TẮC
36: TRƯỜNG SA CỎ THƠM HOA RỤNG
CÔNG
ÁN:Một hôm Trường Sa đi dạo núi về đến cửa cổng, Thủ
tọa hỏi: Hòa thượng đi đâu về ? Trường Sa đáp: Đi dạo
núi về. Thủ tọa hỏi: Đến chỗ nào đi về ? Trường Sa
đáp: Trước tùy cỏ thơm đến, sau theo hoa rụng về. Thủ
tọa nói: Rất giống ý xuân. Trường Sa nói: Cũng hơn giọt
sương thu trên hoa sen. (Tuyết Đậu trước ngữ: Tạ đáp thoại.)
GIẢI
THÍCH: Đại sư Chiêu Hiền ở Lộc Uyển Trường Sa kế thừa
Nam Tuyền, cùng Triệu Châu, Tử Hồ đồng bạn. Sư cơ phong
nhanh nhẹn, có người hỏi kinh lấy kinh đáp, cần tụng dùng
tụng đáp. Nếu ông cần tác gia thấy nhau thì dùng tác gia
thấy nhau. Ngưỡng Sơn bình thường cơ phong thật là bậc
nhất, một hôm cùng Trường Sa xem trăng, Ngưỡng Sơn chỉ
mặt trăng nói: Mỗi người trọn có cái này, chỉ vì dùng
chẳng được. Trường Sa bảo: Được rồi ta dùng thay cho
ông. Ngưỡng Sơn nói: Sư thúc dùng xem! Trường Sa cho một
đạp té nhào. Ngưỡng Sơn đứng dậy nói: Sư thúc giống
như con cọp. Người sau gọi là con cọp Sầm. Một hôm nhân
đi dạo núi về, Thủ tọa cũng là người trong hội của Sư,
hỏi: Hòa thượng đi đâu về ? Trường Sa đáp: Đi dạo núi
về. Thủ tọa hỏi: Đến chỗ nào đi về ? Trường Sa đáp:
Trước tùy cỏ thơm đến, sau theo hoa rụng về. Phải là người
ngồi đoạn mười phương mới được. Cổ nhân ra vào chưa
từng chẳng lấy việc này làm niệm. Xem kia chủ khách lẫn
xoay, đương cơ chặt thẳng, mỗi bên chẳng dung. Đã là đi
dạo núi, tại sao hỏi đến chỗ nào đi về ? Nếu là Thiền
tăng thời nay liền đáp đến đình Giáp Sơn về. Thấy rõ
cổ nhân không có mảy may đạo lý so sánh, cũng không có chỗ
trụ trước, vì thế nói “trước tùy cỏ thơm đến, sau
theo hoa rụng về”. Thủ tọa thể theo ý kia nói: Rất giống
ý xuân. Trường Sa bảo: Cũng hơn giọt sương thu trên hoa sen.
Tuyết Đậu nói: Tạ đáp thoại. Đó là thế cho lời rốt
sau, cũng rơi vào hai bên, mà cứu cánh chẳng ở hai bên. Thuở
xưa có Tú tài Trương Chuyết xem kinh Thiên Phật Danh, hỏi
Trường Sa: Trăm ngàn chư Phật chỉ nghe danh, chưa biết ở
quốc độ nào, lại có giáo hóa hay không ? Trường Sa đáp:
Lầu Hoàng Hạc sau khi Thôi Hạo đề thi, Tú tài từng đề
hay chưa ? Chuyết đáp: Chưa từng đề. Trường Sa bảo: Được
rảnh đề lấy một thiên cũng tốt. Con cọp Sầm bình sanh
vì người thường là châu hồi ngọc chuyển, cần người
đối diện liền hội.
TỤNG:
Đại địa tuyệt tiêm ai
Hà nhân nhãn bất khai
Thủy tùy phương thảo khứ
Hựu trục lạc hoa hồi
Luy hạc kiều hàn mộc
Cuồng viên khiếu cổ đài
Trường Sa vô hạn ý.
Đốt!
DỊCH:
Đại địa không mảy bụi
Người nào mắt chẳng khai
Trước tùy cỏ thơm đến
Sau theo hoa rụng về
Hạc gầy đậu cây lạnh
Vượn cuồng kêu cổ đài
Trường Sa ý vô hạn.
Đốt!
GIẢI
TỤNG: Hãy nói công án này cùng “Ngưỡng Sơn hỏi Tăng vừa
rời chỗ nào đến, Tăng thưa Lô Sơn đến, Ngưỡng Sơn hỏi
từng đến Ngũ Lão Phong chăng, Tăng thưa chẳng từng đến,
Ngưỡng Sơn nói Xà-lê chưa từng dạo núi”, biện trắng
đen xem là đồng là khác ? Đến trong đây phải là bộ máy
hỏng, ý thức mất, núi sông đất liền cỏ cây người súc
không còn ít phần rỉ chảy. Nếu chẳng như thế, cổ nhân
gọi đó vẫn còn ở trong cảnh giới thắng diệu. Vân Môn
nói: “Dù được sơn hà đại địa không còn một mảy may
lỗi lầm vẫn là “chuyển cú”, chẳng thấy tất cả sắc
mới là ‘bán đề’, lại phải biết có cơ hội toàn đề
then chốt hướng thượng mới biết ngồi an.” Nếu thấu
được như trước núi là núi, nước là nước, mỗi cái ở
bản vị của nó, mỗi cái bày hiện bản thể, như cái vỗ
của người mù. Triệu Châu nói: “Gà gáy sớm tỉnh dậy,
buồn thay còn lân đận, chiếc quần đùi áo lót vẫn không,
hình tướng ca-sa có chút ít. Quần không trôn, khố chẳng
miệng, trên đầu tro xanh năm ba đấu, vốn vì tu hành lợi
tế người, ai biết trở thành kẻ vô dụng.” Nếu được
chân thật đến cảnh giới này thì “Người nào mắt chẳng
khai”. Dù cho bảy điên tám đảo, tất cả chỗ đều là
cảnh giới này, đều là thời tiết này, mười phương bầu
trời rỗng, bốn mặt cửa cũng không. Vì thế nói “Trước
tùy cỏ thơm đến, sau theo hoa rụng về”. Tuyết Đậu thật
là khéo léo, chỉ đến bên phải dán một câu, bên trái dán
một câu, liền thành bài thi, “Hạc gầy đậu cây lạnh,
vượn cuồng kêu cổ đài”. Tuyết Đậu dẫn đến đây tự
biết ló đuôi, bèn nói “Trường Sa ý vô hạn, đốt”, như
đang mộng chợt tỉnh. Tuyết Đậu tuy hạ một tiếng hét
cũng chưa được gột sạch. Nếu là Sơn tăng thì chẳng vậy,
“Trường Sa ý vô hạn, đào đất lại chôn sâu”.
