TẮC
56: KHÂM SƠN MỘT MŨI PHÁ CỔNG
LỜI
DẪN: Chư Phật chẳng từng ra đời, cũng không một pháp cho
người. Tổ sư chẳng từng Tây sang, chưa bao giờ lấy tâm
truyền trao. Chính vì thời nhân chẳng liễu, hướng ngoài
tìm cầu, trọn chẳng biết dưới gót chân chính mình có một
đoạn đại sự nhân duyên, ngàn thánh dò tìm cũng chẳng được.
Chỉ là hiện nay thấy chẳng thấy, nghe chẳng nghe, nói chẳng
nói, biết chẳng biết, từ chỗ nào được ? Nếu chưa hay
thấu triệt, hãy nhằm trong hang sắn bìm hội lấy, thử cử
xem ?
CÔNG
ÁN: Thiền khách Lương Toại hỏi Khâm Sơn: Khi một mũi tên
phá ba cổng thì thế nào ? Khâm Sơn bảo: Dẫn ông chủ trong
ba cổng ra xem ? Lương nói: Thế ấy thì biết lỗi ắt cải.
Khâm Sơn bảo: Lại đợi khi nào ? Lương nói: Tên tốt bắn
chẳng đến đích, liền ra đi. Khâm Sơn gọi: Xà-lê lại đây
! Lương xoay đầu. Khâm Sơn nắm đứng nói: Một mũi phá ba
cổng hãy gác lại, thử vì Khâm Sơn bắn tên xem ? Lương suy
nghĩ, Khâm Sơn đánh bảy gậy, nói: Hãy cho gã này nghi ba mươi
năm.
GIẢI
THÍCH: Thiền khách Lương Toại cũng thật là một viên chiến
tướng, nhằm trong tay Khâm Sơn xoay trái lộn phải, khiến
rơi roi rớt dây, rốt sau đáng tiếc cung gãy tên mất. Tuy
nhiên như thế, tướng quân họ Lý tự có tiếng khen, chẳng
được phong hầu cũng là nhàn. Công án này một ra một vào,
một bắt một thả, đương cơ thấy mặt đề, thấy mặt
đương cơ nhanh, trọn chẳng rơi nơi có không được mất,
gọi là huyền cơ, nhìn qua thấy có chút ít lực lượng, liền
có chỗ sẩy chân. Vị Tăng này cũng là hàng Thiền tăng anh
linh, đặt câu hỏi quả là kinh quần. Khâm Sơn là bậc Tông
sư tác gia, liền biết chỗ rơi của câu hỏi. Câu hỏi “khi
một mũi tên thấu ba cổng thì thế nào”, ý Khâm Sơn trả
lời, ông bắn được hãy gác qua, thử dẫn ông chủ trong
ba cổng ra xem ? Lương nói “thế ấy thì biết lỗi ắt cải”,
quả thật kỳ đặc. Khâm Sơn bảo: “Lại đợi khi nào ?”
Xem kia đối đáp thế ấy, chỗ hỏi của Khâm Sơn không có
chút ít thiếu trống. Sau Thiền khách Lương lại nói: “tên
tốt bắn chẳng đến đích”, phủi áo ra đi. Khâm Sơn vừa
thấy y nói thế ấy, liền gọi: Xà-lê lại đây ! Thiền khách
Lương quả nhiên nắm chẳng đứng, xoay đầu lại. Khâm Sơn
nắm đứng nói: “Một mũi thấu ba cổng gác lại, hãy vì
Khâm Sơn bắn tên xem ?” Lương suy nghĩ, Khâm Sơn đánh bảy
gậy, theo sau cho y một câu chú “hãy cho gã này nghi ba mươi
năm”. Hiện nay một số thiền hòa tử trọn bảo: Vì sao
chẳng đánh tám gậy hay sáu gậy, chỉ đánh bảy gậy ? Kia
bảo thử vì Khâm Sơn bắn tên xem, liền đánh. Thế là giống
thì cũng giống, phải thì chưa phải. Công án này phải trong
hông ngực chẳng chứa tí xíu đạo lý so sánh, vượt ngoài
ngôn ngữ, mới có một câu phá ba cổng và có chỗ bắn tên.
