TẮC
26: BÁ TRƯỢNG NGỒI RIÊNG
NGỌN
ĐẠI HÙNG
CÔNG
ÁN: Tăng hỏi Bá Trượng: Thế nào là việc kỳ đặc ? Bá
Trượng đáp: Ngồi riêng ngọn Đại Hùng. Tăng lễ bái. Bá
Trượng liền đánh.
GIẢI
THÍCH: Gặp cơ đủ mắt chẳng đoái nguy vong, cho nên nói chẳng
vào hang cọp đâu được cọp con. Bá Trượng bình thường
dường như cọp thêm cánh. Vị Tăng này cũng chẳng sợ chết
sống, dám nhổ râu cọp, nên hỏi thế nào là việc kỳ đặc
? Ông Tăng này đã đủ con mắt sáng, nên Bá Trượng cho ông
gánh vác, nói “Ngồi riêng núi Đại Hùng”. Ông liền lễ
bái. Thiền tăng phải biện biệt ý trước khi hỏi mới được.
Vị Tăng này lễ bái cùng việc lễ bái hằng ngày chẳng đồng,
phải là người đủ mắt sáng mới được. Chớ đem gan mật
bình sanh trút cho người, biết nhau lại như chẳng biết nhau.
Chỉ xem vị Tăng hỏi: Thế nào là việc kỳ đặc
? Bá Trượng nói: Ngồi riêng núi Đại Hùng. Tăng lễ bái,
Bá Trượng liền đánh. Xem kia buông đi đồng thời đều phải,
thâu lại thì quét sạch dấu vết. Hãy nói vị Tăng liền
lễ bái, ý chỉ thế nào ? Nếu bảo là tốt, tại sao Bá Trượng
lại đánh ông ? Nếu bảo là chẳng tốt, ông lễ bái có chỗ
nào chẳng được ? Đến trong đây phải biết hay dở, rành
trắng đen, đứng trên ngàn ngọn núi mới được. Vị Tăng
này liền lễ bái, giống như nhổ râu cọp, chỉ giành chỗ
chuyển thân. May gặp Bá Trượng có con mắt tại đảnh môn,
trong tay có thần phù chiếu thấu bốn thiên hạ, biện rõ
lai phong, cho nên liền đánh. Nếu là kẻ khác thì không làm
gì được y. Vị Tăng này lấy cơ đầu cơ, dùng ý dẹp ý,
cho nên lễ bái.
Như
Nam Tuyền nói: Canh ba đêm qua Văn-thù, Phổ Hiền, khởi Phật
kiến, pháp kiến, cho mỗi vị hai mươi gậy, đày đến hai
ngọn núi Thiết Vi. Triệu Châu ra chúng thưa: Gậy của Hòa
thượng bảo ai ăn ? Nam Tuyền nói: Vương lão sư có lỗi gì
? Triệu Châu liền lễ bái.
Bậc
Tông sư bình thường chẳng thấy chỗ thọ dụng, vừa gặp
lúc đương cơ nêu ra, tự nhiên sống linh động. Ngũ Tổ tiên
sư thường nói: “Giống như hai con ngựa đá nhau, ông chỉ
thường tập thấy nghe thanh sắc, đồng thời ngồi dứt, nắm
được đứng, làm được chủ, mới thấy Bá Trượng kia.”
Hãy nói khi buông ra phải làm sao ? Xem Tuyết Đậu tụng:
TỤNG:
Tổ vức giao trì thiên mã câu
Hóa môn thơ quyện bất đồng đồ
Điện quang thạch hỏa tồn cơ biến
Kham tiếu nhân lai loát hổ tu.
DỊCH:
Đất Tổ danh lừng thiên mã câu
Cuộn bày cửa hóa chẳng đồng đường
Điện quang đá nháng còn cơ biến
Cười ngất người kia nhổ râu hùm.