?
TẮC
37: BÀN SƠN TAM GIỚI KHÔNG PHÁP
LỜI
DẪN: Cơ điện chớp luống nhọc suy tư, tiếng sét trên không
bịt tai nào kịp, trên đầu cắm cờ đỏ, sau lỗ tai huơi
hai kiếm, nếu không phải mắt nhanh tay lẹ làm sao chụp được.
Có một loại cúi đầu suy nghĩ, dưới ý căn so lường, đâu
biết trước đầu lâu thấy quỉ vô số. Hãy nói chẳng rơi
vào ý căn, chẳng ôm được mất, chợt có nhắc biết thế
ấy làm sao đáp được, thử cử xem?
CÔNG
ÁN: Bàn Sơn dạy rằng: Tam giới không pháp, chỗ nào tìm tâm
?
GIẢI
THÍCH: Hòa thượng Bảo Tích ở Bàn Sơn phía bắc U Châu, là
bậc tôn túc dưới Mã Tổ, sau xuất phát một Phổ Hóa. Sư
sắp tịch bảo chúng: Có người tả được hình ta chăng ?
Chúng đều vẽ hình trình Sư, Sư đều quở đó. Phổ Hóa
ra nói: Con tả được. Sư bảo: Sao chẳng trình cho Lão tăng
? Phổ Hóa liền nhào lộn một cái rồi đi ra. Sư bảo: Gã
này về sau như kẻ điên tiếp người. Một hôm, Sư dạy chúng:
“Tam giới không pháp, chỗ nào tìm tâm, tứ đại vốn không,
Phật nương đâu ở, ngọc tuyền chẳng động, dừng lặng
không tỳ, nhìn mặt trình nhau, lại không việc khác.” Tuyết
Đậu niêm ra hai câu tụng, hẳn là lẫn lộn vàng ngọc. Chẳng
thấy nói: Bệnh rét cách ngày, chẳng nhờ thuốc lô đà. Sơn
tăng vì sao nói theo tiếng liền đánh, chỉ vì kia mang gông
đi cáo. Người xưa nói: Nghe tiếng khen ngoài câu, chớ nhằm
trong ý tìm. Hãy nói kia ý thế nào, liền được chạy nhanh
vượt chóng, điện xẹt sao băng. Nếu nghĩ nghị suy lường,
dù có ngàn Phật ra đời mò tìm y chẳng được. Nếu là vào
sâu trong khuôn vức, tột xương tột tủy, thấy được thấu
thì Bàn Sơn một trường thất bại. Nếu nương lời hiểu
tông, xoay mặt xoay trái thì Bàn Sơn chỉ được một cây cọc.
Nếu là dính bùn kẹt nước, xoay quanh trong khối thanh sắc
thì chưa mộng thấy Bàn Sơn. Ngũ Tổ tiên sư nói: Thấu qua
bên kia mới có phần tự do. Đâu chẳng thấy Tam Tổ nói:
“Chấp đó thất độ, ắt vào tà lộ, buông đi tự nhiên,
thể không đi đứng.” Nếu nhằm trong ấy nói không Phật
không pháp lại là chun vào hang quỉ. Cổ nhân gọi đó là
hầm sâu giải thoát, vốn là nhân lành mà chuốc quả dữ.
Vì thế nói người vô vi vô sự vẫn mắc cái nạn khóa vàng.
Phải là tột cùng đáo để mới được. Nếu nhằm chỗ vô
ngôn mà nói được, chỗ hành chẳng được mà hành được,
gọi đó là chỗ chuyển thân. Câu “Tam giới không pháp, chỗ
nào tìm tâm”, nếu ông khởi tình giải thì chết chìm ở
dưới lời nói kia. Chỗ thấy của Tuyết Đậu phủng bảy
thấu tám, cho nên tụng ra:
TỤNG:
Tam giới vô pháp
Hà xứ cầu tâm
Bạch vân vi cái
Lưu tuyền tác cầm
Nhất khúc lưỡng khúc vô nhân hội
Vũ quá dạ đường thu thủy thâm.
DỊCH:
Tam giới không pháp
Chỗ nào tìm tâm
Mây trắng làm lọng
Dòng suối khảy đàn
Một bản hai bản không người hiểu
Mưa xuống hồ đêm nước thu sâu.
