TẮC
81: DƯỢC SƠN HƯƠU TRONG HƯƠU
LỜI
DẪN: Cướp cờ giựt trống ngàn Thánh chẳng cùng, ngồi đoạn
hào ngoa muôn cơ chẳng đến, chẳng phải thần thông diệu
dụng, cũng chẳng phải bản thể như nhiên. Hãy nói bằng
vào cái gì được kỳ đặc thế ấy ?
CÔNG
ÁN: Tăng hỏi Dược Sơn: Khỏa ruộng cỏ cạn, nai hươu thành
bầy, thế nào bắn được hươu trong hươu ? Dược Sơn nói:
Xem tên! Tăng phóng thân liền nhào. Dược Sơn bảo: Thị giả
lôi gã chết này ra. Tăng liền chạy. Dược Sơn nói: Kẻ chơi
đất có bao nhiêu hạng. Tuyết Đậu niêm: Ba bước tuy sống,
năm bước phải chết.
GIẢI
THÍCH: Công án này tông Tào Động gọi là “Tá sự vấn”,
cũng gọi là “Biện chủ vấn” dùng để rõ đương cơ.
Nai hươu tầm thường thì dễ bắn, chỉ có hươu trong hươu
là vua trong loài nai rất là khó bắn. Loại hươu nai này thường
đến trên bờ đá mài gạc giống như mũi nhọn rất bén,
đem thân giữ gìn bầy nai, cọp cũng chẳng dám đến gần.
Vị Tăng này cũng giống tỉnh tỉnh, dẫn lại hỏi Dược
Sơn để rõ cơ thứ nhất. Dược Sơn nói: Xem tên ! Hàng Tông
sư tác gia quả nhiên kỳ đặc như chọi đá nháng lửa, tợ
làn điện chớp. Đâu chẳng thấy Tam Bình ban đầu đến tham
vấn Thạch Củng. Thạch Củng vừa thấy đến liền làm thế
kéo cung, nói: Xem tên! Tam Bình vạch ngực nói: Đây là tên
giết người hay tên sống người ? Thạch Củng khảy dây cung
ba cái. Tam Bình liền lễ bái. Thạch Củng nói: Ba mươi năm
một trương cung hai mũi tên, ngày nay chỉ bắn được nửa
người thánh. Liền bẻ gãy cung tên. Sau Tam Bình thuật lại
cho Đại Điên nghe. Đại Điên nói: Đã là tên sống người
vì sao nhằm trên dây cung mà biện ? Tam Bình không đáp được.
Đại Điên nói: Ba mươi năm sau cần người cử lời này cũng
khó được. Pháp Đăng có làm bài tụng: “Xưa có thầy Thạch
Củng, gác cung tên mà ngồi, như thế ba mươi năm, tri âm không
một gã. Tam Bình trúng đích lại, cha con hợp nhau hòa, chín
chắn suy nghĩ kỹ, nguyên là y bắn đất.” Tác lược Thạch
Củng cùng Dược Sơn một loại. Tam Bình trên đảnh môn đủ
mắt, nhằm dưới một mũi tên liền trúng đích. Giống như
Dược Sơn nói: Xem tên! Vị Tăng kia liền làm con hươu phóng
thân nhào. Vị Tăng kia giống tác gia, chỉ là có đầu không
đuôi, đã tạo lồng bẫy cốt gài Dược Sơn. Đâu ngờ Dược
Sơn là tác gia một bề ép ngặt phải đi. Dược Sơn nói:
Thị giả, lôi gã chết này ra. Giống như bày trận lại trước.
Vị Tăng kia liền chạy. Cũng tốt, phải thì phải vẫn là
không thảnh thơi, dính chân dính tay. Vì thế Dược Sơn nói:
Kẻ chơi đất có bao nhiêu hạng. Khi ấy nếu Dược Sơn không
có lời nói sau, sẽ muôn đời bị người kiểm điểm. Dược
Sơn nói xem tên, vị Tăng này liền nhào, hãy nói là hiểu
hay chẳng hiểu ? Nếu là hiểu, tại sao Dược Sơn lại nói
kẻ chơi đất ? Cái này rất ác. Giống như Tăng hỏi Đức
Sơn: Học nhân nương kiếm Mạc Da muốn lấy đầu Thầy thì
thế nào ? Đức Sơn đưa cổ ra nói: Hè! Tăng nói: Đầu Thầy
rụng. Đức Sơn cúi đầu đi về phương trượng. Lại Nham
Đầu hỏi Tăng: Ở đâu đến ? Tăng thưa: Tây Kinh đến. Nham
Đầu hỏi: Sau trận giặc Hoàng Sào từng lượm được kiếm
chăng ? Tăng thưa: Lượm được. Nham Đầu đưa cổ ra nói:
Hè ! Tăng nói: Đầu Thầy rụng. Nham Đầu cười ha hả ! Loại
công án này trọn là máy gài cọp, chính so với chỗ này giống
nhau. Dược Sơn chẳng quản y, chỉ vì biết được phá, nên
ép y phải đi. Tuyết Đậu nói: Vị Tăng này ba bước tuy sống,
năm bước phải chết. Vị Tăng này tuy rất giỏi xem tên,
phóng thân nhào. Dược Sơn bảo: Thị giả, lôi gã chết này
ra. Tăng liền chạy. Tuyết Đậu nói: Chỉ e ngoài ba bước
chẳng sống. Khi ấy nếu nhảy ra ngoài năm bước, người
trong thiên hạ chẳng làm gì được y. Hàng tác gia gặp nhau,
phải là chủ khách trước sau lẫn đổi không cho gián đoạn,
mới có phần tự do tự tại. Khi ấy vị Tăng này đã không
thể trước sau, nên bị Tuyết Đậu kiểm điểm. Phần sau
cũng tự dùng lời đó tụng ra.
