca
đóng cửa thất, ngài Tịnh Danh ngậm miệng, đều giống cái
này, đã nói xong vậy. Như câu vua Túc Tông hỏi Quốc sư Huệ
Trung về tháp Vô Phùng. Như lời ngoại đạo hỏi Phật, chẳng
hỏi có lời chẳng hỏi không lời. Xem hành lý của người
hướng thượng đâu từng vào hang quỉ làm kế sống. Có người
nói ý ở chỗ làm thinh. Có người nói ở chỗ im lặng giây
lâu. Dùng có lời để rõ việc không lời, không lời để
rõ việc có lời. Vĩnh Gia nói: “Khi im lặng nói, khi nói im
lặng.” Thảy hiểu thế ấy thì ba đời sáu mươi kiếp cũng
chưa mộng thấy. Nếu ông thẳng đó thừa đương được,
chẳng thấy có phàm có Thánh, pháp ấy bình đẳng không có
cao thấp, mỗi ngày cùng chư Phật ba đời nắm tay đồng đi.
Phần sau, xem Tuyết Đậu tự nhiên thấy được tụng ra.
TỤNG:
Liệt Thánh tùng trung tác giả tri
Pháp Vương pháp lệnh bất như tư
Hội trung nhược hữu Tiên Đà khách
Hà tất Văn-thù hạ nhất chùy.
DỊCH:
Liệt Thánh tùng lâm tác giả tri
Pháp Vương pháp lệnh chẳng như đây
Hội này nếu có Tiên Đà khách
Nào thiết Văn-thù hạ một chùy.
GIẢI
TỤNG: Câu “liệt Thánh tùng lâm tác giả tri”, trong hội
Linh Sơn tám muôn đại chúng đều là liệt Thánh, Văn-thù,
Phổ Hiền cho đến Di-lặc, chủ bạn đồng hội, phải là
khéo trong khéo, kỳ trong kỳ, mới biết chỗ rơi kia. Ý Tuyết
Đậu nói liệt Thánh trong tùng lâm không một người “Tri
Hữu”. Nếu có bậc tác gia mới biết chẳng thế ấy. Cớ
sao ? Văn-thù bạch chùy: “quán kỹ pháp đấng Pháp Vương,
pháp đấng Pháp Vương như thế” ? Tuyết Đậu nói “Pháp
Vương pháp lệnh chẳng như đây.” Cớ sao như thế ? Trong
hội khi ấy, nếu có người đảnh môn đủ mắt, trong tay
có linh phù, nhằm trước khi Thế Tôn đăng tòa xem được
phá, đâu cần Văn-thù bạch chùy. Kinh Niết-bàn nói: Tiên-đà-bà
một tên có bốn nghĩa:
1)
- Là muối, 2) - Là nước, 3) - Là đồ dùng, 4) - Là ngựa.
Có
vị quan thông minh khéo hiểu bốn nghĩa, nếu vua cần rửa
tay gọi tiên-đà-bà liền dâng nước, khi ăn gọi tiên-đà-bà
thì dâng muối, ăn xong gọi tiên-đà-bà thì dâng đồ dùng
uống nước, muốn đi gọi tiên-đà-bà thì dâng ngựa. Tùy
ý ứng dụng không sai chạy. Hẳn thế, phải là người lanh
lợi mới được. Như Tăng hỏi Hương Nghiêm: Thế nào là
vua đòi tiên-đà-bà ? Hương Nghiêm đáp: Qua bên này đi. Tăng
qua bên này, Hương Nghiêm nói: Ngu chết người. Tăng lại hỏi
Triệu Châu: Thế nào là vua đòi tiên-đà-bà ? Triệu Châu
bước xuống giường thiền cúi đầu khoanh tay. Khi ấy nếu
có kẻ Tiên-đà-bà, trước khi Thế Tôn đăng tòa thấu được,
vẫn còn so sánh đôi chút. Thế Tôn lại đăng tòa, liền xuống
tòa, đã là chẳng tiện rồi vậy. Đâu kham Văn-thù lại bạch
chùy, hẳn là làm mờ đường lối đề xướng của Thế Tôn.
