TẮC
76: ĐƠN HÀ ĂN CƠM RỒI CHƯA
LỜI
DẪN: Nhỏ như hạt gạo bể, lạnh tợ băng sương, bít lấp
càn khôn, lìa sáng dứt tối, chỗ thấp thấp xem đó có dư,
chỗ cao cao bình đó chẳng đủ, nắm đứng buông đi, thảy
ở trong đây. Lại có chỗ xuất thân hay không, thử cử xem
?
CÔNG
ÁN: Đơn Hà hỏi Tăng: Từ đâu đến ? Tăng thưa: Dưới núi
đến. Đơn Hà hỏi: Ăn cơm rồi chưa ? Tăng thưa: Ăn cơm rồi.
Đơn Hà hỏi: Người đem cơm cho ông ăn có đủ mắt chăng
? Tăng không đáp được. Trường Khánh hỏi Bảo Phước: Đem
cơm cho người ăn có phần đền ơn, vì sao lại chẳng đủ
mắt ? Bảo Phước đáp: Người thí kẻ thọ cả hai đều
mù. Trường Khánh nói: Tột cơ kia đến, lại thành mù chăng
? Bảo Phước nói: Bảo ta mù được chăng ?
GIẢI
THÍCH: Thiền sư Thiên Nhiên ở núi Đơn Hà tại Đặng Châu,
chẳng biết người xứ nào. Buổi đầu Sư học tập Nho sắp
vào Trường An ứng thí, nghỉ ở quán trọ, chợt mộng
thấy hào quang trắng đầy nhà. Người bàn mộng nói: Là điềm
hiểu Không. Gặp một Thiền khách hỏi: Nhân giả đi đâu
? Sư đáp: Đi thi làm quan. Thiền khách nói: Thi làm quan đâu
bằng thi làm Phật. Sư hỏi: Thi Phật phải đến chỗ nào
? Thiền khách nói: Nay Mã Đại sư ở Giang Tây khai đường
dạy chúng là trường thi Phật, nhân giả nên đến đó. Sư
liền đi thẳng đến Giang Tây, vừa thấy Mã Đại sư, liền
lấy hai tay lột cái mũ trên đầu. Mã Đại sư nhìn kỹ, nói:
Tôi không phải thầy của ông, hãy sang Nam Nhạc Thạch Đầu
đi. Sư đi thẳng đến Thạch Đầu, lại làm như ý trước.
Thạch Đầu bảo: Xuống nhà trù đi. Sư lễ tạ, vào nhà cư
sĩ theo chúng làm công tác, đến ba năm. Một hôm Thạch Đầu
bảo chúng: Sáng mai hớt cỏ trước điện Phật. Đến hôm
sau, đại chúng cầm liềm hái đến trước điện Phật hớt
cỏ, riêng Sư múc một thau nước sạch, quì gối trước Thạch
Đầu. Thạch Đầu thấy thế cười, vì Sư cạo tóc, tiếp
nói giới. Sư bịt lỗ tai đi ra. Thẳng đến Giang Tây yết
kiến Mã Tổ. Chưa tham lễ, Sư đi thẳng vào Tăng đường
leo ngồi trên cổ tượng Thánh tăng. Đại chúng thấy kinh
ngạc, chạy báo cho Mã Tổ. Mã Tổ đích thân đến xem, nói:
Con ta Thiên Nhiên. Sư bước xuống lễ bái thưa: Tạ Thầy
ban pháp hiệu. Nhân đây gọi là Thiên Nhiên. Cổ nhân Thiên
Nhiên như thế thường giải thoát, nên nói thi quan không bằng
thi Phật. Trong Truyền Đăng Lục chép ngữ cú của Sư thật
là vách đứng ngàn nhẫn, mỗi câu đều có thủ đoạn vì
người nhổ đinh tháo chốt. Giống như hỏi vị Tăng này:
Ở đâu đến ? Tăng thưa: Ở dưới núi đến. Vị Tăng này
lại chẳng thông chỗ đi, giống như người có mắt khám phá
ngược lại chủ nhà. Đương thời, nếu chẳng phải Đơn
Hà cũng khó nắm được y. Đơn Hà lại hỏi: Ăn cơm chưa
? Ban đầu thảy chưa thấy được, lần thứ hai này khám phá
được y. Tăng thưa: Ăn cơm rồi. Kẻ mù mịt vốn là chẳng
hiểu. Đơn Hà hỏi: Người đem cơm cho ông ăn có đủ mắt
chăng ? Tăng không đáp được. Ý Đơn Hà nói, kẻ vì ông
đem cơm kham làm việc gì ? Vị Tăng này nếu là kẻ khác thử
cho Sư một tát xem Sư làm gì ? Tuy nhiên như thế, Đơn Hà
cũng chưa buông ông. Vị Tăng kia con mắt chớp lia không có
lời để đáp. Bảo Phước, Trường Khánh đồng ở trong hội
Tuyết Phong, thường cử công án của cổ nhân để thương
lượng. Trường Khánh hỏi Bảo Phước: Đem cơm cho người
ăn là có phần đền ơn, tại sao không đủ mắt ? Không hẳn
hỏi hết việc trong công án này, đại cương mượn lời này
làm thoại đầu, cần nghiệm chỗ chân thật của kia. Bảo
Phước nói: Người thí kẻ thọ cả hai đều mù. Thích thay!
