Chấp
là gốc của đấu tranh
Mọi
người chúng ta đều than cuộc sống là đau khổ..., người
nghèo có cái khổ của người nghèo, người khá giả có cái
khổ của người khá giả. Biết là mình khổ mà không biết
cái khổ ấy xuất phát từ nguyên nhân gì. Khi khổ đến,
người ta chỉ biết kêu Phật kêu trời than vắn thở dài,
cam chịu bất lực. Người học Phật không chấp nhận như
vậy, mà phải phăng tìm tận cội rễ thử xem nó phát xuất
từ đâu. Không một kết quả nào xảy ra mà không có nguyên
nhân. Vậy khổ từ nguyên nhân nào tạo ra? Chính "cố chấp"
là nguyên nhân đấu tranh và đau khổ. Hết cố chấp là hết
đấu tranh, hết đau khổ. Chúng ta đọc đoạn kinh Phú-lâu-na
sau này thì thấy rõ.
ÐẠI
Ý KINH PHÚ-LÂU-NA
Thế
Tôn ở nước Xá-vệ (Savathi) vườn Thái tử Kỳ-đà (Jetavana)
tịnh xá ông Cấp Cô Ðộc (Anathapindika), tôn giả Phú-lâu-na
(Punna) đến xin Phật dạy pháp tu tóm gọn để vào rừng tinh
tấn tu hành. Phật dạy: Nếu mắt thấy sắc đuổi theo chấp
chặt là đau khổ. Tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm
vị, thân xúc chạm, ý duyên pháp đuổi theo chấp chặt là
đau khổ (xa Niết-bàn). Mắt thấy sắc, tai nghe tiếng cho đến
ý duyên pháp không đuổi theo không chấp chặt là hết đau
khổ (gần Niết-bàn). Phật hỏi Phú-lâu-na: Sau khi hiểu rồi,
ông đến chỗ nào tu? Phú-lâu-na bạch: Con đến nước Du-na
ở phương Tây tu. Phật bảo: Dân xứ ấy hung hăng bạo ngược,
họ sẽ mắng nhiếc nhục mạ ông, ông nghĩ sao? Phú-lâu-na
bạch: Con nghĩ, chúng còn hiền thiện chưa dùng tay đánh đập
con. Phật bảo: Chúng dùng tay đánh đập ông, ông sẽ nghĩ
sao? Phú-lâu-na bạch: Con nghĩ, chúng còn hiền thiện không
lấy đất đá ném con. Phật bảo: Chúng lấy đất đá ném
ông, ông sẽ nghĩ sao? Phú-lâu-na bạch: con nghĩ, chúng còn
hiền thiện chưa dùng cây, gậy đánh đập con. Phật bảo:
Chúng dùng cây, gậy đánh đập ông, ông sẽ nghĩ sao? Phú-lâu-na
bạch: Con nghĩ, chúng còn hiền thiện chưa lấy dao bén đâm
chém con. Phật bảo: Chúng lấy dao bén đâm chém ông, ông sẽ
nghĩ sao? Phú-lâu-na bạch: Con nghĩ, chúng thật hiền thiện
chưa giết con chết. Phật bảo: Chúng giết ông chết, ông
sẽ nghĩ sao? Phú-lâu-na bạch: Con nghĩ, chúng thật hiền thiện
đã giúp con giải thoát thân ô uế khổ đau này. Phật bảo:
Ông nên đến đó độ những người chưa được độ.
Phú-lâu-na
đến xứ ấy an cư ba tháng chứng được Tam minh và độ được
năm trăm cư sĩ nam, năm trăm cư sĩ nữ.