Hãy nói thế nào là chỗ làm mờ ?
?
TẮC
93: ĐẠI QUANG ĐÂY LÀ DÃ HỒ TINH
CÔNG
ÁN: Tăng hỏi Đại Quang: Trường Khánh nói nhân trai khánh
tán, ý chỉ thế nào ? Đại Quang liền múa. Tăng lễ bái.
Đại Quang bảo: Thấy cái gì liền lễ bái ? Tăng liền múa.
Đại Quang nói: Đây là dã hồ tinh.
GIẢI
THÍCH: Hai mươi tám vị Tổ ở Ấn Độ, sáu vị Tổ ở Trung
Hoa chỉ truyền cái này. Các ông lại biết chỗ nơi chăng
? Nếu biết khỏi được lỗi này. Nếu chẳng biết, như xưa
chỉ là dã hồ tinh. Có người nói: Là kéo lỗ mũi kia, đến
gạt người. Nếu thật thế ấy, thành đạo lý gì ? Đại
Quang thật khéo vì người, trong câu có con đường xuất thân,
là bậc Tông sư phải vì người nhổ đinh tháo chốt, gỡ
niêm cởi trói, mới gọi là thiện tri thức. Đại Quang liền
múa, vị Tăng lễ bái, rốt sau Tăng liền múa, Đại Quang nói
đây là dã hồ tinh. Chẳng phải chuyển vị Tăng, cứu kính
chẳng biết đúng đích. Ông chỉ biết liền múa đổi thay
nhau thế ấy, đến bao giờ được thôi dứt. Đại Quang nói:
Đây là dã hồ tinh. Câu này cắt đứt Kim Ngưu, thật là kỳ
đặc. Vì thế nói: Kia tham câu sống, chẳng tham câu chết.
Tuyết Đậu chỉ thích Sư nói “đây là dã hồ tinh”, do
đó tụng ra. Hãy nói “đây là dã hồ tinh” cùng “Tạng
đầu bạch, Hải đầu hắc” là đồng là khác. Lại biết
chăng ? Với “thùng sơn”, “Sư Tăng tốt” là đồng hay
khác ? Chỗ chạm gặp y, Tuyết Đậu tụng ra.
TỤNG:
Tiên tiễn du khinh hậu tiễn thâm
Thùy vân hoàng diệp thị huỳnh kim
Tào Khê ba lãng như tương tợ
Vô hạn bình nhân bị lục trầm.
DỊCH:
Tên trước còn nhẹ tên sau sâu
Ai rằng lá úa ấy vàng ròng
Tào Khê dậy sóng dường tương tợ
Vô hạn người thường bị đắm chìm.
GIẢI
TỤNG: Câu “tên trước còn nhẹ tên sau sâu”, Đại Quang
liền múa là tên trước, lại nói đây là dã hồ tinh là mũi
tên sau. Đây là nanh vuốt từ trước đến giờ. Câu “ai
rằng lá úa ấy vàng ròng”, Ngưỡng Sơn dạy chúng nói: “Cả
thảy các ông mỗi người tự hồi quang phản chiếu, chớ
nhớ lời tôi. Các ông từ vô thủy đến giờ trái sáng hợp
tối, gốc vọng tưởng sâu dày, rất khó nhổ nhanh. Vì thế,
tạm bày phương tiện cướp thô thức của ông, như đem lá
vàng dỗ con nít khóc, giống như đem quả ngọt đổi lấy
trái đắng.” Cổ nhân quyền bày phương tiện vì người,
đến khi hết khóc thì lá vàng chẳng phải lá vàng. Thế Tôn
nói pháp một đời cũng chỉ là nói để dỗ nín khóc. Câu
“đây là dã hồ tinh”, chỉ cần đổi nghiệp thức cho kia.