GIẢI
TỤNG: Tuyết Đậu thấy tột mới tụng ra. Thiên mã câu là
con ngựa chạy một ngày một ngàn dặm, chạy dọc chạy ngang
nhanh như bay. Tuyết Đậu tụng ý nói Bá Trượng ở trong đất
Tổ, bên Đông chạy sang bên Tây, bên Tây chạy sang bên Đông,
một qua một lại, bảy dọc tám ngang, toàn không chút ngại
giống như thiên mã câu. Khéo hay qua lại mới thấy chỗ tự
do, đó là được đại cơ đại dụng của Mã Tổ.
Có
vị Tăng hỏi Mã Tổ: Thế nào là đại ý Phật pháp ? Mã
Tổ liền đánh, nói: Nếu ta chẳng đánh ngươi thì người
trong thiên hạ sẽ cười ta. Tăng lại hỏi: Thế nào là ý
Tổ sư Tây sang ? Mã Tổ bảo: Lại gần đây, vì ông nói.
Tăng lại gần, Mã Tổ tát vào tai, nói: Sáu cái chẳng đồng
mưu.
Thế
là đủ thấy Ngài được tự do tự tại. Trong chỗ dựng
lập hóa môn, hoặc bày ra hoặc cuộn lại. Có khi bày chẳng
ở chỗ cuộn, có khi cuộn chẳng ở chỗ bày, có khi cuộn
bày đều chẳng còn. Vì thế nói đồng đường mà chẳng
đồng dấu. Câu tụng này là nói Bá Trượng có được thủ
thuật ấy.
Tuyết
Đậu tụng “Điện quang đá nháng còn cơ biến”, là nói
vị Tăng này như làn điện chớp, tợ chọi đá nháng lửa,
chỉ ở trong phút giây cơ biến. Nham Đầu nói: Buông vật
là thượng, theo vật là hạ. Nếu luận về pháp chiến mỗi
mỗi phải ở chỗ chuyển. Tuyết Đậu nói: Bánh xe từng chưa
chuyển, chuyển ắt chạy hai đầu. Nếu chuyển chẳng được,
có dùng vào chỗ nào ? Bậc đại trượng phu phải biết chút
cơ biến mới được. Người nay chỉ quản cung ứng kinh phí
cho người, bị người xỏ lỗ mũi, biết bao giờ liễu ngộ.
Vị Tăng này ở trong chỗ điện xẹt lửa nháng khéo được
cơ biến, liền lễ bái. Tuyết Đậu tụng “Cười ngất người
kia nhổ râu hùm”, nói Bá Trượng như con cọp to, cười ngất
vị Tăng này đến nhổ râu cọp.
?
TẮC
27: VÂN MÔN THÂN BÀY GIÓ THU
LỜI
DẪN: Hỏi một đáp mười, nêu một rõ ba, thấy thỏ thả
chim ưng, nhân gió thổi lửa, chẳng tiếc lông mày hãy gác
lại, như khi vào hang cọp thì thế nào, thử cử xem?
CÔNG
ÁN: Tăng hỏi Vân Môn: Khi lá rụng cành khô thì thế nào?
Vân Môn đáp: Thân bày gió thu.
GIẢI
THÍCH: Nếu nhằm trong ấy tiến được mới thấy chỗ vì
người của Vân Môn. Kia nếu chẳng được thế, vẫn như
xưa là kẻ chỉ nai cho là ngựa, mắt mờ tai điếc, người
nào đến cảnh giới này ? Hãy nói Vân Môn đáp thoại cho
người, hay vì người thù xướng ? Nếu nói đáp thoại cho
người là nhận lầm trái cân bàn (một tiêu chuẩn cố định).
