Thế
nào là Phật pháp?
Phật
pháp là những điều đức Phật chứng kiến được sau khi
giác ngộ, đem chỗ chứng kiến ấy nói lại để cho mọi
người hiểu biết để dứt sạch mê lầm và giác ngộ như
Ngài. Chính từ chỗ chứng kiến của Ngài nói ra, không phải
do suy tư phỏng đoán như nhiều triết thuyết khác. Vì thế,
Phật pháp là những chân lý, tùy trình độ của người, Phật
nói có sai biệt: Chân lý phổ biến, Chân lý tương đối,
Chân lý tuyệt đối.
Chân
lý phổ biến Chân lý phổ biến là những sự thật hiện
hữu tràn đầy trên vạn vật. Những sự thật ấy đức Phật
chỉ ra, chúng ta chịu khó khảo sát một cách tinh tế sẽ
thấy hiển nhiên không sai lệch. Trước hết nhìn theo dòng
thời gian, Phật nói:
I.
Nhân quả:
Tất
cả sự vật có hình tướng, có tác động đều hình thành
bằng nhân quả. Nhân quả trùm khắp cả mọi sự vật, không
một sự vật nào có thể thoát ngoài nhân quả được. Song
trong nhân đến quả có chánh nhân, trợ nhân, thuận nhân,
nghịch nhân nên trở thành vấn đề phức tạp. Lại có những
trường hợp vì nhân quá nhỏ nhiệm, nhân xa xôi khiến người
ta không thể thấy, không thể nhớ mà biến thành khó hiểu.
Chúng ta thử nhìn từ lãnh vực thực vật, động vật... để
minh chứng lý nhân quả.
1.
Về thực vật. Không một thứ cây loại cỏ nào mà chẳng
từ nhân thành quả. Hoặc có thứ nhân của nó là hạt, có
thứ nhân nó là lá, có thứ nhân nó là ngọn, có thứ nhân
nó là rễ, là thân. Từ cái nhân ấy nẩy mầm sanh trưởng
thành cây, đơm hoa, kết quả. Không có loài thực vật nào
ngẫu nhiên không nhân thành quả.
Ví
dụ, hạt cam là nhân, lên thành cây cam có trái cam là quả.
Hạt ớt là nhân, lên thành cây ớt có trái ớt là quả...
Có nhân ắt phải có quả. Song trong ấy còn tùy thuộc thuận
nhân hay nghịch nhân, mà thành quả hay bất thành quả. Như
có hạt cam là chánh nhân, có phân, đất, nước, ánh nắng...
là trợ nhân, được săn sóc vun quén là thuận nhân, hạt
cam ấy sẽ nẩy mầm sanh trưởng thành cây cam và có trái
cam không sai. Ngược lại, có hạt cam mà thiếu phân đất
nước ánh nắng... thì không thể nẩy mầm sanh cây cam, huống
là có trái cam. Hoặc có hạt cam, có phân đất nước ánh
nắng... mà thiếu người săn sóc vun quén thì có thể có cây
cam mà khó mong có quả cam. Hoặc có hạt cam, có phân đất
nước ánh nắng... có người vun quén, song bị sâu trùng ăn
gốc, đục trong thân cây - nghịch nhân - thì cây cam ấy sẽ
bị hoại. Hoặc có trường hợp dường như không nhân mà
thành quả. Như chúng ta dọn sạch một thửa đất để trồng
trọt. Thửa đất ấy, chúng ta cuốc không còn một gốc cỏ,
lượm sạch không sót một cọng cỏ, ta tự cho là đất thật
sạch. Thế mà, qua một vài trận mưa, chúng ta thấy từ lòng
đất cỏ vọt lên lấm tấm đều hết. Cỏ này từ đâu đến?
Phải chăng đất sanh cỏ? Thật không phải thế, bởi những
hạt cỏ li ti đã nằm sẵn trong lòng đất mà mắt chúng ta
không thể thấy. Gặp mưa, chúng nẩy mầm lên cây là lý đương
nhiên. Ðây là vì nhân nhỏ nhiệm chúng ta không thấy, nên
có những nhận xét sai lầm.