GIẢI
TỤNG: Câu “Tam giới không pháp, chỗ nào tìm tâm”, Tuyết
Đậu tụng ra giống như cảnh giới Hoa Nghiêm. Có người nói
Tuyết Đậu trong không xướng ra. Nếu là người mi mắt mở
ra, trọn chẳng hiểu thế ấy. Tuyết Đậu đến bên cạnh
kia dán hai câu “Mây trắng làm lọng, dòng suối khảy đàn”.
Tô Đông Pha tham kiến Chiếu Giác có làm tụng: “Tiếng khe
chính thật lưỡi dài rộng, màu núi quả là thân sạch trong,
đêm về tám vạn bốn ngàn kệ, hôm khác làm sao nói với
người.” Tuyết Đậu mượn dòng suối làm chiếc lưỡi dài.
Vì thế nói “Một bản hai bản không người hiểu”. Hòa
thượng Kiền ở Cửu Phong nói: “Lại biết được mạng
chăng ? - Dòng suối là mạng, lặng lẽ là thân, ngàn sóng
đua dậy là gia phong Văn-thù, một sáng trời trong là cảnh
giới Phổ Hiền.” “Dòng suối khảy đàn, một bản hai bản
không người hiểu”, loại khúc điệu này phải là tri âm
mới hiểu. Nếu chẳng phải người kia thì luống nhọc nghiêng
tai. Cổ nhân nói: Người điếc xướng khúc nhạc nhà Hồ,
hay dở thấp cao thảy chẳng nghe. Vân Môn nói: “Nhắc chẳng
đoái, liền sai lẫn, toan nghĩ suy, kiếp nào ngộ.” Nhắc
là thể, đoái là dụng, trước khi chưa nhắc điềm trước
chưa phân mà thấy được là ngồi đoạn yếu tân. Nếu điềm
trước vừa phân mà thấy được, liền có chiếu dụng. Nếu
sau khi điềm trước phân rồi mà thấy được là rơi tại
ý căn. Tuyết Đậu từ bi quá lắm, lại nói với ông “Mưa
xuống hồ đêm nước thu sâu”. Bài tụng này đã có nhiều
người bàn luận khen Tuyết Đậu có tài hàn lâm. Câu “Mưa
xuống hồ đêm nước thu sâu”, phải để mắt nhìn nhanh,
nếu chậm chạp nghi ngờ thì thảo luận không ra.
?
TẮC
38: PHONG HUYỆT TỔ SƯ TÂM ẤN
LỜI
DẪN: Nếu luận Tiệm, trái thường hợp đạo, trong ồn náo
bảy dọc tám ngang. Nếu luận Đốn chẳng để dấu vết,
ngàn Thánh dò tìm cũng chẳng được. Nếu như chẳng lập
Đốn Tiệm lại làm sao ? Người hay một lời, ngựa hay một
roi, chính khi ấy ai là tác giả, thử cử xem ?
CÔNG
ÁN: Phong Huyệt ở Nha Môn tại Vĩnh Châu, thượng đường
nói: Tâm ấn của Tổ sư như máy trâu sắt, đi liền ấn đứng,
đứng liền ấn phá, chỉ như chẳng đi chẳng đứng ấn tức
phải, chẳng ấn tức phải ? Khi ấy có Trưởng lão Lô Pha
ra chúng hỏi: Tôi có máy trâu sắt thỉnh Thầy chẳng để
tay ấn ? Phong Huyệt nói: Quen câu kình nghê thả cự tẩm,
lại than con ếch nhảy cát bùn. Lô Pha dừng lại tư lự. Phong
Huyệt nạt: Trưởng lão sao không nói lên ? Lô Pha suy nghĩ.
Phong Huyệt đánh một phất tử, nói: Lại nhớ được thoại
đầu chăng, thử cử xem ? Lô Pha toan mở miệng. Phong Huyệt
lại đánh một phất tử. Mục Chủ nói: Pháp Phật cùng pháp
vua một loại. Phong Huyệt hỏi: Thấy đạo lý gì ? Mục Chủ
nói: Đáng đoạn chẳng đoạn, trở lại chuốc loạn. Phong
Huyệt liền xuống tòa.
GIẢI
THÍCH: Phong Huyệt là hàng tôn túc trong tông Lâm Tế. Lâm Tế
buổi đầu trong hội Hoàng Bá đi trồng tùng. Hoàng Bá hỏi:
Trong núi sâu trồng tùng nhiều thế để làm gì ? Lâm Tế
thưa: Một vì Sơn môn làm cảnh, hai vì người sau làm tiêu
bảng. Nói xong liền cuốc đất một cái. Hoàng Bá bảo: Tuy
nhiên như thế, con đã ăn hai mươi gậy rồi. Lâm Tế lại
đập dưới đất một cái, miệng hư hư. Hoàng Bá bảo: Tông
ta đến ngươi hưng thạnh ở đời. Qui Sơn Hiệt nói: “Lâm
Tế thế ấy giống như đất bằng trợt té. Tuy nhiên như
thế, gặp nguy chẳng đổi mới là chân trượng phu. Hoàng
Bá bảo tông ta đến ngươi hưng thạnh ở đời, giống như
thương con chẳng biết hôi.” Sau Qui Sơn hỏi Ngưỡng Sơn:
Hoàng Bá đương thời chỉ phó chúc cho một mình Lâm Tế hay
lại còn ai ? Ngưỡng Sơn thưa: Còn, chỉ vì niên đại dài
lâu chẳng dám thưa trước với Hòa thượng. Qui Sơn bảo:
Tuy nhiên như thế, ta cũng cần biết, hãy nói xem ? Ngưỡng
Sơn thưa: “Một người chỉ Nam, Ngô Việt khiến đi, gặp
Đại Phong liền dừng.” Đây là lời sấm chỉ Phong Huyệt
vậy. Phong Huyệt ban đầu tham kiến Tuyết Phong năm năm, nhân
thưa hỏi câu chuyện “Lâm Tế vào nhà, hai vị Thủ tọa
nhà Đông nhà Tây đồng thời hét, có vị Tăng hỏi Lâm Tế
lại có chủ khách chăng, Lâm Tế nói chủ khách rõ ràng”,
Phong Huyệt nói chưa biết ý chỉ thế nào ? Tuyết Phong bảo:
“Tôi trước cùng Nham Đầu, Khâm Sơn đi yết kiến Lâm Tế,
đến giữa đường nghe tin đã tịch. Nếu cần hiểu câu chủ
khách của Lâm Tế, phải đến tham kiến hàng tôn túc của
tông phái ấy.” Phong Huyệt lại đến yết kiến Thụy Nham.
