TẮC
86: VÂN MÔN KHO TRÙ BA CỬA
LỜI
DẪN: Nắm đứng thế giới chẳng lọt mảy tơ, cắt đứt
các dòng chẳng còn một giọt, mở miệng liền lầm, suy nghĩ
thì sai. Hãy nói thế nào là con mắt thấu quan, thử cử xem
?
CÔNG
ÁN: Vân Môn dạy: Mỗi người trọn có ánh sáng hiện tại,
khi xem thì chẳng thấy tối mù mù. Thế nào là ánh sáng của
quí vị ? Tự thay đáp: Kho trù ba cửa. Lại đáp: Việc tốt
chẳng bằng không.
GIẢI
THÍCH: Vân Môn ở trong thất để lời tiếp người: “Cả
thảy các ông dưới gót chân mỗi người có một đoạn ánh
sáng soi thấu cổ kim, vượt hẳn thấy biết. Tuy nhiên ánh
sáng, vừa hỏi đến lại chẳng hội, há chẳng phải tối
mù mù.” Lời nói này đến hai mươi năm trọn không có người
hiểu được ý Sư. Sau Hương Lâm cầu xin thay đáp. Vân Môn
đáp; kho trù ba cửa. Lại đáp: Việc tốt chẳng bằng không.
Bình thường lời đáp thay chỉ là một câu, tại sao trong
đây lại hai câu ? Câu trước vì ông mở một con đường
cho ông thấy. Nếu là kẻ kia, vừa nghe nói đến liền đứng
dậy ra đi. Sư sợ người kẹt ở đây, lại nói “việc tốt
chẳng bằng không”. Như trước vì ông quét sạch. Người
nay vừa nghe nói ánh sáng liền trừng trợn mắt nói: Trong
kia là kho trù, trong kia là ba cửa. Vẫn là không dính dáng.
Vì thế nói: “Hiểu lấy ý đầu lưỡi câu, chớ nhận quả
cân bàn.” Việc này không ở trên mắt, cũng chẳng ở trên
cảnh, cần phải bặt tri kiến, quên được mất, sạch trọi
trơn bày lồ lộ. Mỗi mỗi trên phần của người hiện tại
nghiên cứu lấy mới được. Vân Môn nói: “Trong ngày qua
lại, trong ngày biện người, bỗng nhiên giữa đêm không ánh
sáng mặt trời, mặt trăng, đèn, chỗ từng đến thì vẫn
được, chỗ chưa từng đến lấy một vật, lại lấy được
chăng ?” Trong Tham Đồng Khế nói: “Chính trong sáng có tối,
chớ lấy tối xem nhau, chính trong tối có sáng, chớ lấy sáng
gặp nhau.” Nếu ngồi dứt sáng tối, hãy nói là cái gì ?
Do đó nói: “Tâm hoa phát minh soi sáng cõi nước ở mười
phương.” Bàn Sơn nói: “Sáng chẳng soi cảnh, cảnh cũng
chẳng còn, sáng cảnh đều quên, lại là vật gì ?” Lại
nói: “Chính nơi thấy nghe chẳng thấy nghe, không còn thanh
sắc đáng trình anh, trong đây nếu liễu toàn vô sự, thể
dụng ngại gì phân chẳng phân.” Chỉ hiểu câu rốt sau,
đến câu trước dạo chơi, cứu kính chẳng ở trong ấy làm
kế sống. Cổ nhân nói: “Lấy gốc không trụ lập tất cả
pháp.” Chẳng được đến trong này đùa quang ảnh đùa tinh
hồn, lại chẳng được hiểu là vô sự. Cổ nhân nói: “Thà
khởi chấp Có bằng núi Tu-di, chẳng nên chấp Không bằng
hạt cải.” Hàng Nhị thừa phần nhiều hay rơi vào cái chấp
này. Tuyết Đậu tụng :
TỤNG:
Tự chiếu liệt cô minh
Vị quân thông nhất tuyến
Hoa tạ thọ vô ảnh
Khán thời thùy bất kiến.
Kiến bất kiến
Đảo kỵ ngưu hề nhập Phật điện.
DỊCH:
Tự chiếu bày sáng côi
Vì anh thông một tuyến
Hoa tàn cây không bóng
Khi xem ai chẳng thấy.
Thấy chẳng thấy
Cỡi ngược trâu chừ vào điện Phật.
GIẢI
TỤNG: Câu “tự chiếu bày sáng côi”, dưới gót chân mỗi
người sẵn có một đoạn quang minh này, chỉ là bình thường
dùng được cái tối. Vì thế, Đại sư Vân Môn vì ông bày
la liệt quang minh này ở trước mặt ông. Thế nào là quang
minh của các ông ? Kho trù ba cửa. Đây là chỗ Vân Môn bày
cái sáng côi. Bàn Sơn nói: “Trăng tâm riêng tròn, sáng nuốt
vạn tượng.” Cái này là chân thường độc lộ. Về sau
“vì anh thông một tuyến”, cũng sợ người chấp chỗ “kho
trù ba cửa”. Kho trù ba cửa thì hãy theo. Buổi sáng hoa đã
tàn, cây cũng không bóng, mặt trời lại lặn, mặt trăng lại
tối, trọn cả càn khôn đại địa tối mù mịt, các ông
lại thấy chăng ? “Khi xem ai chẳng thấy”, hãy nói là ai
chẳng thấy ? Đến trong đây phải trong sáng có tối, trong
tối có sáng, thảy như bước trước bước sau tự nên thấy.