Đến trong đây chỉ luận việc đương cơ, trong nhà có con
đường xuất thân. Trường Khánh nói: Người tột cơ kia đến,
lại thành mù chăng ? Bảo Phước nói: Bảo ta mù được sao
? Ý Bảo Phước nói ta đủ mắt thế ấy, vì ông nói rồi,
lại nói ta mù được chăng ? Tuy nhiên như thế, là nửa nhắm
nửa mở. Khi ấy nếu là Sơn tăng đợi y nói “người tột
cơ kia đến, lại thành mù chăng”, chỉ nói với y “mù”.
Đáng tiếc Bảo Phước khi ấy nếu hạ được một chữ “mù”,
khỏi bị Tuyết Đậu có nhiều thứ sắn bìm. Tuyết Đậu
chỉ dùng ý này tụng:
TỤNG:
Tận cơ bất thành hạt
Án ngưu đầu khiết thảo
Tứ thất nhị tam chư Tổ sư
Bảo khí trì lai thành quá cựu.
Quá cựu thâm, vô xứ tầm
Thiên thượng nhân gian đồng lục trầm.
DỊCH:
Tột cơ chẳng thành mù
Chận đầu trâu ăn cỏ
Ba mươi ba chư vị Tổ sư
Bảo khí đến giờ thành quấy lỗi.
Quấy lỗi sâu, không chỗ tìm
Trên trời nhân gian đồng ngập chìm.
GIẢI
TỤNG: Câu “tột cơ chẳng thành mù”, Trường Khánh nói
người tột cơ kia đến, lại thành mù chăng ? Bảo Phước
nói “bảo ta mù được chăng”, giống như “chận đầu
trâu ăn cỏ”. Phải đồng với kia tự ăn mới được, trong
ấy lại chận đầu trâu ăn cỏ. Tuyết Đậu tụng thế ấy
tự nhiên thấy ý Đơn Hà. “Ba mươi ba chư vị Tổ sư, bảo
khí đến giờ thành quấy lỗi”, chẳng những chỉ đới
lụy Trường Khánh, cho đến Tây thiên hai mươi tám Tổ, Trung
Hoa sáu Tổ, đồng thời chôn vùi. Đức Phật Thích-ca bốn
mươi chín năm nói một Đại Tạng kinh, rốt sau chỉ truyền
một bảo khí này. Vĩnh Gia nói: “Chẳng phải tiêu hình việc
truyền suông, gậy báu Như Lai còn dấu vết.” Nếu khởi
kiến giải của Bảo Phước thì bảo khí giữ đến giờ trọn
thành quấy lỗi. “Quấy lỗi sâu, không chỗ tìm”, cái này
vì ông nói chẳng được, chỉ tìm chỗ ngồi yên, nhằm trong
câu này kiểm điểm xem ? Đã là quấy lỗi sâu, tại sao lại
không chỗ tìm ? Đây không phải lỗi nhỏ, vì đem việc lớn
của Tổ sư một lúc ở trên đất bằng làm chìm ngập hết.
Vì thế Tuyết Đậu nói “trên trời nhân gian đồng ngập
chìm”.
?
TẮC
77: VÂN MÔN BÁNH HỒ
LỜI
DẪN: Hướng thượng chuyển thì khả dĩ xỏ lỗ mũi người
trong thiên hạ, giống như chim cắt chụp chim cưu. Hướng hạ
chuyển thì lỗ mũi mình trong tay người khác, như rùa ẩn
trong vỏ. Trong đây nếu có người ra nói: xưa nay không hướng
thượng không hướng hạ, dùng chuyển làm gì, chỉ nói với
y: Ta cũng biết ông nhằm trong hang quỉ làm kế sống. Hãy
nói làm sao biện được trắng đen ? Im lặng giây lâu, nói:
Có cành vin cành, không cành vin nhánh, thử cử xem ?
CÔNG
ÁN: Tăng hỏi Vân Môn: Thế nào là nói siêu Phật việt Tổ
? Vân Môn đáp: Bánh hồ.
