TẮC
11: HOÀNG BÁ BỌN ĂN HÈM
LỜI
DẪN: Đại cơ Phật Tổ toàn nắm trong tay, mạng mạch nhân
thiên nằm trong tiếng gọi, thảnh thơi một lời một câu
kinh động quần chúng, một cơ một cảnh đập xích phá cùm,
tiếp cơ hướng thượng nêu việc hướng thượng. Hãy nói
người nào từng đến thế ấy, có biết chỗ rơi chăng, thử
nêu xem ?
CÔNG
ÁN: Hoàng Bá dạy chúng: Cả thảy các ngươi đều là bọn
ăn hèm, hành khước thế ấy chỗ nào có ngày nay ? Lại biết
trong nước Đại Đường có Thiền sư chăng ? Có vị Tăng
ra thưa: Chỉ như các nơi khuông đồ lãnh chúng lại là gì
? Hoàng Bá bảo: Chẳng nói không thiền, chỉ là không Sư.
GIẢI
THÍCH: Hoàng Bá thân cao bảy thước (2,80m), trên trán có hạt
châu tròn, thiên tánh hội thiền. Sư đi dạo Thiên Thai,
trên đường gặp một vị Tăng cùng bàn luận vui cười như
người quen cũ, nhìn kỹ là người đã chết, có chút ít tướng
lạ. Hai người đồng đi, gặp dòng suối nước tràn chảy
mạnh, Sư chống gậy lột nón đứng lại, vị Tăng kia thúc
Sư đồng qua. Sư bảo: Mời qua trước. Vị Tăng kia liền vén
áo bước trên sóng đi qua, như bước trên đất bằng. Qua
rồi, vị Tăng gọi: Qua đây ! Qua đây ! Sư quở: Gã tự liễu
này ! Nếu tôi sớm biết làm quái, sẽ chặt bắp đùi huynh.
Vị Tăng kia khen: Thật là pháp khí Đại thừa. Nói xong nhìn
lại chẳng thấy ông. Sư ban đầu đến Bá Trượng, Bá Trượng
hỏi: Vòi vọi rỡ rỡ từ chỗ nào đến ? Sư thưa: Vòi vọi
rỡ rỡ từ Lãnh Trung đến. Bá Trượng hỏi: Đến vì việc
gì ? Sư thưa: Chẳng vì việc khác. Bá Trượng thầm nhận
đó. Hôm khác, Sư đến từ Bá Trượng, Bá Trượng hỏi: Định
đi đâu ? Sư thưa: Đến Giang Tây lễ bái Mã Đại sư. Bá
Trượng bảo: Mã Đại sư tịch rồi.Ông hãy nói Hoàng Bá
hỏi thế ấy là biết mà hỏi hay không biết mà hỏi ? Sư
thưa: Con mơ ước đến lễ bái mà phước duyên cạn mỏng
không được yết kiến. Chẳng biết bình thường Ngài có
lời dạy gì, mong được nghe nhắc lại ? Bá Trượng nhắc
lại nhân duyên tái tham vấn Mã Tổ, Mã Tổ thấy ta đến
liền dựng đứng cây phất tử, ta hỏi: Tức đây dùng lìa
đây dùng ? Mã Tổ bèn treo cây phất tử ở góc giường thiền.
Giây lâu Mã Tổ hỏi ta: Ngươi về sau đập hai miếng da, vì
người thế nào ? Ta lấy cây phất tử dựng đứng. Mã Tổ
hỏi: Tức đây dùng lìa đây dùng ? Ta đem cây phất tử máng
ở góc giường thiền. Mã Tổ chấn chỉnh oai nghi hét một
tiếng, ta khi ấy đến ba ngày lỗ tai còn điếc. Hoàng Bá
bất chợt hoảng hốt le lưỡi. Bá Trượng bảo: Ngươi về
sau kế thừa Mã Tổ chăng ? Sư thưa: Chẳng phải thế, ngày
nay nghe thầy nhắc lại, được thấy Mã Đại sư đại cơ
đại dụng, nếu kế thừa Mã Đại sư về sau mất hết con
cháu của con. Bá Trượng bảo: Đúng thế ! Đúng thế ! Thấy
bằng thầy kém thầy nửa đức, trí vượt hơn thầy mới
kham truyền thụ. Chỗ thấy của ngươi hiện nay quả là có
tác dụng vượt hơn thầy. Quí vị hãy nói, Hoàng Bá hỏi
thế ấy là biết mà cố hỏi hay không biết mà hỏi ? Cần
phải thân thấy chỗ hành lý trong nhà cha con họ mới được.
Một hôm, Hoàng Bá lại hỏi Bá Trượng: Tông thừa về trước
làm sao chỉ dạy ? Bá Trượng im lặng giây lâu. Hoàng Bá thưa:
Không thể khiến người sau, đoạn tuyệt. Bá Trượng nói:
Toan bảo ngươi là một cá nhân. Bèn đứng dậy đi vào phương
trượng.
Hoàng
Bá cùng Tướng quốc Bùi Hưu là bạn phương ngoại. Bùi Hưu
trấn Uyển Lăng thỉnh Sư đến quận đường, đem quyển sách
ông viết trao cho Sư xem. Sư tiếp nhận rồi để dưới tòa,
bỏ qua không giở ra xem, im lặng giây lâu hỏi: Hội chăng
? Bùi Hưu thưa: Chẳng hội. Hoàng Bá nói: Nếu thế ấy hội
được vẫn còn sơ sài, nếu bày trên giấy mực thì chỗ
nào lại có Tông của ta. Bùi Hưu bèn làm bài tụng tán thán:
TỤNG:
Tự tùng Đại sĩ truyền tâm ấn
Ngạch hữu viên châu thất xích thân
Quải tích thập niên thê Thục thủy
Phù bôi kim nhật độ Chương Tân
Vạn lý hương hoa kết thắng nhân
Nghĩ dục sự Sư vi đệ tử
Bất tri tương pháp phó hà nhân.
DỊCH:
Kể từ Đại sĩ truyền tâm ấn
Chiếc thân bảy thước trán minh châu
Chống gậy mười năm nương đất Thục
Hôm nay cỡi sóng sang Chương Tân
Tám ngàn long tượng theo chân bước
Muôn dặm hương hoa kết thắng nhân
Lòng muốn thờ thầy làm đệ tử
Chẳng biết pháp gì gởi cho người.