Tuyết Đậu nói: “Thấy chẳng thấy” là tụng “việc tốt
chẳng bằng không”. Nên thấy lại chẳng thấy, nên sáng
lại chẳng sáng. Câu “cỡi ngược trâu chừ vào điện Phật”,
vào trong thùng sơn vậy. Phải là ông tự cỡi trâu vào điện
Phật. Xem nói thế ấy là đạo lý gì ?
?
TẮC
87: VÂN MÔN THUỐC BỆNH TRỊ NHAU
LỜI
DẪN: Người mắt sáng không hang ổ, có khi trên đảnh cô
phong cỏ rậm rì, có khi ở đầu chợ bày lồ lộ. Bỗng khi
phẫn nộ, Na-tra hiện ba đầu sáu tay. Bỗng khi ngày hướng
Phật tháng hướng Phật, phóng từ quang phổ nhiếp, ở trên
hạt bụi hiện tất cả thân, tùy loại người hòa bùn hiệp
nước. Bỗng khi vạch ra lối hướng thượng, con mắt Phật
cũng nhìn chẳng đến, dù cho ngàn vị Thánh ra đời cũng phải
thoái lui ba ngàn dặm. Lại có đồng đắc đồng chứng hay
không, thử cử xem ?
CÔNG
ÁN: Vân Môn dạy chúng: Thuốc bệnh trị nhau, cả đại địa
đều là thuốc, cái gì là chính mình ?
GIẢI
THÍCH: Vân Môn nói thuốc bệnh trị nhau, cả đại địa đều
là thuốc, cái gì là chính mình, các ngươi lại có chỗ xuất
thân chăng ? Trong mười hai giờ xem xét lấy, vách đứng ngàn
nhẫn. Đức Sơn gậy đánh như mưa rơi, Lâm Tế hét tợ sấm
vang; tạm gác lại. Thích-ca tự Thích-ca, Di-lặc tự Di-lặc.
Người chưa biết chỗ rơi, thường bảo thuốc bệnh hợp
nhau hiểu lấy. Thế Tôn bốn mươi chín năm hơn ba trăm hội,
ứng cơ nói giáo đều là hợp bệnh cho thuốc, giống như
đem trái đắng đổi thành quả ngọt, gạn lọc nghiệp căn
của các ông, khiến sạch trơn thong dong. Cả quả đất là
thuốc, ông nhằm chỗ nào cắm mỏ ? Nếu cắm được mỏ,
cho ông có chỗ chuyển thân nhả hơi, liền diện kiến Vân
Môn. Nếu ông ngó ngoái lại trù trừ, hẳn là cắm mỏ chẳng
được, Vân Môn ở dưới gót chân của ông. Thuốc bệnh trị
nhau, cũng chỉ là lời nói tầm thường. Nếu ông chấp có,
vì ông nói không, nếu ông chấp không, vì ông nói có, nếu
ông chấp chẳng có chẳng không vì ông quét bụi dẹp phân.
Hiện kim thân trượng sáu, vừa hiện vừa mất. Hiện nay cả
đại địa sum la vạn tượng cho đến chính mình đồng thời
là thuốc, ngay khi đó gọi cái gì là chính mình ? Ông một
bề gọi là thuốc, đến đức Phật Di-lặc ra đời cũng chưa
mộng thấy Vân Môn. Cứu kính thế nào ? Biết lấy ý đầu
lưỡi câu, chớ nhận trái cân bàn. Bồ-tát Văn-thù một hôm
sai Thiện Tài đi hái thuốc, dặn: Chẳng phải thuốc hái đem
về. Thiện Tài xem khắp đều là thuốc, trở lại bạch: Cả
thảy đều là thuốc. Văn-thù bảo: Là thuốc hái đem về.
Thiện Tài bèn cầm một cọng cỏ đưa Văn-thù. Văn-thù đưa
lên bảo chúng: Thuốc này hay giết người cũng hay cứu người.
Câu thuốc bệnh trị nhau này rất khó khán, Vân Môn ở trong
thất, bình thường dùng để tiếp người. Trưởng lão Kim
Nga một hôm đến phỏng vấn Tuyết Đậu. Sư là hàng tác
gia, chính là bậc tôn túc trong tông Lâm Tế. Hai vị luận
câu “thuốc bệnh trị nhau” suốt đêm, đến mặt trời
lên mới tột lý. Đến trong đây học hiểu so sánh suy nghĩ
thảy sử dụng không đến. Sau Tuyết Đậu có làm tụng tiễn
Kim Nga rằng: “Thuốc bệnh trị nhau thấy gian nan, muôn trùng
cửa khóa không mối mang, Kim Nga đạo giả sang thăm hỏi, biển
học sóng đùa một đêm khan.” Phần sau Tuyết Đậu tụng
rất công phu, ý của Sư cũng ở khách, cũng ở chủ, tự khá
thấy vậy.