GIẢI
THÍCH: Vị Tăng hỏi Vân Môn: Thế nào là nói siêu Phật việt
Tổ ? Vân Môn đáp: Bánh hồ. Nghe có cảm giác rợn óc lông
dựng đứng chăng ? Hàng Thiền khách hỏi Phật hỏi Tổ, hỏi
thiền hỏi đạo, hỏi hướng thượng hướng hạ xong, lại
chỗ không thể đặt thành câu hỏi, mà hỏi nói siêu Phật
việt Tổ. Vân Môn là tác gia, nước lớn thì thuyền cao, đất
nhiều thì Phật lớn, đáp rằng: Bánh hồ. Đáng gọi là nói
không luống rỗng, công chẳng uổng bày. Vân Môn dạy chúng:
Ông chớ khởi liễu, nghe người nói đến ý Tổ sư liền
hỏi đạo lý siêu Phật việt Tổ. Ông hãy nói thế nào là
Phật, thế nào là Tổ, rồi sẽ hỏi siêu Phật việt Tổ.
Như hỏi ra khỏi tam giới, ông đem tam giới lại xem ? Có cái
thấy nghe hiểu biết gì cách ngại được ông ? Có thanh sắc
Phật pháp gì cho ông nên liễu ? Liễu cái bát gì ? Do kiến
giải gì làm sai thù ? Cổ Thánh kia có làm gì được ông ?
Thân đi ngang là vật, nói cả thân toàn chân, mỗi vật thấy
thể, không thể được. Tôi nói với ông thẳng đó là việc
gì ? Sớm đã chôn vùi rồi vậy. Hiểu được lời này liền
biết được bánh hồ. Ngũ Tổ nói: Phân lừa sánh xạ hương.
Nên nói “Cắt thẳng cội nguồn Phật đã ấn, vạch lá tìm
cành tôi chẳng hay.” Đến trong đây muốn được thân thiết
chớ đem hỏi đến hỏi. Xem vị Tăng này hỏi thế nào là
siêu Phật việt Tổ, Vân Môn nói: Bánh hồ. Lại biết hổ
thẹn chăng ? Lại hiểu ló đuôi chăng ? Có một nhóm người
đổ soạn nói Vân Môn thấy thỏ thả chim ưng, nên nói bánh
hồ. Nếu thế ấy đem bánh hồ cho là siêu Phật việt Tổ
làm chỗ thấy, làm sao có con đường sống ? Chớ khởi bánh
hồ hội, lại chẳng khởi siêu Phật việt Tổ hội, mới
là con đường sống. Sánh với “ba cân gai”, “biết đánh
trống” cùng một loại. Tuy nhiên chỉ nói bánh hồ quả thật
khó thấy. Người sau phần nhiều khởi đạo lý nói: Nói thô
và lời tế đều về đệ nhất nghĩa. Nếu hiểu thế ấy,
hãy đi làm Tọa chủ, một đời gầy dựng được nhiều tri
nhiều giải. Hiện nay Thiền khách nói: Khi siêu Phật việt
Tổ thì chư Phật đạp tại gót chân, Tổ sư cũng đạp tại
gót chân. Vì thế Vân Môn chỉ nhằm kia nói bánh hồ. Đã
là bánh hồ há hiểu siêu Phật việt Tổ, thử tham kỹ xem
? Các nơi tụng rất nhiều, trọn nhằm chỗ hỏi mà tạo ngôn
ngữ, duy Tuyết Đậu tụng rất hay, thử cử xem ?
TỤNG:
Siêu đàm thiền khách vấn thiên đa
Phùng há phi ly kiến dã ma
Hồ bính áp lai du bất trụ
Chí kim thiên hạ hữu hào ngoa.
DỊCH:
Siêu đàm thiền khách hỏi thiên nhiều
Chắp vá mở rời thấy đó chăng
Bánh hồ lấp lại còn không đứng
Đến nay thiên hạ vẫn hào ngoa.
GIẢI
TỤNG: Câu “siêu đàm thiền khách hỏi thiên nhiều”, lời
này Thiền khách riêng thích hỏi. Đâu chẳng thấy Vân Môn
nói: Quí vị vác ngang cây gậy nói ta tham thiền học đạo,
liền tìm cái đạo lý siêu Phật việt Tổ. Tôi hỏi ông trong
mười hai giờ đi đứng ngồi nằm, đi tiểu đi đại, đến
như con trùng trong hầm cỏ, mua bán thịt dê ở ngoài chợ,
lại có đạo lý siêu Phật việt Tổ chăng ? Nói được ra
đây, nếu không, chớ chướng ta đi Đông đi Tây, liền xuống
tòa. Có người lại chẳng biết tốt xấu, vẽ một vòng tròn,
trên đất thêm bùn, thêm gông kẹt cùm. Câu “chắp vá mở
rời thấy đó chăng”, kia đặt chỗ hỏi có tính cách chắp
vá. Vân Môn thấy chỗ hỏi kia mở rời, vì thế đem bánh
hồ đắp vá lấp bít chận đứng. Vị Tăng kia vẫn tự chẳng
chịu đứng, trở lại hỏi. Thế nên Tuyết Đậu nói “bánh
hồ lấp lại còn không đứng, đến nay thiên hạ vẫn hào
ngoa”. Thiền khách chỉ quản ở trên bánh hồ mà hiểu, chẳng
thế thì ở chỗ siêu Phật việt Tổ làm đạo lý. Đã chẳng
ở hai đầu này, cứu kính ở chỗ nào ? Ba mươi năm sau, đợi
Sơn tăng hoán cốt trở lại sẽ nói với ông.