Sư cũng không có vẻ vui nói:
Tâm như đại hải vô biên tế
Khẩu thổ hồng liên dưỡng bệnh thân
Tự hữu nhất song vô sự thủ
Bất tằng chi ấp đẳng nhàn nhân.
DỊCH:
Tâm như bể cả không ngằn mé
Miệng nhả sen hồng nuôi bệnh thân
Sẵn có một đôi tay không việc
Chẳng từng kính vái kẻ ưa nhàn.
Sau
khi Sư trụ trì cơ phong cao vót, Lâm Tế ở trong hội, Mục
Châu làm Thủ tọa. Mục Châu hỏi Lâm Tế: Thượng tọa ở
đây đã lâu sao chẳng đến hỏi thoại ? Lâm Tế thưa: Bảo
tôi hỏi thoại gì mới được ? Thủ tọa bảo: Sao không hỏi
thế nào là đại ý Phật pháp ? Lâm Tế liền đi hỏi, ba
phen bị đánh đuổi ra. Lâm Tế đến từ giã Thủ tọa: Nhờ
Thủ tọa dạy ba phen đến hỏi đều bị đánh đuổi ra, e
nhân duyên không phải ở đây, tạm thời xin xuống núi. Thủ
tọa bảo: Ông muốn đi nên đến từ giã Hòa thượng rồi
sẽ đi. Thủ tọa đến trước bạch Hoàng Bá: Thượng tọa
đến hỏi thoại thật là ít có, sao Hòa thượng không đục
đẽo khiến thành cội cây to che mát người sau ? Hoàng Bá
nói: Ta đã biết ! Lâm Tế đến từ giã, Hoàng Bá bảo: Ông
không nên đi nơi khác, hãy thẳng đến bến Cao An yết kiến
Đại Ngu. Lâm Tế đến Đại Ngu thuật lại lời hỏi trước,
chẳng biết con lỗi tại chỗ nào ? Đại Ngu nói: Hoàng Bá
thật tâm lão bà tha thiết vì ông triệt khốn, lại hỏi có
lỗi không lỗi. Lâm Tế bỗng nhiên đại ngộ, nói: Phật
pháp Hoàng Bá rất ít. Đại Ngu nắm đứng bảo: Ông vừa
rồi nói có lỗi không lỗi, giờ đây nói Phật pháp Hoàng
Bá rất ít. Lâm Tế nhằm hông Đại Ngu thoi ba cái. Đại Ngu
buông ra bảo: Thầy ông là Hoàng Bá, không can gì việc của
ta.
Một
hôm Hoàng Bá nói: “Đại sư Pháp Dung ở núi Ngưu Đầu nói
ngang nói dọc vẫn chưa biết cây chốt cửa hướng thượng.”
Bấy giờ, dưới hội Thạch Đầu Mã Tổ, Thiền tăng đông
vầy nói thiền nói đạo, tại sao Sư lại nói như thế ? Sở
dĩ dạy chúng: “Cả thảy các ông đều là kẻ ăn hèm, đi
hành cước thế ấy chỉ khiến cho người ta cười, chỉ thấy
tám trăm, một ngàn người liền ra đi, không thể cam chịu
sự ồn náo. Trong đây thảy đều dung dị như các ông thì
làm gì lại có việc ngày nay ?.” Thời Đường ưa mắng người
bằng câu “kẻ ăn hèm”. Nhiều người nói Hoàng Bá mắng
người ta. Kẻ mắt sáng tự thấy chỗ rơi của Sư. Đại
ý thả một lưỡi câu để nhử người hỏi. Trong chúng có
Thiền khách không tiếc thân mạng, liền hiểu như thế ra
chúng hỏi: Hiện nay các nơi khuông đồ lãnh chúng lại là
sao ? Cũng nên cho một tát. Lão này quả nhiên bối rối liền
ló đuôi, nói: Chẳng nói không thiền chỉ là không Sư. Hãy
nói ý tại chỗ nào ? Tông chỉ của Sư từ trước có khi
bắt, có khi thả, có khi giết, có khi tha, có khi buông, có
khi giữ. Dám hỏi quí vị: Thế nào Sư ở trong thiền ? Sơn
tăng nói thế ấy đã là khắp đầu chìm ngấm rồi. Lỗ mũi
quí vị ở chỗ nào ? Giây lâu nói: Xỏ qua rồi.
TỤNG:
Lẫm lẫm cô phong bất tự khoa
Đoan cư hoàng hải định Long xà
Đại Trung Thiên tử tằng khinh xúc
Tam độ thân tao lộng trảo nha.
DỊCH:
Lẫm lẫm cô phong chẳng tự khoe
Ngồi yên biển cả định Long xà
Đại Trung Thiên tử từng bị tát
Ba trận thân đùa nanh vuốt nhe.
GIẢI
TỤNG: Bài tụng này của Tuyết Đậu dường như bài chân
tán Hoàng Bá. Song chúng ta không hiểu theo chân tán thì dưới
câu liền có chỗ xuất thân. Nói rõ ràng rằng “lẫm lẫm
cô phong chẳng tự khoe”, Hoàng Bá dạy chúng thế ấy, chẳng
phải tranh thắng người thua mình, tự trình tự khoe. Nếu
hội được tin tức này, mặc tình bảy dọc tám ngang, có
khi đứng một mình trên ngọn cô phong, có khi nằm ngang giữa
chốn thành thị, đâu thể riêng giữ một góc. Càng xả càng
chẳng hết, càng tìm càng chẳng thấy, càng gánh gồng càng
chìm lịm. Người xưa nói: “Không cánh khắp thiên hạ, có
danh truyền thế gian.” Tận tình buông hết Phật pháp, đạo
lý huyền diệu kỳ đặc, buông sạch không còn chút gì, tự
nhiên xúc xứ hiện thành. Tuyết Đậu nói “ngồi yên biển
cả định long xà”, là rồng là rắn vào cửa đều nghiệm
được, gọi là định long xà nhãn, cầm hổ hủy cơ (con mắt
định rồng rắn, máy bắt cọp tê giác). Tuyết Đậu lại
nói “định long xà chừ mắt nào chánh, cầm hổ hủy chừ
cơ chẳng toàn”. Hai câu “Đại Trung thiên tử từng bị
tát, ba trận thân đùa nanh vuốt nhe”, Hoàng Bá đâu phải
chỉ hiện nay thủ đoạn ác, mà từ trước đến giờ là
thế. Đại Trung thiên tử theo truyện Tục Hàm Thông chép:
Vua Đường Hiến Tông có hai người con là Mục Tông và Tuyên
Tông. Tuyên Tông tức là Đại Trung, mới mười ba tuổi mà
rất thông minh, thích ngồi kiết-già. Khi Mục Tông đang tại
vị, nhân bãi triều sớm, Đại Trung đùa, lên long sàng ngồi,
làm thế quần thần kính bái. Đại thần xem thấy cho đó
là tâm phong, bèn tâu lên Mục Tông. Mục Tông thấy vỗ về
khen: Em ta là bậc anh tài của Tông tổ ta. Niên hiệu Trường
Khánh thứ tư (824), Mục Tông băng hà. Mục Tông có ba người
con là Kỉnh Tông, Văn Tông và Võ Tông. Kỉnh Tông nối ngôi
vua cha được hai năm, nội thần mưu thay đổi. Văn Tông lên
ngôi mười bốn năm, kế Võ Tông lên ngôi. Võ Tông gọi Đại
Trung là si nô. Một hôm, Võ Tông hận Đại Trung ngày xưa lên
long sàng của cha mình ngồi, bèn lôi ra đánh đến chết đem
bỏ trong vườn, dùng nước nhơ rưới lên được tỉnh trở
lại. Sau khi tỉnh, Đại Trung lén trốn vào hội của Thiền
sư Chí Nhàn ở Hương Nghiêm, cạo tóc làm Sa-di. Chưa thọ
giới Cụ túc, theo Chí Nhàn du phương đến Lô Sơn. Nhân Chí
Nhàn làm thơ đề Bộc Bố (Nước trên núi chảy xuống như
tấm vải treo):
Xuyên vân thấu thạch bất từ lao
Địa viễn phương tri xuất xứ cao.