Nếu còn phải và quấy thì dò tìm chẳng được. Vị Tăng
khi ấy, nếu là hảo hán Khâm Sơn cũng bị nguy hiểm, đã
không thể hành lệnh này, chẳng khỏi đảo hành. Hãy nói
ông chủ trong cổng cứu kính là người nào ? Xem Tuyết Đậu
tụng ra:
TỤNG:
Dữ quân phóng xuất quan trung chủ
Phóng tiễn chi đồ mạc mãng lỗ
Thủ cá nhãn hề nhĩ tất lung
Xả cá nhĩ hề mục song cổ.
Khả lân nhất phốc phá tam quan
Đích đích phân minh tiễn hậu lô.
Quân bất kiến
Huyền Sa hữu ngôn hề
Đại trượng phu tiên thiên vi tâm Tổ.
DỊCH:
Chủ nhân trong cổng vì anh dẫn
Những kẻ bắn tên chớ sơ hở
Giữ con mắt chừ tai điếc rồi
Bỏ lỗ tai chừ hai mắt tối.
Đáng thương một mũi phá tam quan
Quả thật đường sau tên quá rõ.
Anh chẳng thấy
Huyền Sa có lời chừ
Đại trượng phu tiên thiên là tâm Tổ.
GIẢI
TỤNG: Bài tụng này có mấy câu rút trong bài tụng Qui Tông.
Ngày xưa Qui Tông nhân làm bài tụng nên lấy hiệu là Qui Tông.
Trong tông môn gọi đó là nói lên tông chỉ. Sau này Đồng
An nghe chuyện bảo: Lương Công khéo bắn tên mà không hay trúng
đích. Có vị Tăng hỏi: Thế nào được trúng đích ? Đồng
An bảo: Chủ trong cổng là người nào ? Sau có vị Tăng thuật
lại cho Khâm Sơn, Khâm Sơn nói: Lương Công thế ấy vẫn chưa
khỏi được cái miệng Khâm Sơn. Tuy nhiên như thế, Đồng
An chẳng phải hảo tâm. Tuyết Đậu nói “chủ nhân trong
cổng vì anh dẫn”. Mở mắt cũng đúng, nhắm mắt cũng đúng
có hình không hình thảy đều chặt làm ba khúc. Câu “những
kẻ bắn tên chớ sơ hở”, nếu bắn tên giỏi thì chẳng
sơ hở, nếu bắn tên dở thì bắn là sơ hở. Hai câu “giữ
con mắt chừ tai điếc rồi, bỏ lỗ tai chừ hai mắt tối”,
hãy nói giữ con mắt vì sao lỗ tai điếc ? Bỏ lỗ tai vì
sao hai mắt tối ? Lời này phải không giữ bỏ mới hay thấu
được, nếu có giữ bỏ thì khó thấy. Hai câu “đáng thương
một mũi phá tam quan, quả thật đường sau tên quá rõ”:
Khi Thiền khách Lương hỏi thế nào một mũi phá ba cổng,
Khâm Sơn bảo dẫn ông chủ trong cổng ra xem, cho đến rốt
sau công án của Đồng An thảy là đường sau của tên. Cứu
kính phải thế nào ? “Anh chẳng thấy, Huyền Sa có lời chừ,
đại trượng phu tiên thiên là tâm Tổ.” Bình thường cho
tâm là cực tắc Tổ tông. Trong đây tại sao trước khi
trời đất chưa sanh vẫn cho là Tổ của tâm này ? Nếu
biết rõ cái thời tiết này mới rõ được ông chủ trong
cổng. Quả thậtõ đường sau tên quá rõ, nếu cần trúng
đích sau mũi tên rõ ràng có đường. Hãy nói thế nào là
đường sau mũi tên ? Phải tự đem hết tinh thái mới được.
Câu “đại trượng phu tiên thiên là tâm Tổ”, Huyền Sa
thường lấy câu này dạy chúng, đây là trong tụng Qui Tông.
Tuyết Đậu lầm dùng cho là lời của Huyền Sa. Hiện nay người
tham học cho tâm này là Tổ tông, dù tham đến đức Phật
Di-lặc ra đời cũng chưa hội. Nếu là kẻ đại trượng phu,
tâm vẫn là con cháu. Trời đất chưa phân đã là đầu thứ
hai. Hãy nói chính khi ấy, làm sao là trước trời đất ?