TỤNG:
Tận đại địa thị dược
Cổ kim hà thái thố
Bế môn bất tạo xa
Thông đồ tự liêu khoách
Thố ! Thố !
Tỷ khổng liêu thiên diệc xuyên khước.
DỊCH:
Cả đại địa là thuốc
Xưa nay sao quá lầm
Đóng cửa xe chẳng tạo
Đường thông tự rộng thênh
Lầm ! Lầm !
Lỗ mũi thấu trời cũng bị xỏ.
GIẢI
TỤNG: Hai câu “cả đại địa là thuốc, xưa nay sao quá lầm”,
nếu ông gọi là thuốc để hiểu thì tự xưa tự nay một
lúc lầm rồi. Tuyết Đậu nói: Có một nhóm người chẳng
biết cắt đứt gót chân Đại Mai, chỉ cần nói đường đi
rất nhanh. Sư đã biết cắt đứt gót chân Vân Môn, vì một
câu này của Vân Môn làm mê lầm người chẳng ít. Vân Môn
nói: “Cây gậy là sóng, cho ông bảy dọc tám ngang, cả đại
địa là sóng, xem ông vừa ra vừa vào.” Hai câu “đóng cửa
xe chẳng tạo, đường thông tự rộng thênh”, Tuyết Đậu
nói vì ông thông một con đường. Nếu ông đóng cửa tạo
xe, mở cửa ráp bánh, giúp được việc gì ? Ta trong đây đóng
cửa cũng chẳng tạo xe, mở cửa tự nhiên rộng thênh. Sư
ở trong đây lược bày chút ít kẽ hở khiến người thấy.
Sư lại vội vàng nói “lầm ! lầm !” liên tiếp, đầu trước
lầm đầu sau cũng lầm. Ai biết Tuyết Đậu mở một con đường
cũng lầm. Đã vậy, lỗ mũi thấu trời vì sao lại bị xỏ
? Cần hiểu chăng ? Hãy tham ba mươi năm. Ông có cây gậy
ta cho ông cây gậy, nếu ông không có cây gậy, chẳng khỏi
bị người xỏ lỗ mũi.
?
TẮC
88: HUYỀN SA BA LOẠI NGƯỜI BỆNH
LỜI
DẪN: Môn đình lập bày nên thế ấy phá hai tạo ba, nhập
lý thâm đàm cũng phải bảy xoi tám phủng, đương cơ gõ điểm
đập nát khóa vàng cổng huyền, cứ lệnh mà hành hẳn được
quét sạch dấu vết. Hãy nói lạ lùng ở tại chỗ nào ? Người
đủ con mắt trên đảnh mời cử xem ?
CÔNG
ÁN: Huyền Sa dạy chúng: “Những bậc lão túc ở các nơi
trọn nói tiếp vật lợi sanh, chợt gặp ba loại người bệnh
đến làm sao mà tiếp ? Người bệnh mù thì đưa chùy, dựng
phất tử, họ lại chẳng thấy. Người bệnh điếc thì ngữ
ngôn tam-muội, họ lại chẳng nghe. Người bị bệnh câm dạy
y nói, lại nói chẳng được. Phải làm sao mà tiếp ? Nếu
tiếp người này chẳng được thì Phật pháp không linh nghiệm.”
Tăng đến hỏi Vân Môn. Vân Môn bảo: Ông lễ bái đi. Tăng
lễ bái xong đứng dậy. Vân Môn lấy cây gậy chận. Tăng
thoái lui. Vân Môn nói: Ông không phải bệnh mù. Lại bảo:
Đến gần đây. Tăng đến gần, Vân Môn nói: Ông không phải
bệnh điếc. Vân Môn hỏi: Hội chăng ? Tăng thưa: Chẳng hội.
Vân Môn nói: Ông không phải bệnh câm. Tăng khi ấy có tỉnh.
GIẢI
THÍCH: Huyền Sa tham đến chỗ bặt tình trần ý tưởng lột
trần bày lồ lộ, mới biết nói thế ấy. Khi đó các nơi
chùa chiền trông nhau, bình thường dạy chúng nói: “Những
bậc lão túc ở các nơi trọn nói tiếp vật lợi sanh, chợt
gặp ba loại người bệnh đến thì làm sao tiếp ? Người
bệnh mù thì dựng chùy, đưa phất tử, họ lại chẳng thấy.