DỊCH:
Phủng mây soi đá biết nhọc nào
Xa tít mới hay xuất xứ cao.
Chí
Nhàn ngâm hai câu này rồi, ngẫm nghĩ mãi cố ý câu cho y thổ
lộ xem ngữ mạch thế nào. Đại Trung tiếp:
Khê giản khởi năng lưu đắc trụ
Chung qui đại hải tác ba đào.
DỊCH:
Khe suối tài gì ngăn được đứng
Trọn về bể cả dấy ba đào.
Chí
Nhàn biết không phải người tầm thường, chỉ thầm biết
thôi, sau đến trong hội Diêm Quan thỉnh Đại Trung làm thư
ký, Hoàng Bá làm Thủ tọa. Một hôm, Hoàng Bá đi lễ Phật,
Đại Trung thấy hỏi: Chẳng cầu Phật, chẳng cầu Pháp, chẳng
cầu Tăng, vậy lễ bái để cầu cái gì ? Hoàng Bá đáp: Chẳng
cầu Phật, chẳng cầu Pháp, chẳng cầu Tăng, thường lễ
như thế. Đại Trung bảo: Dùng lễ làm gì ? Hoàng Bá liền
tát tai. Đại Trung nói: Quá thô ! Hoàng Bá nói: Trong đây còn
gì nói thô nói tế. Hoàng Bá lại tát tai. Sau Đại Trung lên
ngôi vua, ban Hoàng Bá hiệu “Thô hạnh Sa-môn”. Tướng quốc
Bùi Hưu ở triều tâu xin ban hiệu là: Đoạn Tế Thiền sư.
Tuyết Đậu biết rõ huyết mạch xuất xứ ấy nên ứng dụng
rất khéo. Hiện nay có người đùa nanh vuốt chăng ? Liền
đánh.
?
TẮC
12: ĐỘNG SƠN BA CÂN GAI
LỜI
DẪN: Đao giết người kiếm tha người là phong qui từ thượng
cổ, cũng là chỗ khu yếu của hiện nay. Nếu luận về giết
thì không chạm đến mảy lông, nếu luận về tha thì tan thân
mất mạng. Vì thế nói: “Con đường hướng thượng ngàn
Thánh chẳng truyền, học giả nhọc hình như khỉ bắt bóng.”
Hãy nói đã là chẳng truyền, vì sao lại có rất nhiều công
án sắn bìm ? Người đủ mắt sáng thử nói xem !
CÔNG
ÁN: Tăng hỏi Động Sơn Thủ Sơ: Thế nào là Phật ? Động
Sơn đáp: Ba cân gai.
GIẢI
THÍCH: Công án này nhiều người hiểu lầm, hẳn là khó nhai
gặm, không có chỗ cho ông mở miệng. Tại sao ? Vì nhạt nhẽo
không có mùi vị. Người xưa đã lắm lần đáp câu hỏi Phật,
hoặc nói ở trong điện, hoặc nói ba mươi hai tướng, hoặc
nói trong rừng dưới núi tre trúc tươi. Động Sơn đáp ba
cân gai, quả là cắt đứt đầu lưỡi người xưa. Nhiều
người khởi hiểu câu này, khi ấy Động Sơn đang cân gai
trong kho, Tăng hỏi nên đáp như thế, hoặc nói Động Sơn
hỏi Đông đáp Tây, hoặc nói ông là Phật lại đi hỏi Phật,
nên Động Sơn đi quanh đáp cho gã chết. Hoặc nói chỉ ba
cân gai này là Phật. Thật hoàn toàn không dính dáng. Nếu
ông dưới câu của Động Sơn hiểu như thế, tham vấn đến
Phật Di-lặc ra đời cũng chưa mộng thấy. Tại sao ? Vì ngôn
ngữ chỉ là món đồ chở đạo. Sao chẳng biết ý của cổ
nhân, chỉ chăm vào trong câu tìm cầu có gì chân thật. Người
xưa nói: Đạo vốn không lời, nhân lời hiển đạo, thấy
đạo phải quên lời. Nếu đến đây trả lại ta cơ đệ
nhất mới được. Chỉ câu “ba cân gai” giống như con đường
Trường An giở chân lên để chân xuống đều là phải. Câu
nói này so với câu “bánh hồ” của Vân Môn cũng đồng
một loại, quả là khó hội. Ngũ Tổ tiên sư tụng:
TỤNG:
Tiện mại đảm bản hán
Thiếp bình ma tam cân
Thiên bách niên trệ hóa
Vô xứ trước hồn thân.
DỊCH:
Kẻ hèn gánh bảng bán
Đo lường ba cân gai
Trăm ngàn năm mắc kẹt
Không chỗ để thân an.
Ông
chỉ nhồi đập cho tình trần ý tưởng so lường được mất
phải quấy một lúc hết sạch, tự nhiên hội được.