Ở trong cũng có quyền thật, chiếu dụng, mới thấy lỗ mũi
Thiền tăng. Nếu hiểu được, như cọp chắp cánh. Câu “Tào
Khê dạy sóng dường tương tợ”, bỗng chợt bốn phương
tám hướng học giả, chỉ quản liền múa như thế. Một bề
thế ấy thì “vô hạn người thường bị đắm chìm”, có
chỗ nào mà cứu được ?
?
TẮC
94: LĂNG NGHIÊM CHẲNG THẤY
LỜI
DẪN: Trước tiếng một câu ngàn Thánh chẳng truyền, trước
mặt một sợi tơ hằng không gián cách, lột trần bày lồ
lộ, trâu trắng phơi bày, trợn mắt, vễnh tai. Sư tử lông
vàng gác lại, hãy nói thế nào là trâu, trắng phơi bày ?
CÔNG
ÁN: Kinh Lăng Nghiêm nói: “Khi ta chẳng thấy, sao chẳng thấy
chỗ chẳng thấy của ta. Nếu thấy cái chẳng thấy, tự nhiên
chẳng phải tướng chẳng thấy kia. Nếu chẳng thấy chỗ
ta chẳng thấy, tự nhiên chẳng phải vật, tại sao chẳng
phải ông ?”
GIẢI
THÍCH: Kinh Lăng Nghiêm nói: “Khi ta chẳng thấy, sao chẳng
thấy chỗ chẳng thấy của ta. Nếu thấy cái chẳng thấy,
tự nhiên chẳng phải tướng chẳng thấy kia. Nếu chẳng thấy
chỗ ta chẳng thấy, tự nhiên chẳng phải vật, tại sao chẳng
phải ông ?” Tuyết Đậu đến đây dẫn văn kinh mà dẫn
chẳng hết. Dẫn hết thì có thể thấy. Kinh nói: “Nếu cái
thấy là vật, thì ông cũng thấy được cái thấy của ta.
Nếu đồng thấy gọi là “thấy cái thấy” của ta. Khi ta
chẳng thấy, sao chẳng thấy chỗ chẳng thấy của ta ? Nếu
thấy cái chẳng thấy, tự nhiên chẳng phải tướng chẳng
thấy kia. Nếu chẳng thấy chỗ ta chẳng thấy, tự nhiên chẳng
phải vật, tại sao chẳng phải ông ?” Vì lời nhiều chẳng
chép hết. Ý Tôn giả A-nan nói: “Thế giới, lồng đèn, cột
cái đều nên có tên, cần thiết Thế Tôn chỉ ra cái Diệu
tinh nguyên minh này gọi là vật gì, khiến con thấy ý Phật
?” Thế Tôn nói: Ta thấy đài hương. A-nan thưa: Con cũng thấy
đài hương, tức là cái thấy của Phật. Thế Tôn nói: Ta
thấy đài hương thì dễ biết, nếu khi ta chẳng thấy đài
hương, ông làm sao thấy ? A-nan thưa: Khi con chẳng thấy đài
hương là thấy Phật. Phật bảo: “Ta nói chẳng thấy, tự
là ta biết, ông nói chẳng thấy tự là ông biết, chỗ người
khác không thấy ông làm sao biết được ?” Cổ nhân nói:
Đến trong đây chỉ nên tự biết, vì người nói chẳng được.
Như Thế Tôn nói khi ta chẳng thấy, sao chẳng thấy chỗ chẳng
thấy của ta. Nếu thấy cái chẳng thấy, tự nhiên chẳng
phải tướng chẳng thấy kia. Nếu chẳng thấy chỗ ta chẳng
thấy, tự nhiên chẳng phải vật, tại sao chẳng phải của
ông ? Nếu nói nhận cái thấy là có vật thì chưa có thể
phủi dấu “khi tôi chẳng thấy”. Như con linh dương mọc
sừng, tiếng vang dấu vết, khí tức đều tuyệt, ông nhằm
chỗ nào dò tìm ? Ý kinh trước buông ra để phá, sau đoạt
để phá. Tuyết Đậu mở con mắt giáo pháp để tụng, chẳng
tụng vật, cũng chẳng tụng thấy cùng chẳng thấy, thẳng
thừng tụng thấy Phật.