TỤNG:
Chủ trung chủ
Quân khán thủ
Hạ nhất tiễn
Tẩu tam bộ
Ngũ bộ nhược hoạt
Thành quần sấn hổ
Chánh nhãn tùng lai phó lạp nhân.
DỊCH:
Hươu trong hươu
Anh xem lấy
Bắn một mũi
Chạy ba bước
Năm bước nếu sống
Thành đoàn đuổi cọp
Chánh nhãn từ đây trao thợ săn.
Tuyết Đậu nói to: Xem tên!
GIẢI
TỤNG: Hai câu “hươu trong hươu, anh xem lấy”, hàng Thiền
khách phải đủ con mắt hươu trong hươu, có đầu sừng hươu
trong hươu, có cơ quan có tác lược. Dù là gặp cọp có cánh
mọc sừng cũng được toàn thân vô hại. Khi ấy vị Tăng
này phóng thân liền nhào, tự nói tôi là con hươu “Bắn
một mũi, chạy ba bước”. Dược Sơn nói xem tên. Vị Tăng
liền nhào. Dược Sơn bảo thị giả lôi gã chết này ra. Tăng
liền chạy. Cũng rất hay, song chỉ chạy được ba bước.
“Năm bước nếu sống, thành đoàn đuổi cọp”, Tuyết Đậu
nói chỉ e năm bước phải chết. Khi ấy nếu nhảy được
ngoài năm bước thì sống, liền hay thành đoàn đuổi cọp.
Loại hươu trong hươu, gạc nó như cây thương, cọp trông
thấy cũng phải sợ mà chạy. Hươu là vua trong bầy nai thường
dẫn bầy nai đuổi cọp vào núi khác. Phần sau Tuyết Đậu
tụng Dược Sơn cũng có chỗ đương cơ xuất thân “chánh
nhãn từ đây trao thợ săn”. Dược Sơn như thợ săn bắn
giỏi, vị Tăng kia như con hươu. Khi ấy Tuyết Đậu nhân thượng
đường cử lời này, rút gọn thành một câu, nói to: Xem tên
! Người ngồi người đứng đồng thời dậy chẳng được.
?
TẮC
82: ĐẠI LONG PHÁP THÂN KIÊN CỐ
LỜI
DẪN: Sợi tơ đầu sào đủ mắt mới thấy, cái cơ cách ngoại
hàng tác gia mới biện. Hãy nói thế nào là sợi tơ đầu
sào, cái cơ cách ngoại, thử cử xem ?
CÔNG
ÁN: Tăng hỏi Đại Long: Sắc thân bại hoại, thế nào là
Pháp thân kiên cố ? Đại Long đáp: Hoa núi nở dường gấm,
nước khe trong tợ chàm.
GIẢI
THÍCH: Việc này nếu nhằm trên ngôn ngữ mà tìm, giống như
đưa gậy đập mặt trăng, chẳng dính dáng chút nào. Cổ nhân
phân minh, nói: Muốn được thân thiết chớ đem hỏi đến
hỏi. Vì sao ? Hỏi tại chỗ đáp, đáp tại chỗ hỏi. Vị
Tăng này gánh một gánh lỗ mãng, đổi một gánh hồ đồ,
đặt câu hỏi hư dở chẳng ít. Nếu chẳng phải là Đại
Long đâu được che trời che đất. Kia hỏi thế ấy, Đại
Long đáp thế ấy, một hợp tướng, lại chẳng dời đổi
một mảy tơ. Giống như thấy thỏ thả chim ưng, xem lỗ đặt
chốt. Ba thừa mười hai phần giáo lại có thời tiết này
chăng ? Quả thật kỳ đặc, chỉ là ngôn ngữ vô vị bít
lấp miệng người. Thế nên nói: “Một mảnh mây trắng miệng
hang khuất, chim về quên tổ biết là bao.” Có người nói
chỉ là tùy tiện đáp suông ấy thôi. Nếu hiểu thế đó
trọn là kẻ diệt dòng họ Thích. Đâu chẳng biết cổ nhân
một cơ một cảnh phá gông đập xiềng, một câu một lời
ôm vàng chứa ngọc. Nếu là mắt não Thiền tăng có khi nắm
đứng, có khi buông đi, chiếu dụng đồng thời, nhân cảnh
đều đoạt, song phóng song thâu, gặp thời thông biến. Nếu
không đại dụng đại cơ, đâu hiểu phủ trời che đất như
thế. Giống như gương sáng trên đài Hồ đến hiện Hồ,
Hán đến hiện Hán. Công án này cùng “hoa thược lan” một
loại, song ý lại chẳng đồng. Chỗ hỏi của vị Tăng chẳng
rõ, chỗ đáp của Đại Long rất hay. Tăng hỏi Vân Môn: Khi
lá rụng cành khô thì thế nào ? Vân Môn đáp: Thân bày gió
thu. Đây gọi là hai mũi tên chống nhau. Vị Tăng hỏi Đại
Long: Sắc thân bại hoại, thế nào là Pháp thân kiên cố ?