Lại
có trường hợp khác, một hôm tăng chúng trong chùa chúng tôi
ra thăm vườn, bẻ được hai trái mãng cầu xiêm, từ hai cây
mãng cầu cách nhau độ bốn thước tây. Khi xẻ ra ăn, cả
chúng đều ngạc nhiên, trố mắt nhìn nhau, đặt câu hỏi:
Tại sao cùng một loại, chung một thửa đất, mà trái này
ngọt, trái kia chua? Mỗi người đều có giả thuyết khác
nhau, riêng tôi chỉ cười thôi. Cuối cùng, tôi giải thích
cho họ nghe: Sở dĩ hai cây cùng một loại, chung một thửa
đất mà mùi vị khác nhau, do trước kia tôi lấy hạt của
hai trái mãng cầu chua và ngọt ương trồng, nên kết quả
như thế. Ðó là vì nhân xa xôi khiến người ta không thể
biết, nên sanh nghi ngờ. Bởi những lý do trên, nhân quả trở
thành tế nhị phức tạp, nếu người nhận xét nông nổi
đơn thuần thì khó thấu triệt được.
2.
Về động vật. Tất cả loài động vật hình thành cũng từ
nhân đến quả. Có loài động vật nhân là trứng, có loài
động vật nhân từ bào thai, có loài động vật nhân từ
loài khác hóa ra. Không có loài động vật nào tự nhiên mà
có, song có cũng tùy thuộc chánh nhân, trợ nhân, thuận nhân,
nghịch nhân, sự sanh trưởng của nó được hoàn hảo hay
suy kém, hoặc hoại diệt chẳng hạn.
Ðây
là nói nhân quả trên vạn vật có hình tướng. Chúng ta có
thể khẳng định rằng "tất cả loài sanh vật trên quả địa
cầu và cả quả địa cầu này đều nằm gọn trong lòng nhân
quả".
3.
Về tác động. Chẳng những nhân quả trùm khắp mọi loài
mọi vật có hình tướng, mà nhân quả cũng bao gồm mọi tạo
tác mọi hành động của mọi loài. Ở đây chúng ta chú mục
vào loài người để thấy rõ nhân quả.
Những
tác động về thân miệng của chúng ta có tánh cách lợi người,
đem lại nguồn an vui cho người, là tác động lành. Nó sẽ
mang lại cho ta sự an vui ngay hiện tại, hoặc sau này, gọi
là quả lành. Những tác động có tánh cách thương tổn khiến
người đau khổ, gọi là nhân dữ. Nó sẽ chuốc lấy sự
đau khổ trở về ta ngay hiện tại, hoặc mai kia, gọi là quả
dữ.
Ví
dụ, chúng ta ra tay cứu giúp người hoạn nạn nguy khốn, qua
cơn hoạn nạn họ vui vẻ cám ơn ta. Chính khi thấy họ an
ổn, lòng chúng ta cũng vui lâng lâng. Mặc dù chúng ta không
mong gì hơn nữa, song người thọ ơn bao giờ cũng nghĩ đến
đền đáp, nếu gặp cơ hội tốt, họ sẽ đền ơn ta. Ngược
lại, chúng ta làm thương tổn khiến người đau khổ, họ
sẽ bực tức oán hờn phản kháng ta. Chính khi ấy lòng chúng
ta cũng bị bất an. Nếu mai kia họ gặp dịp thuận tiện sẽ
trả thù, khiến chúng ta bị khổ đau hơn, họ mới vừa lòng.
Ðó là nhân lành gặt quả lành, nhân dữ chịu quả dữ.
Nhưng
cũng có những trường hợp dường như ngoại lệ, mà thật
không phải. Như chúng ta đã gieo nhân lành hoặc dữ, mà suốt
đời không gặt được kết quả; vì nhân chưa chín muồi
mà báo thân chúng ta đã hoại, nhân ấy sẽ còn tiếp tục
theo thời gian chớ không mất. Hoặc có khi chúng ta không gây
nhân lại chịu quả. Vì nhân xa xôi còn lưu lại, chúng ta
không nhớ.