TỤNG:
Kim ô cấp ngọc thố tốc
Thiện ứng hà tằng hữu khinh xúc
Triển sự đầu cơ kiến Động Sơn
Ba miết manh qui nhập không cốc.
Hoa thốc thốc, cẩm thốc thốc
Nam địa trúc hề Bắc địa mộc
Nhân tư Trường Khánh Lục Đại phu
Giải đạo hiệp tiếu bất hiệp khấp
Di !
DỊCH:
Mặt trời Chóng mặt trăng gấp
Khéo ứng đâu từng có khinh xúc
Triển sự đầu cơ thấy Động Sơn
Què trạnh, rùa mù vào hang trống.
Hoa nhóm nhóm, gấm nhóm nhóm
Tre đất Nam chừ cây đất Bắc
Nhân nhớ Trường Khánh Lục Đại phu
Khéo nói nên cười chẳng nên khóc.
Chao !
GIẢI
TỤNG: Tuyết Đậu thấy được thấu nên ngay nơi đầu nói
“mặt trời chóng, mặt trăng gấp”, cùng Động Sơn “ba
cân gai” không có hai thứ. Mặt trời mọc, mặt trăng lặn,
ngày ngày như thế. Người nhiều tình giải chỉ nói mặt
trời là con mắt tả, mặt trăng là con mắt hữu, vừa hỏi
đến liền trừng mắt nói ở trong đây. Thật không có gì
dính dáng. Nếu hiểu thế ấy thì một tông Tổ Đạt-ma mất
sạch. Vì thế nói, thả câu bốn biển chỉ câu rồng to, cách
ngoại máy huyền vì tầm tri kỷ. Tuyết Đậu là người ra
khỏi ấm giới há khởi loại kiến giải này. Tuyết Đậu
nhè nhẹ gõ cửa, chọi cây bày hiện chút ít cho ông thấy,
liền hạ chú cước nói “khéo ứng đâu từng có khinh xúc”.
Động Sơn chẳng dám khinh thường đáp vị Tăng này, như chuông
chịu đóng, như hang nhận vang, lớn nhỏ tùy ứng không dám
khinh xúc. Tuyết Đậu đồng thời bày hiện tâm can ngũ tạng
trình cho các ông rồi. Tuyết Đậu có bài tụng:
TỤNG:
Tĩnh Nhi Thiện Ứng
Đổ diện tương trình
Long xà dị biện
Bất tại đa đoan
Nạp tử nan man.
Kim chùy ảnh động
Bảo kiếm quang hàn
Trực hạ lai dã
Cấp trước nhãn khan.
DỊCH:
Tĩnh mà khéo ứng
Thấy mặt trình nhau
Chẳng tại đa đoan
Rắn rồng dễ biện
Thiền tăng khó lừa.
Chùy vàng bóng động
Kiếm báu quang hàn
Ngay đây thẳng lại
Để mắt chóng xem.
Động
Sơn ban đầu đến tham vấn Vân Môn, Vân Môn hỏi: Vừa rời
chỗ nào ? Động Sơn thưa: Tra Độ. Vân Môn hỏi: Mùa hạ
ở đâu ? Động Sơn thưa: Chùa Báo Từ ở Hồ Nam. Vân Môn
hỏi: Rời chỗ kia lúc nào ? Động Sơn thưa: Ngày hai mươi
lăm tháng tám. Vân Môn bảo: Tha ông ba gậy, đến nhà tham
thiền đi. Chiều lại, Sư vào thất thân cận hỏi: Con lỗi
tại chỗ nào ? Vân Môn bảo: Cái túi cơm, Giang Tây Hồ Nam
là thế ấy. Động Sơn ngay câu này bỗng nhiên đại ngộ
thưa: Con ngày khác đến chỗ không có hơi người, dựng một
chiếc am, chẳng chứa một hạt gạo, chẳng trồng một cọng
rau, thường tiếp đãi thiện tri thức mười phương qua lại,
trọn vì họ nhổ đinh tháo chốt, lột chiếc mũ thịt mỡ,
cổi chiếc áo hôi thúi, khiến mọi người sạch sẽ thong
dong, làm một người vô sự. Vân Môn bảo: Thân bằng cây
dừa mà mở được cái miệng to thế. Động Sơn liền từ
tạ ra đi. Chỗ đương thời Sư ngộ liền đó chóng thoát,
há đồng với tiểu kiến. Sau này Sư xuất thế ứng cơ, câu
“ba cân gai”, các nơi chỉ hiểu là lời đáp Phật. Như
hỏi: thế nào là Phật, đáp: trong rừng dưới núi tre trúc
tươi, hoặc đáp: đồng tử Bính Đinh đến xin lửa. Thế
là chỉ quản trên chữ Phật làm đạo lý. Tuyết Đậu nói
nếu thế ấy khởi triển sự đầu cơ hiểu, giống như “què
trạnh rùa mù vào hang trống”, biết ngày tháng năm nào tìm
được đường ra. Câu “hoa nhóm nhóm, gấm nhóm nhóm” đây
là vị Tăng hỏi Hòa thượng Trí Môn: Động Sơn nói ba cân
gai là ý chỉ thế nào ? Trí Môn đáp: Hoa nhóm nhóm, gấm nhóm
nhóm, hiểu chăng ? Tăng thưa: Chẳng hiểu. Trí Môn nói: Tre
đất Nam chừ cây đất Bắc. Vị Tăng trở về thưa lại với
Động Sơn. Động Sơn nói: Ta chẳng vì ngươi nói, ta vì đại
chúng nói. Liền thượng đường nói: Nói không bày việc,
lời chẳng hợp cơ, nương lời là mất, kẹt câu là mê. Tuyết
Đậu muốn phá tình kiến người, cố ý dẫn làm nhất quán
tụng ra. Người sau lại chuyển sanh tình kiến nói, gai là
đồ hiếu phục, trúc là hiếu trượng, nên nói “tre đất
Nam chừ cây đất Bắc”. Hoa nhóm nhóm, gấm nhóm nhóm là
trước đầu quan tài vẽ hoa cỏ. Lại biết hổ thẹn chăng
? Đâu chẳng biết “tre đất Nam chừ cây đất Bắc” cùng
“ba cân gai” giống như tiếng kêu Cha với Ba vậy. Người
xưa đáp một chuyển ngữ quyết là ý chẳng thế ấy. Như
Tuyết Đậu nói “mặt trời chóng mặt trăng gấp” đại
để là một loại nói rộng ra, chỉ là vàng thau khó biện,
tôm tép khó phân. Tuyết Đậu tâm lão bà tha thiết cốt phá
nghi tình cho ông, lại dẫn người chết. “Nhân nhớ Trường
Khánh Lục Đại phu, khéo nói nên cười chẳng nên khóc.”