Đại Long đáp: Hoa núi nở dường gấm, nước khe trong tợ
chàm. Dường thể “anh đến Tây Tần, tôi ở Đông Lỗ”.
Kia đã đi thế ấy, tôi chẳng đi thế ấy, cùng với Vân
Môn một khối trái nhau. Gã kia đi thế ấy là dễ thấy, gã
này chẳng đi thế ấy lại khó thấy. Đại Long quả thật
ba tấc rất kín. Tuyết Đậu tụng ra:
TỤNG:
Vấn tằng bất tri
Đáp hoàn bất hội
Nguyệt lãnh phong cao
Cổ nham hàn cối
Kham tiếu lộ phùng đạt đạo nhân
Bất tương ngữ mặc đối
Thủ bả bạch ngọc tiên
Ly châu tận kích toái
Bất kích toái
Tăng hà lỗi
Quốc hữu hiến chương
Tam thiên điều tội.
DỊCH:
Hỏi từng chẳng biết
Đáp lại chẳng thông
Gió cao trăng lạnh
Cây hàn núi xưa
Cười ngất đường gặp đạt đạo nhân
Chẳng đem nói nín đáp
Tay cầm roi bạch ngọc
Đập tan nát ly châu
Chẳng đập nát
Thêm tỳ vết
Nước có hiến chương
Ba ngàn điều tội.
GIẢI
TỤNG: Tuyết Đậu tụng rất có công phu, ở trước lời tụng
Vân Môn nói: “Hỏi đã có tông, đáp cũng vẫn đồng.”
Ở đây lại chẳng thế, nói: “Hỏi từng chẳng biết, đáp
lại chẳng thông.” Chỗ đáp của Đại Long đứng bên nhìn
hẳn là kỳ đặc. Phân minh thì ai hỏi thế ấy, trước khi
chưa hỏi sớm đã hỏng rồi. Chỗ đáp của Sư rất mực
vừa vặn hợp cơ nghi, nói “hoa núi nở dường gấm, nước
khe trong tợ chàm”. Hiện nay mọi người các ông làm sao hiểu
ý Đại Long ? Lời đáp bàng quan thấy thật kỳ đặc. Vì
thế, Tuyết Đậu tụng ra khiến người biết, nói “gió cao
trăng lạnh”, lại nắm được “cây hàn núi xưa”. Hãy
nói ý đó làm sao hiểu ? Sở dĩ vừa rồi nói: “Chiếc sáo
không lỗ, đánh nhằm phách nỉ”.Chỉ bốn câu này tụng
xong vậy. Tuyết Đậu lại sợ người khởi đạo lý, lại
nói: “Cười ngất đường gặp đạt đạo nhân, chẳng đem
nói nín đáp.” Việc này chẳng phải thấy nghe hiểu biết,
cũng chẳng suy nghĩ phân biệt. Vì thế nói: “Rỡ rỡ không
gồm kẹt, dụng riêng nào nương nhờ, trên đường gặp đạt
đạo, chớ đem nói nín đáp.” Đây là bài tụng của Hương
Nghiêm, Tuyết Đậu dẫn dùng. Tăng hỏi Triệu Châu: Chẳng
đem nói nín đáp, chưa biết đem cái gì đáp ? Châu đáp: Trình
đồ đựng sơn. Cái này đồng với câu vừa rồi nói, chẳng
rơi vào tình trần ý tưởng của ông. Giống như cái gì ?
Giống “tay cầm roi bạch ngọc, đập tan nát ly châu”. Thế
nên, Tổ lệnh đương hành mười phương ngồi đoạn. Đây
là việc trên kiếm bén, phải có tác lược thế ấy. Nếu
chẳng thế ấy, đều cô phụ chư Thánh từ trước. Đến
trong đây cần không có chút xíu việc, tự có chỗ tốt, tức
là chỗ hành lý của người hướng thượng. Đã chẳng đập
nát ắt sanh tỳ vết, liền thấy ló đuôi. Cứu kính phải
làm sao được ? “Nước có hiến chương, ba ngàn điều tội”.