Nếu nói vì người thù xướng thì nào có dính dáng. Đã chẳng
thế ấy, cứu cánh thế nào ? Nếu ông thấy được thấu
thì lỗ mũi Thiền tăng chẳng nhọc một cái ấn tay. Kia nếu
chẳng được thế, như xưa đi thẳng vào trong hang quỉ. Phàm
là người dựng lập tông thừa, phải là toàn thân gánh vác,
chẳng tiếc lông mày, nhằm miệng cọp nằm ngang, mặc nó
lôi ngang kéo dọc. Nếu chẳng như thế đâu thể vì người
được. Ông Tăng này đặt câu hỏi thật là hiểm hóc, nếu
lấy việc tầm thường nhìn ông chỉ giống một vị Tăng
nhàn rỗi. Nếu căn cứ vào dưới cửa Thiền tăng, trong chỗ
mạng mạch mà xem, quả thật có chỗ diệu. Thử nói lá rụng
cành khô là cảnh giới của người nào ? Trong mười tám lối
hỏi, lối hỏi này là “Biện chủ”, cũng gọi là “Tá
sự vấn”. Vân Môn chẳng dời đổi một mảy tơ, chỉ nhằm
ông nói “Thân bày gió thu”. Đáp rất hay, cũng chẳng cô
phụ câu hỏi của người. Bởi vì chỗ hỏi kia có mắt sáng,
chỗ đáp cũng đúng đắn. Người xưa nói: Muốn được thân
thiết chớ đem hỏi đến hỏi. Nếu là tri âm, nói ra liền
biết chỗ rơi. Nếu ông nhằm trong ngữ mạch của Vân Môn
mà tìm thì lầm rồi. Chỉ là trong câu của Vân Môn, phần
nhiều thích gợi tình giải của người. Nếu dùng tình giải
hiểu, chưa khỏi vùi lấp con cháu của ta. Vân Môn thích cỡi
ngựa giặc đuổi giặc như thế. Đâu chẳng thấy Tăng hỏi:
Thế nào là chỗ phi tư lương ? Vân Môn đáp: Thức tình khó
lường. Vị Tăng này hỏi: Khi lá rụng cành khô thì thế nào
? Vân Môn đáp: Thân bày gió thu. Trong câu quả thật chặt
đứt yếu tân, chẳng thông phàm Thánh, phải hiểu Sư cử
một rõ ba, cử ba rõ một. Nếu ông trong ba câu đó mà tìm
thì nhổ tên sau ót. Trong một câu của Sư phải đủ ba câu:
- phú cái càn khôn - tùy ba trục lãng - cát tiệt chúng lưu,
tự nhiên thích hợp. Vân Môn trong ba câu, hãy nói dùng câu
nào tiếp người, thử biện xem ?
TỤNG:
Vấn ký hữu tông
Đáp diệc du đồng
Tam cú khả biện
Nhất thốc liêu không.
Đại dã hề lương tiêu táp táp
Trường thiên hề sơ vũ mông mông.
Quân bất kiến
Thiếu Lâm cửu tọa vị qui khách
Tịnh y Hùng Nhĩ nhất tòng tòng.
DỊCH:
Hỏi đã có tông
Đáp cũng vẫn đồng
Ba câu khá biện
Một mũi băng không.
Đồng rộng chừ vèo vèo gió mát
Trời dài chừ lấm tấm mưa thưa.
Anh chẳng thấy
Thiếu Lâm ngồi lâu chưa về khách
Lặng nương Hùng Nhĩ một rặng tùng.
GIẢI
TỤNG: Người xưa nói: Nương lời cần hiểu tông, chớ tự
lập qui củ. Lời nói người xưa không rỗng, nên nói phàm
hỏi việc cần biết chút ít tốt xấu, nếu chẳng biết tôn
ti đi đến, chẳng biết chạm tịnh, tha hồ nói loạn, có
chỗ nào lợi ích. Phàm phát lời nhả hơi phải như cái kềm,
cái nhíp, có móc, có khóa, phải là tương tục chẳng dứt
mới được. Vị Tăng này chỗ hỏi có tông chỉ, Vân Môn
chỗ đáp cũng vậy. Vân Môn bình thường dùng ba câu tiếp
người, đây là cực tắc. Tuyết Đậu tụng công án này với
công án của Đại Long tương tợ. “Ba câu khá biện”, trong
một câu đủ ba câu, nếu biện được thì thoát ngoài ba câu.
