TẮC
31: MA CỐC CẦM GẬY NHIỄU GIƯỜNG
LỜI
DẪN: Động thì bóng hiện, giác thì băng sanh. Nếu không động
không giác chưa khỏi vào hang chồn hoang. Tin được đến,
thấu được tột, không còn mảy tơ chướng ngại, như rồng
gặp nước, tợ cọp tựa núi. Buông đi thì ngói gạch sanh
quang, nắm lại thì vàng ròng mất sắc, công án cổ nhân chưa
khỏi phủ che. Hãy nói bình luận bên việc gì, thử cử xem
?
CÔNG
ÁN: Ma Cốc chống gậy đến Chương Kỉnh, đi nhiễu giường
thiền ba vòng, dộng tích trượng một cái, đứng nghiễm nhiên.
Chương Kỉnh nói: Phải! Phải! (Tuyết Đậu trước ngữ: Lầm!)
Ma Cốc lại đến Nam Tuyền, đi nhiễu giường thiền ba vòng,
dộng tích trượng một cái, đứng nghiễm nhiên. Nam Tuyền
nói: Chẳng phải! Chẳng phải! (Tuyết Đậu trước ngữ: Lầm!)
Ma Cốc nói: Chương Kỉnh nói phải, tại sao Hòa thượng nói
chẳng phải ? Nam Tuyền nói: Chương Kỉnh tức phải, còn ông
chẳng phải, đây là bị phong lực chuyển, trọn thành bại
hoại.
GIẢI
THÍCH: Cổ nhân đi hành khước trải khắp tùng lâm, hẳn đem
việc này làm niệm, cần biện rõ các vị lão Hòa thượng
ngồi trên giường gỗ là đủ mắt sáng hay không đủ mắt
sáng. Cổ nhân một lời nói khế hợp liền ở, một lời
không khế hợp liền đi. Xem Ma Cốc đến Chương Kỉnh, đi
nhiễu giường thiền ba vòng, dộng tích trượng một cái,
đứng nghiễm nhiên. Chương Kỉnh nói: Phải! Phải! Đao sát
nhân, kiếm sống người, phải là bổn phận kẻ tác gia. Tuyết
Đậu nói: Lầm! Rơi tại hai bên. Nếu ông đến hai bên hội
là chẳng thấy ý Tuyết Đậu. Ma Cốc đứng nghiễm nhiên
là vì việc gì ? Tuyết Đậu vì sao lại nói lầm ? Chỗ nào
là chỗ lầm của Ma Cốc ? Chương Kỉnh nói phải, chỗ nào
là chỗ phải ? Tuyết Đậu như ngồi đọc lời phán. Ma Cốc
mang chữ “phải” đến yết kiến Nam Tuyền. Như trước
đi nhiễu giường thiền ba vòng, dộng tích trượng một cái,
đứng nghiễm nhiên. Nam Tuyền nói: Chẳng phải, chẳng phải!
Đao sát nhân, kiếm sống người, phải là bổn phận Tông
sư. Tuyết Đậu nói: Lầm! Chương Kỉnh nói phải, phải, Nam
Tuyền nói chẳng phải, chẳng phải, lại là đồng hay khác
? Phần trước phải, taị sao lại lầm ? Phần sau nói chẳng
phải, tại sao cũng lầm ? Nếu nhằm dưới câu nói của Chương
Kỉnh tiến được, tự cứu cũng chưa xong. Nếu nhằm dưới
câu nói của Nam Tuyền tiến được, đáng cùng Phật Tổ làm
thầy. Tuy nhiên thế ấy, hàng Thiền tăng phải tự nhận mới
được. Chớ nhằm miệng người biện biệt, Ma Cốc hỏi một
loại, tại sao người nói phải, người nói chẳng phải ?
Nếu là người thông phương tác gia được đại giải thoát,
ắt phải riêng có sanh nhai. Nếu là kẻ cơ cảnh chưa quên,
quyết định mắc kẹt ở hai đầu này. Nếu cần biện rành
cổ kim, ngồi cắt đầu lưỡi người trong thiên hạ, phải
rõ hai cái lầm này mới được. Đến đoạn sau, Tuyết Đậu
tụng cũng chỉ tụng hai cái lầm này. Tuyết Đậu cần nêu
lên chỗ sống linh động, cho nên nói như thế. Nếu là kẻ
trong da có máu, tự nhiên chẳng nhằm trong ngôn cú khởi giải
hội, chẳng nhằm trên cọc cột lừa khởi đạo lý. Có người
nói: Tuyết Đậu thay Ma Cốc hạ hai chữ lầm. Thế có gì
giao thiệp. Đâu chẳng biết người xưa trước ngữ là khóa
chặt cửa trọng yếu, bên này cũng phải, bên kia cũng phải,
cứu kính chẳng ở hai bên. Tạng chủ Khánh nói: “Chống
tích trượng, nhiễu giường thiền, phải cùng chẳng phải
đều lầm, kỳ thật cũng chẳng tại đây.” Ông đâu chẳng
thấy, Vĩnh Gia đến Tào Khê yết kiến Lục Tổ, đi nhiễu
giường thiền ba vòng, dộng tích trượng một cái, đứng
nghiễm nhiên. Lục Tổ quở: Phàm người Sa-môn phải đủ
ba ngàn oai nghi tám muôn tế hạnh, Đại đức từ phương nào
đến mà sanh đại ngã mạn ? Tại sao Lục Tổ lại nói kia
sanh đại ngã mạn ? Cái này chẳng nói phải, cũng chẳng nói
không phải, phải cùng không phải đều là cọc cột lừa.