Ngũ hình thuộc ba ngàn, lớn nhất là bất hiếu. Hiến là
pháp, chương là điều, ba ngàn điều tội một lúc phạm hết
vậy. Cớ sao như thế ? Chỉ vì chẳng lấy việc bổn phận
tiếp người. Nếu là Đại Long hẳn không thế ấy.
?
TẮC
83: VÂN MÔN CỔ PHẬT CỘT CÁI
CÔNG
ÁN: Vân Môn dạy chúng: Cổ Phật cùng cột cái tương giao
là cơ thứ mấy ? Tự đáp: Núi Nam khởi mây, núi Bắc rơi
mưa.
GIẢI
THÍCH: Đại sư Vân Môn xuất phát hơn tám mươi vị thiện
tri thức. Sư tịch bảy mươi năm sau, khai tháp thấy thân nghiễm
nhiên như xưa. Chỗ thấy của Sư minh bạch cơ cảnh chớp
nhoáng. Đại phàm buông lời, nói riêng, thay nói, hẳn là cao
vót. Công án này như chọi đá nháng lửa, tợ làn điện chớp,
quả là thần ra quỉ vào. Tạng chủ Khánh nói: Một đại
tạng giáo lại có loại thuyết thoại này chăng ? Hiện nay
người ta phần nhiều nhằm trên tình giải làm kế sống,
nói: Phật là bậc Đạo sư của Tam giới, là Từ Phụ của
bốn loài, đã là cổ Phật vì sao lại cùng cột cái tương
giao ? Nếu hiểu thế ấy, rốt cuộc dò tìm chẳng được.
Có người bảo trong cái không nói ra. Đâu chẳng biết bậc
Tông sư thuyết thoại tuyệt ý thức, tuyệt tình lượng, tuyệt
sanh tử, tuyệt pháp trần, vào chánh vị lại chẳng còn một
pháp. Ông vừa khởi đạo lý so tính, liền bị trói tay trói
chân. Hãy nói cổ nhân kia ý thế nào ? Chỉ khiến tâm cảnh
nhất như, tốt xấu phải quấy lay động kia chẳng được,
nói có cũng được, không cũng được, có cơ cũng được,
không cơ cũng được, đến trong đây nhịp nhịp đều là
lệnh. Ngũ Tổ tiên sư nói: Cả thảy Vân Môn xưa nay mật
nhỏ, nếu là Sơn tăng chỉ nói với Sư cơ thứ tám. Vân Môn
nói: Cổ Phật cùng cột cái tương giao là cơ thứ mấy ? Khoảng
một chốc, hãy nhằm bao trùm trước mắt. Tăng hỏi: Chưa
biết ý chỉ thế nào ? Vân Môn đáp: Một sợi dây bán ba
mươi xu. Sư có con mắt định càn khôn. Đã không có người
hội, sau lại tự thay nói: Núi Nam khởi mây, núi Bắc rơi
mưa. Vì kẻ hậu học mở một lối vào. Do đó Tuyết Đậu
chỉ niêm Sư chỗ định càn khôn khiến người thấy. Nếu
phạm suy tính, bày mũi nhọn ắt đối mặt lầm qua. Chỉ cốt
nguyên vẹn tông chỉ Vân Môn và rõ cái cơ cao vót, vì thế
tụng ra:
TỤNG:
Nam sơn vân
Bắc sơn vũ
Tứ thất nhị tam diện tương đổ
Tân La quốc lý tằng thượng đường
Đại Đường quốc lý vị đả cổ.
Khổ trung lạc
lạc trung khổ
Thùy đạo huỳnh kim như phấn thổ ?
DỊCH:
Mây núi Nam
Mưa núi Bắc
Ba mươi ba Tổ mặt cùng thấy
Trong nước Tân La từng thượng đường
Trong nước Đại Đường chưa đánh trống.
Vui trong khổ
Khổ trong vui
Ai nói vàng ròng như phân đất ?
GIẢI
TỤNG: Hai câu “mây núi Nam, mưa núi Bắc”, Tuyết Đậu bán
mũ vừa đầu, xem gió mở buồm, nhằm trên kiếm bén vì ông
hạ chú cước. Thẳng đến “ba mươi ba Tổ mặt cùng thấy”,
chớ hiểu lầm. Đây chỉ tụng cổ Phật cùng cột cái tương
giao là cơ thứ mấy xong rồi, phần sau mở đường tạo sắn
bìm, cần thấy ý Sư “trong nước Tân La từng thượng đường,
trong nước Đại Đường chưa đánh trống”. Tuyết Đậu
nhằm chỗ điện bay sao xẹt, liền nói “vui trong khổ, khổ
trong vui”. Dường như Tuyết Đậu vun một đống thất trân
bát bảo ở trong đây xong. Vì thế rốt sau có một câu nói:
“Ai nói vàng ròng như phân đất ?” Câu này là trích trong
thi của Thiền Nguyệt bài “Hành Lộ Nan”, Tuyết Đậu dẫn
ra dùng. Thiền Nguyệt nói: “Núi cao biển sâu người khôn
tính, xưa qua nay lại càng xanh biếc, thiển cận nông nỗi
chớ cùng giao, đất xấu chỉ biết sanh gai góc. Ai nói vàng
ròng như phân đất. Trương Nhỉ, Trần Dư đoạn tin tức.