?
TẮC
78: KHAI SĨ VÀO TẮM
CÔNG
ÁN: Xưa có mười sáu vị Khai sĩ đến nhà tắm chúng Tăng
theo thứ lớp vào tắm, chợt ngộ nhân nước. Chư Thiền đức
làm sao hiểu, Ngài nói: “Diệu xúc tuyên minh thành Phật tử
trụ.” Cũng phải bảy xoi tám phủng mới được.
GIẢI
THÍCH: Trên hội Lăng Nghiêm, Bồ-tát Bạt-đà-bà-la cùng mười
sáu vị Khai sĩ, mỗi vị tu phạm hạnh, mỗi vị nói nhân
sở chứng pháp môn viên thông, đây cũng là một trong số
hai mươi lăm môn viên thông. Ngài nhân đến nhà tắm chúng
Tăng theo thứ lớp vào tắm, chợt ngộ nhân nước, nói: “Đã
chẳng rửa bụi cũng chẳng rửa thân.” Hãy nói rửa cái
gì ? Nếu hội được, khoảng giữa an nhiên rỗng rang, ngàn
người muôn người gần bên chẳng được. Nên nói do không
sở đắc là chân Bát nhã, nếu có sở đắc là tương tợ
Bát-nhã. Tổ Đạt-ma bảo Nhị Tổ: Đem tâm ra, ta vì ông an.
Nhị Tổ thưa: Tìm tâm trọn chẳng thể được. Chút ít trong
đây là tánh mạng căn bản của Thiền khách. Lại thảy chẳng
tiêu nhiều thứ sắn bìm, chỉ tiêu cái chợt ngộ nhân nước,
tự nhiên liễu ngộ. Đã chẳng rửa bụi cũng chẳng rửa
thân, hãy nói ngộ cái gì ? Đến loại điền địa này, một
điểm cũng dính chẳng được, nói chữ Phật cũng phải kỵ
tránh. Ngài nói: “Diệu xúc tuyên minh thành Phật tử trụ”,
chữ tuyên là hiển, diệu xúc là minh. Đã ngộ diệu xúc thành
Phật tử trụ, tức là trụ Phật địa. Như người nay cũng
vào nhà tắm cũng rửa nước, cũng xúc thế ấy tại sao chẳng
ngộ ? Bởi tại trần cảnh che mờ, dính da kẹt xương, vì
thế không thể liền tỉnh tỉnh. Nếu nhằm trong này rửa
cũng không sở đắc, xúc cũng không sở đắc, nhân nước
cũng không sở đắc. Hãy nói là diệu xúc tuyên minh hay chẳng
phải diệu xúc tuyên minh ? Nếu nhằm trong đây liền đó thấy
được, là diệu xúc tuyên minh thành Phật tử trụ. Người
nay cũng xúc lại thấy chỗ diệu chăng ? Diệu xúc phi thường
xúc, cùng người xúc hiệp thì làm xúc, ly thì phi. Huyền Sa
leo núi dập đầu một ngón chân, cho đến gậy của Đức
Sơn, há chẳng phải diệu xúc ? Tuy nhiên thế ấy, cũng phải
bảy xoi tám phủng mới được. Nếu chỉ nhằm trên thân tìm
kiếm thì có gì giao thiệp. Nếu ông bảy xoi tám phủng thì
đâu cần vào nhà tắm, liền ở trên một đầu mảy lông
hiện cõi Bảo Vương, nhằm trong vi trần chuyển đại pháp
luân, một chỗ thấu được, ngàn chỗ muôn chỗ đồng thời
thấu. Chớ nên giữ một hang một ổ, tất cả chỗ trọn
là cửa Quan Âm nhập lý. Cổ nhân cũng có nghe tiếng ngộ
đạo, thấy sắc rõ tâm. Nếu một người ngộ là phải, tại
sao mười sáu vị Khai sĩ đồng thời ngộ ? Thế nên cổ nhân
đồng tu đồng chứng đồng ngộ đồng giải. Tuyết Đậu
niêm giáo ý kia khiến người đến chỗ diệu xúc ngộ lấy.