GIẢI
RỘNG PHÁP TU
Mắt
thấy sắc đuổi theo chấp chặt là đau khổ, tại sao? Vì
con mắt chúng ta nhìn sự vật không có cái thấy đồng nhất,
do còn thói quen huân tập lâu đời của mỗi người cộng
thêm vào trong đó, nên thấy có sai biệt. Thấy sai biệt mà
mỗi người đều cho mình thấy đúng sự thật thì sự cãi
vã không thể tránh khỏi. Có cãi vã là có buồn khổ, nên
chấp chặt là đau khổ. Ví như năm cô đi chợ cùng vào hàng
vải. Có một loại vải mà nhuộm đủ năm màu, năm cô nhìn
qua mỗi cô thích mỗi màu khác nhau. Cô thích màu xanh cho màu
xanh là đẹp, cô thích màu hồng cho màu hồng là đẹp... Nếu
mỗi cô đều khẳng định màu mình thích là đẹp tuyệt,
các màu khác không thể sánh được, sẽ có trận cãi vã nổi
lên chăng? Hẳn không tránh khỏi. Cãi vã là nhân giận hờn
thù địch, đưa đến kết quả đau khổ. Ai có thể đứng
ra phân giải màu nào đẹp hơn màu nào. Chân lý sẽ đi về
đâu? Chúng ta khéo biết mỗi người có cái thấy khác nhau,
chỉ có cái đẹp riêng của mỗi người, không có cái đẹp
chung cho tất cả, thông cảm nhau, đừng cãi vã vô ích, đây
là biết sống không gây đau khổ. Nếu thấy sắc liền đuổi
theo là nhiễm ái, có nhiễm ái là có bảo thủ. Ái, thủ là
nhân sanh tử đau khổ ở đời vị lai. Chính ái thủ cũng
là nhân đấu tranh ngay trong hiện tại. Ta thấy sắc đẹp
ấy ta thích, người khác thấy đẹp cũng thích. Nếu ta được
thì người mất, ai cũng muốn được thì phải đấu tranh,
có đấu tranh là có đau khổ. Bởi đấu tranh nên phiền não,
đây là nhân xa Niết-bàn.
Tai
nghe tiếng đuổi theo chấp chặt là đau khổ, tại sao? Tai
chúng ta nghe tiếng cũng không đồng nhau. Bởi mỗi người
do huân tập sai biệt cao thấp, nên có nhận định khác nhau.
Ví như cùng nghe một bài pháp, mà có kẻ khen hay có người
chê dở, hoặc người khen đoạn này, kẻ khen đoạn khác.
Như cùng nghe một bản nhạc, người tài tử chuyên nghiệp
chê nhạc không hay, người mới bập bẹ vài nốt nhạc khen
bản nhạc rất hay. Cái nghe của chúng ta còn tùy thuộc chỗ
huân tập mà đánh giá khác nhau. Nếu bảo cái nghe của ta
là chân lý, cái nghe của người khác cũng nhận là chân lý.
Hai chân lý mà sai biệt nhất định phải tranh cãi. Ðã tranh
cãi thì đi đến khổ đau. Nên nói chấp chặt là đau khổ.
Thế mà người đời nói: "Cái gì tai nghe mắt thấy mới là
sự thật." Tai nghe tiếng mà chạy theo tiếng cũng là đau khổ.
Vì tiếng có hay dở, có tốt có xấu, có khen có chê. Nếu
nghe khen ta mừng, nghe chê ta giận, nghe hay ta thích, nghe dở
ta bực, đây là gốc phiền não, là nhân đau khổ, cũng là
xa Niết-bàn.
Mũi
ngửi mùi đuổi theo chấp chặt là đau khổ, tại sao? Mũi
chúng ta cùng ngửi một thứ mùi, mà kẻ khen thơm người chê
hôi, tùy thuộc sự huân tập khác nhau. Ví như một trái sầu
riêng, người quen ăn nói là thơm, người chưa từng ăn nói
là hôi. Hai người đồng ngửi được mùi sầu riêng, mà hai
người nhận định trái nhau. Như vậy, thơm là chân lý, hôi
là chân lý? Nếu ai cũng cho mình là chân lý thì khó tránh
khỏi một trận cãi vã. Lại nữa, như mùi nước mắm biển,
người quen ăn khen thơm, người không quen ăn chê hôi. Làm
sao đánh giá đúng sự thật của nó. Chúng ta quen thói, mình
nói thơm bị người khác chê hôi là nổi giận. Nhân đấu
tranh từ đây phát khởi, quả đau khổ nhân đó mà thành.
Nếu chúng ta phóng tâm chạy theo mùi thơm, dễ bị chúng phỉnh
gạt, đi đến chỗ sa đọa. Ðây cũng là tâm ái nhiễm, sanh
ra bảo thủ, tạo thành nhân sanh tử đau khổ ở đời sau.