TỤNG:
Toàn tượng toàn ngưu ế bất thù
Tùng lai tác giả cộng danh mô
Như kim yếu kiến Hoàng đầu lão
Sát sát trần trần tại bán đồ.
DỊCH:
Voi đủ trâu đầy mắt bệnh đồng
Từ lâu tác giả thảy dò tìm
Như nay cốt thấy lão già Ấn
Cõi cõi trần trần ở giữa đường.
GIẢI
TỤNG: Câu “voi đủ trâu đầy mắt bệnh đồng”, những
người mù rờ voi, mỗi người nói khác nhau, xuất xứ từ
kinh Niết-bàn. Có vị Tăng hỏi Ngưỡng Sơn: Hòa thượng thấy
người hỏi thiền hỏi đạo, liền vẽ một vòng tròn, ở
giữa vẽ chữ ngưu, ý tại chỗ nào ? Ngưỡng Sơn đáp: “Cái
này cũng là việc nhàn, nếu như hội được chẳng từ ngoài
đến, nếu như hội chẳng được quyết định chẳng biết.
Ta thử hỏi ông, các bậc lão túc mọi nơi ở trên thân ông
chỉ ra cái gì là Phật tánh của ông ? Lại là nói thì phải,
nín thì phải, chẳng nói chẳng nín thì phải ? Hoặc giả
thảy phải, thảy chẳng phải ? Nếu ông nhận nói là phải,
như người mù mò được cái đuôi con voi. Nếu ông nhận nín
là phải, như người mù mò được lỗ tai con voi. Nếu ông
nhận chẳng nói chẳng nín là phải, như người mù mò được
lỗ mũi con voi. Nếu nói vật vật đều phải, như người
mù mò được bốn chân con voi. Nếu nói tất cả chẳng phải,
là bỏ con voi rơi tại không kiến. Như thế chỗ thấy của
những người mù chỉ ở trên con voi mà danh từ tướng mạo
sai biệt. Ông cần yếu chớ mò voi, chớ nói kiến giác phải,
cũng chớ nói chẳng phải”. Tổ sư nói: “Bồ-đề vốn
không cội, gương sáng cũng không đài, xưa nay không một vật,
chỗ nào dính trần ai.” Lại nói: “Đạo vốn không hình
tướng, trí tuệ tức là đạo, khởi kiến giải thế ấy,
gọi là chân Bát-nhã.” Người sáng mắt thấy toàn thể con
voi, như Phật thấy tánh cũng thế. Toàn ngưu là xuất phát
từ Trang Tử. Bào Đinh mổ trâu chưa từng thấy toàn ngưu
kia, chỉ thuận lý mà mổ, dao dạo tự tại, chẳng cần nhọc
công, trong khoảng chớp mắt đầu sừng chân thịt đồng thời
mổ xong. Như thế mười chín năm dao vẫn bén như mới ra từ
lò rèn, gọi đó là toàn ngưu. Tuy nhiên kỳ đặc như thế,
Tuyết Đậu nói giả sử được toàn tượng toàn ngưu cùng
trong mắt có cườm lại chẳng khác. Câu “từ lâu tác giả
thảy dò tìm”, dù là tác gia đến trong đây dò tìm cũng
chẳng được. Từ Tổ Ca-diếp cho đến chư Tổ ở Ấn Độ,
Trung Hoa, các bậc lão Hòa thượng trong thiên hạ đều chỉ
gọi mò. Tuyết Đậu nói thẳng thừng rằng “như nay cần
thấy lão già Ấn”, sở dĩ nói cần thấy tức thì thấy,
đợi tìm kiếm mới thấy cách ngàn dặm muôn dặm. Hoàng đầu
lão tức là ông già mặt vàng. Như nay ông cần thấy thì “cõi
cõi trần trần ở giữa đường”. Bình thường nói “một
hạt bụi, một cõi Phật, một chiếc lá một Thích-ca”. Trọn
cả tam thiên đại thiên thế giới có bao nhiêu hạt bụi,
chỉ nhằm trong một hạt bụi thấy. Chính khi ấy vẫn ở
nữa đường. Bên kia lại còn có nửa đường không ? Hãy
nói còn chỗ nào ? Ông già Thích-ca còn chẳng biết, bảo Sơn
tăng làm sao nói được ?