Thụy Nham thường tự gọi: Ông chủ nhân! Tự đáp: Dạ! Lại
bảo: Tỉnh tỉnh lấy, sau kia chớ để người lừa. Phong Huyệt
nói: Tự đề lên, tự giải lấy có gì là khó. Sau ở Lộc
Môn Tương Châu cùng thị giả Khoách qua hạ, Khoách chỉ Sư
đến tham Nam Viện. Phong Huyệt thưa: Vào cửa phải rành chủ,
rõ ràng thỉnh thầy phân. Một hôm gặp Nam Viện Sư kể chuyện
trước, nói: Con chỉ đến thân cận. Nam Viện bảo: Tuyết
Phong là cổ Phật. Một hôm Sư yết kiến Cảnh Thanh. Cảnh
Thanh hỏi: Vừa rời chỗ nào ? Sư thưa: Tự rời đông đến.
Cảnh Thanh hỏi: Lại qua sông nhỏ chăng? Sư thưa: Thuyền to
vượt ngoài khơi, sông nhỏ không thể chở. Cảnh Thanh bảo:
Sông gương núi vẽ, chim bay chẳng qua, ngươi chớ trộm lấy
lời cao. Sư thưa: Mênh mông còn khiếp thế mông luân, Liệt
Hán buồm bay quá Ngũ Hồ. Cảnh Thanh dựng cây phất tử hỏi:
Làm gì được cái này ? Sư hỏi: Cái này là gì ? Cảnh Thanh
bảo: Quả nhiên chẳng biết. Sư thưa: Ra vào co duỗi cùng
thầy đồng dụng. Cảnh Thanh bảo: Chuôi gáo nghe tiếng rỗng,
ngủ mê mặc nói xàm. Sư thưa: Đầm rộng chứa núi, lý hay
dẹp cọp. Cảnh Thanh bảo: Tha tội thứ lỗi, phải ra đi mau.
Sư thưa: Ra là mất. Liền đi ra đến pháp đường, tự nghĩ
đại trượng phu công án chưa xong há lại chịu thôi. Sư liền
trở vào phương trượng thấy Cảnh Thanh ngồi, thưa: Vừa
rồi con trình kiến giải có xâm phạm đến tôn nhan, cúi mong
Hòa thượng từ bi tha cho những lỗi lầm. Cảnh Thanh hỏi:
Vừa rồi từ đông lại, há chẳng phải Thúy Nham lại ? Sư
thưa: Tuyết Đậu thân nương Bảo Cái đông. Cảnh Thanh bảo:
Chẳng tìm dê mất cuồng giải dứt, lại đến trong này đọc
tập thơ. Sư thưa: Gặp tay kiếm khách nên trình kiếm, chẳng
phải nhà thơ chớ hiến thơ. Cảnh Thanh bảo: Thơ mau đậy
lại, tạm mượn kiếm xem ? Sư thưa: Chặt đầu thợ gốm
mang kiếm đi. Cảnh Thanh bảo: Chẳng những xúc chạm phong
hóa, cũng tự bày lầm lẫn. Sư thưa: Nếu chẳng xúc chạm
phong hóa đâu rõ được tâm cổ Phật. Cảnh Thanh hỏi: Sao
gọi là tâm cổ Phật ? Sư thưa: Tái hứa ưng cho, nay thầy
đâu có. Cảnh Thanh bảo: Thiền tăng đông đến, đậu bắp
chẳng phân. Sư thưa: Chỉ nghe chẳng lấy mà lấy, đâu được
đè lấy mà lấy. Cảnh Thanh bảo: Sóng lớn dấy ngàn tầm,
mòi yên chẳng rời nước. Sư thưa: Một câu bặt dòng, muôn
cơ lặng nghĩ. Sư liền lễ bái. Cảnh Thanh lấy phất tử
điểm ba điểm, nói: Hay thay! Hãy ngồi uống trà.
Sư
ban đầu đến Nam Viện vào cửa chẳng lễ bái. Nam Viện bảo:
Vào cửa cần biện chủ. Sư thưa: Quả nhiên mời Thầy phân.
Nam Viện lấy tay trái vỗ đầu gối một cái, Sư hét. Nam
Viện lấy tay mặt vỗ đầu gối một cái, Sư cũng hét. Nam
Viện đưa tay trái lên nói: Cái này tức từ Xà-lê. Lại đưa
tay mặt lên nói: Cái này lại là sao ? Sư đáp: Mù! Nam Viện
liền chỉ cây gậy. Sư hỏi: Làm gì ? Con đoạt cây gậy đập
Hòa thượng, chớ bảo không nói. Nam Viện liền ném cây gậy,
nói: Ngày nay bị gã Chiết mặt vàng cướp lấy rồi. Sư thưa:
Hòa thượng giống như người mang bát không được, dối nói
chẳng đói. Nam Viện hỏi: Xà-lê đã từng đến đây chăng
? Sư thưa: Là lời gì ? Nam Viện bảo: Khéo khéo hỏi lấy.