Tác
động của ý còn thầm lặng bên trong chưa phát lộ ra, song
nó rất nguy hiểm. Vì thân miệng đều do nó chủ động sai
khiến. Nó dấy nhân lành thì thân miệng theo đó tạo nhân
lành, nó dấy nhân dữ thì thân miệng theo đó tạo nhân dữ.
Cho nên, người hiểu lẽ nhân quả đối với tác đ?ng của
ý, phải dè dặt tối đa. Tác động của ý có nhân quả cũng
y hệt thân miệng.
Tuy
nhiên, nhân quả, không phải đơn giản như nhiều người đã
hiểu "gây nhân lành được quả lành, tạo nhân dữ bị quả
dữ". Vẫn có những trường hợp dường như trái lại. Bởi
vì nhân quả là một dòng biến động theo thời gian. Thời
gian có quá khứ, hiện tại, vị lai thì nhân quả không thể
chặn một quãng mà đoán định được. Chúng ta muốn hiểu
thấu đáo nhân quả phải căn cứ vào ba thời mà khảo sát.
Nắm chắc lý nhân quả, chúng ta sẽ có sức tự tín mãnh
liệt, vì không còn lệ thuộc vào sức thiêng liêng bên ngoài.
Chúng ta tự nhận là chủ nhân ông toàn cả cuộc đời của
mình.
Nhân
quả là dòng biến động sanh diệt tiếp nối, nên nó là hiện
thân của Vô thường. Vì vô thường nên mãi lăn lộn trong
vòng sanh diệt, cũng là thành quả của luân hồi. Chủ thuyết
nhân quả không phải cố định cứng khằng, mà linh động
thăng giáng, tùy theo sự đủ thiếu các nhân của nó. Người
học Phật nhận chắc lý nhân quả, là đã có căn bản vững
vàng trên đường tiến tu. Ðồng thời cũng gạt phắt những
thuyết mê tín vu vơ như: đồng bóng, bói xăm, tướng số,
may rủi... Vì biết rõ mọi tác động đẹp xấu của chúng
ta, sẽ cải tạo xây dựng một cuộc đời vui khổ trong hiện
tại và vị lai. Còn băn khoăn trông đợi, thắc mắc điều
gì mà phải đi coi bói tướng số? Thế là, chúng ta can đảm
nhận chịu mọi trách nhiệm hay dở do mình gây nên, không
còn oán hờn kêu than chi cả. Cũng phá tan những bệnh chấp:
định mạng, nhất nhân, vô nhân. Vì biết rõ vạn vật trên
thế gian không có cái gì cố định, duy nhất, ngẫu nhiên,
mà đều do nhân quả hình thành.
II.
Duyên sanh:
Nhìn
về mặt không gian, vạn vật đều do các duyên chung hợp thành
hình. Cho nên nói "các pháp từ duyên sanh". Duyên là chỉ cho
nhiều phần tử tổ hợp thành một vật thể. Vật thể không
tự có, phải do nhiều nguyên tố hay nhiều phần tử chung
hợp. Nói tới duyên sanh là không chấp nhận sự đơn thuần,
mà khẳng định là hợp thể. Vạn vật có hình tướng trên
quả địa cầu và kể luôn quả địa cầu đều do các duyên
chung hợp thành hình. Cho đến những thứ không có hình tướng,
chỉ có tác động, cũng thuộc duyên sanh.
Trước
khảo sát những vật có hình tướng gần chúng ta nhất. Như
cái bàn viết hiện đây của ta, trước nó không tự có, phải
có gỗ, có đinh, có bào, có đục, có cưa... và có ông thợ
mộc, do sự cưa xẻ bào đục kết ráp của ông, sau mới thành
cái bàn. Những nguyên liệu dụng cụ và ông thợ mộc, đều
là duyên chung hợp thành cái bàn. Nếu có người hỏi: cái
bàn này do vật gì làm ra, chúng ta đáp: do ông thợ mộc, hoặc
do gỗ... Ðó là lối đáp đơn thuần, không đúng toàn thể
của cái bàn. Nếu chấp lối đáp ấy đúng, thì mắc phải
bệnh thiên kiến.