?
TẮC
95: TRƯỜNG KHÁNH A-LA-HÁN BA ĐỘC
LỜI
DẪN: Chỗ có Phật chẳng được trụ, trụ đây đầu mọc
sừng, chỗ không Phật chạy qua nhanh, chẳng chạy qua cỏ cao
một trượng. Dù cho lột trần bày lồ lộ, ngoài việc không
cơ, ngoài cơ không việc, chưa khỏi ôm gốc cây đợi thỏ.
Hãy nói thảy chẳng thế ấy, hành lý thế nào, thử cử xem
?
CÔNG
ÁN: Trường Khánh có khi nói: Thà nói A-la-hán có ba độc chẳng
nói Như Lai có hai thứ lời, chẳng nói Như Lai không nói, chỉ
là không hai thứ lời. Bảo Phước hỏi: Thế nào là Như Lai
nói ? Trường Khánh đáp: Người điếc đâu được nghe. Bảo
Phước nói: Biết rõ ông nhằm đầu thứ hai nói. Trường
Khánh hỏi: Thế nào là Như Lai nói ? Bảo Phước đáp: Uống
trà đi.
GIẢI
THÍCH: Trường Khánh, Bảo Phước ở trong hội Tuyết Phong
thường cùng nhau nhắc những công án của cổ nhân để thương
lượng. Một hôm như thường lệ, Trường Khánh nói: Thà nói
A-la-hán có ba độc, chẳng nói Như Lai có hai thứ lời. Tiếng
Phạn A-la-hán, Trung Hoa dịch Sát Tặc, do công năng mà lập
tên, hay đoạn tám mươi mốt phẩm phiền não, các lậu đã
sạch, phạm hạnh đã xong, đây là bậc A-la-hán vô học. Ba
độc tức là tham sân si căn bản phiền não. Tám mươi mốt
phẩm còn tự đoạn sạch, huống là ba độc. Trường Khánh
nói: Thà nói A-la-hán có ba độc, chẳng nói Như Lai có hai
thứ lời. Đại ý cần nêu lên Như Lai hẳn là nói thật.
Kinh Pháp Hoa nói: Chỉ đây một sự thật, còn hai thì chẳng
chân. Lại nói: Chỉ có pháp Nhất thừa, không hai cũng không
ba. Thế Tôn hơn ba trăm hội, xem căn cơ dạy giáo pháp, hợp
bệnh cho thuốc, thuyết pháp muôn thứ ngàn loại, cứu kính
không hai thứ lời. Ý của Ngài đến đây, quí vị làm sao
thấy được ? Phật dùng một âm diễn nói pháp thì chẳng
không, Trường Khánh vẫn còn chưa mộng thấy lời nói của
Như Lai. Tại sao ? Giống như người nói ăn, trọn không thể
no. Bảo Phước thấy y trên đất bằng nói giáo, liền hỏi:
Thế nào là Như Lai nói ? Trường Khánh đáp: Người điếc
đâu được nghe. Kẻ này biết những lúc khác ở trong hang
quỉ làm kế sống. Bảo Phước nói: Biết rõ ông nhằm trên
đầu thứ hai nói. Quả thật đúng lời kia. Lại hỏi Sư huynh,
thế nào là Như Lai nói ? Bảo Phước đáp: Uống trà đi. Cán
thương đổi ngược bị người khác cướp rồi. Cả thảy
Trường Khánh mất tiền bị tội. Xin hỏi quí vị, Như Lai
nói có mấy thứ ? Phải biết thấy được thế ấy, mới
thấy chỗ bại khuyết của hai vị này. Kiểm điểm chín chắn
về sau trọn nên ăn gậy. Phóng một bước nói cùng kia lý
hội. Có người nói: Bảo Phước nói được đúng, Trường
Khánh nói chẳng đúng. Chỉ thiết theo lời sanh hiểu, nói
có được có mất. Đâu chẳng biết cổ nhân như chọi đá