Sư thưa: Cũng chẳng được bỏ qua. Nam Viện bảo: Hãy ngồi
uống trà. Các ông xem, dòng anh tuấn tự cơ phong cao vót. Nam
Viện cũng chưa biện được Sư. Đến hôm khác, Nam Viện chỉ
hỏi bình thường: Hạ này ở chỗ nào ? Sư thưa: Ở Lộc
Môn cùng Thị giả Khoách đồng qua hạ. Nam Viện bảo: Vốn
là thân kiến tác gia đến. Lại hỏi: Kia nói với ông cái
gì ? Sư thưa: Trước sau chỉ dạy con một bề làm chủ. Nam
Viện liền đánh đuổi ra khỏi phương trượng, nói: Kẻ này
là loại thua trận có dùng làm gì ? Từ đây Sư chấp nhận
ở trong hội Nam Viện làm Tri viên. Một hôm, Nam Viện vào
trong vườn hỏi: Phương Nam một gậy làm sao thương lượng?
Sư thưa: Khởi kỳ đặc thương lượng, lại hỏi: Ở đây
Hòa thượng làm sao thương lượng ? Nam Viện cầm gậy lên,
nói: Dưới gậy vô sanh nhẫn, lâm cơ chẳng nhượng thầy.
Khi ấy Sư hoát nhiên đại ngộ.
Bấy
giờ nhằm thời Ngũ Đại ly loạn, Mục chủ Vĩnh Châu thỉnh
Sư nhập hạ tại Vĩnh Châu. Chính là lúc một tông Lâm Tế
rất thịnh hành. Sư phàm có vấn đáp chỉ dạy, câu lời
thốt ra hay khéo dường tán hoa rải gấm, chữ chữ đều có
chỗ rơi. Một hôm, Mục chủ thỉnh Sư thượng đường, Sư
bảo chúng: “Tâm ấn Tổ sư như máy trâu sắt, đi liền ấn
đứng, đứng liền ấn phá. Chỉ như chẳng đi chẳng đứng
ấn là phải, chẳng ấn là phải?” Vì sao chẳng giống máy
người đá ngựa gỗ, lại giống máy trâu sắt ? Không có
chỗ cho ông tác động, ông vừa đi liền ấn đứng, ông vừa
đứng liền ấn phá, khiến ông nát trăm mảnh. Chỉ như chẳng
đi chẳng đứng ấn là phải, chẳng ấn là phải ? Xem Sư
dạy thế ấy, đáng gọi là lưỡi câu có mồi. Khi ấy dưới
tòa có Trưởng lão Lô Pha cũng là hàng tôn túc trong tông Lâm
Tế, dám bước ra cùng Sư đối đáp, chuyển thoại đầu của
Sư đặt một câu hỏi rất kỳ đặc. Hỏi: Tôi có máy trâu
sắt, thỉnh Thầy chẳng để tay ấn ? Đâu ngờ Phong Huyệt
là hàng tác gia, liền đáp: “Quen câu kình nghê lặng sông
lớn, lại than con ếch nhảy cát bùn.” Đây là trong lời
nói có âm vang. Vân Môn nói: “Thả câu bốn bể chỉ câu
rồng to, cách ngoại huyền cơ vì tìm tri kỷ.” Sông lớn
lấy con trâu to làm mồi móc câu, lại chỉ câu được một
con ếch. Lời này vẫn không huyền diệu, cũng không đạo
lý suy xét. Cổ nhân nói: Nếu nhằm trên sự xem thì dễ, nếu
nhằm dưới ý căn suy xét thì không giao thiệp. Lô Pha dừng
lại tư lự, thấy đó chẳng lấy, ngàn năm khó gặp, đáng
tiếc thay! Vì thế nói: Dù cho giảng được ngàn kinh luận,
một phen lâm cơ khó buông lời. Kỳ thật Lô Pha cần lựa
lời hay đáp Sư, chẳng muốn hành lệnh, bị Sư một bề dùng
cơ phong giựt cờ cướp trống, một mặt ép tướng chạy,
chỉ được không làm gì. Ngạn ngữ nói: “Trận thua chẳng
cấm bị chổi quét”. Buổi đầu cần tìm thương pháp chống
với người. Đợi ông tìm được thì đầu rơi xuống đất.
Mục chủ cũng đã tham vấn Phong Huyệt lâu rồi, nên hiểu
nói: Pháp Phật cùng pháp vua một loại. Sư hỏi: Ông thấy
gì ? Mục chủ thưa: Đáng đoạn chẳng đoạn, trở lại chuốc
loạn. Phong Huyệt chỉ là một khối tinh thần, giống hệt
trái bầu tròn trên mặt nước, đẩy qua liền xoay, chạm đến
liền động, khéo tùy cơ thuyết pháp. Nếu chẳng tùy cơ trở
thành vọng ngữ. Sư liền xuống tòa. Tông Lâm Tế có bốn
câu chủ khách, người tham học cần phải chín chắn. Như
chủ khách gặp nhau có luận bàn chủ khách qua lại, hoặc
ứng vật hiện hình toàn thể tác dụng, hoặc nắm cơ quyền
cười giận, hoặc hiện nửa thân, hoặc cỡi sư tử, hoặc
cỡi voi chúa. Như có người học chân chánh đến liền hét,
trước đưa ra một chậu keo, Thiện tri thức không biết là
cảnh, liền trên cảnh ấy làm hình làm thức. Người học
lại hét, Thiện tri thức chẳng chịu buông. Đây là bệnh
nhập cao hoang không kham trị chữa, gọi là Khách Xem Chủ.