?
TẮC
57: TRIỆU CHÂU KẺ TỚ RUỘNG NHÀ
LỜI
DẪN: Trước khi chưa thấu được, như núi bạc vách sắt,
đến khi thấu được, chính mình xưa nay là vách sắt núi
bạc. Hoặc có người hỏi: Phải làm sao ? Chỉ nói với y:
Nếu nhằm trong ấy bày được một cơ thấy được một cảnh,
ngồi đoạn yếu tân, chẳng thông phàm Thánh, chưa là việc
phần ngoại. Nếu chưa được như thế, xem lấy bóng dáng
cổ nhân.
CÔNG
ÁN: Tăng hỏi Triệu Châu: “Chí đạo không khó, chỉ hiềm
giản trạch”, thế nào là chẳng giản trạch ? Triệu Châu
đáp: Trên trời dưới trời, chỉ ta hơn hết. Tăng thưa:
Đây vẫn là giản trạch. Triệu Châu bảo: Kẻ tớ ruộng
nhà, chỗ nào là giản trạch ? Tăng không đáp được.
GIẢI
THÍCH: Tăng hỏi Triệu Châu chí đạo không khó chỉ hiềm
giản trạch, trong bài Tín Tâm Minh của Tam Tổ mở đầu là
hai câu này. Có nhiều người hiểu lầm. Vì sao ? Chí đạo
vốn không khó cũng không chẳng khó, chỉ là chỉ hiềm giản
trạch. Nếu hiểu thế ấy một muôn năm cũng chưa mộng thấy.
Triệu Châu thường lấy câu này hỏi người. Vị Tăng đem
câu này hỏi lại Triệu Châu. Nếu nhằm trên ngôn cú tìm
thì vị Tăng này là kinh thiên động địa. Nếu chẳng ở
trên ngôn cú lại làm sao ? - Lại tham ba mươi năm, cây chốt
cửa này phải xoay được mới mong mở ra. Nhổ râu cọp phải
là có thủ đoạn bổn phận mới được. Vị Tăng này chẳng
ngại nguy vong, dám nhổ râu cọp, nói rằng: “Vẫn còn giản
trạch.” Triệu Châu nhằm miệng liền bít, nói: “Kẻ tớ
ruộng nhà, chỗ nào là giản trạch ?” Nếu hỏi đến kẻ
khác liền thấy tay chân rối loạn, đâu ngờ lão này là bậc
tác gia, nhằm chỗ động không được liền động, chỗ xoay
không được liền xoay. Nếu ông thấu được, tất cả ngôn
cú ác độc, nhẫn đến ngàn sai muôn trạng hí luận ở thế
gian, đều là thượng vị đề-hồ. Nếu đến được chỗ
thật, mới thấy Triệu Châu lòng son từng mảnh. Kẻ tớ ruộng
nhà là tiếng người làng Phước Đường mắng người giống
như không ý trí. Vị Tăng này nói “vẫn còn giản trạch”.
Triệu Châu bảo: “Kẻ tớ ruộng nhà, chỗ nào là giản trạch
?” Cặp mắt Tông sư phải đến thế ấy, như chim cánh vàng
vạch biển bắt rồng nuốt. Tuyết Đậu tụng ra:
TỤNG:
Tợ hải chi thâm
Như sơn chi cố
Văn manh lộng không lý mãnh phong
Lữ nghị hám ư thiết trụ.
Giản hề trạch hề
Đương hiên bố cổ.
DỊCH:
Giống như biển sâu
Dường thể núi cứng
Muỗi nhặng ở trong gió mạnh đùa
Cào kiến lay cây cọc sắt.
Giản chừ trạch chừ
Ngay hiên treo trống.
GIẢI
TỤNG: Tuyết Đậu chú hai câu “giống như biển sâu, dường
thể núi cứng”. Tăng nói vẫn là giản trạch. Tuyết Đậu
nói vị Tăng này giống như “muỗi nhặng ở trong gió mạnh
đùa, cào kiến lay cây cọc sắt”. Tuyết Đậu khen ông ấy
lớn mật. Vì sao ? Đây là người trên dùng mà y dám nói thế
ấy. Triệu Châu cũng không tha y, nói: “Kẻ tớ
ruộng nhà, chỗ nào là giản trạch ?” Đâu chẳng phải gió
mạnh cọc sắt sao ? Hai câu “giản chừ trạch chừ, ngay hiên
treo trống”, rốt sau Tuyết Đậu đề khởi bảo cho được
sống. Nếu biết được mười phần minh bạch, sau này ông
tự liễu vậy. Tại sao ? Đâu chẳng thấy nói: Muốn được
thân thiết, chớ đem hỏi đến hỏi. Thế nên “ngay hiên
treo trống”.