Chỉ có Tuyết Đậu hạ hai chữ lầm, còn gần đôi chút.
Ma Cốc nói: “Chương Kỉnh nói phải, tại sao Hòa thượng
nói chẳng phải ?” Lão này chẳng tiếc lông mày, ló đuôi
chẳng ít. Nam Tuyền nói: “Chương Kỉnh thì phải, Còn ông
chẳng phải.” Nam Tuyền đáng gọi thấy thỏ thả chim ưng.
Tạng chủ Khánh nói: Nam Tuyền dài dòng quá mức, chẳng phải
thì thôi, lại còn nói thêm, “đây là bị phong lực chuyển,
trọn thành bại hoại”. Kinh Viên Giác nói: “Nay thân ta đây
do tứ đại hòa hợp, nên nói tóc lông, móng răng, da thịt,
gân xương, tủy não bụi nhơ đều thuộc về đất, nước
miếng máu mủ đều thuộc về nước, hơi ấm thuộc lửa,
động chuyển thuộc gió. Tứ đại mỗi cái rời ra, thân vọng
này ở chỗ nào?” Ma Cốc cầm tích trượng đi nhiễu giường
thiền đã bị phong lực chuyển trọn thành bại hoại. Hãy
nói cứu cánh phát minh việc Tâm tông tại chỗ nào ? Đến
trong ấy phải là kẻ sắt thép đúc thành mới được.
Đâu
chẳng thấy Tú tài Trương Chuyết tham vấn Thiền sư Trí Tạng
ở Tây Đường, hỏi: Sơn hà đại địa là có hay không ?
Chư Phật ba đời là có hay không ? Trí Tạng đáp: Có. Trương
Chuyết nói: Lầm! Trí Tạng hỏi: Ông từng tham kiến vị nào
đến ? Trương Chuyết nói: Tham kiến Hòa thượng Cảnh Sơn
đến. Tôi có hỏi lời gì, Cảnh Sơn đều nói không. Trí
Tạng bảo: Ông có quyến thuộc gì ? Chuyết đáp: Có một
vợ quê, hai con khờ. Trí Tạng lại hỏi: Cảnh Sơn có quyến
thuộc gì ? Chuyết đáp: Hòa thượng Cảnh Sơn là cổ Phật,
chớ phỉ báng Ngài. Trí Tạng bảo: Đợi khi ông giống Cảnh
Sơn sẽ nói tất cả không. Trương Chuyết cúi đầu lặng
thinh.
Phàm
là bậc Tông sư tác gia cần vì người mở niêm cởi trói
nhổ đinh tháo chốt, không thể chỉ giữ một bên, đẩy bên
trái liền xoay bên phải, đẩy bên phải liền xoay bên trái.
Xem Ngưỡng Sơn đến chỗ Trung Ấp tạ lễ thọ giới. Trung
Ấp thấy đến, ở trên giường thiền vỗ tay nói: Hòa thượng!
Ngưỡng Sơn liền sang đứng bên Đông, lại sang đứng bên
tây, lại sang đứng ở giữa, nhiên hậu tạ giới xong, lại
lùi ra sau đứng. Trung Ấp hỏi: Ở chỗ nào được tam-muội
này ? Ngưỡng Sơn thưa: Ở trên cái ấn Tào Khê gỡ được
đem đến. Trung Ấp hỏi: Ông nói Tào Khê dùng tam-muội này
tiếp người nào ? Ngưỡng Sơn thưa: Tiếp Nhất Túc Giác.
Ngưỡng Sơn hỏi lại Trung Ấp: Hòa thượng ở chỗ nào được
tam-muội này ? Trung Ấp nói: Ta ở chỗ Mã Tổ được tam-muội
này.
Nói
thoại thế ấy, há chẳng phải là kẻ cử một rõ ba, thấy
gốc biết ngọn. Long Nha dạy chúng nói: “Phàm người tham
học phải thấu qua Phật Tổ mới được. Hòa thượng Tân
Phong nói: Thấy ngôn giáo của Tổ Phật như sanh oan gia, mới
có phần tham học. Nếu thấu chẳng được bị Phật Tổ lừa.”
Có vị Tăng ra hỏi: Tổ Phật lại có tâm lừa người sao
? Long Nha đáp: “Ngươi nói sông hồ có tâm ngại người chăng
?” Nói tiếp: “Sông hồ tuy không có tâm ngại người, chính
vì thời nhân qua chẳng được, cho nên sông hồ trở thành
ngại người, chẳng được nói sông hồ không ngại người.
Tổ Phật tuy không có tâm lừa người, chính vì thời nhân
thấu chẳng được. Tổ Phật trở thành lừa người, cũng
chẳng được nói Tổ Phật không lừa người. Nếu thấu qua
được Tổ Phật, người nầy tức qua Tổ Phật, phải là
thể nhận được ý Tổ Phật, mới cùng hàng cổ nhân hướng
thượng đồng. Như chưa thấu được, dù học Phật học Tổ
đến muôn kiếp, cũng không có ngày đạt được.” Tăng hỏi:
Làm sao khỏi bị Phật Tổ lừa ? Long Nha đáp: Phải tự ngộ
đi! Đến trong đây phải như thế mới được. Vì sao ? Vì
người phải vì cho tột, giết người phải thấy
máu. Nam Tuyền, Tuyết Đậu là loại người này mới dám niêm
lộng.