Hoặc Thiện tri thức chẳng đưa ra vật, tùy chỗ hỏi của
người học liền đoạt. Người học bị đoạt đến chết
chẳng buông. Đây là Chủ Xem Khách. Hoặc người học hiện
ra một cảnh thanh tịnh đưa trước Thiện tri thức, Thiện
tri thức biết được là cảnh, nắm nó ném xuống hầm. Người
học nói: Thiện tri thức rất hay. Thiện tri thức đáp: Dốt
thay! Chẳng biết tốt xấu. Người học lễ bái. Đây là Chủ
Xem Chủ. Hoặc có người học mang gông đeo cùm ra trước Thiện
tri thức, Thiện tri thức lại vì y cho thêm một lớp gông
cùm. Người học vui vẻ, kia đây đều không biết. Đây là
Khách Xem Khách.
Chư
Đại đức! Sơn tăng cử ra vì biện ma, rõ cảnh lạ, biết
tà chánh. Như Tăng hỏi Từ Minh: Khi một hét phân chủ khách,
chiếu dụng đồng thời hành là thế nào ? Từ Minh liền hét.
Lại Thiền sư Hoằng Giác ở Vân Cư dạy chúng: Thí như sư
tử chụp voi cũng dùng toàn lực, chụp thỏ cũng dùng toàn
lực. Có vị Tăng ra hỏi: Chưa biết toàn lực gì ?
Giác
đáp: Lực chẳng dối. Xem Tuyết Đậu tụng ra:
TỤNG:
Cầm đắc Lô Pha khoa thiết ngưu
Tam huyền khoa giáp vị khinh thù
Sở vương thành bạn triều tông thủy
Hát hạ tằng linh khước đảo lưu.
DỊCH:
Bắt được Lô Pha trâu sắt khoe
Tam huyền binh khí vẫn chưa dùng
Bên thành vua Sở nhằm đông chảy
Một hét từng làm đảo ngược dòng.
GIẢI
TỤNG: Tuyết Đậu biết Phong Huyệt có loại tông phong này,
nên tụng “Bắt được Lô Pha trâu sắt khoe, tam huyền binh
khí vẫn chưa dùng”. Tông Lâm Tế có tam huyền tam yếu. Phàm
trong một câu phải đủ tam huyền, trong một huyền phải đủ
tam yếu. Tăng hỏi Lâm Tế: Thế nào là câu thứ nhất ? Lâm
Tế đáp: Tam yếu ấn khai điểm son hẹp, chưa cho nghĩ nghị
chủ khách phân. Tăng hỏi: Thế nào là câu thứ hai ? Lâm Tế
đáp: Diệu biện há cho Vô Trước hỏi, bọt hợp nào phụ
cơ bặt dòng. Tăng hỏi: Thế nào là câu thứ ba ? Lâm Tế
đáp: Chỉ xem nhà hát đùa người máy, rút dây đều bởi
người núp trong. Phong Huyệt trong một câu đầy đủ binh khí
tam huyền, bảy việc tùy thân chẳng khinh xuất đáp người.
Nếu chẳng như thế làm gì được Lô Pha. Phần dưới, Tuyết
Đậu cần đề ra cơ phong của tông
Lâm
Tế, chớ nói là Lô Pha, giả sử bên thành vua Sở sóng dậy
ầm ầm, nước nổi ngập trời, trọn chảy về phương Đông,
chỉ cần một tiếng hét, cũng phải chảy ngược lại.
?
TẮC
39: VÂN MÔN HOA THƯỢC LAN
LỜI
DẪN: Giữa đường thọ dụng dường cọp tựa núi, thế đế
lưu bố như vượn tại vườn. Muốn biết nghĩa Phật tánh,
phải quán thời tiết nhân duyên, muốn luyện lọc vàng ròng,
phải là lò luyện của bậc tác gia. Hãy nói người đại
dụng hiện tiền lấy cái gì thí nghiệm ?
CÔNG
ÁN: Tăng hỏi Vân Môn: Thế nào là Pháp thân thanh tịnh ? Vân
Môn đáp: Hoa thược lan. Tăng hỏi: Khi thế ấy đi thì sao
? Vân Môn đáp: Sư tử lông vàng.
GIẢI
THÍCH: Các ông biết chỗ nói của vị Tăng và chỗ đáp của
Vân Môn chăng ? Nếu hiểu được thì hai miệng đồng không
có một cái lưỡi. Nếu chẳng biết chưa khỏi lầm lẫn.
Có vị Tăng hỏi Huyền Sa: Thế nào là Pháp thân thanh tịnh
? Huyền Sa đáp: Mủ giọt giọt. Người đủ con mắt Kim Cang
mời thử biện xem ? Vân Môn không đồng người khác, có khi
nắm đứng vách cao ngàn trượng, không có chỗ cho ông nghĩ
suy, có khi vì ông mở một con đường đồng chết đồng sống.