Tụng ra con mắt giáo lý kia, khiến người thoát khỏi lưới
giáo lý che phủ nửa say nửa tỉnh. Cốt cho người liền đó
sạch trơn thong dong đi.
TỤNG:
Liễu sự Nạp tăng tiêu nhất cá
Trường liên sàng thượng triển cước ngọa
Mộng trung tằng thuyết ngộ viên thông
Hương thủy tẩy lai mạch diện thóa.
DỊCH:
Xong việc Thiền tăng tiêu một cái
Nằm dài trên chõng chân duỗi thẳng
Trong mộng từng nói ngộ viên thông
Hương thủy rửa xong thẳng mặt nhổ.
GIẢI TỤNG: Câu “xong việc Thiền tăng tiêu một cái”, hãy
nói xong được việc gì ? Hàng tác gia Thiền khách nghe nhắc
đến đứng dậy liền đi, giống như Thiền tăng thế ấy
chỉ tiêu được một cái, đâu cần thành đoàn kết nhóm.
Câu: “nằm dài trên chõng chân duỗi thẳng”, cổ nhân nói:
“Rõ ràng không pháp ngộ, ngộ xong lại là mê, duỗi thẳng
hai chân ngủ, không ngụy cũng không chân.” Vì thế trong ngực
không một việc, đói đến ăn cơm, mệt ngủ khò. Ý Tuyết
Đậu nói, nếu ông nói vào nhà tắm ngộ được diệu xúc
tuyên minh, ở trên phần Thiền tăng vô sự chỉ giống trong
mộng nói mộng. Vì thế nói: “Trong mộng từng nói ngộ viên
thông, hương thủy rửa xong thẳng mặt nhổ.” Giống thế
ấy chỉ là nước dơ đổ thẳng trên đầu, nói cái gì là
viên thông ? Tuyết Đậu nói như hạng người này chính nên
nhổ ngay đầu ngay mặt. Sơn tăng nói trên đất thêm bùn thêm
một lớp.
?
TẮC
79: ĐẦU TỬ TẤT CẢ TIẾNG PHẬT
LỜI
DẪN: Đại dụng hiện tiền chẳng còn khuôn phép, bắt sống
giam chẳng nhọc sức thừa. Hãy nói là người nào từng thế
ấy đến, thử cử xem ?
CÔNG
ÁN: Tăng hỏi Đầu Tử: Tất cả tiếng là tiếng Phật phải
chăng ? Đầu Tử đáp: Phải. Tăng thưa: Hòa thượng chớ cho
tiếng hạ phong tiếng khua bát. Đầu Tử liền đánh. Tăng
lại hỏi: Lời thô và tiếng tế đều về đệ nhất nghĩa
phải chăng ? Đầu Tử đáp: Phải. Tăng thưa: Kêu Hòa thượng
là con lừa được chăng ? Đầu Tử liền đánh.
GIẢI
THÍCH: Đầu Tử chất phác được tài hùng biện siêu quần.
Phàm có người hỏi vừa mở miệng liền thấy mật, chẳng
phí sức thừa, ngồi đoạn đầu lưỡi kẻ khác, đáng gọi
là ngồi trong phòng kín tính toán quyết thắng ngoài ngàn dặm.
Vị Tăng này đem kiến giải Phật pháp thanh sắc dán ở trên
đầu gặp người liền hỏi. Đầu Tử là hàng tác gia gió
đến biện rành. Vị Tăng này biết chỗ thật thà của Đầu
Tử nên hạ một cái lồng bẫy khiến Đầu Tử vào trong,
cho nên có lời sau. Đầu Tử lại sử dụng cái máy gài cọp,
câu lời sau của y nói ra. Tăng nhận chỗ đáp kia, liền nói:
Hòa thượng chớ cho tiếng hạ phong tiếng khua bát. Quả nhiên
một phen câu liền mắc, nếu là người khác không làm gì
được vị Tăng này. Đầu Tử đủ mắt sáng theo sau liền
đánh, thủ đoạn nhai chó lợn phải trao lại cho hàng tác
gia mới được, xoay bên trái tùy kia lăn trùng trục, xoay bên
phải tùy kia lăn trùng trục. Vị Tăng này đã tạo cái lồng
bẫy cần đến nhổ râu cọp. Đâu ngờ Đầu Tử đi trên
lồng bẫy kia, nên liền đánh. Vị Tăng này đáng tiếc có
đầu không đuôi. Khi ấy đợi Sư cầm gậy, liền lật ngược
giường thiền, dù cho Đầu Tử toàn cơ cũng phải thoái lui
ba ngàn dặm. Lại hỏi: Lời thô và tiếng tế đều về đệ
nhất nghĩa phải chăng ? Đầu Tử cũng nói phải. Giống hệt
câu hỏi trước không khác. Tăng nói: Kêu Hòa thượng là con
lừa được chăng ? Đầu Tử lại đánh. Tuy nhiên vị Tăng
này tạo sào huyệt quả thật kỳ đặc. Nếu là kẻ Trưởng
lão không mắt ngồi trên giường gỗ cũng khó mà bẻ gãy
y. Đầu Tử có chỗ chuyển thân. Vị Tăng này đã tạo đạo
lý cốt làm đảo lộn giá trị của Ngài, cuối cùng như trước
chẳng làm gì được lão Đầu Tử. Nham Đầu nói: Nếu luận
chiến, mỗi mỗi đứng tại chỗ chuyển. Đầu Tử phóng đi
rất chậm, thâu lại quá nhanh. Khi ấy vị Tăng này nếu biết
chuyển thân thổ khí, há chẳng làm được cái kẻ miệng
như chậu máu. Hàng Thiền khách một chẳng làm, hai chẳng
thôi. Vị Tăng này đã chẳng giỏi nhảy né, lại bị Đầu
Tử xỏ lỗ mũi.