?
TẮC
58: TRIỆU CHÂU BỐI RỐI
CÔNG
ÁN: Tăng hỏi Triệu Châu: “Chí đạo không khó, duy hiềm
giản trạch”, phải là sào huyệt của thời nhân chăng ?
Triệu Châu đáp: “Đã có người hỏi tôi, mà mãi đến năm
năm vẫn còn bối rối.”
GIẢI
THÍCH: Triệu Châu bình sanh chẳng hành gậy hét, mà dùng được
còn hơn gậy hét. Vị Tăng này hỏi rất kỳ quái, nếu không
phải là Triệu Châu thì khó đáp được cho y. Bởi Triệu
Châu là hàng tác gia, chỉ nói với y “đã có người hỏi
tôi, mãi đến năm năm vẫn còn bối rối”. Chỗ hỏi vách
cao ngàn nhẫn, chỗ đáp cũng chẳng nhẹ hơn. Nếu thế ấy
hội, chính là đương đầu, nếu chẳng thế ấy hội, chớ
khởi so tính đạo lý. Đâu chẳng thấy Tông Đạo giả trụ
Đầu Tử, lúc còn ở trong hội Tuyết Đậu làm thơ ký, Tuyết
Đậu dạy tham “chí đạo không khó, duy hiềm giản trạch”,
nơi đây có tỉnh. Một hôm, Tuyết Đậu hỏi: Chí đạo không
khó, duy hiềm giản trạch, ý nghĩa thế nào ? Tông nói: Súc
sanh, súc sanh. Sau Tông ở ẩn tại Đầu Tử, phàm đi trụ
trì đều lấy cà-sa gói giầy cỏ chung với kinh sách.
Có vị Tăng hỏi: Thế nào là tông phong của Đạo giả ? Tông
đáp: Cà-sa gói giầy cỏ. Tăng hỏi: Chưa biết ý chỉ thế
nào ? Tông nói: Dưới chân trần toàn gai góc. Vì thế, nói
cúng Phật chẳng ở nhiều hương, nếu vượt qua khỏi thì
bắt tha tại ta. Đã là một hỏi một đáp rõ ràng hiện thành,
tại sao Triệu Châu lại nói bối rối ? Hãy nói phải là sào
huyệt của thời nhân chăng ? Triệu Châu ở trong sào huyệt
đáp y, hay ở ngoài sào huyệt đáp y ? Phải biết việc này
không ở trên ngôn cú. Có người tin được đến thấu xương
thấu tủy, như rồng gặp nước, tợ cọp tựa núi.
TỤNG:
Tượng vương tần thân
Sư tử hao hống
Vô vị chi đàm
Tắc đoạn nhân khẩu
Nam Bắc Đông Tây
Ô phi thố tẩu.
DỊCH:
Voi chúa gầm gừ
Sư tử hầm hét
Nói bàn vô vị
Miệng người bít lấp
Nam Bắc Đông Tây
Quạ bay thỏ chạy.
GIẢI
TỤNG: Triệu Châu nói đã có người hỏi tôi, mãi đến năm
năm vẫn còn bối rối, giống như “voi chúa gầm gừ, sư
tử hầm hét”. Bốn câu sau “nói bàn vô vị, miệng người
bít lấp, Nam Bắc Đông Tây, quạ bay thỏ chạy”, Tuyết Đậu
nếu không có câu rốt sau thì chỗ nào lại có Tuyết Đậu
? Đã là quạ bay thỏ chạy, hãy nói Triệu Châu, Tuyết Đậu,
Sơn tăng cứu kính rơi ở chỗ nào ?
?