Ba tấc lưỡi của Vân Môn rất sâu kín. Có người nói đó
là lối đáp tín thái (tin màu sắc). Nếu hiểu thế ấy, thử
nói Vân Môn rơi tại chỗ nào ? Cái này là việc ở trong thất,
chớ nhằm ra ngoài suy tính. Vì thế, Bá Trượng nói: Sum la
vạn tượng, tất cả ngữ ngôn, đều xoay về nơi mình, khiến
lăn trùng trục, nhằm chỗ sống linh động. Lại nói: Nếu
nghĩ nghị suy tìm, liền rơi vào câu thứ hai. Vĩnh Gia nói:
“Pháp thân ngộ rồi không một vật, bản nguyên tự tánh
thiên chân Phật.” Vân Môn nghiệm vị Tăng này, vị Tăng
này cũng là người ở trong thất của Sư, là người tham cứu
đã lâu, biết được việc trong thất Sư, nên tiến ngữ:
Khi thế ấy đi thì sao ? Vân Môn bảo: Sư tử lông vàng. Hãy
nói là chấp nhận y hay chẳng chấp nhận y, là bao y hay biếm
y ? Nham Đầu nói: Nếu luận chiến thì mỗi người ở chỗ
chuyển. Lại nói: Kia tham câu sống chẳng tham câu chết. Câu
sống tiến được thì vĩnh kiếp chẳng quên, câu chết tiến
được thì tự cứu chưa xong. Lại có vị Tăng hỏi Vân Môn:
Phật pháp như trăng trong nước phải chăng ? Vân Môn đáp:
Sóng trong không đường thông. Tăng thưa: Hòa thượng từ đâu
mà được ? Vân Môn đáp: Hỏi lại thì đâu đến. Tăng thưa:
Chính khi thế ấy đi là sao ? Vân Môn đáp: Đường quan san
trùng điệp. Phải biết việc này chẳng ở trên ngôn cú,
như chọi đá nháng lửa, tợ làn điện chớp, nắm được
nắm chẳng được chưa khỏi tan thân mất mạng. Tuyết Đậu
là người ở trong đó, liền ngay đầu tụng ra:
TỤNG:
Hoa thược lan
Mạc man han
Tinh tại xứng hề bất tại bàn
Tiện nhậm ma, thái vô đoan
Kim mao sư tử đại gia khan.
DỊCH:
Hoa thược lan
Chớ hoang mang
Hoa ở cân chừ chẳng ở bàn
Liền thế ấy, không mối mang
Sư tử lông vàng cả nhà xem.
GIẢI
TỤNG: Tuyết Đậu đồng hội, đánh một điệu rung dây phát
ra những bản kỳ diệu, mỗi câu phán xét ra đây. Một bài
tụng chẳng khác cách niêm cổ. “Hoa thược lan”, liền nói
“Chớ hoang mang”. Nhiều người nói: Vân Môn dùng tín thái
đáp, thảy đều khởi tình giải hiểu Vân Môn. Vì thế Tuyết
Đậu có bổn phận giản trạch, nên nói “Chớ hoang mang”.
Bởi vì ý của Vân Môn chẳng phải ở chỗ hoa thược lan.
Vì thế, Tuyết Đậu nói “hoa ở cân chừ chẳng ở bàn”.
Một câu này rất mực rõ ràng, trong nước vốn không trăng,
trăng ở trời xanh. Như hoa cân ở cân chớ chẳng phải ở
bàn. Thử nói cái gì là cân, nếu biện rõ được chẳng cô
phụ Tuyết Đậu. Cổ nhân đến trong đây quả thật từ bi
phân minh nói với ông. “Chẳng ở trong này ở bên kia.”
Hãy nói bên kia là chỗ nào ? Tại một câu đầu, bài tụng
này tụng xong. Phần sau bài tụng là vị Tăng nói “khi thế
ấy đi thì sao”. Tuyết Đậu nói: Vị Tăng này “không mối
mang”. Hãy nói là đầu sáng hợp hay đầu tối hợp ? Hội
rồi nói thế ấy, chẳng hội nói thế ấy ? “Sư tử lông
vàng cả nhà xem”, lại thấy sư tử lông vàng chăng ? Mù
!
?
TẮC
40: LỤC HOÀN TRỜI ĐẤT ĐỒNG GỐC
LỜI
DẪN: Thôi đi hết đi, cây sắt trổ hoa. Có chăng ? Có chăng
?û Thông minh cũng bị thua. Dù cho bảy dọc tám ngang chẳng
ra khỏi lỗ mũi y. Hãy nói tiếng lầm lẫn ở chỗ nào. Thử
cử xem ?
CÔNG
ÁN :Đại phu Lục Hoàn cùng nói chuyện với Nam Tuyền. Hoàn
hỏi: Triệu Pháp sư nói “trời đất cùng ta đồng gốc,
vạn vật cùng ta một thể”, thật là kỳ quái ? Nam Tuyền
chỉ hoa trước sân kêu đại phu, nói: Thời nhân thấy gốc
hoa này giống hệt như mộng.
GIẢI
THÍCH: Đại phu Lục Hoàn tham kiến Nam Tuyền đã lâu, bình
thường lưu tâm trong lý tánh, tầm khảo Triệu Luận. Một
hôm, ngồi bàn luận đem hai câu cho là kỳ đặc, hỏi: Triệu
Pháp sư nói “trời đất cùng ta đồng gốc, vạn vật cùng
ta đồng thể”, thật là kỳ quái ? Triệu Pháp sư là vị
Cao tăng đời Tấn cùng Đạo Sanh, Tăng Duệ, Đạo Dung đồng
dưới tay của Cưu-ma-la-thập, gọi là Tứ triết. Pháp sư
Tăng Triệu thuở nhỏ thích đọc Lão Trang, sau nhân viết kinh
Duy-ma-cật có chỗ ngộ, mới biết Lão Trang vẫn chưa tận
thiện. Sư chuyển hợp các kinh làm thành bốn quyển luận
(Bát-nhã Vô Tri Luận, Bất Chân Không Luận, Vật Bất Thiên
Luận, Niết-bàn Vô Danh Luận). Ý chỉ Lão Trang nói trời đất
hình lớn, hình ta cũng vậy, đồng sanh trong hư vô. Trang Sanh
đại ý chỉ luận tề vật. Triệu Công đại ý luận tánh
đều qui về chính mình. Như trong luận, Sư nói: “Phàm bậc
chí nhân rỗng rang không hình tượng mà vạn vật đều do
ta tạo, hội vạn vật về chính mình chỉ là bậc Thánh nhân.