Nếu luận về tụng của Sư chỉ ba câu đầu đồng thời
tụng xong. Ta hỏi ông, trọn vẹn chỉ là ba cân gai, tại sao
Tuyết Đậu lại có nhiều sắn bìm ? Chẳng qua vì quá từ
bi nên như thế. Lục Hoàn Đại phu làm Quán sát sử ở Tuyên
Châu đến tham vấn Nam Tuyền. Khi Nam Tuyền tịch, nghe sắp
đi chôn, ông vào chùa tế xong liền cười ha hả. Viện chủ
bảo: Tiên sư cùng Đại phu có nghĩa thầy trò sao chẳng khóc
? Đại phu bảo: Nói được thì khóc. Viện chủ lặng câm.
Đại phu khóc to nói: Trời xanh ! Trời xanh ! Tiên sư cách đời
xa vậy ! Sau này Trường Khánh nghe, bèn nói: Đại phu nên cười
chẳng nên khóc. Tuyết Đậu mượn ý này đại để nói, nếu
ông khởi loại tình giải này, chính nên cười chớ có khóc.
Phải là phải, rốt sau có một chữ thật quái gở, nói “chao”,
Tuyết Đậu rửa được sạch chăng ?
?
TẮC
13: BA LĂNG TRONG CHÉN BẠC ĐỰNG TUYẾT
LỜI
DẪN: Mây dừng đồng rộng, khắp nơi chẳng giấu. Tuyết
phủ hoa lau, khó phân dấu vết. Chỗ lạnh lạnh như băng tuyết,
chỗ tế tế như mảnh gạo, chỗ sâu sâu mắt Phật cũng khó
thấy, chỗ kín kín ma ngoại khó lường. Nêu một rõ ba nên
gác lại, ngồi cắt đầu lưỡi người trong thiên hạ làm
sao nói ? Hãy nói là việc phần thượng của người nào, thử
cử xem ?
CÔNG
ÁN: Tăng hỏi Thiền sư Ba Lăng: Thế nào là tông Đề-bà ?
Ba Lăng đáp: Trong chén bạc đựng tuyết.
GIẢI
THÍCH: Công án này nhiều người hiểu lầm nói, đây là tông
ngoại đạo có giao thiệp gì ? Tổ thứ mười lăm là Tôn
giả Đề-bà cũng là một trong số ngoại đạo, nhân gặp
Tổ thứ mười bốn Tôn giả Long Thọ, lấy cây kim thả trong
chậu, tổ Long Thọ thầm nhận, truyền Tâm tông của Phật,
kế thừa làm Tổ thứ mười lăm. Kinh Lăng-già chép: Phật
nói tâm là tông, cửa Không làm cửa Pháp. Mã Tổ nói: “Phàm
có câu lời là tông Đề-bà, chỉ do cái này làm chủ, các
ngươi là Thiền khách đã từng thể cứu tông Đề-bà chăng
? Nếu thể cứu được thì chín mươi sáu thứ ngoại đạo
ở Ấn Độ bị ông một lúc hàng phục. Nếu thể cứu chẳng
được, chưa khỏi mặc ngược chiếc áo cà-sa.” Hãy nói
phải làm sao ? Nếu nói ngôn cú là phải cũng không giao thiệp.
Nếu nói ngôn cú chẳng phải cũng không giao thiệp. Hãy nói
ý Mã Đại sư ở chỗ nào. Sau này Vân Môn nói: Mã Đại sư
khéo nói năng, chỉ là không người hỏi. Có vị Tăng hỏi:
Thế nào là tông Đề-bà ? Vân Môn đáp: Chín mươi sáu thứ,
ông là hạng chót.
Xưa
có vị Tăng từ giã Đại Tùy, Đại Tùy hỏi: Đi đến đâu
? Tăng thưa: Lễ bái Phổ Hiền. Đại Tùy dựng đứng cây
phất tử nói: Văn-thù, Phổ Hiền trọn trong đây. Vị Tăng
vẽ một vòng tròn, lấy tay đưa trình lên Sư, lại ném ra
sau lưng. Đại Tùy gọi: Thị giả đem một chung trà cho vị
Tăng này. Vân Môn riêng nói: Tây Thiên chặt đầu cắt tay,
trong đây tự lãnh mà ra. Lại nói: Cờ đỏ ở trong tay ta.
Ở Ấn Độ, người luận nghị thắng tay cầm cờ đỏ, người
thua mặc ngược áo cà-sa từ cửa hông ra vào. Tại Ấn
Độ, muốn tổ chức luận nghị phải được lệnh vua, ở
trong chùa lớn đánh chuông gióng trống sau mới luận nghị.
Khi ấy ngoại đạo ở trong chùa tăng, phong cấm chuông trống,
cho đó là sa thải. Tôn giả Ca-na-đề-bà biết Phật pháp
có nạn, bèn vận thần thông lên lầu đánh chuông muốn tẩn
ngoại đạo. Ngoại đạo hỏi: Đánh chuông trên lầu đó là
ai ? Đề-bà đáp: Trời. Ngoại đạo hỏi: Trời là gì ? Đề-bà
đáp: Ta. Ngoại đạo hỏi: Ta là gì ? Đề-bà đáp: Ta là ngươi.
Ngoại đạo hỏi: Ngươi là gì ? Đề-bà đáp: Ngươi là chó.
Ngoại đạo hỏi: Chó là gì ? Đề-bà đáp: Chó là ngươi.
Bảy phen như thế, ngoại đạo tự biết đã thua, bèn tự
mở cửa. Khi ấy Đề-bà từ trên lầu cầm cờ đỏ đi xuống.
Ngoại đạo hỏi: Ngươi sao chẳng sau ? Đề-bà đáp: Ngươi
sao chẳng trước ? Ngoại đạo nói: Ngươi là tiện nhân. Đề-bà
đáp: Ngươi là lương nhân. Lần lượt vấn đáp như thế,
Đề-bà dùng vô ngại biện chiết phục ngoại đạo. Khi ấy
Tôn giả Đề-bà tay cầm cờ đỏ, người thua đứng dưới
lá cờ. Ngoại đạo toan chặt đầu tạ lỗi, Đề-bà ngăn
họ và giáo hóa cho cạo tóc vào đạo. Bấy giờ tông Đề-bà
hưng thạnh. Tuyết Đậu sau dùng việc này làm tụng.