Người bệnh điếc thì ngữ ngôn tam-muội, họ lại chẳng
nghe. Người bệnh câm dạy y nói, lại nói chẳng được. Phải
làm sao mà tiếp ? Nếu tiếp người này không được thì Phật
pháp không linh nghiệm.” Người nay nếu khởi hiểu mù điếc
ngọng câm thì dò tìm chẳng đến. Vì thế nói: Chớ nhằm
trên câu chết, phải hiểu ý Huyền Sa mới được. Huyền
Sa thường dùng câu này tiếp người. Có vị Tăng đã ở lâu
trong hội Huyền Sa, một hôm Huyền Sa thượng đường, ông
ra hỏi: Hòa thượng nói câu ba loại người bệnh, lại cho
con nói đạo lý chăng ? Huyền Sa nói: Cho ! Tăng liền trân
trọng đi ra. Huyền Sa nói: Chẳng phải chẳng phải. Vị Tăng
này hiểu được ý Huyền Sa. Về sau Pháp Nhãn nói: “Tôi
nghe Hòa thượng Địa Tạng thuật lại lời vị Tăng này,
mới hiểu câu ba loại người bệnh.” Nếu nói vị Tăng này
chẳng hội, vì sao Pháp Nhãn lại nói thế ấy ? Nếu nói ông
hội, tại sao Huyền Sa lại nói “chẳng phải chẳng phải”
? Một hôm, Địa Tạng hỏi: Con nghe Hòa thượng nói câu ba
loại người bệnh phải chăng ? Huyền Sa nói: Phải. Địa
Tạng hỏi: Quế Sâm hiện nay có mắt tai mũi lưỡi, Hòa thượng
làm sao tiếp ? Huyền Sa liền thôi. Nếu hiểu được ý Huyền
Sa, há ở trên ngôn cú, kia hiểu được tự nhiên thù biệt.
Sau có vị Tăng thuật lại cho Vân Môn. Vân Môn liền hiểu
được ý kia nói: Ông lễ bái đi. Tăng lễ bái đứng dậy.
Vân Môn lấy cây gậy chận, Tăng thoái lui. Vân Môn nói: Ông
chẳng phải bệnh mù. Lại bảo: Đến gần đây. Tăng đến
gần. Vân Môn nói: Ông không phải bệnh điếc. Bèn hỏi: Hiểu
chăng ? Tăng thưa: Chẳng hiểu. Vân Môn nói: Ông không phải
bệnh câm. Vị Tăng ấy khi đó có tỉnh. Đương thời nếu
là kẻ này, đợi Sư bảo lễ bái đi, liền lật ngược giường
thiền, đâu còn thấy bao nhiêu thứ sắn bìm. Hãy nói chỗ
hội của Vân Môn với Huyền Sa là đồng hay khác ? Chỗ hội
của hai vị đều chỉ là một loại. Xem cổ nhân ra đời
tạo ngàn muôn thứ phương tiện, ý ở trên đầu lưỡi câu,
cả thảy đắng miệng chỉ dạy khiến các ông mỗi người
sáng một việc này. Ngũ Tổ lão sư nói: “Một người nói
được lại chẳng hội, một người hội lại chẳng nói được,
nếu hai người đến tham vấn làm sao biện được họ ? Nếu
biện hai người này chẳng được, quyết hẳn vì người gỡ
niêm mở trói chẳng xong. Nếu biện được, vừa thấy vào
cửa, ta liền mang giày cỏ nhằm trong bụng y chạy mấy phen
rồi vậy. Vẫn tự chẳng tỉnh, còn tìm cái gì ? Đi ra.”
Chớ khởi hiểu mù điếc ngọng câm. Không nên so tính thế
ấy, sở dĩ nói: Mắt thấy sắc như mù, tai nghe tiếng như
điếc. Lại nói: Đầy mắt chẳng xem sắc, đầy tai chẳng
nghe tiếng. Văn-Thù thường chạm mắt, Quán Âm bịt lỗ tai.
Đến trong đây giống hệt mắt thấy như mù, tai nghe như điếc,
mới hay cùng ý Huyền Sa không trái nhau. Các ông lại hiểu
chỗ rơi của kẻ mù điếc câm chăng ? Xem Tuyết Đậu tụng:
TỤNG:
Manh lung ám á
Yểu tuyệt cơ nghi
Thiên thượng thiên hạ
Kham tiếu kham bi.
Ly Lâu bất biện chánh sắc
Sư Khoáng khởi thức huyền ty
Tranh như độc tạo hư song hạ
Diệp lạc hoa khai, tự hữu thì.
DỊCH:
Mù điếc câm ngọng
Vắng bặt cơ nghi
Trên trời dưới trời
Đáng cười đáng thương.
Ly Lâu chẳng biện chánh sắc
Sư Khoáng đâu biết tơ huyền
Đâu bằng ngồi riêng dưới song vắng
Lá rụng hoa nở tự đúng kỳ.
Lại nói: Lại hiểu hay không ? Chùy sắt không lỗ.
GIẢI
TỤNG: Hai câu “mù điếc câm ngọng, vắng bặt cơ nghi”,
tột cái ông thấy cùng chẳng thấy, nghe cùng chẳng nghe, nói
cùng chẳng nói. Tuyết Đậu một lúc vì ông quét sạch rồi.