Tuy có thần có người có hiền có Thánh mỗi loại khác nhau,
song đều đồng một tánh một thể”. Cổ nhân nói: “Tột
cả càn khôn đại địa chỉ là một cái chính mình, lạnh
thì khắp trời khắp đất lạnh, nóng thì khắp trời khắp
đất nóng, có thì khắp trời khắp đất có, không thì khắp
trời khắp đất không, phải thì khắp trời khắp đất phải,
quấy thì khắp trời khắp đất quấy.” Pháp Nhãn nói: “Y
y y, ta ta ta, Nam Bắc Đông Tây đều tốt tốt, chẳng tốt
tốt, chỉ có ta thảy là tốt.” Vì thế nói: “Trên trời
dưới trời, chỉ ta là hơn hết.” Thạch Đầu xem Triệu
Luận đến chỗ “hội vạn vật về chính mình”, hoát nhiên
đại ngộ, sau làm bản Tham Đồng Khế chẳng ngoài ý này.
Xem ông hỏi thế ấy, hãy nói đồng gốc gì ? Đồng thể
nào ? Đến trong đây quả là kỳ đặc, há đồng với người
thường chẳng biết trời cao đất dày, đâu có việc thế
ấy. Đại phu Lục Hoàn hỏi như thế, kỳ thì rất kỳ, chỉ
là chẳng thoát ngoài ý kinh. Nếu nói ý kinh là tột, vì sao
Thế Tôn lại niêm hoa, Tổ sư lại Tây sang làm gì ? Chỗ đáp
của Nam Tuyền là dùng lỗ mũi của Thiền tăng, vì kia đưa
ra chỗ đau, để phá hang ổ kia. Bèn chỉ cây hoa trước
sân, kêu Đại phu nói: Thời nhân thấy một gốc hoa này giống
hệt như mộng. Như dẫn người lên đến bờ cao muôn trượng
xô một cái khiến họ té chết. Nếu ông xô té trên đất
bằng, cho đến đức Phật Di-lặc ra đời cũng chẳng làm
cho người chết. Giống hệt như người đang mộng muốn tỉnh
mà tỉnh không được, bị người gọi liền tỉnh. Nếu Nam
Tuyền con mắt chẳng chánh, quyết định bị ông ấy bôi vẽ
rồi. Xem Sư nói thoại thế ấy thật là khó hiểu. Nếu là
người con mắt định động linh hoạt nghe được như thượng
vị đề-hồ. Nếu là kẻ chết nghe được trở thành thuốc
độc. Cổ nhân nói: Nếu ở trên sự thấy thì rơi tại tầm
thường, nếu nhằm dưới ý căn suy tính dò tìm thì chẳng
được. Nham Đầu nói: Đây là kế sống của người hướng
thượng, chỉ hiện bày trước mắt chốc lát như điện chớp.
Đại ý Nam Tuyền như thế, có thủ đoạn bắt con tê con cọp,
định rồng rắn. Đến trong ấy phải tự hội mới được.
Đâu chẳng nghe nói: Một con đường hướng thượng ngàn Thánh
chẳng truyền, học giả nhọc hình như khỉ bắt bóng. Xem
Tuyết Đậu tụng ra:
TỤNG:
Văn kiến giác tri phi nhất nhất
Sơn hà bất tại cảnh trung quan
Sương thiên nguyệt lạc dạ tương bán
Thùy cộng trừng đàm chiếu ảnh hàn.
DỊCH:
Hiểu biết thấy nghe chẳng phải một
Núi sông nào ở tại gương xem
Trời sương trăng lặn đêm vừa nửa
Ai với đầm trong soi bóng kèm.
GIẢI
TỤNG: Nam Tuyền nói mớ ít, Tuyết Đậu nói mớ nhiều. Tuy
nhiên tạo mộng, lại tạo được cái mộng đẹp. Phần trước
nói một thể, trong đây nói chẳng đồng. “Hiểu biết thấy
nghe chẳng phải một, núi sông nào ở tại gương xem”, nếu
nói ở trong gương xem về sau mới hiểu rõ thì chẳng rời
cái gương. Núi sông đất liền cỏ cây rừng rậm chớ đem
gương soi, nếu đem gương soi liền thành hai đoạn. Chỉ nên
núi là núi, nước là nước, mỗi pháp trụ bản vị của
nó, tướng thế gian thường trụ. “Núi sông nào ở tại
gương xem”, hãy nói ở chỗ nào xem, lại hội chăng ? Đến
trong đây hướng về “trời sương trăng lặn đêm vừa nửa”,
bên này vì ông làm rõ rồi, bên kia ông tự độ lấy. Lại
biết Tuyết Đậu đem việc bổn phận vì người chăng ? “Ai
với đầm trong soi bóng kèm”, là tự soi hay cùng người soi
? Phải là tuyệt cơ tuyệt giải mới đến cảnh giới này.
Hiện nay chẳng cần đầm trong, cũng chẳng đợi trời sương
trăng lặn, chính nay làm gì ?