TỤNG:
Thử thố bỉ thố
Thiết kỵ niêm khước
Tứ hải lãng bình
Bách xuyên triều lạc.
Cổ sách phong cao thập nhị môn
Môn môn hữu lộ không tiêu sách
Phi tiêu sách
Tác giả hảo cầu vô bệnh dược.
DỊCH:
Đây lầm kia lầm
Tối kỵ niêm lấy
Bốn biển sóng dừng
Trăm sông triều xuống.
Cổ sách phong cao mười hai cửa
Mỗi cửa có đường vào tịch mịch.
Chẳng tịch mịch
Tác giả thích cầu thuốc không bệnh.
GIẢI
TỤNG: Bài tụng này giống hệt công án Đức Sơn đến yết
kiến Qui Sơn. Trước đem công án lồng hai chuyển ngữ xỏ
thành một xâu, nhiên hậu tụng ra. “Đây lầm kia lầm, tối
kỵ niêm lấy”, ý Tuyết Đậu nói chỗ này một lầm, chỗ
kia một lầm, tối kỵ niêm lấy, niêm lấy tức trái. Cần
phải để hai chữ lầm như thế. “Bốn biển sóng dừng,
trăm sông triều xuống”, quả là gió mát trăng trong. Nếu
ông căn cứ hai chữ lầm hiểu được thì không còn việc
gì, núi là núi, nước là nước, dài đó tự dài, ngắn đó
tự ngắn, năm ngày một trận gió, mười ngày một cây mưa.
Vì thế nói “Bốn biển sóng dừng, trăm sông triều xuống”.
Phần dưới tụng về Ma Cốc cầm gậy, “Cổ sách phong cao
mười hai cửa”. Người xưa dùng roi làm sách (thúc tiến),
nhà thiền lấy cây gậy làm sách (thúc tiến). Tây Vương mẫu
trên hồ Diêu Trì có mười hai cửa đỏ. Cổ sách tức là
cây gậy, đầu gậy gió mát cao đến mười hai cửa đỏ.
Chỗ Thiên tử và Đế Thích ở mỗi cái có mười hai cửa
đỏ. Nếu người hiểu được hai chữ lầm thì trên đầu
gậy sanh hào quang, cổ sách dùng cũng chẳng được. Người
xưa nói: “Biết được cây gậy thì việc tham học một đời
xong xuôi.” Lại nói: “chẳng phải tiêu hình giữ việc rỗng,
gậy báu Như Lai còn dấu vết”, cùng một loại này vậy.
Đến trong đây bảy điên tám đảo, trong tất cả thời được
đại tự đại. “Mỗi cửa có đường vào tịch mịch”,
tuy có đường chỉ là tịch mịch. Đến đây Tuyết Đậu
tự biết ló đuôi, lại vì ông đả phá. Tuy nhiên như thế,
cũng có chỗ “chẳng tịch mịch”. Dù là tác giả khi không
bệnh cũng nên trước tìm thuốc này uống mới được.
?
TẮC
32: THƯỢNG TỌA ĐỊNH ĐỨNG SỮNG
LỜI
DẪN: Mười phương ngồi dứt, ngàn mắt liền mở, một câu
đứt dòng, muôn cơ dứt bặt, lại có đồng sanh đồng tử
chăng ? Hiện thành công án xếp đặt chẳng được, sắn bìm
của cổ nhân, thử mời cử xem ?
CÔNG
ÁN: Thượng tọa Định hỏi Lâm Tế: Thế nào là đại ý
Phật pháp? Lâm Tế bước xuống giường thiền, nắm đứng
cho một tát tai, liền xô ra. Thượng tọa Định đứng sững.
Vị Tăng đứng bên cạnh bảo: Thượng tọa Định sao chẳng
lễ bái. Thượng tọa Định vừa lễ bái, bỗng nhiên đại
ngộ.
GIẢI
THÍCH: Xem kia thế ấy, thẳng ra thẳng vào, thẳng qua thẳng
lại mới là Lâm Tế chánh tông, có tác dụng thế ấy. Nếu
thấu được có thể đổi trời làm đất, tự được thọ
dụng. Thượng tọa Định là loại này, bị Lâm Tế một chưởng,
lễ bái đứng dậy liền biết chỗ rơi. Sư là người miền
Bắc, rất thật thà ngay thẳng, sau khi đã được lại chẳng
xuất sư. Sau này, Sư toàn dùng cơ của Lâm Tế, quả là xuất
sắc.
Một
hôm, Sư đi trên đường gặp Nham Đầu, Tuyết Phong, Khâm Sơn
ba người. Nham Đầu hỏi: Ở đâu lại ? Sư đáp: Lâm Tế
lại. Nham Đầu hỏi: Hòa thượng mạnh khỏe ? Sư nói: Đã
qui tịch. Nham Đầu nói: Ba người chúng tôi tìm đến lễ
bái, mà phước duyên cạn mỏng, lại nghe qui tịch, chẳng
biết Hòa thượng lúc bình sanh có những ngôn cú gì, xin Thượng
tọa nhắc lại vài tắc xem? Sư liền nhắc: “Một hôm Lâm
Tế dạy chúng: Trên khối thịt đỏ, có một chân nhân không
ngôi vị thường từ diện môn các ông ra vào, người chưa
chứng cứ hãy xem, xem! Có vị Tăng ra hỏi: Thế nào là chân
nhân không ngôi vị ? Lâm Tế liền nắm đứng bảo: Nói, nói!