Cho đến kiến giải mù điếc câm ngọng, cơ nghi so tính đồng
thời vắng bặt, thảy dùng chẳng được. Việc hướng thượng
này nên nói thật mù, thật điếc, thật câm, không cơ, không
nghi. Hai câu “trên trời dưới trời, đáng cười đáng thương”,
là Tuyết Đậu một tay nâng lên một tay đè xuống. Hãy nói
cười cái gì ? Thương cái gì ? Đáng cười là câm lại chẳng
câm, điếc lại chẳng điếc. Đáng thương là rõ ràng chẳng
mù lại mù, rõ ràng chẳng điếc lại điếc. Câu “Ly Lâu
chẳng biện chánh sắc”, là không thể biện xanh vàng đỏ
trắng, chính là mù. Ly Lâu là người ở thời Hoàng Đế,
con mắt ông rất sáng, ngoài trăm bước hay thấy được vật
rất nhỏ bằng sợi tóc. Hoàng Đế đi dạo trên sông Xích
Thủy làm rơi một hạt châu, sai Ly Lâu tìm mà chẳng thấy,
sai Khiết Cấu tìm cũng chẳng được, sau sai Tượng Võng tìm
mới được. Cho nên nói: “Khi Tượng Võng đến quang xán
lạn, chỗ Ly Lâu đi sóng ngập trời.” Cái này để trên
cao, dù là con mắt Ly Lâu biện chánh sắc của nó cũng không
thể được. Câu “Sư Khoáng đâu biết tơ huyền”, đời
Châu ở Giáng Châu, con của Tấn Cảnh Công là Sư Khoáng tự
là Tử Dã khéo phân biệt ngũ âm lục luật, cách núi mà nghe
được bầy kiến cắn lộn. Khi ấy Tấn và Sở tranh nhau,
Sư Khoáng chỉ khảy đàn cầm, vừa khảy dây đàn liền biết
đánh Sở không thắng. Tuy nhiên như thế, Tuyết Đậu nói:
“ông còn chưa biết tơ huyền”, người chẳng điếc lại
là điếc. Cái này tiếng huyền phát từ trên cao, dù là Sư
Khoáng cũng không biết được. Tuyết Đậu nói: Tôi chẳng
làm Ly Lâu cũng chẳng làm Sư Khoáng, “đâu bằng ngồi riêng
dưới song vắng, lá rụng hoa nở tự đúng kỳ”. Nếu đến
cảnh giới này, tuy nhiên thấy dường chẳng thấy, nghe tợ
chẳng nghe, nói dường chẳng nói, đói thì ăn cơm, mệt thì
ngủ khò, mặc tình lá rụng hoa nở. Khi lá rụng là mùa thu,
khi hoa nở là mùa xuân, mỗi tự có thời tiết. Tuyết Đậu
vì ông một lúc quét sạch rồi vậy. Lại phóng một tuyến
nói: Lại hiểu hay không ? Tuyết Đậu thần nhọc sức mệt,
chỉ nói được cái “chùy sắt không lỗ”. Một câu này
để mắt nhìn nhanh mới thấy, nếu suy nghĩ lại vượt qua
rồi. Sư đưa cây phất tử nói: Lại thấy chăng ? Gõ giường
thiền một cái nói: Lại nghe chăng ? Bước xuống giường
thiền nói: Lại nói được chăng ?
?
TẮC
89: VÂN NHAM ĐẠI BI TAY MẮT
LỜI
DẪN: Khắp thân là mắt thấy chẳng đến, khắp thân là tai
nghe chẳng kịp, khắp thân là miệng nói chẳng được, khắp
thân là tâm soi chẳng ra. Khắp thân tạm gác lại, bỗng dưng
không mắt làm sao thấy, không tai làm sao nghe, không miệng
làm sao nói, không tâm làm sao soi ? Nếu nhằm trong đây vạch
ra được một lối đi, liền cùng cổ Phật đồng tham. Tham
thì tạm dừng, hãy nói tham cái gì ?
CÔNG
ÁN: Vân Nham hỏi Đạo Ngô: Bồ-tát Đại Bi dùng tay mắt nhiều
để làm gì ? Đạo Ngô nói: Như người giữa đêm vói tay
lại sau mò chiếc gối. Vân Nham nói: Tôi hiểu. Đạo Ngô hỏi:
Ông hiểu thế nào ? Vân Nham nói: Toàn thân là tay mắt. Đạo
Ngô nói: Nói đến tột cùng chỉ nói được tám phần. Vân
Nham hỏi: Sư huynh thế nào ? Đạo Ngô nói: Khắp thân là tay
mắt.
GIẢI
THÍCH: Vân Nham, Đạo Ngô đồng tham Dược Sơn bốn mươi năm
hông không dính chiếu. Dược Sơn xuất phát một tông Tào
Động có ba người khiến pháp đạo thạnh hành. Dưới Vân
Nham có Động Sơn, dưới Đạo Ngô có Thạch Sương, dưới
Thuyền Tử có Giáp Sơn. Bồ-tát Đại Bi có tám muôn bốn
ngàn cánh tay Mẫu-đà-la. Đại Bi có lắm tay mắt, các ông
lại có hay không ? Bá Trượng nói: “Tất cả ngữ ngôn văn
tự thảy đều xoay về chính mình.” Vân Nham thường theo
Đạo Ngô thưa hỏi giải nghi, một hôm hỏi Đạo Ngô: Bồ-tát
Đại Bi dùng lắm tay mắt để làm gì ? Ngay ban đầu nên vì
Sư nhằm xương sống mà đánh, về sau khỏi thấy có nhiều
sắn bìm. Đạo Ngô từ bi không thể làm như thế, lại vì
Sư nói đạo lý, cốt ý khiến Sư liền hiểu. Nói: Như người
giữa đêm vói tay lại sau mò chiếc gối. Chính khi đêm khuya
không có ánh sáng đèn, lấy tay mò chiếc gối. Hãy nói con
mắt ở chỗ nào ? Sư liền nói: Tôi hiểu. Đạo Ngô hỏi:
Ông hiểu thế nào ? Vân Nham nói: Toàn thân là tay mắt. Đạo
Ngô bảo: Nói đến tột cùng chỉ nói được tám phần. Vân
Nham hỏi: Sư huynh thế nào ? Đạo Ngô nói: Khắp thân là tay
mắt. Hãy nói khắp thân là phải hay toàn thân là phải ? Tuy
tợ bùn lầy mà lại thong thả. Người nay phần nhiều khởi
tình giải nói: Khắp thân là chẳng phải, toàn thân là phải.