“Một mũi băng không”, chữ “thốc” là mũi tên bắn đi
rất xa, phải chú mắt nhìn nhanh mới thấy. Nếu thấy được
rõ ràng có thể dưới một câu khai triển cả đại thiên
sa giới. Đến đây đã tụng xong. Tuyết Đậu có dư tài,
triển khai tụng ra: “Đồng rộng chừ vèo vèo gió mát, trời
dài chừ lấm tấm mưa thưa.” Hãy nói là tâm hay cảnh, là
huyền hay diệu ? Người xưa nói: Pháp pháp chẳng ẩn tàng,
xưa nay thường hiển lộ. Tăng hỏi: Khi lá rụng cành khô
thì thế nào ? Vân Môn đáp: Thân bày gió thu. Tuyết Đậu
ý chỉ làm một cảnh, như hiện nay trước mắt gió phất
phất, chẳng phải gió Đông Nam tức gió Tây Bắc, cần phải
hiểu thế ấy mới được. Nếu ông khởi hiểu thiền đạo,
liền không dính dáng. “Anh chẳng thấy Thiếu Lâm ngồi lâu
chưa về khách”, khi Tổ Đạt-ma chưa về Tây thiên, chín
năm ngồi xây mặt vào vách lặng yên. Đây là “Lá rụng
cành khô” hay “Thân bày gió thu”? Nếu nhằm trong đây sạch
cổ kim phàm Thánh, càn khôn đại địa nhồi thành một khối,
mới thấy rõ chỗ vì người của Vân Môn, Tuyết Đậu. “Lặng
nương Hùng Nhĩ một rặng tùng”, Hùng Nhĩ tức là Thiếu
Lâm tại Tung Sơn ở Tây Kinh. Phía trước núi có ngàn vạn
lớp tùng, sau núi cũng có ngàn vạn lớp tùng. Các ông nhằm
chỗ nào thấy ? Lại thấy chỗ Tuyết Đậu vì người chăng
? Cũng là rùa linh lê đuôi.
?
TẮC
28: NAM TUYỀN PHÁP CHẲNG NÓI
CÔNG
ÁN: Nam Tuyền đến tham vấn Hòa thượng Niết-bàn ở núi
Bá Trượng. Bá Trượng hỏi: Từ trước chư Thánh lại có
pháp chẳng vì người nói chăng ? Nam Tuyền đáp: Có. Bá Trượng
hỏi: Thế nào là pháp chẳng vì người nói ? Nam Tuyền đáp:
Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật. Bá Trượng
bảo: Nói rồi vậy. Nam Tuyền hỏi: Con chỉ thế ấy, Hòa
thượng thế nào ? Bá Trượng bảo: Ta chẳng phải đại thiện
tri thức, đâu biết có nói chẳng nói. Nam Tuyền thưa: Con
chẳng hội. Bá Trượng bảo: Ta rất vì ông nói xong.
GIẢI
THÍCH: Đến trong đây cũng chẳng tiêu tức tâm chẳng tức
tâm, chẳng tiêu phi tâm chẳng phi tâm, thẳng đó từ đầu
đến chân một sợi lông mày cũng không, vẫn còn đôi chút
so sánh. Tức tâm phi tâm, Thiền sư Thọ cho đó là biểu thuyên
và giá thuyên. Hòa thượng Niết-Bàn tức là Thiền sư Pháp
Chánh, khi xưa ở Bá Trượng làm Tây Đường, bảo chúng khai
điền vì nói đại nghĩa. Khi ấy, Nam Tuyền đã gặp Mã Tổ
xong, chỉ cần đến các nơi để quyết trạch. Bá Trượng
đặt câu hỏi rất khó đáp: “Từ trước chư Thánh lại
có pháp chẳng vì người nói chăng?” Nếu là Sơn tăng chỉ
bịt tai đi ra, xem ông già này một trường rối loạn. Nếu
là hàng tác gia, thấy Sư hỏi thế ấy liền biết phá được.