Lưỡi
nếm vị đuổi theo chấp chặt là đau khổ, tại sao? Lưỡi
chúng ta nếm vị cũng không nhất định giống nhau, tùy thuộc
chỗ huân tập riêng của mỗi người. Chính chúng ta cũng thừa
nhận mỗi người có khẩu vị khác nhau. Nếu mỗi người
chấp chặt khẩu vị của mình là đúng thì sự tranh cãi không
có ngày dừng. Ví như người quen ăn mặn khi nấu canh nếm
thử rất vừa ăn, múc bưng lên bàn gặp người quen ăn lạt
nếm thử liền chê mặn. Cả hai đều nếm đến vị canh,
một bên bảo vừa ăn, một bên chê mặn. Chân lý về bên
nào? Nếu mời người thứ ba nếm thử, người này quen ăn
mặn thì đồng ý với người ăn mặn, quen ăn lạt thì đồng
ý với người ăn lạt. Nếu chấp theo cái lưỡi của mình
thì sự cãi vã không tránh khỏi. Có những thức ăn người
chồng thích người vợ không thích, người cha ưa, con không
ưa. Chúng ta khẳng định theo khẩu vị mình bắt mọi người
phải theo thì họ bực bội. Bực bội thì mầm đấu tranh
dễ bùng nổ. Chính đây là gốc đau khổ. Người chạy theo
vị ngon đòi thỏa mãn cái lưỡi, họ phải nhọc nhằn không
có ngày cùng. Anh thợ mộc làm mỗi ngày được năm ngàn đồng
(5.000đ tiền VN), hai bữa ăn đòi phải ngon, chắc anh không
còn dư đồng nào để giải quyết những nhu cầu khác, và
anh sẽ không có ngày nào được nghỉ. Thích thức ăn ngon
là ái nhiễm vị, có ái nhiễm thì có bảo thủ, ái thủ là
nhân sanh tử đau khổ ở đời sau, là xa Niết-bàn.
Thân
xúc chạm đuổi theo chấp chặt là đau khổ, tại sao? Thân
xúc chạm cảm giác không giống nhau, tùy cơ thể mỗi người.
Một người mập (béo), một người ốm (gầy) ở chung nhau
một căn phòng. Khí hậu khoảng mười tám độ C, người mập
(béo) cảm thấy mát, người ốm (gầy) phát run. Người ốm
lại đóng kín cửa sổ, người mập bực bội mở toác ra.
Thế là, sự ẩu đả phải đến. Bởi chấp chặt vào cảm
giác riêng mình, nên dễ nổ ra sự chống đối. Ở chung mà
chống đối nhau là phiền não, là khổ đau. Hơn nữa, đuổi
theo xúc dục là nhân tan nát gia đình, là mầm trầm luân khổ
hải.
Ý
duyên pháp trần đuổi theo chấp chặt là đau khổ, tại sao?
Pháp trần là bóng dáng ngoại cảnh do huân tập in sâu vào
ý căn (não bộ) mà thành. Ý y cứ những bóng dáng sẵn có
ấy, nhận định mọi sự việc xảy ra, giống như người
mang một thứ kiếng màu nhìn cảnh vật. Bởi sự huân tập
từ mỗi gia đình, hoàn cảnh xã hội khác nhau, nên sự nhận
định của mỗi người cũng khác nhau, như mỗi người mang
một thứ kiếng màu. Chấp chặt nhận định riêng tư của
mình, bắt mọi người phải giống như vậy, là không thể
được. Cho nên sự đấu tranh cãi vã xảy ra thường nhật,
vì chỗ không đồng ý nhau. Vợ chồng cãi vã đến ly dị
cũng vì không đồng ý. Anh em chống đối nhau đến tình cốt
nhục phải phân ly, cũng vì không đồng ý. Cha có thể từ
con, cũng vì con không giống ý mình... Vợ chồng làm sao đồng
ý nhau được? Vì vợ quen nếp nội trợ, giao thiệp với phái
nữ, còn chồng hoạt động bên ngoài, phần lớn tiếp xúc
phái nam, sự huân tập hai bên khác nhau quá nhiều, làm gì
có nhận định giống nhau như một được. Thế mà đòi mọi
việc phải đồng ý nhau, có chỗ bất đồng liền sanh sự,
quả là điều không hợp lý. Cha và con lại khó đồng ý nhau.