Vị Tăng suy nghĩ. Lâm Tế liền xô ra, nói: Chân nhân không
ngôi vị là cái gì ? Cục cứt khô. Liền trở về phương
trượng.” Nham Đầu bất giác le lưỡi. Khâm Sơn nói: Sao
chẳng nói phi chân nhân không ngôi vị ? Thượng tọa Định
nắm đứng bảo: Chân nhân không ngôi vị cùng phi chân nhân
không ngôi vị cách nhau nhiều ít, nói mau! Nói mau! Khâm Sơn
không nói được khiến mặt vàng thành xanh. Nham Đầu, Tuyết
Phong lại gần lễ bái thưa: Vị Tăng này mới học không biết
phải quấy, xúc não Thượng tọa, cúi mong từ bi tha thứ.
Sư nói: Nếu chẳng phải hai thầy già này xin, sẽ giết con
quỉ đái dầm này.
Lại
một hôm, Sư ở Trấn Châu đi thọ trai về đến cây cầu,
gặp ba vị Tọa chủ (trụ trì), một vị hỏi: Thế nào là
chỗ sâu của sông Thiền đến tột đáy ? Sư nắm đứng toan
ném xuống cầu, hai vị Tọa chủ kia vội kêu cứu: Thôi! Thôi!
Y xúc phạm đến Thượng tọa, mong từ bi tha thứ. Sư nói:
Nếu không phải hai Tọa chủ xin, cho y xuống tột đáy. Xem
thủ đoạn của Sư, toàn là tác dụng của Lâm Tế. Tuyết
Đậu tụng ra:
TỤNG:
Đoạn Tế toàn cơ kế hậu tung
Trì lai hà tất tại thung dung
Cự Linh đài thủ vô đa tử
Phân phá Hoa Sơn thiên vạn trùng.
DỊCH:
Đoạn Tế toàn cơ noi dấu sau
Mang về nào hẳn tại thong dong
Tay mạnh Cự Linh nào mấy kẻ
Chẻ vỡ Hoa Sơn lớp muôn ngàn.
GIẢI
TỤNG: Tuyết Đậu tụng “Đoạn Tế toàn cơ noi dấu sau,
mang về nào hẳn tại thong dong”, đại cơ đại dụng của
Hoàng Bá chỉ riêng Lâm Tế kế thừa dấu vết. Nắm được
đem ra không cho nghĩ nghị, nếu là do dự liền rơi vào ấm
giới. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Như ta ấn ngón tay thì hải ấn
phát quang, ông vừa dấy tâm thì trần lao khởi trước.”
Hai câu “Tay mạnh Cự Linh nào mấy kẻ, chẻ vỡ Hoa Sơn lớp
muôn ngàn”, thần Cự Linh có thần lực lớn, lấy tay chẻ
xuống ngọn núi Thái Hoa, nước phun lên chảy vào sông Hoàng
Hà. Thượng tọa Định nghi tình như đất chồng núi chứa,
bị một chưởng của Lâm Tế liền được ngói bể, băng
tiêu.
?
TẮC
33: TRẦN THÁO ĐỦ MỘT CON MẮT
LỜI
DẪN: Đông Tây chẳng biện, Nam Bắc chẳng phân, từ sáng
đến chiều từ chiều đến sáng, lại nói y ngủ gật chăng
? Có khi mắt như sao băng, lại nói y tỉnh tỉnh chăng? Có
khi gọi Nam làm Bắc, lại nói là có tâm hay vô tâm, là đạo
nhân hay thường nhân ? Nếu nhằm trong ấy thấu được mới
biết chỗ rơi, mới biết cổ nhân thế ấy chẳng thế ấy.
Hãy nói là thời tiết gì, thử cử xem ?
CÔNG
ÁN: Thượng thơ Trần Tháo đến tham vấn Tư Phước. Tư Phước
thấy lại, liền vẽ một vòng tròn. Tháo nói: Đệ tử lại
thế ấy, sớm đã chẳng được tiện, huống là lại vẽ
một vòng tròn. Tư Phước liền đóng cửa phương trượng.
(Tuyết Đậu nói: Trần Tháo chỉ đủ một con mắt.)