Ba
Lăng ở trong chúng được hiệu là Giám nhiều lời, thường
vác tọa cụ đi hành cước, nhận được đại sự dưới
gót chân Vân Môn, nên rất kỳ đặc. Sau Sư xuất thế kế
thừa Vân Môn, trước trụ Nhạc Châu Ba Lăng, mà chẳng gửi
thư pháp từ, chỉ dùng ba chuyển ngữ dâng lên Vân Môn: 1)
- Thế nào là đạo ? - Người mắt sáng rơi giếng. 2) - Thế
nào là xuy mao kiếm ? - Cành cành san-hô chống đến trăng.
3) - Thế nào là tông Đề-bà ? - Trong chén bạc đựng tuyết.
Vân Môn bảo: Sau này ngày kỵ của Lão tăng, chỉ cử ba chuyển
ngữ này đền ơn là đủ. Về sau quả nhiên không tổ chức
trai kỵ, y theo lời dặn của Vân Môn, chỉ cử ba chuyển ngữ
này. Các nơi đáp thoại này phần nhiều nhằm trên sự, chỉ
có Ba Lăng nói thế ấy thật là cao vót, chẳng ngại khó hiểu,
chẳng bày đôi phần mũi giáo, tám hướng thọ địch, rõ
ràng có con đường xuất thân, có cơ hãm hổ, thoát khỏi
tình kiến của người. Nếu luận việc bên nhất sắc, đến
trong ấy phải là nhà mình thấu thoát xong, lại cần gặp
người mới được. Vì thế nói: “Đạo Ngô múa hốt đồâng
người hiểu, Thạch Củng giương cung tác gia am.” Lý ấy
nếu không thầy ấn thọ, toan đem pháp gì huyền đàm. Tuyết
Đậu theo sau nêu lên vì người tụng ra:
TỤNG:Lão
Tân Khai
Đoan đích biệt
Giải đạo ngân uyển lý thạnh tuyết
Cửu thập lục cá ưng tự tri
Bất tri khước vấn thiên biên nguyệt.
Đề-bà tông, Đề-bà tông
Xích phan chi hạ khởi thanh phong.
DỊCH:
Lão Tân Khai
Quả thật khác
Khéo nói chén bạc đựng đầy tuyết
Chín mươi sáu thứ nên tự tri
Chẳng biết lại hỏi bên trời nguyệt.
Tông Đề-bà, tông Đề-bà
Dưới lá cờ đỏ gió mát lành.
GIẢI
TỤNG: “Lão Tân Khai”, Tân Khai là tên Thiền viện. “Quả
thật khác” là lời tán thán của Tuyết Đậu. Hãy nói chỗ
nào là khác ? Tất cả ngôn ngữ đều là Phật pháp, Sơn tăng
nói thoại như thế thành đạo lý gì ? Tuyết Đậu bày chút
ít ý mình bằng câu “Quả thật khác”. Về sau mở toang
ra nói “Khéo nói chén bạc đựng đầy tuyết”. Lại vì
ông để lời chú cước “Chín mươi sáu thứ nên tự tri”,
thua rồi mới được. Nếu ông chẳng biết hỏi lấy bên trời
nguyệt. Người xưa từng đáp thoại này rằng: Hỏi lấy bên
trời nguyệt. Tuyết Đậu tụng rồi, rốt sau cần có con đường
sống, có câu sư tử nhảy ngược, lại đề khởi cho ông
nói “tông Đề-bà, tông Đề-bà, dưới lá cờ đỏ gió mát
lành”. Ba Lăng nói “trong chén bạc đựng tuyết”, vì sao
? Tuyết Đậu lại nói “Dưới lá cờ đỏ gió mát lành”,
lại biết Tuyết Đậu giết người chẳng dùng đao chăng ?
?
TẮC
14: VÂN MÔN GIÁO LÝ MỘT ĐỜI
CÔNG
ÁN: Tăng hỏi Vân Môn: Thế nào là giáo lý một đời ? Vân
Môn đáp: Đối một nói.
GIẢI
THÍCH: Trong dòng Thiền gia muốn biết nghĩa Phật tánh phải
quán thời tiết nhân duyên, gọi đó là “truyền riêng ngoài
giáo lý, riêng truyền tâm ấn, chỉ thẳng tâm người, thấy
tánh thành Phật”. Ông già Thích-ca bốn mươi chín năm ở
đời, ba trăm sáu mươi hội bàn đốn tiệm quyền thật, gọi
đó là giáo lý một đời. Vị Tăng này đưa ra hỏi Vân Môn
thế nào là giáo lý một đời. Vân Môn sao không vì y giải
thuyết rành rẽ, lại nhằm y nói “đối một nói” ? Vân
Môn bình thường trong một câu phải đủ ba câu, nghĩa là
câu phú cái càn khôn, câu tùy ba trục lãng, câu tiệt đoạn
chúng lưu. Buông đi giữ lại tự nhiên kỳ đặc, như chặt
đinh cắt sắt, khiến những người nghĩa giải suy nghĩ không
thể được. Một Đại tạng giáo chỉ tiêu có ba chữ. Bốn
phương tám mặt không có chỗ cho ông đào xới. Nhiều người
hiểu lầm nói: Việc đối cơ nghi một thời nên nói thế.
Lại nói: Sum la vạn tượng đều là sở ấn của một pháp,
nên nói “đối một nói”. Lại nói: Chỉ là nói một pháp
kia. Quả thật không có gì dính dáng. Chẳng những không hiểu
lại vào địa ngục nhanh như tên bắn. Đâu chẳng biết cổ
nhân ý không như thế. Vì thế nói “tan xương nát thịt chưa
đủ đền, một câu rõ thấu vượt trăm ức”, thật là kỳ
đặc. Thế nào là giáo lý một đời ? Chỉ tiêu được câu
“đối một nói”. Nếu ngay đó tiến được liền về nhà
ngồi an ổn, nếu tiến chẳng được hãy lắng nghe xử phân.
TỤNG:
Đối nhất thuyết
Thái cô tuyệt
Vô khổng thiết chùy trùng hạ khiết
Diêm-phù thọ hạ tiếu ha ha
Tạc dạ Ly Long áo giác chiết
Biệt biệt
Thiều Dương lão nhân đắc nhất quyết.