nháng lửa, tợ làn điện chớp. Người nay chẳng xem chỗ
cổ nhân chuyển, chỉ cần chạy dưới câu, nói Trường Khánh
khi ấy dùng chẳng tiện, vì thế rơi vào đầu thứ hai. Bảo
Phước nói uống trà đi, là đầu thứ nhất. Nếu chỉ xem
thế ấy, đến đức Phật Di-lặc hạ sanh cũng chẳng thấy
ý cổ nhân. Nếu là tác gia thì chẳng khởi loại kiến giải
này, nhảy khỏi hang ổ ấy, hướng thượng tự có một lối
đi. Nếu ông nói người điếc chẳng được nghe, có chỗ
nào là chẳng phải ? Bảo Phước nói uống trà đi, có chỗ
nào là phải ? Càng không dính dáng. Thế nên nói “kia tham
câu sống, chẳng tham câu chết”. Nhân duyên này cùng “khắp
thân phải, toàn thân phải” một loại. Không có chỗ cho
ông so tính thị phi. Phải là dưới chân ông lột trần, mới
thấy chỗ cổ nhân thấy nhau. Ngũ Tổ lão sư nói: Giống như
trước ngựa đánh nhau, phải là mắt nhìn tay nắm. Công án
này nếu dùng chánh nhãn xem đó, đều không có chỗ được
mất để biện được mất, không có chỗ thân sơ để biện
thân sơ. Trường Khánh cũng phải lễ bái Bảo Phước mới
được. Cớ sao ? Chỗ khéo này dùng rất tài, giống như điện
xẹt sao băng, Bảo Phước quả là trên nanh sanh nanh, trên vuốt
sanh vuốt.
TỤNG:
Đầu hề đệ nhất đệ nhị
Ngọa long bất giám chỉ thủy
Vô xứ hữu nguyệt ba trừng
Hữu xứ vô phong lãng khỉ.
Lăng thiền khách ! Lăng thiền khách !
Tam ngoạt võ môn tao điểm ngạch.
DỊCH:
Đầu chừ thứ nhất thứ hai
Rồng nằm chẳng xem nước đứng
Chỗ không, có trăng sóng dừng
Chỗ có, không gió sóng dậy.
Thiền khách Lăng ! Thiền khách Lăng !
Tháng ba võ môn bị điểm trán.
GIẢI
TỤNG: Câu “đầu chừ thứ nhất thứ hai”, chỉ cần hiểu
thứ nhất thứ hai, chính là ở trong nước chết làm kế sống.
Cái cơ khéo này, ông chỉ khởi hiểu thứ nhất thứ hai thì
dò tìm chẳng đến. Tuyết Đậu nói “rồng nằm chẳng xem
nước đứng”, trong nước chết đâu có rồng ẩn. Nếu là
thứ nhất thứ hai, chính là trong nước chết làm kế sống.
Phải là chỗ nước nổi sóng to, sóng bủa ngập trời mới
có rồng ẩn. Giống như trước nói “đầm lặng chẳng cho
rồng to ở”. Đâu chẳng thấy nói “nước chết chẳng chứa
rồng” ? Lại nói: “Rồng nằm hằng sợ nước đầm trong.”
Vì thế nói “chỗ không rồng, có trăng sóng dừng”, gió
lặng sóng yên. “Chỗ có rồng, không gió sóng dậy.” Giống
như Bảo Phước nói “uống trà đi”, chính là không gió
sóng dậy. Tuyết Đậu đến trong đây một lúc vì ông chập
chùng tình giải tụng xong. Sư có vận thừa khiến thành văn
lý, như trước đến trong đầu đặt một con mắt, cũng thật
là kỳ đặc. Lại nói “Thiền khách Lăng ! Thiền khách Lăng
! tháng ba võ môn bị điểm trán”. Trường Khánh tuy là con
rồng vượt khỏi Long môn, lại bị Bảo Phước ngay đầu
điểm một cái.