GIẢI
THÍCH: Thượng thơ Trần Tháo cùng Bùi Hưu, Lý Cao là đồng
thời. Thấy Tăng đến, ông trước thỉnh thọ trai, kế cúng
ba trăm tiền, sau khám biện. Một hôm, Vân Môn đến tham kiến
nhau, ông hỏi: Sách Nho thì chẳng hỏi, Tam thừa mười hai
phần giáo tự có tọa chủ, thế nào là việc hành cước
trong nhà thiền ? Vân Môn hỏi: Thượng thơ từng hỏi bao nhiêu
người rồi ? Tháo nói: Chính nay hỏi Thượng tọa. Vân Môn
bảo: Chính nay hãy gác lại, thế nào là giáo ý ? Tháo nói:
Quyển vàng trục đỏ. Vân Môn bảo: Cái này là văn tự ngữ
ngôn, thế nào là giáo ý ? Tháo nói: Miệng muốn bàn mà lời
mất, tâm muốn duyên mà lự quên. Vân Môn bảo: Miệng muốn
bàn mà lời mất là đối hữu ngôn, tâm muốn duyên mà lự
quên là đối vọng tưởng, thế nào là giáo ý ? Tháo câm
họng. Vân Môn hỏi: Nghe nói Thượng thơ xem kinh Pháp Hoa phải
chăng ? Tháo nói: Phải. Vân Môn bảo: Trong kinh nói “Tất
cả trị sanh sản nghiệp đều cùng thật tướng chẳng trái
nhau”, hãy nói Phi phi tưởng Thiên hiện nay có bao nhiêu người
thối vị ? Tháo lại câm họng. Vân Môn bảo: Thượng thơ
chớ có thô xuất, Thiền tăng ném hết ba kinh năm luận vào
tùng lâm mười năm hai mươi năm còn chưa được gì, Thượng
thơ lại làm sao được hội ? Trần Tháo lễ bái, nói: Tôi
tội lỗi.
Lại
một hôm, ông cùng quan liêu lên lầu, trông thấy một số
Tăng đi đến. Một vị quan nói: Đến đó đều là Thiền
tăng. Tháo bảo: Chẳng phải. Vị quan hỏi: Sao biết chẳng
phải ? Tháo bảo: Đợi đến gần vì ông khám phá. Chúng Tăng
đến trước lầu, Tháo gọi to: Thượng tọa! Chúng Tăng ngước
đầu nhìn. Tháo bảo quan liêu: Tôi nói mà chẳng tin. Chỉ
có một mình Vân Môn, ông khám phá chẳng được, vì kia đã
tham kiến Mục Châu rồi.
Một
hôm, ông đến tham kiến Tư Phước. Tư Phước thấy ông lại,
liền vẽ một vòng tròn. Tư Phước là tôn túc dưới dòng
Qui Ngưỡng, bình thường thích lấy cảnh tiếp người, thấy
Trần Tháo liền vẽ một vòng tròn. Đâu ngờ Trần Tháo là
hàng tác gia chẳng bị người lừa, khéo tự kiểm điểm nói,
đệ tử đến thế ấy, sớm đã chẳng tiện, đâu kham lại
vẽ một vòng tròn. Tư Phước đóng cửa phương trượng. Loại
công án này gọi là “Trong lời biện đích, trong câu tàng
cơ”. Tuyết Đậu nói: Trần Tháo đủ một con mắt. Tuyết
Đậu đáng gọi là có con mắt trên đảnh. Hãy nói ý tại
chỗ nào ? Cũng khéo cho một vòng tròn. Nếu thảy thế ấy
thì nhà Thiền làm sao vì người ? Tôi thử hỏi ông, khi ấy
nếu các ông là Trần Tháo nên thốt ra những lời gì khỏi
bị Tuyết Đậu nói chỉ đủ một con mắt ? Vì thế, Tuyết
Đậu lật ngược, tụng ra:
TỤNG:
Đoàn đoàn châu nhiễu ngọc san san
Mã tải lư đà thượng thiết thoàn
Phân phó hải sơn vô sự khách
Điếu ngao thời hạ nhất khuyên loan.
DỊCH:
Tròn tròn châu nhiễu ngọc san san
Ngựa chở lừa lôi đến thiết thoàn
Giao gởi núi sông khách vô sự
Câu ngao nên thả một vòng tròn.
Tuyết
Đậu lại nói: Thiền tăng khắp xứ khó nhảy khỏi.
GIẢI
TỤNG: Hai câu “tròn tròn châu nhiễu ngọc san san, ngựa chở
lừa lôi đến thiết thoàn”, Tuyết Đậu ngay đầu tụng
ra, chỉ tụng cái tướng vòng tròn. Nếu hội được giống
như cọp mọc sừng, cái này phải như thùng lủng đáy, bộ
máy dừng, được mất phải quấy một lúc buông hết, lại
chẳng cần hội đạo lý, cũng chẳng được khởi hội huyền
diệu, cứu kính phải làm sao hội ? Cái này phải là “Ngựa
chở lừa lôi đến thiết thoàn”, trong ấy xem mới được.
Chỗ khác thì không thể giao gởi, phải đem “Giao gởi núi
sông khách vô sự”. Nếu ông trong lòng còn đôi chút việc
thì thừa đương không được. Trong đây phải là người hữu
sự vô sự, nghịch tình thuận cảnh, hoặc Phật hoặc Tổ
không làm gì được, người này mới đáng thừa đương. Nếu
có Thiền nên tham, có phàm Thánh tình lượng, quyết định
thừa đương nó không được. Thừa đương được rồi làm
sao hội ? Kia nói “Câu ngao nên thả một vòng tròn”, câu
ngao phải thả lưỡi câu mới được. Vì thế, Phong Huyệt
nói: “Quen câu kình nghê ngâm đồng rộng, lại than ếch nhảy
trên cát bùn.” Lại nói: “Ngao to chớ đội ba núi chạy,
tôi muốn dạo chơi chót đảnh bồng.” Tuyết Đậu lại nói:
Thiền tăng khắp xứ khó nhảy khỏi. Nếu là ngao to trọn
không khởi kiến giải Thiền tăng. Nếu là Thiền tăng trọn
không khởi kiến giải ngao to.