DỊCH:
Đối một nói
Rất cô tuyệt
Chùy sắt không lỗ thêm hạ chốt
Dưới cội Diêm-phù cười ha ha
Đêm qua Ly Long sừng bẻ gãy
Khác khác
Lão nhân Thiều Dương được một mảnh.
GIẢI
TỤNG: “Đối một nói, rất cô tuyệt” Tuyết Đậu khen
như thế cũng chưa tới. Câu nói này độc thoát cô nguy quang
tiền tuyệt hậu, như bờ cao muôn trượng, như quân trận
trăm muôn, không có chỗ cho ông vào, chỉ là quá ngặt cô
nguy. Người xưa nói “muốn được thân thiết chớ đem hỏi
đến hỏi, hỏi tại chỗ đáp, đáp ở nơi hỏi”, hẳn là
cô tuấn. Hãy nói chỗ nào là cô tuấn ? Người khắp thiên
hạ làm gì cũng chẳng được. Vị Tăng này là hàng tác gia
nên mới hỏi như thế. Vân Môn lại đáp thế ấy, giống
như “chùy sắt không lỗ thêm hạ chốt”. Tuyết Đậu dùng
văn ngôn tuyệt khéo. Câu “Dưới cội Diêm-phù cười ha ha”,
trong kinh Khởi Thế nói: Phía Nam núi Tu-di có cây phệ-lưu-ly
ánh sáng chiếu châu Diêm-phù đều sắc xanh. Châu này lấy
tên đại thọ làm tên châu, nên gọi Diêm-phù-đề. Cây này
bề cao bề rộng bảy ngàn do-tuần, phía dưới có đống vàng
Diêm-phù-đàn cao hai mươi do-tuần, bởi vàng từ dưới cây
này sanh ra, nên gọi là cây Diêm-phù. Vì thế Tuyết Đậu
tự nói kia ở dưới cội Diêm-phù cười ha ha. Thử nói kia
cười cái gì ? Cười “Đêm qua Ly Long sừng bẻ gãy”. Chỉ
có chiêm ngưỡng đó, tán thán Vân Môn có phần. Vân Môn nói
“đối một nói”, giống cái gì ? Giống như bẻ gãy một
sừng con Ly Long. Đến trong đó, nếu không có việc thế ấy,
đâu thể nói lời thế ấy. Tuyết Đậu một lúc tụng xong,
rốt sau lại nói “Khác khác, lão nhân Thiều Dương được
một mảnh”. Sao chẳng nói được trọn vẹn, mà chỉ nói
được một mảnh ? Thử nói một mảnh kia ở chỗ nào ? Liền
được xâu qua người thứ hai.
?
TẮC
15: VÂN MÔN ĐẢO MỘT NÓI
LỜI
DẪN: Đao giết người, kiếm sống người là phong qui của
thượng cổ, cũng là chỗ xu yếu của thời nay. Hiện đây
cái gì là đao giết người, kiếm sống người, thử cử xem
?
CÔNG
ÁN: Tăng hỏi Vân Môn: Khi chẳng phải cơ trước mắt, cũng
chẳng phải sự trước mắt thì thế nào ? Vân Môn đáp: Đảo
một nói.
GIẢI
THÍCH: Vị Tăng này quả là hàng tác gia khéo hỏi thế ấy.
Về mặt tham vấn gọi là thỉnh ích. Đây là câu hỏi trình
giải, cũng là câu hỏi tàng phong. Nếu không phải Vân Môn
thì chẳng kham đáp được. Vân Môn có thủ đoạn này, kia
đã đem hỏi đến thì bất đắc dĩ đáp đó. Vì cớ sao ?
Bởi hàng tác gia Tông sư như gương sáng trên đài, Hồ đến
hiện Hồ, Hán đến hiện Hán. Cổ nhân nói: Muốn được
thân thiết chớ đem hỏi đến hỏi. Tại sao ? Vì hỏi ở
chỗ đáp, đáp tại chỗ hỏi. Từ trước chư Thánh đâu từng
có một pháp cho người. Ở đâu có thiền để nói cho ông
? Nếu ông chẳng tạo nghiệp địa ngục tự nhiên chẳng chiêu
quả địa ngục. Nếu ông chẳng tạo nhân thiên đường tự
nhiên chẳng thọ quả thiên đường. Tất cả nghiệp duyên
đều tự làm tự chịu. Người xưa đã vì ông phân biệt
giải nói rõ ràng. Nếu luận việc này chẳng ở trong ngôn
cú. Nếu ở trên ngôn cú thì ba thừa mười hai phần giáo
há không phải là ngôn cú sao ? Lại đâu cần Tổ sư từ Ấn
sang. Tắc trước nói “đối một nói”, tắc này lại nói
“đảo một nói”. Chỉ đổi một chữ, tại sao lại có
ngàn sai muôn biệt ? Thử nói cái quái lạ ấy ở chỗ nào
? Vì thế nói: “Pháp theo pháp hành, pháp tràng tùy chỗ dựng
lập, chẳng phải cơ trước mắt, cũng chẳng phải việc trước
mắt.” Vậy thế nào ? Chỉ tiêu một điểm ngay đầu. Nếu
là người đủ mắt, một điểm cũng dối chẳng được. Chỗ
hỏi đã quái lạ, chỗ đáp cũng phải thế ấy. Kỳ thật
Vân Môn cỡi ngựa giặc đuổi giặc. Có người hiểu lầm
nói: Vốn là lời của chủ nhà, trái lại người khách nói,
nên Vân Môn bảo “đảo một nói”. Có ăn nhằm vào đâu,
chết gấp ! Vị Tăng hỏi “khi chẳng phải cơ trước mắt,
cũng chẳng phải việc trước mắt thì thế nào” là khá
hay, sao Vân Môn chẳng đáp những lời khác, lại chỉ đáp
y “đảo một nói” ? Vân Môn một lúc đập nát y. Đến
trong ấy nói “đảo một nói” cũng là trên da thịt
lành khoét làm thương tích. Vì sao ? Vì cái hứng trên dấu
vết ngôn từ là lý do mây trắng bay muôn dặm mà khác đường.
Giả sử một lúc không ngôn không cú, cây cột, lồng đèn
đâu từng có ngôn cú, lại hiểu chăng ? Nếu không hiểu,
đến trong đây cần có chuyển động mới biết chỗ rơi.