Nam Tuyền cứ chỗ thấy đáp: Có. Thế là Mạnh Bát Lang. Bá
Trượng bèn đem lầm đến lầm, theo sau nói: Thế nào là pháp
chẳng vì người nói ? Nam Tuyền đáp: Chẳng phải tâm, chẳng
phải Phật, chẳng phải vật. Lão này thích xem mặt trăng
trên trời, rơi mất hạt châu trong tay. Bá Trượng bảo: Nói
rồi vậy. Đáng tiếc thay! Vì kia chú phá. Ngay khi ấy chỉ
nhằm xương sống mà đánh, cho kia biết đau nhức. Tuy nhiên
như thế, ông hãy nói chỗ nào là chỗ nói rồi ? Cứ chỗ
thấy của Nam Tuyền “Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật,
chẳng phải vật” là chưa từng nói đến. Thử hỏi các
ông, tại sao lại bảo “Nói rồi”? Dưới lời của Sư không
có dấu vết. Nếu bảo Sư chẳng nói, vì sao Bá Trượng lại
nói thế ấy ? Nam Tuyền là người biến thông, liền theo sau
một cái đẩy, “Con chỉ thế ấy, Hòa thượng lại thế
nào?” Nếu là kẻ khác chưa khỏi bối rối, đâu ngờ Bá
Trượng là hàng tác gia, chỗ đáp quả thật kỳ đặc. “Ta
chẳng phải là đại thiện tri thức, đâu biết có nói không
nói.” Nam Tuyền thưa: Con chẳng hội. Thế là Sư hội rồi
mà nói chẳng hội hay thật không hội ? Bá Trượng bảo: Ta
rất vì ông nói xong. Hãy nói chỗ nào là chỗ nói ? Nếu là
kẻ đùa hòn đất thì cả hai lộn xộn. Nếu cả hai đều
là tác gia thì như gương sáng tại đài. Kỳ thật phần trước
cả hai đều tác gia, phần sau cả hai đều bỏ qua. Nếu là
người đủ mắt sáng thì rõ ràng nghiệm lấy. Hãy nói làm
sao nghiệm kia, xem Tuyết Đậu tụng:
TỤNG:
Tổ Phật tùng lai bất vị nhân
Nạp tăng kim cổ cạnh đầu tẩu
Minh cảnh đương đài liệt tượng thù
Nhất nhất diện Nam khán Bắc Đẩu
Đẩu bỉnh thùy, vô xứ thảo
Niêm đắc tỷ khổng, thất khước khẩu.
DỊCH:
Tổ Phật xưa nay chẳng vì người
Thiền tăng kim cổ đua nhau chạy
Gương sáng tại đài tướng lạ bày
Mỗi mỗi hướng Nam nhìn Bắc Đẩu
Chuôi sao duỗi, không chỗ tìm
Nắm được lỗ mũi, mất đi miệng.
GIẢI
TỤNG: Phật Thích-ca ra đời bốn mươi chín năm chưa từng
nói một lời, trước từ nước Quang Diệu sau đến sông Bạt-đề,
ở trong khoảng giữa chưa từng nói một lời. Nói thế ấy
là có nói hay chẳng nói ? Như hiện nay đầy Long Cung tràn
Hải Tạng, làm sao bảo chẳng nói? Hãy nghe Tu Sơn Chủ nói:
Chư Phật chẳng xuất thế, bốn mươi chín năm nói, Đạt-ma
chẳng Tây sang, Thiếu Lâm có diệu quyết. Lại nói: Chư Phật
chẳng từng ra đời, cũng không một pháp cho người, chỉ
xem tâm chúng sanh, tùy cơ hợp bệnh cho thuốc, bày phương
tiện, nên có ba thừa mười hai phần giáo. Kỳ thật Phật
Tổ từ xưa đến nay chưa từng vì người nói. Chỉ cái không
vì người, phải khéo tham cứu tường tận. Sơn tăng thường
nói: Nếu là thêm một câu, nếm ngọt ngào như đường mật,
chín chắn xem ra quả là độc dược. Nếu nhằm xương sống
đánh, nhằm miệng vả, đẩy ra ngoài, mới là thân thiết
vì người. Thiền tăng xưa nay đua nhau chạy, khắp nơi phải
cũng hỏi, chẳng phải cũng hỏi, hỏi Phật, hỏi Tổ, hỏi