Đi đường khó, đi đường khó, anh tự xem. Đâu chẳng đất
rộng người thưa, Vân Cư, La-hán.”
?
TẮC
84: DUY-MA PHÁP MÔN BẤT NHỊ
LỜI
DẪN: Bảo phải phải không chỗ phải, nói quấy quấy không
chỗ quấy, phải quấy được mất cả hai quên, sạch trơn
trọi hiện bày thong dong. Hãy nói trước mặt sau lưng là cái
gì ? Có Thiền khách ra nói: Trước mặt là điện Phật, ba
cửa, sau lưng là nhà nghỉ, phương trượng. Thử nói người
này lại đủ mắt hay không ? Nếu biện được người này,
hứa ông thân thấy cổ nhân đến.
CÔNG
ÁN: Duy-ma-cật hỏi Văn-thù-sư-lợi: Những gì là Bồ-tát
vào pháp môn bất nhị ? Văn-thù đáp: Như ý tôi, đối tất
cả pháp không nói không lời, không chỉ không biết, lìa các
vấn đáp, ấy là vào pháp môn bất nhị. Văn-thù-sư-lợi
hỏi Duy-ma-cật: Chúng tôi mỗi người tự nói xong, nhân giả
phải nói những gì là Bồ tát vào pháp môn bất nhị ? Tuyết
Đậu nói: Duy-ma-cật nói gì ? Lại bảo: Khám phá xong.
GIẢI
THÍCH: Khi ngài Duy-ma-cật khiến các vị đại Bồ-tát mỗi
vị nói về pháp môn bất nhị, ba mươi hai vị Bồ-tát đều
lấy thấy hai là hữu vi vô vi, chân đế tục đế, hiệp làm
thấy một là pháp môn bất nhị. Sau Ngài hỏi Bồ-tát Văn-thù,
Văn-thù đáp: Như ý tôi, đối tất cả pháp không nói không
lời, không chỉ không biết, lìa các vấn đáp, ấy là pháp
môn bất nhị. Bởi vì ba mươi hai vị dùng lời dẹp lời,
ngài Văn-thù dùng không lời dẹp lời, đồng thời quét sạch,
thảy chẳng cần, là vào pháp môn bất nhị. Đâu chẳng biết
linh qui bảo vệ cái đuôi khỏa dấu thành vết, cũng giống
như dùng chổi quét bụi, bụi tuy hết mà vết chổi vẫn còn.
Rốt sau vẫn như trước trừ dấu vết. Khi ấy Bồ-tát Văn-thù
hỏi lại ông Duy-ma-cật: Chúng tôi mỗi người tự nói xong,
nhân giả phải tự nói những gì là Bồ-tát vào pháp môn
bất nhị ? Ông Duy-ma-cật lặng thinh. Nếu là kẻ sống, trọn
chẳng đến trong nước chết mà ngâm. Nếu khởi kiến giải
thế ấy, giống như chó điên đuổi bóng. Tuyết Đậu chẳng
nói lặng thinh, cũng chẳng nói im lặng giây lâu, chỉ ở chỗ
gấp gấp nói. Hỏi Duy-ma-cật nói cái gì ? Chỉ như Tuyết
Đậu nói thế ấy, lại thấy Duy-ma-cật chăng ? Mộng hay chưa
mộng thấy ? Duy-ma-cật là vị cổ Phật thời quá khứ, cũng
có quyến thuộc, giúp Phật tuyên hóa, đủ biện tài bất
khả tư nghì, có cảnh giới bất khả tư nghì, có thần thông
diệu dụng bất khả tư nghì. Ở trong cái thất một trượng
vuông mà dung ba muôn hai ngàn tòa báu sư tử, cùng tám muôn
đại chúng cũng chẳng thấy rộng hẹp. Hãy nói ấy là đạo
lý gì ? Gọi là thần thông diệu dụng được chăng ? Chớ
nên hiểu lầm. Nếu là pháp môn bất nhị, đồng đắc đồng
chứng mới hay cùng chung chứng biết, chỉ riêng Văn-thù đáng
cùng ông đối đáp. Tuy nhiên như thế, lại khỏi bị Tuyết
Đậu kiểm trách hay không ? Tuyết Đậu nói thế ấy, cũng
cần cùng hai vị này thấy nhau. Hỏi Duy-ma nói cái gì ? Lại
nói khám phá xong. Ông hãy nói chỗ nào là chỗ khám phá xong
? Chỉ cái này chẳng nệ được mất, chẳng rơi phải quấy,
như bờ cao vạn nhẫn leo lên được bỏ tánh mạng, nhảy
qua khỏi, hứa ông thấy Duy-ma-cật. Như bỏ chẳng được,
giống như bầy nai chạm bờ rào. Tuyết Đậu cố nhiên là
người bỏ được tánh mạng, vì thế tụng ra:
TỤNG:
Đốt ! Giá Duy-ma lão
Bi sanh không áo não
Ngọa tật Tỳ-da-ly
Toàn thân thái khô cảo.