TẮC
59: TRIỆU CHÂU SAO CHẲNG DẪN HẾT
LỜI
DẪN: Trùm trời bao đất, vượt Thánh siêu phàm, trên đầu
trăm cỏ chỉ ra Niết-bàn diệu tâm, trong rừng binh khí điểm
định được mạng mạch của Thiền tăng. Hãy nói thừa ân
lực người nào được thế ấy, thử cử xem ?
CÔNG
ÁN: Tăng hỏi Triệu Châu: “Chí đạo không khó, duy hiềm
giản trạch” vừa có nói năng là giản trạch, Hòa thượng
vì người thế nào ? Triệu Châu bảo: Sao chẳng dẫn hết
lời này ? Tăng thưa: Con chỉ nhớ đến đó. Triệu Châu bảo:
Chỉ là chí đạo không khó, duy hiềm giản trạch.
GIẢI
THÍCH: Triệu Châu nói chỉ là chí đạo không khó, duy hiềm
giản trạch, như chọi đá nháng lửa, tợ làn điện chớp,
bắt tha sống chết, được tự tại như thế. Các nơi đều
nói: Triệu Châu có lối biện luận siêu quần. Triệu Châu
bình thường dạy chúng có một thiên này: Chí đạo không
khó, duy hiềm giản trạch, vừa có nói năng là giản trạch
là minh bạch. Lão tăng chẳng ở trong minh bạch, các ông lại
tiếc giữ hay không ? Có vị Tăng hỏi: Đã chẳng ở trong
minh bạch lại tiếc giữ cái gì ? Triệu Châu nói: Ta cũng
không biết. Tăng thưa: Hòa thượng đã không biết, vì sao
nói chẳng ở trong minh bạch ? Triệu Châu bảo: Hỏi việc
thì được, lễ bái rồi ra. Về sau, vị Tăng này chỉ bám
chỗ sơ hở kia đi hỏi Triệu Châu, hỏi hẳn là kỳ đặc,
song chỉ là tâm hành. Nếu là người khác không làm gì được
y, nhưng với Triệu Châu là hàng tác gia, liền nói “sao chẳng
dẫn hết lời này”. Vị Tăng cũng biết chuyển thân nhả
hơi, liền nói “con chỉ nhớ đến đó”, dường như đã
được an bài. Triệu Châu tùy thanh niêm khởi liền đáp chẳng
cần suy tính. Cổ nhân gọi đó là tương tục, cũng rất khó.
Sư biện rồng rắn, phân tốt xấu, quả là hàng bổn phận
tác gia. Triệu Châu móc đi tròng mắt của vị Tăng này, mà
chẳng phạm mũi nhọn, chẳng mắc suy tính, tự nhiên hay khéo.
Ông gọi là câu có cũng chẳng được, gọi là câu không cũng
chẳng được, gọi là câu chẳng có chẳng không cũng chẳng
được, ly tứ cú tuyệt bách phi. Vì sao ? Nếu luận việc
này như chọi đá nháng lửa, tợ làn điện chớp, phải nhìn
nhanh mới thấy. Nếu là trù trừ nghĩ nghị chẳng khỏi tan
thân mất mạng. Tuyết Đậu tụng ra:
TỤNG:
Thủy sái bất trước
Phong xuy bất nhập
Hổ bộ long hành
Quỉ hào thần khấp
Đầu trường tam xích tri thị thùy ?
Tương đối vô ngôn độc túc lập.
DỊCH:
Nước rưới chẳng dính
Gió thổi chẳng lọt
Cọp bước rồng đi
Quỉ than thần khóc
Đầu dài ba thước biết là ai ?
Đối diện không lời một chân đứng.
GIẢI
TỤNG: Bốn câu “nước rưới chẳng dính, gió thổi chẳng
lọt, cọp bước rồng đi, quỉ than thần khóc”, khó có chỗ
cho ông gặm nhấm. Bốn câu tụng này là lời đáp của Triệu
Châu, giống như rồng bay cọp nhảy. Vị Tăng này chỉ được
một trường xấu hổ. Chẳng những vị Tăng này, dù cho quỉ
cũng than, thần cũng khóc, giống như gió thổi cỏ nghiêng.