?
TẮC
34: NGƯỠNG SƠN CHẲNG TỪNG DẠO NÚI
CÔNG
ÁN: Ngưỡng Sơn hỏi Tăng: Vừa rời chỗ nào ? Tăng thưa:
Lô Sơn. Ngưỡng Sơn hỏi: Từng dạo Ngũ Lão Phong chăng? Tăng
thưa: Chẳng từng đến. Ngưỡng Sơn nói: Xà-lê chẳng từng
dạo núi. (Vân Môn nói: Lời này vì cớ từ bi nên nói rơi
trong cỏ.)
GIẢI
THÍCH: Nghiệm người đến chỗ đoan đích, thốt lời liền
là tri âm. Cổ nhân nói: Không lượng đại nhân nhằm trong
ngữ mạch chuyển đi. Nếu là đủ con mắt ở đảnh môn,
nhắc đến liền biết chỗ rơi. Xem kia một hỏi một đáp,
rõ ràng phân minh, vì sao Vân Môn lại nói “lời này vì cớ
từ bi nên nói rơi trong cỏ”? Cổ nhân đến trong ấy như
gương sáng tại đài, minh châu trong tay, Hồ đến hiện Hồ,
Hán đến hiện Hán, một con ruồi cũng không qua được. Hãy
nói thế nào là cớ từ bi nên nói rơi trong cỏ ? Cũng quả
là hiểm hóc. Đến điền điạ này phải là một cá nhân
mới có thể nắm bắt. Vân Môn niêm rằng: Vị Tăng này chính
từ Lô Sơn đến, vì sao lại nói “Xà-lê chẳng từng dạo
núi”? Qui Sơn một hôm hỏi Ngưỡng Sơn: Có Tăng các nơi
đến, con đem cái gì nghiệm họ ? Ngưỡng Sơn thưa: Con có
chỗ nghiệm. Qui Sơn bảo: Con thử nêu xem ? Ngưỡng Sơn thưa:
Con bình thường thấy Tăng đến chỉ dựng cây phất tử lên,
nhằm y nói “các nơi lại có cái này chăng”, đợi y có
nói, chỉ nhằm y bảo “cái này thì gác lại, cái ấy thế
nào”. Qui Sơn bảo: Đây là nanh vuốt của người hướng
thượng. Há chẳng thấy Mã Tổ hỏi Bá Trượng: Ở chỗ nào
đến? Bá Trượng thưa: Dưới núi đến. Mã Tổ hỏi: Trên
đường gặp được một người chăng ? Bá Trượng thưa: Chẳng
từng gặp. Mã Tổ hỏi: Vì sao chẳng từng gặp ? Bá Trượng
thưa: Nếu gặp được tức trình lên Hòa thượng. Mã Tổ
hỏi: Ở đâu được tin tức này ? Bá Trượng thưa: Con tội
lỗi. Mã Tổ nói: Lại là Lão tăng tội lỗi. Ngưỡng Sơn
hỏi Tăng chính giống loại này. Khi ấy đợi hỏi “từng
đến Ngũ Lão Phong chăng”, vị Tăng này nếu là người cụ
nhãn chỉ đáp “việc họa”, trở lại đáp “chẳng từng
đến”. Tăng này đã chẳng phải tác gia, Ngưỡng Sơn sao
chẳng cứ lệnh mà hành, khỏi thấy phần sau có nhiều sắn
bìm. Ngưỡng Sơn lại nói “Xà-lê chẳng từng dạo núi”.
Vì thế Vân Môn nói “Lời này vì cớ từ bi nên nói rơi
trong cỏ”. Nếu là lời ra khỏi cỏ thì chẳng thế ấy.
TỤNG:
Xuất thảo nhập thảo
Thùy giải tầm thảo
Bạch vân trùng trùng
Hồng nhật cảo cảo
Tả cố vô hà
Hữu hệ dĩ lão
Quân bất kiến Hàn Sơn tử
Hành thái tảo
Thập niên qui bất đắc
Vong khước lai thời đạo.
DỊCH:
Ra cỏ vào cỏ
Ai biết tìm kiếm
Mây trắng hàng hàng
Trời hồng rỡ rỡ
Xem trái không tỳ
Liếc phải đã lão
Anh chẳng thấy Hàn Sơn tử
Đi quá sớm
Mười năm về chẳng được
Quên mất đường quay lại.