Chỉ thiết nhai ngôn cú của cổ nhân, chết dưới lời nói
của cổ nhân. Đâu chẳng biết ý của cổ nhân, ý chẳng
ở trên ngôn cú, đây đều là việc bất đắc dĩ mà thôi.
Như nay chú thích lập phương thức, nói: Nếu thấu được
công án này liền hiểu bãi tham, rồi lấy tay mò khắp thân,
mò ngọn đèn cây cột, trọn cho là hiểu được câu toàn
thân. Nếu hiểu thế ấy, phá hoại cổ nhân chẳng ít. Vì
thế nói: Kia tham câu sống không tham câu chết. Cần phải
bặt tình trần ý tưởng, lột trần bày lồ lộ, mới có
thể thấy được câu Đại Bi. Đâu chẳng thấy Tào Sơn hỏi
Tăng: Khi ứng vật hiện hình như trăng trong nước thì thế
nào ? Tăng đáp: Như lừa nhìn giếng. Tào Sơn nói: Nói đến
tột cùng chỉ nói được tám phần. Tăng hỏi: Hòa thượng
lại thế nào ? Tào Sơn đáp: Như giếng nhìn lừa. Thế là
đồng với ý trên vậy. Nếu ông chạy trên lời nói mà thấy,
hoàn toàn không thoát khỏi cái lồng bẫy của Đạo Ngô, Vân
Nham. Tuyết Đậu là hàng tác gia chẳng nhằm dưới câu chết,
mà nhằm trên đầu đi.
TỤNG:
Biến thân thị
Thông thân thị
Niêm lai du giảo thập vạn lý
Triển sí Bằng đằng lục hợp vân
Bác phong cổ đảng tứ minh thủy.
Thị hà ai ải hề hốt sanh
Na cá hào ly hề vị chỉ.
Quân bất kiến
Võng châu thùy phạm ảnh trùng trùng
Bổng đầu thủ nhãn tùng hà khởi.
Đốt !
DỊCH:
Khắp thân phải
Toàn thân phải
Niêm ra vẫn cách mười muôn dặm
Giương cánh Bằng bay lục hợp che
Cuộn gió dậy sóng nước bốn biển.
Bởi đâu bụi cuốn chừ chợt sanh
Cái gì mảy may chừ chưa dứt.
Anh chẳng thấy
Lưới châu rủ xuống bóng trùng trùng
Đầu gậy mắt tay từ đâu dấy.
Dốt !
GIẢI
TỤNG: Hai câu “khắp thân phải, toàn thân phải”, nếu nói
vói tay mò chiếc gối là phải, lấy tay mò thân cũng phải.
Nếu khởi kiến giải thế ấy, trọn nhằm trong hang quỉ làm
kế sống. Cứu kính khắp thân, toàn thân đều chẳng phải.
Nếu cần lấy tình thức để thấy câu Đại Bi kia, hẳn là
vẫn cách mười muôn dặm. Tuyết Đậu đùa được một câu
sống, nói “niêm ra vẫn cách mười muôn dặm”. Hai câu tụng
chỗ kỳ đặc của Vân Nham, Đạo Ngô nói: “Giương cánh
Bằng bay lục hợp che, cuộn gió dậy sóng nước bốn biển.”
Chim Đại Bằng ăn rồng, lấy cánh cuộn gió sóng nước rẽ
ra ba ngàn dặm, liền bắt rồng ăn. Tuyết Đậu nói: Nếu
ông như chim Đại Bằng cuộn gió dậy sóng rất là hùng tráng.
Nếu lấy Đại Bi ngàn tay mắt để quán, chỉ là chốc lát
bụi bặm chợt dấy, lại một mảy may gió chưa dừng. Tuyết
Đậu nói: Nếu ông lấy tay mò thân dùng làm tay mắt, kham
dùng vào việc gì ? Khi ấy trên câu Đại Bi vẫn là chưa hiểu.
Vì thế nói: “Bởi đâu bụi cuốn chừ chợt sanh, cái gì
mảy may chừ chưa dứt.” Tuyết Đậu chính là tác gia một
lúc quét sạch rồi. Đâu ngờ phần sau, như xưa ló đuôi,
nói dẫn dụ, y nguyên vẫn ở trong lồng bẫy. “Anh chẳng
thấy, lưới châu rủ xuống bóng trùng trùng”, Tuyết Đậu
dẫn minh châu trong lưới trời Đế Thích để làm pháp tắc,
hãy nói tay mắt rơi tại chỗ nào ? Trong tông Hoa Nghiêm lập
bốn pháp giới:
1)
Lý Pháp giới, để rõ một vị bình đẳng.