Ðến
như cái nhà chúng ta hiện ở hoặc nhà lá hay nhà gạch, trước
nó cũng không tự có. Nếu là nhà lá, phải có cột kèo đòn
tay cây lá rồi, sau chúng ta mới ráp lại thành cái nhà. Nếu
là nhà gạch, phải có gạch xi măng cát vôi ngói gỗ và thợ
hồ, mới xây thành cái nhà. Khi thành hình cái nhà, gọi là
duyên hợp; khi cái nhà hư hoại đi, gọi là duyên tan. Chỉ
do duyên hợp duyên tan, thật thể cái nhà vốn không thật
có.
Khảo
sát như thế qua mọi sự vật, chúng ta không thấy có một
sự vật nào không phải duyên hợp mà thành. Dù vật nhỏ
bé như cây kim ngọn cỏ, vật to lớn như núi biển quả địa
cầu, đều nằm chung trong một thông lệ ấy.
Cho
đến những thứ không có hình tướng, chỉ thấy tác động,
cũng do duyên hợp mà có. Như điện, gió, chúng ta không thấy
hình tướng nó, chỉ biết khi tác động dấy khởi. Về điện
thì có điện âm điện dương, phối hợp mới phát khởi hiện
tượng. Về gió phải có khí nặng khí nhẹ... mới có hoạt
động.
Nơi
con người, tư tưởng dấy khởi cũng phải có sáu cơ quan
làm chỗ tựa và đối diện với trần cảnh bên ngoài. Nếu
ba phần - tư tưởng, cơ quan, trần cảnh mà thiếu một thì,
không sao dấy khởi được. Thế nên mọi tác động có ra,
đều do duyên hợp mà có.
Nói
duyên sanh là nhằm vào hợp thể, choán một khoảng không gian.
Ðã là hợp thể thì không có tự thể và thật thể. Tự
thể đã không thì, tên đặt cho sự vật cũng rỗng. Ví như
tên "cái nhà", chúng ta phân tích từng viên gạch, từng miếng
ngói v.v... ra, tìm xem cái gì là "cái nhà"? Chỉ khi hợp thể
thành hình, tạm đặt cho nó một cái tên. Cái tên ấy chỉ
có giá trị tạm thời, từ khi hợp thể thành hình, bởi trước
và sau nó vốn không có. Chính ngay khi thành hình, chúng ta phân
tích từng đơn vị một, tìm tự thể cái tên chung ấy, vẫn
không có. Nên nói: "các pháp duyên sanh tự thể là không".
Trước không, sau không, giữa cũng chẳng thật, nên sự có
mặt của các hợp thể là hư giả huyễn hoá. Do đó, nói
đến lý duyên sanh thì, xem vạn vật đều như huyễn như hoá.
Thông
suốt lý duyên sanh, chúng ta thoát khỏi hai chứng bệnh: thiên
kiến và mê lầm. Nhất là bệnh mê lầm, quả là bệnh trầm
kha khó chữa trị. Vạn vật do hợp thể mà có, hư giả không
thật, lại mê lầm chấp là thật. Vì chấp thật nên theo
đó có yêu ghét và sanh tham sân. Ðó là nguyên nhân mãi lăn
trong vòng luân hồi sanh diệt. Biết rõ duyên sanh hợp thể
hư giả là, dứt mê lầm chuyển thành trí tuệ. Ðây là cửa
ngõ của lâu đài giác ngộ.
Trong
phần "Chân lý phổ biến", lý nhân quả và duyên sanh là hai
sự thật, tràn đầy trên vạn vật và mọi tác động của
chúng sanh. Sự thật ấy, quá khứ hiện tại vị lai đều
không thay đổi. Song nó tinh vi khó hiểu, người chịu khó
nghiền ngẫm phân tích kỹ càng mới nhận ra được. Hai sự
thật này nhằm vào hai chiều của vũ trụ, nhân quả chạy
suốt chiều dọc thời gian, nhân duyên xuyên tột chiều ngang
không gian. Do đó, gọi là "Chân lý phổ biến".