GIẢI
TỤNG: Hai câu “Ra cỏ vào cỏ, ai biết tìm kiếm”, Tuyết
Đậu đã biết chỗ rơi của kia. Đến trong đó một tay đưa
lên một tay đè xuống nói “Mây trắng hàng hàng, trời hồng
rỡ rỡ”, giống như “cỏ xanh xanh, mây xám xám”. Đến
trong này không một mảy tơ thuộc phàm, không một mảy tơ
thuộc Thánh, khắp cõi chẳng từng giấu, mỗi mỗi che đậy
chẳng được. Thế nên nói “cảnh giới vô tâm”, lạnh
chẳng nghe lạnh, nóng chẳng nghe nóng, hoàn toàn là cửa đại
giải thoát. Hai câu “xem trái không tỳ, liếc phải đã lão”,
ý giống câu chuyện Hòa thượng Lại Toản ở ẩn Hành Sơn
trong thất đá, vua Đường Túc Tông nghe danh Sư, sai sứ đến
triệu thỉnh. Sứ giả đến thất nói to: Thiên tử có chiếu,
Tôn giả nên đứng dậy lễ tạ ơn. Sư vói tay vạch trong
đống un mò được một củ khoai nướng lột ăn, nước mũi
chảy lòng thòng, mà không đáp lời sứ. Sứ giả cười nói:
Xin khuyên Tôn giả lau nước mũi. Sư nói: Tôi đâu rảnh vì
người tục lau nước mũi. Trọn không đi, sứ giả trở về
tâu vua, vua kính phục và tán thán. Giống như loại này, trong
veo veo, trắng tinh tinh, không chịu người xử phân, hẳn là
nắm được định, như sắt thép đúc thành. Đến như Hòa
thượng Thiện Đạo bị sa thải, sau chẳng trở lại làm Tăng,
người đời gọi là Cư sĩ thất đá, mỗi khi giã gạo chày
đạp, Sư quên giở chân. Có vị Tăng hỏi Lâm Tế: Cư sĩ
thất đá quên giở chân là ý chỉ thế nào? Lâm Tế đáp:
Chìm lịm hầm sâu. Pháp Nhãn làm bài tụng Viên Thành Thật
Tánh rằng: “Lý tột quên tình vị, làm sao có dụ bằng.
Đến nơi trăng đêm lạnh, hồn nhiên rơi trước khe. Trái
chín vượn rất quí, núi dài tợ quên đường. Ngước đầu
nắng mờ nhạt, nguyên là ở phương Tây.” Tuyết Đậu nói:
“Anh chẳng thấy Hàn Sơn tử, đi quá sớm, mười năm về
chẳng được, quên mất đường quay lại.” Thi Hàn Sơn tử:
“Muốn được chỗ an thân, Hàn Sơn đáng bền giữ, gió nhẹ
thổi tùng dày, gần nghe tiếng càng thích. Có người tóc điểm
sương, ngâm nga đọc Huỳnh Lão, mười năm về chẳng được,
quên mất đường quay lại.” Vĩnh Gia nói: “Tâm là căn pháp
là trần, hai thứ ví như vết trên gương, tỳ vết hết rồi
sáng mới hiện, tâm pháp đều quên tánh tức chân.” Đến
trong đây như si tợ ngốc mới thấy công án này. Nếu chẳng
đến điền địa ấy, chỉ ở trong lời nói chạy, có ngày
nào được xong.
?
TẮC
35: VĂN-THÙ TRƯỚC SAU BA BA
LỜI
DẪN: Định rắn rồng, phân ngọc đá, rành trắng đen, quyết
do dự, nếu chẳng phải trên đỉnh môn có mắt, trong tay có
thần phù, thường thường đối đầu lầm qua. Chỉ như hiện
nay thấy nghe chẳng lầm, thanh sắc thuần chân, hãy nói là
đen hay trắng, là cong hay ngay, đến trong đây làm sao biện
?
CÔNG
ÁN: Văn-thù hỏi Vô Trước: Vừa rời chỗ nào? Vô Trước
đáp: Phương nam. Văn-thù hỏi: Phương Nam Phật pháp trụ trì
thế nào ? Vô Trước đáp: Thời mạt pháp, Tỳ-kheo ít giữ
giới luật. Văn-thù hỏi: Chúng nhiều ít ? Vô Trước đáp:
Hoặc ba trăm hoặc năm trăm. Vô Trước hỏi Văn-thù: Ở đây
trụ trì thế nào ? Văn-thù đáp: Phàm Thánh đồng ở, rắn
rồng lẫn lộn. Vô Trước hỏi: Chúng nhiều ít ? Văn-thù
đáp: Trước ba ba, sau ba ba.
GIẢI
THÍCH: Vô Trước dạo Ngũ Đài Sơn, đến giữa đường chỗ
hoang vắng, Văn-thù hóa một cái chùa tiếp Sư nghỉ. Văn-thù
hỏi: Vừa rời chỗ nào ? Vô Trước đáp: Phương Nam. Văn-thù
hỏi: Phương Nam Phật pháp trụ trì thế nào ? Vô Trước đáp:
Thời mạt pháp, Tỳ-kheo ít giữ giới luật. Văn-thù hỏi:
Chúng nhiều ít ? Vô Trước đáp: Hoặc ba trăm hoặc năm trăm.
Vô Trước hỏi Văn-thù: Ở đây trụ trì thế nào ? Văn-thù
đáp: Phàm Thánh đồng ở, rắn rồng lẫn lộn. Vô Trước
hỏi: Chúng nhiều ít ? Văn-thù đáp: Trước ba ba sau ba ba.
Uống trà, Văn-thù đưa cái chung pha lê hỏi: Phương Nam có
cái này chăng ? Vô Trước đáp: Không. Văn-thù hỏi: Bình thường
lấy cái gì uống trà ? Vô Trước câm họng, bèn từ giã ra
đi, Văn-thù sai đồng tử Quân Đề tiễn ra cổng. Vô Trước
hỏi Quân Đề: Vừa rồi nói trước ba ba sau ba ba là nhiều
hay ít ? Quân Đề gọi: Đại đức! Vô Trước ứng thanh: Dạ!