2)
Sự Pháp giới, để rõ toàn lý thành sự.
3)
Lý sự vô ngại Pháp giới, để rõ lý sự dung nhau lớn nhỏ
không ngại.
4)
Sự sự vô ngại Pháp giới, để rõ một sự khắp nhập tất
cả sự, tất cả sự khắp nhiếp tất cả sự, đồng thời
xen lẫn không ngại.
Vì
thế nói: “Một hạt bụi vừa dấy đại địa toàn thâu,
mỗi mỗi hạt bụi gồm vô biên pháp giới, một hạt bụi
đã vậy, các hạt bụi cũng vậy.” Lưới châu là trước
Thiện Pháp Đường của trời Đế Thích dùng châu Ma-ni làm
lưới, trong một hạt châu ảnh hiện trăm ngàn hạt châu,
trăm ngàn hạt châu đều hiện trong một hạt châu, chiếu
xen lớp lớp chủ bạn vô cùng, đây dùng để rõ về sự
sự vô ngại pháp giới. Xưa Quốc sư Hiền Thủ lập gương,
đèn để dẫn dụ, treo mười tấm gương, ở giữa thắp một
ngọn đèn. Nếu nhìn gương phía Đông, thì chín tấm gương,
gương đèn hiện rõ ràng. Nếu nhìn gương phía Nam, thì thấy
gương gương đều như thế. Do đó, đức Thế Tôn mới thành
Chánh giác chẳng rời Bồ-đề đạo tràng mà lên khắp các
cõi trời, trời Đao-lợi v.v… cho đến ở tất cả chỗ,
bảy chỗ chín hội nói kinh Hoa Nghiêm. Tuyết Đậu dùng lưới
châu trời Đế Thích chỉ bày sự sự vô ngại pháp giới.
Song nghĩa sáu tướng rất là rõ ràng: tức tổng tức biệt,
tức đồng tức dị, tức thành tức hoại. Cử một tướng
thì sáu tướng đều gồm, chỉ vì chúng sanh hằng dùng trong
mỗi ngày mà không biết. Tuyết Đậu nêu minh châu lưới trời
Đế Thích làm phương thức, để so sánh với câu Đại Bi
này. Dù là như thế, nếu ông khéo nhằm trong lưới châu này,
rõ được cây gậy thần thông diệu dụng ra vào không ngại,
mới đáng thấy được tay mắt. Do đó, Tuyết Đậu nói: “Đầu
gậy mắt tay từ đâu dấy ?” Dạy ông đầu gậy chứng lấy,
ngay tiếng hét thừa đương. Như Đức Sơn vào cửa liền đánh,
hãy nói tay mắt ở chỗ nào ? Lâm Tế vào cửa liền hét,
hãy nói tay mắt ở chỗ nào ? Rốt sau, tại sao Tuyết Đậu
lại để một chữ “Dốt” ? Tham !
?
TẮC
90: TRÍ MÔN BÁT-NHÃ THỂ
LỜI
DẪN: Một câu trước tiếng ngàn Thánh chẳng truyền, một
sợi tơ trước mặt hằng không gián cách. Lột trần bày lồ
lộ, đầu tóc rối rũ, tai vảnh ngược. Hãy nói tại sao ?
Thử cử xem ?
CÔNG
ÁN: Tăng hỏi Trí Môn: Thế nào là Bát-nhã thể ? Trí Môn
đáp: Con trai ngậm trăng sáng. Tăng hỏi: Thế nào là Bát-nhã
dụng ? Trí Môn đáp: Con thỏ mang thai.
GIẢI
THÍCH: Trí Môn đáp: “con trai ngậm trăng sáng, con thỏ mang
thai”, trọn dùng ý Trung thu. Tuy nhiên như thế, cổ nhân ý
chẳng ở trên con trai, con thỏ. Sư là hàng tôn túc trong tông
Vân Môn, một câu nói phải đủ ba câu: Hàm cái càn khôn,
Tiệt đoạn chúng lưu, Tùy ba trục lãng, cũng chẳng cần an
bài, tự nhiên vừa vặn, liền đến chỗ hiểm. Đáp lời
cho vị Tăng này lược bày đôi phần mũi nhọn, hẳn là kỳ
đặc. Tuy nhiên thế ấy, cổ nhân trọn chẳng chạy đùa quang
ảnh, chỉ vì ông chỉ đầu đường khiến ông thấy. Vị
Tăng hỏi: Thế nào là Bát-nhã thể ? Trí Môn đáp: Con trai
ngậm trăng sáng. Sông Hán sản xuất con trai, trong con
trai có hạt châu sáng, đến Trung thu mặt trăng hiện, con trai
nổi trên mặt nước hả miệng ra ngậm ánh sáng mặt trăng,
cảm mà sanh ra châu, tức là Châu Hiệp Phố. Nếu Trung thu
trăng sáng thì châu nhiều, trăng tối thì châu ít. Tăng hỏi:
Thế nào là Bát-nhã dụng ? Trí Môn đáp: Con thỏ mang thai.