Hai câu rốt sau đáng gọi là người thân được, “đầu
dài ba thước biết là ai, đối diện không lời một chân
đứng”. Có vị Tăng hỏi cổ đức: Thế nào là Phật ? Cổ
đức đáp: Đầu dài ba thước, cổ dài hai tấc. Tuyết Đậu
dẫn dùng, chưa biết quí vị lại hiểu chăng ? Sơn tăng cũng
chẳng hiểu. Tuyết Đậu một lúc thoát thể vẽ ra hình Triệu
Châu ở đây rồi. Quí vị phải chín chắn để mắt xem.
?
TẮC
60: VÂN MÔN CÂY GẬY HÓA RỒNG
LỜI
DẪN: Chư Phật cùng chúng sanh xưa nay không khác, núi sông
cùng chính mình đâu có sai biệt, vì sao lại lẫn thành hai
bên ? Nếu hay xoay lăn thoại đầu, ngồi đoạn yếu tân, bỏ
qua tức chẳng được. Nếu chẳng bỏ qua thì trọn đại địa
chẳng tiêu một cái nắm. Thế nào là chỗ xoay lăn thoại
đầu, thử cử xem ?
CÔNG
ÁN: Vân Môn cầm cây gậy chỉ chúng nói: Cây gậy hóa làm
rồng, nuốt hết càn khôn rồi vậy, núi sông đất liền chỗ
nào được ?
GIẢI
THÍCH: Như Vân Môn nói cây gậy hóa làm rồng, nuốt hết càn
khôn rồi vậy, núi sông đất liền chỗ nào được ? Nếu
nói có ắt mù, nếu nói không ắt chết, lại thấy Vân Môn
chỗ vì người chăng ? Trả cây gậy lại cho ta. Người nay
chẳng hội chỗ riêng bày của Vân Môn, lại nói tức sắc
minh tâm, gá vật bày lý. Như đức Phật Thích-ca bốn mươi
chín năm thuyết pháp, không thể không biết cái nghị luận
này, cớ sao lại đưa cành hoa, Ca-diếp cười chúm chím ? Ông
già này lại hồ đồ nói: Ta có chánh pháp nhãn tạng Niết-bàn
diệu tâm, phân phó cho Ma-ha Ca-diếp. Lại đâu cần riêng truyền
tâm ấn. Quí vị đã là khách dưới cửa Tổ sư, lại rõ
được cái tâm riêng truyền chăng ? Trong ngực nếu có một
vật thì núi sông đất liền quả nhiên hiện tiền, trong ngực
nếu không một vật thì bên ngoài toàn không mảy tơ, nói
gì lý cùng trí hiệp, cảnh cùng thần hội. Cớ sao ? Bởi
một hội thì tất cả hội, một sáng thì tất cả sáng. Trường
Sa nói: “Người học đạo mà chẳng biết chân, chỉ vì từ
xưa nhận thức thần, vô lượng kiếp nay gốc sanh tử, kẻ
si liền gọi người xưa nay.” Nếu chợt đập tan ấm giới,
thân tâm nhất như, ngoài thân không thừa, vẫn chưa được
một nửa, nói gì là tức sắc minh tâm, gá vật bày lý. Cổ
nhân nói: Một hạt bụi vừa dấy, đại địa toàn thâu. Hãy
nói là hạt bụi nào ? Nếu biết được hạt bụi này thì
biết được cây gậy. Vừa nắm cây gậy đưa lên liền thấy
tung hoành diệu dụng. Nói thoại thế ấy, sớm thành sắn
bìm rồi, huống là lại hóa làm rồng. Tạng chủ Khánh nói:
5048 quyển lại có nói thoại thế ấy chăng ? Vân Môn có khi
nhằm chỗ cây gậy đưa ra toàn cơ đại dụng, vì người
một cách linh động. Ba Tiêu dạy chúng: Lỗ mũi của Thiền
tăng trọn ở trên đầu cây gậy. Vĩnh Gia cũng nói: “Chẳng
phải tiêu hình việc truyền rỗng, gậy báu Như Lai còn dấu
vết.” Thuở xưa Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng trải tóc
trên bùn để đón Phật kia. Phật Nhiên Đăng nói: Chỗ này
nên cất chùa. Khi ấy có một vị Thiên tử bèn cặm một
cọng cỏ, nói: Cất chùa xong. Quí vị hãy nói tin tức này
từ chỗ nào được ? Tổ sư nói: Đầu gậy thủ chứng, dưới
hét thừa đương. Hãy nói thừa đương cái gì ? Chợt có người
hỏi thế nào là cây gậy, phải chăng liền nhào lộn ? phải
chăng liền vỗ tay ? Thảy đều là đùa tinh hồn, tức cười
không dính dáng. Tuyết Đậu tụng ra:
TỤNG:
Trú trượng tử thôn càn khôn
Đồ thuyết đào hoa lãng bôn
Thiêu vĩ giả bất tại noa vân quặc vụ
Bộc tai giả hà tất táng đảm vong hồn.