Vì cha được học hỏi huân tập hoàn cảnh khác, con được
học hỏi huân tập một hoàn cảnh khác. Nếu con giống hệt
cha là con đã lạc hậu, vì sống lùi lại hai ba thập kỷ.
Hiểu như vậy, chúng ta muốn được cuộc sống vui hòa, cần
phải thông cảm nhau và xả cái chấp riêng biệt của mình,
mới đem lại đời sống an lành hạnh phúc.
Nếu
ý đuổi theo pháp trần là loạn động điên đảo, là phiền
lụy khổ đau. Muốn tâm an định, ý dừng lại không chạy
theo pháp trần, lúc ấy là hết khổ, gần Niết-bàn.
Trên
đây là nói rộng pháp tu ngài Phú-lâu-na nhận được một
cách đơn giản nơi đức Phật. Ứng dụng pháp tu này chỉ
trong vòng ba tháng Ngài chứng được Tam minh và độ được
hàng ngàn cư sĩ.
LÝ
DO NÀO NGÀI TU CHỨNG NHANH CHÓNG
a)
Khéo ứng dụng pháp tu. - Do Ngài khéo ứng dụng pháp tu đúng
như thật nên kết quả nhanh. Sáu căn là cội nguồn tội lỗi,
cũng chính sáu căn là gốc giải thoát. Cho nên mê lầm sáu
căn là "lục tặc" (sáu đứa giặc), tỉnh giác sáu căn là
"lục thông" (sáu pháp thần thông). Chúng ta tu mà không nắm
được cội rễ này, cứ xoay quanh hình thức bên ngoài, nên
tu cả đời mà ít thấy tiến bộ. Vì tu mà vẫn thấy thị
phi, vẫn tranh hơn thiệt... làm sao hết phiền não, nên càng
tu càng xa Niết-bàn.
b)
Tâm can đảm không sợ hiểm nguy. -Sau khi Phật hỏi ông định
đến đâu yên tu, Ngài thưa đến phương Tây nước Du-na. Phật
liền cảnh cáo dân xứ ấy hung hăng bạo ngược..., Ngài vẫn
không chút nao núng và bạch một cách thoải mái với Phật.
Phật thấy ý chí vững chãi và tâm hiền hòa bao dung của
Ngài, nên đồng ý cho đi. Chính Phật cũng thấy trước là
Ngài sẽ thành công, nên bảo "ông nên đến đó độ những
người chưa được độ". Nếu chỉ riêng ý chí kiên cường
xem thường họa hoạn cũng chưa đủ cho Ngài sớm đắc đạo,
còn nhờ tâm đại hỉ xả dù gặp cảnh nào vẫn thấy người
ta còn tốt. Mặc người đối xử cách nào, Ngài vẫn không
ôm một chút oán hờn thù giận. Ngược lại, chúng ta thì
sao? Gan dạ xông pha vào chốn hiểm nguy đã không có, ai chạm
đến bản ngã thì hận thù không thể tha. Vậy chừng nào
chúng ta mới đắc đạo?
KINH
PHẠM VÕNG CŨNG ÐỒNG Ý TRÊN
Trong
kinh Phạm Võng mỗi khi kết thúc kiến chấp của ngoại đạo,
đức Phật đều nói: "Chỉ Như Lai biết rõ chỗ lầm chấp
đó và biết nhiều hơn nữa họ đã tin như thế nào, chấp
như thế nào, có báo ứng như thế nào, nhưng Như Lai không
hề để ý chấp trước nên được giải thoát tịch diệt.
Như Lai biết rõ sự sanh khởi và tận diệt của thọ, biết
sự ái nhiễm và tội lỗi của thọ, biết sự thoát ly các
thọ và đem trí tuệ quán sát bình đẳng mà được giải
thoát hoàn toàn." (Kinh Phạm Võng. trường A-hàm tr. 261 H.T.
Trí Ðức dịch.)