Ý này cũng không khác, con thỏ thuộc âm, Trung thu mặt trăng
mọc, nó hả miệng nuốt ánh sáng mặt trăng liền thọ thai,
trong miệng sanh ra con, cũng trăng sáng thì sanh nhiều, trăng
tối thì sanh ít. Chỗ đáp của cổ nhân không có nhiều việc,
chỉ mượn ý kia để đáp ánh sáng của Bát-nhã. Tuy nhiên
thế ấy, ý chẳng phải ở trên ngôn cú, tự là người sau
chạy trên ngôn cú tìm kế sống. Bàn Sơn nói: “Tâm nguyệt
riêng tròn, sáng trùm muôn tượng, sáng không chiếu cảnh,
cảnh cũng chẳng còn, sáng cảnh đều quên, lại là vật gì
?” Người nay chỉ trừng mắt gọi là sáng, đi trên tình
giải, trong không mà đóng đinh. Cổ nhân nói: Cả thảy các
ông ở cửa sáu căn ngày đêm phóng đại quang minh, chiếu
phá núi sông đại địa. Không những chỉ nhãn căn phóng quang,
tỷ thiệt thân ý đều phóng quang. Đến trong đây phải nhồi
đập sáu căn không còn một việc, lột trần bày lồ lộ,
mới thấy được chỗ rơi của câu này. Tuyết Đậu chính
thế ấy tụng ra :
TỤNG:
Nhất phiến hư ngưng tuyệt vị tình
Nhân thiên tùng thử kiến Không Sanh
Bạng hàm huyền thố thâm thâm ý
Tằng dữ thiền gia tác chiến tranh.
DỊCH:
Một mảnh lặng thênh bặt nghĩ bàn
Người trời từ đó thấy Không Sanh
Trai ngậm thỏ huyền thâm ý tuyệt
Từng cùng thiền giả khởi chiến tranh.
GIẢI
TỤNG: Câu “một mảnh lặng thênh bặt nghĩ bàn”, một câu
này Tuyết Đậu tụng rất hay, tự nhiên thấy được ý cổ
nhân. Sáu căn lặng lẽ ấy là gì ? Chỉ một mảnh hư minh
ngưng tịch chẳng cần chạy trên trời tìm chẳng thiết đến
người khác mà cầu, tự nhiên thường quang hiện tiền, chỗ
ấy vách đứng ngàn nhẫn. Hai chữ “Vị tình” ở Hán văn
tức là tuyệt ngôn ngữ tình trần. Bài tụng tánh Viên Thành
Thật của Pháp Nhãn nói: “Lý cực vong tình vị, như hà đắc
dụ tề, đáo đầu sương dạ nguyệt, nhậm vận lạc tiền
khê, quả thục kiêm viên trọng, sơn diêu tự lộ mê, cử
đầu tàn chiếu tại, nguyên thị trụ cư tê (tây).” (Lý
tột quên bàn nghĩ, làm sao có dụ bằng, rốt cùng trăng đêm
sương, hồn nhiên rơi khe trước, trái chín vượn cùng quí,
núi xa dường quên đường, ngưỡng đầu ánh sáng nhạt, vốn
là ở phương Tây.) Vì thế nói: “Tâm là căn, pháp là trần,
hai thứ ví như vết trên gương, nhơ nhớp hết rồi sáng mới
hiện, tâm pháp đều quên tánh liền chân.” Lại nói: “Ba
gian nhà cỏ từ xưa ở, một vạch thần quang muôn cảnh nhàn,
chớ đem phải quấy đến ta biện, sống tạm bàn quanh chẳng
dính gì.” Chỉ một bài tụng này cũng thấy “một mảnh
lặng thênh bặt nghĩ bàn”. Câu “người trời từ đó thấy
Không Sanh”, ngài Tu-bồ-đề ngồi yên lặng trong núi, chư
Thiên mưa hoa tán thán. Tôn giả hỏi: Trong không mưa hoa tán
thán đó là ai ? Chư Thiên đáp: Tôi là Phạm Thiên. Tôn giả
hỏi: Tại sao ông tán thán ? Chư Thiên đáp: Tôi trọng Tôn
giả khéo nói Bát-nhã Ba-la-mật-đa. Tôn giả bảo: Tôi đối
với Bát-nhã chưa từng nói một chữ, ông vì sao lại tán
thán ? Chư Thiên đáp: Tôn giả không nói, tôi cũng không nghe,
không nói không nghe là chân Bát-nhã. Lại rải hoa khắp nơi.
Xem ngài Tu-bồ-đề khéo nói Bát-nhã, mà chẳng nói thể dụng.
Nếu nơi đây thấy được, có thể thấy Trí Môn nói: “Trai
ngậm trăng sáng, thỏ mang thai.” Cổ nhân ý tuy chẳng ở
trên ngôn cú, mà chỗ đáp vẫn có ý thâm sâu, gợi cho Tuyết
Đậu nói: “Trai ngậm thỏ huyền thâm ý tuyệt.” Đến trong
đây “từng cùng thiền giả khởi chiến tranh”. Những kẻ
học thiền thiển cận thương lượng lăng xăng, mà chưa có
một người mộng thấy. Nếu muốn cùng Trí Môn, Tuyết Đậu
đồng tham, phải chính mình để mắt mới được.