Niêm liễu giả
Văn bất văn
Trực tu sái sái lạc lạc
Hưu cánh phân phân vân vân
Thất thập nhị bổng thả khinh thứ
Nhất bách ngũ thập nan phóng quân.
DỊCH:
Cây gậy này nuốt càn khôn
Luống nói hoa đào sóng đưa
Đốt đuôi nào bởi gom mây cuộn mù
Phơi mang nào hẳn vỡ mật mất hồn.
Niêm rồi vậy
Nghe chẳng nghe
Phải là sạch trọi thong dong
Thôi lại lăng xăng rối rắm
Bảy mươi hai gậy vẫn tha nhẹ
Một trăm năm chục khó cho anh.
Sư cầm gậy bước xuống tòa, đại chúng một lúc chạy tan.
GIẢI
TỤNG: Vân Môn vì người chìu uốn, Tuyết Đậu vì người
chặt thẳng. Do đó, bác hẳn hóa làm rồng, không nhận nói
như thế chỉ là “cây gậy này nuốt càn khôn”. Đại ý
Tuyết Đậu muốn khởi tình giải của người, nên nói “luống
nói hoa đào sóng đưa”, chẳng cần hóa làm rồng. Bởi Võ
môn có ba cấp sóng, mỗi năm đến tháng ba hoa đào trôi theo
sóng, những cá lớn hay lội ngược nước nhảy qua sóng liền
hóa làm rồng. Tuyết Đậu nói dù hóa làm rồng cũng là nói
suông. “Đốt đuôi nào bởi gom mây cuộn mù”, con cá nhảy
qua được Võ môn, tự có lửa trời đốt đuôi của nó, rồi
gom mây cuộn mù bay đi. Ý Tuyết Đậu nói dù hóa làm rồng
cũng chẳng ở chỗ gom mây cuộn mù. “Phơi mang nào hẳn vỡ
mật mất hồn”, lời tựa trong Thanh Lương sớ nói: “Chứa
chất hạnh Bồ-tát còn phải phơi mang ở Long môn.” Đại
ý nói cảnh giới Hoa Nghiêm chẳng phải người tiểu đức
tiểu trí đến được, như con cá nhảy qua Long môn, qua chẳng
khỏi bị điểm trán trở lại, phải chịu khốn nơi bãi cát
vũng cạn, phơi mang vậy. Ý Tuyết Đậu nói đã điểm trán
trở lại ắt vỡ mật tan hồn. “Niêm rồi vậy, nghe chẳng
nghe”, lại chú cước ở dưới rằng một lúc vì ông quét
sạch rồi. Quí vị “phải là sạch trọi thong dong, thôi chớ
lăng xăng rối rắm”. Nếu ông lại lăng xăng rối rắm thì
mất đi cây gậy rồi. “Bảy mươi gậy vẫn tha nhẹ”, Tuyết
Đậu vì ông tha cái nặng dùng cái nhẹ. Cổ nhân nói: Bảy
mươi hai gậy trở thành một trăm năm mươi. Người nay hiểu
lầm lại tính theo số mục, lý đáng phải bảy mươi lăm
gậy, vì sao chỉ có bảy mươi hai gậy ? Đâu chẳng biết
cổ nhân ý tại ngôn ngoại. Vì thế nói: Việc này không ở
trong ngôn cú, khỏi bị người sau xuyên tạc. Lý do Tuyết
Đậu dẫn dụng, dù cho ông được sạch trọi thong dong, chính
nên cho ông bảy mươi hai gậy, vẫn là tha nhẹ. Nếu không
được như thế, một trăm năm mươi gậy khó tha anh. Một
lúc tụng xong, lại cầm cây gậy lớp lớp vì nhau. Tuy nhiên
thế ấy, cũng không một người trong da có máu.