Thất Phật Tổ sư lai
Nhất thất thả tần tảo
Thỉnh vấn bất nhị môn
Đương thời tiện kháo đảo.
Bất kháo đảo
Kim mao sư tử vô xứ thảo.
DỊCH:
Dốt ! Cái lão Duy-ma
Bi sanh không buồn thảm
Nằm bệnh Tỳ-da-ly
Toàn thân quá gầy ốm.
Tổ sư bảy Phật sang
Một thất hằng luôn quét
Thưa hỏi môn chẳng hai
Khi này liền tựa ghế.
Không tựa ghế
Sư tử lông vàng không chỗ tìm.
GIẢI
TỤNG: Tuyết Đậu nói “dốt ! Cái lão Duy-ma”, ở đầu
trước hạ một chữ dốt để làm gì ? Lấy bảo kiếm Kim
Cang Vương ngay đầu chặt đứt, phải là sáng đánh ba ngàn
chiều đánh tám trăm mới được. Phạn ngữ nói Duy-ma-cật,
Trung Hoa dịch Vô Cấu Xưng, cũng gọi Tịnh Danh, là đức Như
Lai Kim Túc ở đời quá khứ. Tăng hỏi Hòa thượng Giản ở
Vân Cư: Đã là Như Lai Kim Túc vì sao lại ở trong hội Phật
Thích-ca nghe pháp ? Hòa thượng Giản đáp: Ngài chẳng tranh
nhân ngã, người đại giải thoát chẳng nệ thành Phật chẳng
thành Phật. Nếu bảo Ngài tu hành mong thành Phật đạo, càng
không dính dáng. Như kinh Viên Giác nói: Lấy tâm luân hồi
sanh kiến luân hồi, vào biển đại tịch diệt Như Lai trọn
không thể đến. Vĩnh Gia nói: “Hoặc phải hoặc quấy người
chẳng biết, nghịch hạnh thuận hạnh trời khó lường.”
Nếu thuận hạnh thì tiến đến quả vị Phật, nếu nghịch
hạnh thì vào cảnh giới chúng sanh. Thiền sư Thọ nói: Dù
ông mài luyện đến điền địa này, cũng chưa thỏa mãn ý
của ông, đợi chứng thân Thánh vô lậu mới nên thuận hạnh
nghịch hạnh. Vì thế Tuyết Đậu nói “bi sanh không buồn
thảm”. Trong kinh Duy-ma nói: Vì chúng sanh bệnh nên ta cũng
bệnh. Buồn thảm thì lòng bi mất vậy. Câu “nằm bệnh Tỳ-da-ly”,
Duy-ma thị hiện bệnh ở thành Tỳ-da-ly. Đời Đường, Vương
Huyền Sách đi sứ Tây Vức đến chỗ Ngài ở, lấy tay đo
bề dọc bề ngang của thất ấy chỉ được mười hốt, do
đó gọi là phương trượng. Câu “toàn thân quá gầy ốm”,
nhân đem thân bệnh rộng vì người nói pháp: “Thân này là
vô thường, không mạnh khỏe, không chắc chắn, là pháp chóng
hư hoại không thể tin cậy, là khổ não là nhóm họp của
các bệnh, cho đến là chỗ chung hợp của ấm giới nhập
mà thành.” Câu “Tổ sư bảy Phật sang”, Văn-thù là Tổ
sư bảy đức Phật, vâng lệnh Thế Tôn đến thăm bệnh ông.
Câu “một thất hằng luôn quét”, trong phương trượng dẹp
hết mọi vật, chỉ để lại cái giường, đợi Văn-thù đến
thưa hỏi pháp môn bất nhị. Vì thế Tuyết Đậu nói: “Thưa
hỏi môn chẳng hai, khi này liền tựa ghế.” Duy-ma-cật miệng
giống như tấm biển. Hiện nay hàng Thiền khách tầm thường
nói: Không lời là tựa ghế. Chớ nên nhận lầm trái cân
bàn (một tiêu chuẩn cố định). Tuyết Đậu đẩy đến bờ
cao muôn nhẫn, lại nói: “Không tựa ghế.” Một tay nâng
lên một tay đè xuống, Sư có loại thủ đoạn này, quả thật
dùng được linh động. Trước bài tụng niêm rằng: Duy-ma
nói gì ? Nay nói: “Sư tử lông vàng không chỗ nơi.” Chẳng
những khi đó, hiện nay cũng thế ấy. Lại thấy lão Duy-ma
chăng ? Cả thảy núi sông đất liền cỏ cây rừng rú đều
biến thành sư tử lông vàng, cũng dò tìm chẳng được.