TỤNG:
Đầu Tử ! Đầu Tử !
Cơ luân vô trở
Phóng nhất đắc nhị
Đồng bỉ đồng thử.
Khả lân vô hạn lộng triều nhân
Tất cánh hoàn lạc triều trung tử
Hốt nhiên hoạt
Bách xuyên đảo lưu náo quát quát.
DỊCH:
Đầu Tử ! Đầu Tử !
Cơ luân không trở
Buông một được hai
Đồng kia đồng đây.
Đáng thương vô hạn người đùa sóng
Rốt cuộc trong sóng đành chết chìm
Bỗng nhiên sống
Trăm sông chảy ngược tiếng ào ào.
GIẢI
TỤNG: Hai câu “Đầu Tử ! Đầu Tử ! Cơ luân không trở”,
Đầu Tử bình thường hay nói: Các ông thảy nói chỗ thật
của Đầu Tử, bất chợt xuống núi ba bước, có người hỏi
thế nào là chỗ thật của Đầu Tử, ông phải đáp làm sao
? Cổ nhân nói: Chỗ cơ luân chuyển, tác giả còn mê. Sư cơ
luân chuyển trùng trục toàn không cách trở. Sở dĩ Tuyết
Đậu nói: “Buông một được hai”. Như Tăng hỏi: Thế nào
là Phật ? Đầu Tử đáp: Phật. Lại hỏi: Thế nào là đạo
? Đầu Tử đáp: Đạo. Lại hỏi: Thế nào là thiền ? Đầu
Tử đáp: Thiền. Lại hỏi: Khi mặt trăng chưa tròn thì thế
nào ? Đầu Tử đáp: Nuốt hết ba cái bốn cái. Lại hỏi:
Sau khi tròn rồi thì thế nào ? Đầu Tử đáp: Mửa ra bảy
cái tám cái. Đầu Tử tiếp người thường thường dùng cơ
này. Đáp vị Tăng ở đây cũng chỉ là một chữ “phải”.
Vị Tăng này hai lần bị đánh, thế nên Tuyết Đậu nói “đồng
kia đồng đây”. Bốn câu này tụng Đầu Tử xong. Rốt sau
tụng vị Tăng này nói: “Đáng thương vô hạn người đùa
sóng”, vị Tăng dám giựt cờ cướp trống nói “Hòa thượng
chớ cho tiếng hạ phong tiếng khua bát”. Lại nói “kêu Hòa
thượng là con lừa được chăng”, đây là chỗ đùa sóng.
Vị Tăng làm hết khả năng, như trước chết trong câu Đầu
Tử. Đầu Tử liền đánh. Vị Tăng bèn là “rốt cuộc trong
sóng đành chết chìm”. Tuyết Đậu cứu vị Tăng nói “bỗng
nhiên sống”, liền lật ngược giường thiền, Đầu Tử
cũng phải thoái lui ba ngàn dặm. Liền được “trăm sông
chảy ngược tiếng ào ào”, chẳng những giường thiền chấn
động, cho đến núi sông ngập lụt trời đất tối tăm. Nếu
là mỗi mỗi đều như thế, Sơn tăng phải đánh trống thoái
lui, quí vị nhằm chỗ nào an thân lập mạng ?
?
TẮC
80: TRIỆU CHÂU HÀI TỬ MỚI SANH
CÔNG
ÁN: Tăng hỏi Triệu Châu: Hài tử mới sanh lại đủ sáu thức
hay không ? Triệu Châu đáp: Trên nước chảy nhanh đánh cầu.
Tăng lại hỏi Đầu Tử: Trên nước chảy nhanh đánh cầu
ý nghĩa thế nào ? Đầu Tử đáp: Niệm niệm chẳng dừng
chảy.