hướng thượng hướng hạ. Tuy nhiên như thế, nếu chưa đến
trong điền địa này, cũng không thể thiếu được như “Gương
sáng tại đài tướng lạ bày”, chỉ tiêu một câu có thể
biện được rõ ràng. Người xưa nói: Vạn tượng sum la là
sở ấn của một pháp. Lại nói: Sum la và vạn tượng thảy
ở trong ấy tròn đầy. Đại sư Thần Tú nói: “Thân là cây
bồ-đề, tâm như đài gương sáng, luôn luôn phải lau chùi,
chớ để dính bụi bặm.” Ngài Đại Mãn bảo: “Ông chỉ
ở ngoài cửa.” Tuyết Đậu nói thế ấy, hãy nói ở trong
cửa hay ở ngoài cửa ? Cả thảy các ông mỗi người có một
tấm gương xưa, sum la vạn tượng dài ngắn vuông tròn, mỗi
mỗi đều hiển hiện ở trong đó. Nếu ông đến chỗ dài
ngắn mà hiểu, chợt dò tìm chẳng được. Thế nên, Tuyết
Đậu nói: “Gương sáng tại đài tướng lạ bày”, lại
phải là “Mỗi mỗi hướng Nam nhìn Bắc Đẩu”. Đã là
hướng Nam tại sao lại xem Bắc Đẩu? Nếu thế ấy hội được,
mới thấy chỗ Bá Trượng, Nam Tuyền thấy nhau. Hai câu này
tụng chỗ Bá Trượng đẩy tạt qua, nói: “Ta chẳng phải
đại thiện tri thức, đâu biết có nói không nói.” Tuyết
Đậu tụng đến đây bị rơi vào nước chết, ngại người
hiểu lầm, liền đề khởi lên: Chính nay trước mắt chuôi
sao duỗi, ông lại đến chỗ nào tìm ? Ông vừa nắm được
lỗ mũi, mất đi miệng, nắm được miệng mất đi lỗ mũi
rồi vậy.
?
TẮC
29: ĐẠI TÙY THEO KIA ĐI
LỜI
DẪN: Cá lội nước đục, chim bay lông rụng, biện rõ chủ
khách phân rành trắng đen. Giống như gương sáng tại đài,
minh châu trong tay, Hồ đến hiện Hồ, Hán đến hiện Hán,
bày thanh hiển sắc. Hãy nói vì sao như thế, thử cử xem?
CÔNG
ÁN: Tăng hỏi Đại Tùy: Kiếp hỏa cháy rực đại thiên đều
hoại, chưa biết cái này hoại chẳng hoại? Đại Tùy đáp:
Hoại. Tăng hỏi: Thế thì theo kia đi? Đại Tùy đáp: Theo kia
đi.
GIẢI
THÍCH: Hòa thượng Chơn Như ở Đại Tùy kế thừa Thiền sư
Đại An. Sư người huyện Diêm Đình, Đông Xuyên, đi tham vấn
hơn sáu mươi vị thiện tri thức. Xưa khi ở trong hội Qui
Sơn, Sư làm đầu bếp, một hôm Qui Sơn hỏi: Con ở đây nhiều
năm mà không biết đặt một câu hỏi xem thế nào ? Sư
thưa: Bảo con hỏi cái gì mới được ? Qui Sơn bảo: Sao con
chẳng hỏi thế nào là Phật ? Sư liền lấy tay bụm miệng
Qui Sơn. Qui Sơn nói: Ngươi về sau tìm một người quét đất
cũng không. Sau Sư trở về Đông Xuyên, trước cất quán trà
trên con đường lên núi Bằng Khẩu để tiếp đãi người
qua lại, đến ba năm. Sau Sư khai đường dạy chúng, trụ ở
Đại Tùy. Có vị Tăng hỏi: Kiếp hỏa cháy rực đại thiên
đều hoại, chưa biết cái này hoại chẳng hoại ? Vị Tăng
này chỉ y cứ vào kinh điển đến hỏi. Trong kinh nói: Thành
trụ hoại không, khi kiếp tam tai dấy khởi hoại đến cõi
trời Tam Thiền. Vị Tăng này xưa nay chưa biết chỗ rơi của
thoại đầu. Cái này là gì ? Nhiều người khởi tình giải
nói: cái này là bản tánh của chúng sanh. Đại Tùy nói: Hoại.