?
TẮC
85: AM CHỦ ĐỒNG PHONG LÀM TIẾNG CỌP
LỜI
DẪN: Nắm đứng thế giới chẳng lọt mảy tơ, người cả
quả đất quên gươm ngậm miệng, là chánh lệnh của Thiền
tăng. Đảnh môn phóng quang chiếu phá bốn thiên hạ, là tròng
mắt Kim Cang của Thiền tăng. Điểm sắt thành vàng, điểm
vàng thành sắt, chợt bắt chợt thả, là cây gậy của Thiền
tăng. Ngồi đoạn đầu lưỡi người trong thiên hạ, cho đến
không có chỗ nhả hơi, thối lui ba ngàn dặm, là khí vũ của
Thiền tăng. Hãy nói thảy chẳng thế ấy, cứu kính là thế
nào, thử cử xem ?
CÔNG
ÁN: Tăng đến chỗ Am chủ Đồng Phong liền hỏi: Trong đây
chợt gặp cọp thì làm thế nào ? Am chủ liền làm tiếng
cọp rống. Tăng liền làm thế sợ. Am chủ cười hả ! hả
! Tăng nói: Cái lão giặc. Am chủ nói: Làm gì được Lão tăng
? Tăng thôi đi. Tuyết Đậu nói: Phải thì phải, hai lão ác
tặc chỉ biết bịt tai trộm linh.
GIẢI
THÍCH: Dưới tông phái Đại Hùng (Bá Trượng) xuất phát bốn
vị Am chủ: Đại Mai, Bạch Vân, Hổ Khê, Đồng Phong. Xem hai
vị này mắt tay chân lanh thế ấy. Hãy nói kỳ quái ở chỗ
nào ? Cổ nhân một cơ một cảnh, một lời một câu, tuy nhiên
xuất phát ở lâm thời. Nếu là nhãn mục toàn chánh tự nhiên
sống linh động. Tuyết Đậu niêm khiến người biết tà chánh
rành được mất. Tuy nhiên như thế, ở trên phần của người
đạt đạo, tuy ở chỗ được mất mà chẳng được mất.
Nếu lấy được mất mà xem các ngài thì không dính dáng.
Người nay cần phải mỗi mỗi cùng tột chỗ không được
mất, nhiên hậu dùng được mất biện người. Nếu một bề
lo giản trạch ngôn cú dụng tâm, biết khi nào được xong.
Đại sư Vân Môn nói: “Kẻ đi hành cước chớ luống dạo
châu chơi huyện, muốn được ngôn ngữ rỗng đưa lên đè
xuống, đợi Hòa thượng già mở miệng liền hỏi thiền hỏi
đạo, hướng thượng hướng hạ, làm sao thế nào, rồi biên
chép thành một quyển để trong đãy da, đến bên lò lửa
ba người năm người họp đầu thuật lại lăng nhăng, cái
này là lời công tài, cái kia là lời tựu thân đả xuất,
cái này là lời trên sự, cái kia là lời trong thể. Ông ở
nhà cha mẹ ăn cơm xong chỉ nói mộng, nói ta hiểu Phật pháp.
Nên biết đi hành cước thế ấy, đến năm lừa mới được
thôi dứt. Cổ nhân trong lúc niêm lộng há có chấp hơn thua
được mất phải quấy. Đồng Phong yết kiến Lâm Tế rồi,
đến núi sâu cất am mà ở. Vị Tăng này đến nơi kia liền
hỏi: Trong đây chợt gặp cọp thì làm sao ? Đồng Phong liền
làm tiếng cọp rống. Khéo đến việc liền đi. Vị Tăng này
cũng biết đem lầm đến lầm, liền làm thế sợ. Am chủ
cười ha hả ! Tăng nói: Cái lão giặc. Đồng Phong nói: Làm
gì được Lão tăng ? Phải thì phải, hai người đều chẳng
liễu, ngàn xưa về sau bị người kiểm điểm. Vì thế, Tuyết
Đậu nói: Phải thì phải, hai lão ác tặc chỉ biết bịt
tai trộm linh. Hai lão này tuy điều là giặc, đương cơ
lại chẳng dùng, vì thế bịt tai trộm linh. Hai lão này như
bày trận trăm muôn quân, lại chỉ đánh bằng chổi. Nếu
luận việc này phải là kẻ có thủ đoạn giết người chẳng
thèm ngó lại. Nếu một bề thả mà chẳng bắt, một giết
mà chẳng tha, đâu khỏi bị người cười chê. Tuy nhiên như
thế, cổ nhân kia cũng không có nhiều việc. Xem hai vị thế
ấy thảy đều thấy cơ mà làm. Ngũ Tổ nói: “Chánh định
thần thông du hí, chánh định huệ cự, chánh định Trang Nghiêm
Vương”, chính là người sau gót chân chẳng dính đất. Chỉ
kiểm điểm cổ nhân, liền nói có được có mất. Có người
nói: Rõ ràng là Am chủ bị thua, có gì dính dáng. Tuyết Đậu
nói: Hai người gặp nhau đều có chỗ phóng qua. Vị Tăng nói:
Trong đây chợt gặp cọp thì làm sao ? Đồng Phong liền làm
tiếng cọp rống. Đây là chỗ phóng qua. Cho đến Đồng Phong
nói: Làm gì được lão Tăng. Đây cũng là chỗ phóng qua, rõ
ràng rơi vào cơ thứ hai. Tuyết Đậu nói: Cần dùng liền
dùng. Người nay nghe nói thế ấy, liền nói: Khi ấy nên cho
hành lệnh. Chớ nên dùng gông mù gậy đui. Vào cửa Đức
Sơn liền đánh, vào cửa Lâm Tế liền hét, hãy nói ý cổ
nhân thế nào ? Phần sau Tuyết Đậu chỉ tụng như thế. Hãy
nói cứu kính làm sao khỏi được bịt tai trộm linh.