Qua
đoạn kinh trên, chúng ta thấy Phật biết tất cả chỗ chấp
của ngoại đạo và biết nhiều hơn, song Phật không chấp
trước nên được giải thoát tịch diệt. Ðây là Phật đánh
giá đầy đủ biết chấp là triền phược trầm luân, biết
tất cả mà không chấp là giải thoát tịch diệt. Ðến đoạn
sau, Phật biết rõ sự sanh khởi và diệt tận của thọ cho
đến biết sự thoát ly các thọ... Chữ thọ ở đây là sáu
căn tiếp xúc sáu trần là xúc có cảm thọ là thọ, ái nhiễm
là ái, tội lỗi là thủ, tạo thành đau khổ đời này và
nhân sanh tử đời sau. Do Phật dùng trí tuệ quán sát bình
đẳng các thọ, dù thọ lạc, thọ khổ... bản chất nó là
duyên hợp hư dối, vô thường không lâu bền nên không ái
nhiễm mà giải thoát.
Lại
một đoạn khác, Phật nói: "Các đạo sĩ và Bà-la-môn sở
dĩ chủ trương thế gian thường trú cho đến chủ trương
chúng sanh hiện tại Niết-bàn, cũng bởi họ dựa vào sự
xúc đối phân biệt của sáu giác quan, nếu không xúc đối
thời cũng không thể có các chủ trương...
Nếu
vị Tỳ-kheo nào đối với sáu xúc đối của sáu giác quan
biết được một cách đúng đắn như thật về sự phát khởi,
sự diệt tận, sự nhiễm ái, sự tội lỗi, và sự thoát
ly nó, thì sẽ vượt ra ngoài vòng các kiến chấp sai lầm
trên." (Trường A-hàm tr 269 H.T Trí Ðức dịch). Ngoại đạo
do sáu căn tiếp xúc sáu trần cảm thọ thế nào chấp cứng
thế ấy, cho cái ta nhận được là chân lý, khác với cái
nhận của ta đều sai lầm. Bởi chấp như vậy nên kẻ này
cãi vã kẻ kia, nhóm này chống đối nhóm khác. Sự cãi vã
chống đối ấy rốt cuộc không đi đến đâu, chỉ ôm ấp
phiền não thù hận. Vì cái cảm nhận của họ là cục bộ,
là phiến diện, làm sao giải quyết thỏa mãn được cái toàn
diện. Chỉ có những người qua sự xúc đối, có cảm nhận,
biết rõ bản thân nó do duyên hợp sanh khởi, rồi vô thường
hoại diệt, ái nhiễm nó sẽ tạo nghiệp đau khổ, gỡ bỏ
nó sẽ thoát ly ngoài vòng kiến chấp, được giải thoát Niết-bàn.
Cũng
kinh Trường A-hàm, Phật có thí dụ Mù rờ voi. Câu chuyện
thế này: Một hôm nhà vua ngự tại triều muốn thử nghiệm
những người mù. Vua sai các quan tìm một số người mù dẫn
đến trước sân triều và dẫn một con voi đến. Công việc
ổn định xong, nhà vua và quần thần ra trước sân triều
dự cuộc thử nghiệm. Vua bảo một vị quan sắp đặt những
người mù đứng hai hàng, khoảng giữa là chỗ con voi đứng.
Xong xuôi, vị quan bảo những người mù rằng: Trước các
người là một con voi, hãy tiến đến rờ xem, rờ rồi diễn
tả hình dáng con voi cho nhà vua và bá quan nghe, ai diễn tả
đúng được hậu thưởng. Sau khi ào vào mò rờ, người chụp
được cái chân nói con voi giống cây cột, người rờ nhằm
cái bụng nói con voi giống cái trống, người chụp được
cái đuôi nói con voi giống chổi chà..., mỗi người trình
bày con voi mỗi cách. Chính vì mình sờ tới nắm được nên
khẳng định con voi như thế, người khác cũng sờ tới nắm
được cũng khẳng định chỗ biết của mình. Vì mỗi người
đều chấp chặt vào chỗ xúc chạm riêng mình nên không ai
chịu nghe ai, nổ ra một cuộc cãi vã ồn náo. Những người
mù yêu cầu nhà vua và bá quan phân giải xem ai đúng. Trường
hợp này, vua và quan là người mắt sáng thấy rõ con voi, sẽ
đáp thế nào? Chỉ có cách nói rằng "các anh đều đúng cũng
đều không đúng". Những người mù có thỏa mãn chăng? Hẳn
họ lên án những vị này "ba phải". Bởi vì sự việc hoặc
đúng, hoặc sai, không thể có vừa phải vừa sai được. Song