Quân Đề hỏi: Nhiều hay ít ? Vô Trước lại hỏi: Đây là
chùa gì ? Quân Đề chỉ mặt sau chùa Kim Cang. Vô Trước xoay
đầu nhìn thì chùa hóa và đồng tử đều ẩn chẳng thấy,
chỉ là hang trống. Chỗ kia sau này gọi là hang Kim Cang.
Có
vị Tăng hỏi Phong Huyệt: Thế nào là chủ trong núi Thanh Lương
? Phong Huyệt đáp: “Một câu chẳng rảnh Vô Trước hỏi,
đến nay vẫn làm Tăng đồng quê.” Nếu cần tham được
thấu đến chỗ bình bình thật thật, chân đạp đến chỗ
đất thật, nhằm dưới lời nói của Sư tiến được, tự
nhiên ở trong chảo dầu lò lửa cũng chẳng nghe nóng, ở trên
băng lạnh cũng chẳng nghe lạnh. Nếu cần tham được thấu,
cao vót hiểm nguy như bảo kiếm Kim Cang Vương, nên nhằm dưới
lời Văn-thù tiến được, tự nhiên nước rưới chẳng dính,
gió thổi chẳng vào. Địa Tạng Quế Sâm ở Chương Châu hỏi
Tăng: Vừa rời chỗ nào ? Tăng thưa: Phương Nam. Địa Tạng
hỏi: Trong kia Phật pháp thế nào ? Tăng thưa: Tranh cãi ồn
náo. Địa Tạng nói: Đâu như ta ở đây, cấy lúa thổi cơm
mà ăn. Hãy nói cùng chỗ đáp của Văn-thù là đồng hay khác
? Có người nói: Chỗ đáp của Sư chẳng phải, chỗ đáp
của Văn-thù có rồng có rắn, có phàm có Thánh. Hiểu thế
thì có gì giao thiệp. Lại biện rõ trước ba ba sau ba ba chăng
? Mũi tên trước còn nhẹ, mũi sau rất sâu. Hãy nói là nhiều
hay ít ? Nếu nhằm trong ấy thấu được thì ngàn câu muôn
câu chỉ là một câu. Nếu ngay dưới một câu chặt được
đứt, nắm được đứng, chính lúc ấy đến được cảnh
giới này.
TỤNG:
Thiên phong bàn khuất sắc như lam
Thùy vị Văn-thù thị đối đàm
Kham tiếu Thanh Lương đa thiểu chúng
Tiền tam tam dữ hậu tam tam.
DỊCH:
Vây quanh ngàn chót sắc dường chàm
Ai bảo Văn-thù với luận bàn
Cười ngất Thanh Lương chúng nhiều ít
Trước ba ba sau lại ba ba.
GIẢI
TỤNG: Hai câu “Vây quanh ngàn chót sắc dường chàm, ai bảo
Văn-thù với luận bàn”, có người nói Tuyết Đậu chỉ
niêm lại một lần, chưa từng tụng đến. Như Tăng hỏi Pháp
Nhãn: Thế nào là một giọt nước nguồn Tào ? Pháp Nhãn đáp:
Là một giọt nước nguồn Tào. Lại có vị Tăng hỏi Hòa
thượng Giác ở Lang Nha: Vốn sẵn thanh tịnh tại sao chợt
sanh sơn hà đại địa ? Giác đáp: Vốn sẵn thanh tịnh tại
sao chợt sanh sơn hà đại địa. Đây cũng gọi là niêm lại
một lần sao ? Minh Chiêu hiệu Độc Nhãn Long có tụng, ý có
cơ che trời che đất, tụng: “Khắp trùm sa giới thắng già-lam,
đầy mắt Văn-thù với luận bàn, dưới cú chẳng hay mở
Phật nhãn, xoay đầu chỉ thấy đảnh sơn lam.” Câu “Khắp
trùm sa giới thắng già-lam”, là chỉ chùa hóa ở hang cỏ,
nên nói có cơ quyền thật song hành. Ba câu “đầy mắt Văn-thù
với luận bàn, dưới cú chẳng hay mở Phật nhãn, xoay đầu
chỉ thấy đảnh sơn lam”, chính khi ấy gọi là cảnh giới
Văn-thù, Phổ Hiền, Quán Âm được chăng ? Vả lại chẳng
phải đạo lý này. Tuyết Đậu chỉ đổi cái dụng của Minh
Chiêu, lại có thêm bớt. Như câu “vây quanh ngàn chót sắc
dường chàm”, lại chẳng bị trầy tay xể chân, trong câu
có quyền có thật, có lý có sự. Đến câu “Ai bảo Văn-thù
với luận bàn”, một đêm bàn luận mà không biết Văn-thù.
Sau này, Vô Trước ở Ngũ Đài Sơn làm Điển tọa, mỗi khi
Văn-thù hiện trên nồi cháo, bị Vô Trước cầm cây dầm
quậy cháo đập. Tuy nhiên như thế, vẫn là giặc qua rồi
mới trương cung. Chính khi hỏi “phương Nam Phật pháp trụ
trì thế nào”, nhằm thẳng xương sống mà đánh vẫn còn
gần được đôi chút. Đến câu “Cười ngất Thanh Lương
chúng nhiều ít”, trong tiếng cười của Tuyết Đậu có dao,
nếu hiểu được cái cười này, liền thấy được “Trước
ba ba sau lại ba ba”.