TỤNG:
Kiến chi bất thủ
Tư chi thiên lý
Hảo cá ban ban
Trảo nha vị bị.
Quân bất kiến
Đại Hùng sơn hạ hốt tương phùng
Lạc lạc thanh quang giai chấn địa.
Đại trượng phu kiến dã vô
Thâu hổ vĩ hề Loát hổ tu.
DỊCH:
Thấy đó chẳng lấy
Nghĩ đó ngàn dặm
Cọp đẹp vện vằn
Nanh vuốt chưa đủ.
Anh chẳng thấy
Dưới núi Đại Hùng bỗng gặp nhau
Rỡ rỡ tiếng vang rền dội đất.
Đại trượng phu thấy hay không
Nắm đuôi cọp chừ nhổ râu cọp.
GIẢI
TỤNG: Hai câu “thấy đó chẳng lấy, nghĩ đó ngàn dặm”,
chính ở chỗ hiểm không thể sử dụng. Đợi kia nói “làm
gì được Lão tăng”, nên vì bổn phận giải quyết. Khi ấy
nếu hạ được thủ đoạn, kia ắt phải có lời sau. Một
người chỉ biết phóng chẳng biết thâu, thấy đó chẳng
lấy, sớm đã mây trắng muôn dặm, lại nói cái gì là “nghĩ
đó ngàn dặm”. Hai câu “cọp đẹp vện vằn, nanh vuốt
chưa đủ”, phải thì phải, cọp cũng biết ẩn nanh giấu
vuốt, tại sao chẳng biết chụp người ? Ba câu “anh chẳng
thấy, dưới núi Đại Hùng bỗng gặp nhau, rỡ rỡ tiếng
vang rền dội đất”. Một hôm, Bá Trượng hỏi Hoàng Bá:
Ở đâu đến ? Hoàng Bá thưa: Nhổ nấm dưới núi đến. Bá
Trượng hỏi: Lại thấy cọp chăng ? Hoàng Bá liền làm tiếng
cọp rống. Bá Trượng rút bên hông lấy chiếc búa, làm thế
chém. Hoàng Bá ôm đứng liền tát. Đến chiều Bá Trượng
thượng đường nói: Ở dưới núi Đại Hùng có một con cọp,
cả thảy các ngươi ra vào cần phải nhìn kỹ, chính Lão tăng
ngày nay bị nó cắn một cái. Sau này Qui Sơn hỏi Ngưỡng
Sơn: Thoại đầu con cọp của Hoàng Bá thế nào ? Ngưỡng
Sơn thưa: Tôn ý Hòa thượng thế nào ? Qui Sơn nói: Khi ấy
Bá Trượng nên chặt một búa cho chết, vì sao đến như thế
? Ngưỡng Sơn thưa: Chẳng phải vậy. Qui Sơn hỏi: Con lại
thế nào ? Ngưỡng Sơn thưa: Chẳng những cỡi đầu cọp,
cũng biết nắm đuôi cọp. Qui Sơn nói: Tịch con có được
câu bờ hiểm. Tuyết Đậu dẫn dùng để rõ phần trước
công án, “rỡ rỡ tiếng vang rền dội đất”. Cái này có
chuyển biến tự tại, cần trong câu có con đường xuất thân.
Hai câu “đại trượng phu thấy hay không”, lại thấy chăng
? “nắm đuôi cọp chừ nhổ râu cọp”, phải là bổn phận.
Mặc ông nắm đuôi cọp, nhổ râu cọp, chưa khỏi một lúc
bị xỏ lỗ mũi.