Vị Tăng hỏi: Thế ấy thì theo kia đi ? Đại Tùy đáp: Theo
kia đi. Chỉ cái này bao nhiêu người tình giải dò tìm chẳng
được. Nếu nói theo kia đi thì ở chỗ nào ? Nếu nói chẳng
theo kia đi, lại tại sao không thấy ? Nên nói: Muốn được
thân thiết chớ đem hỏi đến hỏi. Sau có vị Tăng hỏi Tu
Sơn Chủ: Kiếp hỏa cháy rực đại thiên đều hoại, chưa
biết cái này hoại chẳng hoại ? Tu Sơn Chủ đáp: Chẳng hoại.
Tăng hỏi: Vì sao chẳng hoại ? Tu Sơn Chủ đáp: Vì đồng
với đại thiên, hoại cũng bít lấp giết người, chẳng hoại
cũng bít lấp giết người. Vị Tăng kia đã chẳng hiểu lời
nói của Đại Tùy, song y chẳng ngại lấy việc này làm niệm,
mang nghi vấn thẳng đến núi Đầu Tử ở Thơ Châu. Đầu
Tử hỏi: Vừa rời chỗ nào ? Tăng thưa: Núi Đại Tùy ở
Tây Thục. Đầu Tử hỏi: Đại Tùy có ngôn cú gì ? Tăng liền
nhắc lại lời hỏi trước. Đầu Tử thắp hương lễ bái
nói: Tây Thục có cổ Phật ra đời, ông nên trở lại mau.
Vị Tăng trở về đến Đại Tùy thì Đại Tùy đã tịch.
Vị Tăng này một trường rối loạn. Sau đời Đường có
vị tăng Cảnh Tuân đề Đại Tùy:
Rõ ràng không pháp khác
Ai nói ấn Nam Năng
Một câu theo lời họ
Thiền tăng chạy núi ngàn
Dế lạnh kêu đống lá
Quỉ đêm lễ lồng đèn
Ngâm xong ngoài song lẻ
Bồi hồi hận chẳng cùng.
Vì
thế, dưới đây Tuyết Đậu dẫn hai câu này tụng ra. Hiện
nay chẳng được khởi hiểu hoại, cũng chẳng được khởi
hiểu không hoại, cứu kính hiểu thế nào ? Để mắt xem nhanh!
TỤNG:
Kiếp hỏa quang trung lập vấn đoan
Nạp tăng du trệ lưỡng trùng quang
Khả lân nhất cú tùy tha ngữ
Vạn lý khu khu độc vãng hoàn.
DỊCH:
Kiếp hỏa sáng ngời hỏi thành câu
Thiền tăng còn kẹt cổng hai vòng
Đáng thương chỉ một lời theo đấy
Muôn dặm nhọc nhằn riêng tới lui.
GIẢI
TỤNG: Tuyết Đậu đương cơ tụng ra, trong câu có chỗ xuất
thân “Kiếp hỏa sáng ngời hỏi thành câu, Thiền tăng còn
kẹt cổng hai vòng”, chỗ hỏi của vị Tăng trước ôm ấp
hoại cùng chẳng hoại là kẹt hai tầng cổng. Nếu là người
được thì nói hoại cũng có chỗ xuất thân, nói chẳng hoại
cũng có chỗ xuất thân. Hai câu “Đáng thương chỉ một lời
theo đấy, muôn dặm nhọc nhằn riêng tới lui”, tụng vị
Tăng mang câu hỏi đến Đầu Tử, lại trở về Đại Tùy,
đáng gọi là muôn dặm nhọc nhằn.
?
TẮC
30: TRIỆU CHÂU CỦ CẢI TO
CÔNG
ÁN: Tăng hỏi Triệu Châu: Được nghe Hòa thượng thân kiến
Nam Tuyền phải chăng? Triệu Châu đáp: Ở Trấn Châu phát
xuất củ cải to.