GIẢI
THÍCH: Sáu thức này các nhà kinh điển lập làm gốc chánh,
núi sông, đại địa, mặt trời, mặt trăng, sao đều nhân
nó mà sanh, đến là tiên phong đi là điện hậu. Cổ nhân
nói: Ba cõi duy tâm, muôn pháp duy thức. Nếu chứng Phật địa
chuyển tám thức thành bốn trí, nhà kinh điển gọi là chuyển
tên mà chẳng đổi thể. Căn trần thức là ba, tiền trần
vốn chẳng biết phân biệt, thắng nghĩa căn hay phát sanh thức,
thức hay hiển sắc phân biệt, tức là ý thức thứ sáu. Thức
thứ bảy tên Mạt-na thức hay gìn giữ tất cả ảnh sự thế
gian, khiến người phiền não không được tự do tự tại
đều do thức thứ bảy. Thức thứ tám gọi là A-lại-da thức,
cũng gọi là Hàm tàng thức, hàm tàng tất cả chủng tử thiện
ác. Vị Tăng này biết giáo ý nên đem lại hỏi Triệu Châu:
“Hài tử mới sanh lại có đủ sáu thức hay không ?” Hài
nhi mới sanh tuy đủ sáu thức, mắt hay thấy tai hay nghe, song
chưa từng phân biệt sáu trần, tốt xấu dài ngắn phải quấy
được mất, khi ấy nó thảy chẳng biết. Người học đạo
cần như anh hài, vinh nhục công danh nghịch tình thuận cảnh
trọn động nó không được. Mắt thấy sắc cùng mù đồng,
tai nghe tiếng cùng điếc đồng, như ngu như ngốc, tâm nó
chẳng động như núi Tu-di. Cái này là chỗ Thiền khách chân
thật đắc lực. Cổ nhân nói: “Trùm chăn phủ đầu muôn
sự thôi, khi này Sơn tăng trọn chẳng hiểu.” Nếu hay như
thế mới có ít phần tương ưng. Tuy nhiên như thế, dù cho
một điểm cũng chẳng lừa y được, núi như xưa là núi,
nước như xưa là nước, không tạo tác không duyên lự. Như
mặt trời mặt trăng vận hành trong hư không chẳng từng tạm
nghỉ, cũng chẳng nói ta có bao nhiêu danh tướng. Như trời
che khắp, tợ đất chở khắp, vì không tâm nên trưởng dưỡng
vạn vật, cũng chẳng nói ta có bao nhiêu công hạnh. Trời
đất vì không tâm nên trường cửu, nếu có tâm ắt có chừng
hạn. Người đắc đạo cũng lại như thế, ở trong cái không
công dụng mà bày công dụng, tất cả điều trái tình thuận
cảnh đều dùng từ tâm nhiếp thọ. Đến trong đây cổ nhân
còn quở trách nói: Liễu liễu khi liễu không sở liễu, huyền
huyền chỗ huyền còn phải rầy. Lại nói: Việc việc thông
chừ vật vật sáng, người đạt đạo nghe đó trong tối sợ.
Lại nói: “Vào Thánh siêu phàm chẳng tạo thanh, rồng nằm
hằng sợ suối trong xanh, người đời nếu được hằng như
thế, đại địa đâu hay để một tên.” Song tuy thế ấy,
lại phải nhảy ra khỏi sào huyệt mới được. Há chẳng
thấy trong kinh nói: “Bồ-tát Bất Động Địa thứ tám lấy
trí vô công dụng ở hạt bụi chuyển đại pháp luân, ở
trong tất cả thời đi đứng ngồi nằm chẳng nệ được
mất, hồn nhiên trôi vào biển Tát-bà-nhã.” Hàng Thiền tăng
đến trong đây cũng không thể chấp trước, chỉ tùy thời
tự tại, gặp trà uống trà, gặp cơm ăn cơm, việc hướng
thượng này chấp chữ “định” cũng chẳng được, chấp
chữ “bất định” cũng chẳng được. Hòa thượng Thiện
Đạo ở Thạch Thất dạy chúng: “Ông chẳng thấy tiểu nhi
khi ra khỏi thai, đâu từng nói ta biết xem kinh, chính khi ấy
cũng chẳng biết có nghĩa Phật tánh, không nghĩa Phật tánh,
đến khi lớn lên học các thứ tri giải, liền nói ta hay ta
hiểu, chẳng biết là khách trần phiền não. Trong mười sáu
quán hạnh, hạnh anh nhi là hơn hết, khi đa đa hòa hòa là
dụ người học đạo lìa tâm phân biệt thủ xả, nên khen
ngợi hạnh anh nhi, lấy đó làm thí dụ. Nếu bảo anh nhi là
đạo, là người thời nay hiểu lầm”. Nam Tuyền nói: Ta trên
mười tám tuổi mới biết tạo kế sống. Triệu Châu nói:
Ta trên mười tám tuổi mới biết phá nhà tan cửa. Lại nói:
Ta ở phương Nam hai mươi năm trừ hai thời cơm cháo là chỗ
tạp dụng tâm. Tào Sơn hỏi Tăng: Bồ-tát trong định nghe
voi lớn qua sông rõ ràng, là xuất phát ở kinh nào ? Tăng thưa:
Kinh Niết-bàn. Tào Sơn hỏi: Trước định nghe hay sau định
nghe ? Tăng thưa: Hòa thượng trôi vậy. Tào Sơn nói: Dưới
bãi tiếp lấy. Kinh Lăng Nghiêm nói: Lặng vào hiệp lặng là
vào bên mé thức. Kinh Lăng-già nói :“Tướng sanh chấp ngại,
tưởng sanh vọng tưởng, lưu chú sanh thì theo vọng lưu chuyển”.