TỤNG:
Đảo nhất thuyết
Phân nhất tiết
Đồng tử đồng sanh vị quân quyết
Bát vạn tứ thiên phi phụng mao
Tam thập tam nhân nhập hổ huyệt.
Biệt biệt
Nhiễu nhiễu thông thông thủy lý nguyệt.
DỊCH:
Đảo một nói
Chia một mảnh
Đồng chết đồng sống vì anh giải
Tám vạn bốn ngàn chẳng phụng mao
Ba mươi ba người vào hang cọp.
Riêng riêng
Lăng xăng lộn xộn trăng trong nước.
GIẢI
TỤNG: Tuyết Đậu quả là tác gia, dưới một câu liền
nói “chia một mảnh”, rõ ràng phóng qua một cái, cùng kia
nắm tay đồng hành. Từ trước đến đây Sư có thủ đoạn
phóng đi, dám cùng ông vào bùn vào nước, đồng chết đồng
sống. Do đó, Tuyết Đậu tụng thế ấy, kỳ thật không có
chỉ thú khác, cốt vì ông gỡ niêm mở trói, nhổ đinh tháo
chốt. Hiện nay lại nhân ngôn cú chuyển sanh tình giải. Như
Nham Đầu nói: “Tuyết Phong tuy cùng ta đồng điều sanh, chẳng
cùng ta đồng điều tử.” Nếu chẳng phải người toàn cơ
thấu thoát, được đại tự tại, đâu thể cùng ông đồng
sanh đồng tử. Tại sao ? Vì kia không có những thứ được
mất phải quấy chỗ rỉ chảy. Thế nên Động Sơn nói: Nếu
cần nhận rõ người hướng thượng chân hay ngụy, có ba thứ
rỉ chảy (sấm lậu): tình rỉ chảy, kiến rỉ chảy, ngữ
rỉ chảy. Tình rỉ chảy là trí thường thuận nghịch, chỗ
thấy thiên khô. Kiến rỉ chảy là cơ chẳng lìa vị,
rơi trong biển độc. Ngữ rỉ chảy là thể diệu mất tông,
cơ lầm chung thủy. Ba thứ rỉ chảy này nên tự biết đó.
Lại có ba huyền: thể trung huyền, cú trung huyền, huyền trung
huyền. Cổ nhân đến cảnh giới này, toàn cơ đại dụng,
gặp sanh cùng ông đồng sanh, gặp tử cùng ông đồng tử,
nhằm trong miệng cọp nằm ngang, buông sải tay chân, ngàn dặm
muôn dặm tùy ông mang đi. Tại sao ? Trả lại cho kia một cái
phóng này mới được. Câu “tám muôn bốn ngàn chẳng phụng
mao”, ở hội Linh Sơn có tám muôn bốn ngàn Thánh chúng chẳng
phải phụng mao vậy. Nam sử chép: Thời Tống có Tạ Siêu
Tông, người đất Trần quận Dương Hạ, con của Tạ Phụng,
bác học văn tài kiệt tuấn, trong triều không ai bì kịp,
thời nhân cho là người bậc nhất, giỏi về văn, làm Vương
phủ Thường thị. Vương mẫu là Ân Thúc Nghi chết, Siêu Tông
làm văn tấu, vua Võ Đế xem văn rất mực khen thưởng nói:
Siêu Tông đặc biệt có phụng mao (lông phụng). Cổ thi rằng:
TỤNG:
Triều bãi hương yên huề mãn tụ
Thi thành châu ngọc tại huy hào
Dục tri thế chưởng ty luân mỹ
Trì thượng như kim hữu phụng mao.
DỊCH:
Triều bãi khói hương mang đầy áo
Thơ thành châu ngọc ở bút lông
Muốn biết chỉ tơ trong tay đẹp
Hiện tại trên hồ có phụng mao.
Ngày
xưa trên hội Linh Sơn bốn chúng nhóm họp, Thế Tôn đưa cành
hoa lên, chỉ riêng Tổ Ca-diếp miệng cười chúm chím, ngoài
ra không ai biết là tông chỉ gì ? Do đó Tuyết Đậu nói:
“Tám muôn bốn ngàn chẳng phụng mao, ba mươi ba người vào
hang cọp”, Tổ A-nan hỏi tổ Ca-diếp: Ngoài chiếc y Kim Lan,
Thế Tôn còn truyền riêng pháp gì ? Tổ Ca-diếp gọi: A-nan
! A-nan ứng thanh: Dạ ! Ca-diếp bảo: Cây phướn trước chùa
ngã. A-nan liền tỉnh ngộ. Về sau Tổ Tổ truyền nhau, từ
Ấn Độ đến Trung Hoa cả thảy ba mươi ba vị, đều có thủ
đoạn vào hang cọp. Cổ nhân nói: Chẳng vào hang cọp làm
sao bắt được cọp con. Vân Môn thuộc hạng người này, khéo
hay đồng chết đồng sống. Tông sư vì người phải được
như thế. Ngồi trên giường gỗ, xả được bảo ông đập
phá, cho ông nhổ râu cọp, cũng phải đến loại điền địa
này mới được. Phải được bảy việc tùy thân mới được
đồng sanh đồng tử: cao thì đè xuống, thấp thì nâng lên,
chẳng đủ thì cho, ở trên ngọn cao chót vót thì đưa vào
cỏ rậm, rơi trong cỏ rậm thì đưa lên ngọn chót vót, nếu
ông vào vạc dầu sôi lò lửa đỏ ta cũng vào vạc dầu lò
lửa, kỳ thật không có gì lạ, chỉ cần mở niêm cởi trói,
nhổ đinh tháo chốt, cởi dây dàm gỡ yên cương, gỡ cái
đồ mang trên sừng. Hòa thượng Bình Điền có bài tụng rất
hay:
TỤNG:
Linh quang bất muội
Vạn cổ huy du
Nhập thử môn lai
Mạc tồn tri giải.
DỊCH:
Linh quang chẳng tối
Sáng rỡ muôn đời
Vào được cửa này
Chẳng còn tri giải.
Câu
“riêng riêng, lăng xăng lộn xộn trăng trong nước” chẳng
ngại có con đường xuất thân, cũng có máy sống người.
Tuyết Đậu niêm rồi, bảo người tự minh ngộ sanh cơ, chớ
theo ngữ cú của người. Nếu ông theo người chính là lăng
xăng lộn xộn trăng trong nước, hiện nay làm sao được bình
ổn ? Phóng qua một cái.