GIẢI
THÍCH: Vị Tăng này cũng thuộc hạng tham cứu lâu, trong câu
hỏi quả là có mắt. Đâu ngờ Triệu Châu là hàng tác gia,
liền đáp: Ở Trấn Châu phát xuất củ cải to. Đáng gọi
là lời nói vô vị, bít lấp miệng người. Lão này giống
như kẻ cướp ban ngày, ông vừa mở miệng liền móc tròng
mắt của ông. Nếu là kẻ đặc đạt anh linh, ngay đó nhằm
trong khoảng đá nháng điện xẹt, vừa nghe nói đến liền
đi. Nếu là lặng nghĩ dừng suy chẳng khỏi tan thân mất mạng.
Ở Giang Tây, Trừng Tán Thánh Phán nói đó là hỏi đông đáp
Tây, bảo là chẳng đáp thoại, chẳng vào lồng
vào lọp của người. Nếu hiểu thế ấy đâu thể được.
Viễn Lục Công nói: Đây là lời nhìn bên, nằm trong cửu
đới. Nếu hiểu thế ấy, khi mộng cũng chưa mộng thấy,
lại còn đới lụy Triệu Châu. Có người nói: Ở Trấn Châu
từ xưa đến giờ sản xuất củ cải to, mọi người đều
biết, Triệu Châu từ khi đến tham kiến Nam Tuyền mọi người
đều biết. Vị Tăng này đến hỏi: Được nghe Hòa thượng
thân kiến Nam Tuyền phải chăng ? Vì thế Triệu Châu dùng
Trấn Châu xuất phát củ cải to để đáp. Hiểu thế thật
là không dính dáng. Trọn chẳng được hiểu thế ấy, cứu
cánh làm sao hiểu ? Nhà mỗi người tự có đường thấu trời.
Đâu chẳng thấy có vị Tăng hỏi Cửu Phong: được nghe Hòa
thượng thân kiến Diên Thọ phải chăng, Cửu Phong đáp: Trước
núi mạch chín chưa ? Đây hợp với lời Triệu Châu đáp cho
vị Tăng, giống như hai cái chùy sắt không lỗ. Lão Triệu
Châu là người vô sự, ông nhè nhẹ hỏi đến, liền móc
tròng mắt ông. Nếu là người “tri hữu” nhai kỹ thấy
thú vị. Nếu là người “chẳng tri hữu” giống như ngốn
nuốt trái táo.
TỤNG:
Trấn Châu xuất đại la bặc
Thiên hạ Nạp tăng thủ tắc
Chỉ tri tự cổ tự kim
Tranh biện hộc bạch ô hắc
Tặc ! Tặc !
Nạp tăng tỹ khổng tằng niêm đắc.
DỊCH:
Trấn Châu sản xuất củ cải
Thiền tăng khắp nơi giữ tắc
Chỉ biết tự xưa tự nay
Nào biện quạ đen hộc trắng
Giặc ! Giặc !
Lỗ mũi Thiền tăng từng nắm được.
GIẢI
TỤNG: Câu “Trấn Châu sản xuất củ cải to”, nếu ông
chấp đó làm cực tắc sớm đã lầm rồi. Người xưa nắm
tay tiến lên núi cao chưa khỏi kẻ bàng quan cười. Mọi người
đều biết nói cái này là cực tắc, mà cứu cánh không biết
chỗ cực tắc. Vì thế Tuyết Đậu nói “Thiền tăng khắp
nơi giữ tắc, chỉ biết tự xưa tự nay, nào biện quạ đen
hộc trắng”. Tuy biết người nay đáp thế ấy,
người xưa cũng đáp thế ấy, mà đâu từng phân biệt trắng
đen. Tuyết Đậu nói cũng phải đến trong khoảng đá nháng
điện xẹt biện biệt quạ đen hộc trắng mới được. Công
án đến đây tụng xong. Tuyết Đậu xuất ý nhằm chỗ sống
linh động và nhằm các ông nói “Giặc! Giặc! Lỗ mũi Thiền
tăng từng nắm được”. Chư Phật ba đời cũng là giặc,
Tổ sư nhiều đời cũng là giặc, khéo hay làm giặc móc tròng
mắt người, mà chẳng trầy tay chân, chỉ riêng một Triệu
Châu. Hãy nói chỗ nào là chỗ Triệu Châu khéo làm giặc ?
Trấn Châu xuất phát củ cải to.