Nếu đến địa vô công dụng vẫn còn ở trong tướng lưu
chú, phải ra khỏi cái tướng lưu chú sanh thứ ba mới sống
vui thích tự tại. Vì thế Qui Sơn hỏi Ngưỡng Sơn: Huệ Tịch
con thế nào ? Ngưỡng Sơn thưa: “Hòa thượng hỏi kiến giải
của con hay hỏi hạnh giải của con ? Nếu hỏi hạnh giải
của con thì con chẳng biết, nếu hỏi kiến giải như nước
trong một bình rót vào trong một bình.” Nếu được như thế
mới đáng làm thầy một phương. Triệu Châu nói: “trên nước
chảy nhanh đá cầu”, sớm đã lăn trùng trục. Lại khi nhằm
trên nước chảy nhanh đánh, con mắt vừa liếc là đã qua.
Như kinh Lăng Nghiêm nói: Như dòng nước chảy nhanh, trông dường
như lặng lẽ. Cổ nhân nói: Thí như nước chảy nhanh, dòng
nước không dừng đứng, mỗi mỗi chẳng biết nhau, các pháp
cũng như thế. Chỗ đáp của Triệu Châu, ý hàm chứa loại
này.
Vị
Tăng kia lại hỏi Đầu Tử: Trên nước chảy nhanh đá cầu
là thế nào ? Đầu Tử đáp: Niệm niệm chẳng dừng chảy.
Tự nhiên chỗ hỏi kia hợp nhau. Cổ nhân công hạnh miên mật,
đáp được chỉ giống một cái, chẳng cần suy tính. Ông
vừa hỏi, các ngài đã sớm biết chỗ rơi của ông rồi.
Sáu thức của hài nhi tuy nhiên không công dụng, vẫn là niệm
niệm chẳng dừng, như dòng nước chảy ngầm. Đầu Tử đáp
thế ấy, đáng gọi là biện thấu gió đến. Tuyết Đậu
tụng:
TỤNG:
Lục thức vô công thân nhất vấn
Tác gia tằng cộng biện lai đoan
Mang mang cấp thủy đả cầu tử
Lạc xứ bất đình thùy giải khan ?
DỊCH:
Sáu thức không công bày một hỏi
Tác gia từng hợp biện nguyên do
Mênh mông nước chảy đánh cầu ấy
Chỗ rụng chẳng dừng ai biết xem ?
GIẢI
TỤNG: Câu “sáu thức không công bày một hỏi”, cổ nhân
học đạo nuôi dưỡng đến chỗ này, gọi là công không công
cùng anh nhi một loại. Tuy có mắt tai mũi lưỡi thân ý mà
không thể phân biệt sáu trần, bởi không công dụng vậy.
Đã đến điền địa này chính là hàng rồng phục cọp, ngồi
thoát đứng chết. Người nay chỉ đem muôn cảnh trước mắt
một lúc hết sạch, đâu hẳn Bát địa trở lên mới là như
thế. Tuy nhiên chỗ không công dụng, như trước núi là núi
nước là nước. Phần trước Tuyết Đậu tụng “trong sống
có mắt lại đồng chết, thuốc kỵ đâu cần xét tác gia”.
Bởi vì Triệu Châu, Đầu Tử là tác gia, nên nói: “Tác gia
từng hợp biện nguyên do, mênh mông nước chảy đánh cầu
ấy.” Đầu Tử nói: “niệm niệm chẳng dừng chảy”, các
ông lại biết chỗ rơi không ? Tuyết Đậu rốt sau bảo người
tự để mắt xem, thế nên nói: “Chỗ rụng chẳng dừng ai
biết xem ?” Đây là câu sống của Tuyết Đậu, hãy nói rơi
ở chỗ nào ?