nhà vua và bá quan thấy rõ toàn bộ con voi, làm sao chấp nhận
một bộ phận con voi là toàn thể được, cũng không thể
phủ nhận một bộ phận con voi không dính dáng gì đến con
voi. Những người mù ví dụ chúng ta chỉ xúc chạm một phần
chân lý rồi chấp chặt vào đó tranh cãi nhau. Nhà vua và bá
quan thí dụ đức Phật và các vị Bồ-tát đã giác ngộ thấy
chân lý viên mãn nên không chấp, cũng không về hùa với một
phe nhóm nào. Bởi vậy nên đức Phật gọi là Nhất thiết
trí và Nhất thiết chủng trí, tức là Trí biết tất cả
và Trí biết tất cả loại. Cho nên đức Phật nói "Như Lai
biết tất cả mà không chấp trước được giải thoát tịch
diệt." Ngược lại, chúng ta sống trong mù tối quen rồi, chụp
được điều gì hay liền cho là cứu kính, tuyên bố cho mọi
người biết, nếu có ai thấy khác chúng ta, liền bảo họ
nói bậy là sai lầm. Do đó mà sự tranh cãi càng ngày càng
tăng, khổ đau càng ngày càng nhiều. Nếu chúng ta biết, cái
thấy của mình chỉ là một góc một cạnh chân lý, nếu có
ai thấy khác cũng là một góc một cạnh chân lý khác, chúng
ta và họ "đều một phần đúng", bổ túc cho nhau là hay, chống
đối nhau là dở. Thế gian này, mọi người đều có cái nhìn
như vậy thì sống an lạc vô biên.
Trong
kinh Phật nói về tôn trọng chân lý và bảo vệ chân lý rằng:
"Nếu ai nói vấn đề này tôi thấy như thế là đúng, đây
là cái thấy của tôi." Người này biết tôn trọng chân lý.
Ngược lại, "nếu ai nói vấn đề này tôi thấy như thế
là đúng, người nào thấy như tôi là phải, thấy khác tôi
là sai là bậy." Người này không biết tôn trọng chân lý
và bảo vệ chân lý. Hầu hết chúng ta đều đứng về hàng
ngũ với người sau, người không biết tôn trọng chân lý.
Vì thế chúng ta bao giờ cũng thấy mình phải, mọi người
đều sai, đây là cái bệnh muôn đời của chúng ta.
KINH
KIM CANG BÁT-NHÃ TINH THẦN CŨNG TƯƠNG TỢ
Hai
câu hỏi chủ yếu của toàn quyển kinh Kim Cang do tôn giả
Tu-bồ-đề hỏi Phật là: "Nếu có người thiện nam thiện
nữ phát tâm cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác làm sao
an trụ tâm? Làm sao hàng phục tâm?" Phật trả lời câu an
trụ tâm rằng: "Nếu có người thiện nam thiện nữ phát tâm
cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, chẳng nên dấy tâm
trụ nơi sắc, chẳng nên dấy tâm trụ nơi thanh, hương, vị,
xúc, pháp; nên không có chỗ trụ mà sanh tâm Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác." Quả là Phật dạy chúng ta tu cầu thành
Phật, khi sáu căn tiếp xúc sáu trần đừng khởi tâm chấp
trước sáu trần, chính cái không chấp trước đó là Phật.
Ở kinh A-hàm, Phật nói "Như Lai biết tất cả mà không chấp
trước". Ở kinh này, Phật nói "cái không chấp trước đó
là Phật". Bởi vì có giác ngộ viên mãn mới không chấp trước,
chính chỗ không chấp trước là tâm an trụ. Vì thế Lục
Tổ nghe Ngũ Tổ giảng tới câu này liền phát ngộ kêu lên
"Ðâu ngờ tánh mình xưa nay thanh tịnh, đâu ngờ tánh mình
đầy đủ tất cả! Ðâu ngờ tánh mình không sanh không diệt!..."
Lục Tổ không chỉ thấy sáu căn không dính mắc sáu trần
thành giải thoát tịch diệt, mà còn thấy khi sáu căn không
dính mắc sáu trần, tánh thanh tịnh sẵn có của mình hiện
rõ ràng, tánh này đầy đủ tất cả, tánh này không sanh không
diệt... Thế là, Ngài nhảy vọt vào pháp thân, không còn giải
thoát như Nhị thừa. Ðến đây chúng ta thấy rõ cả hệ A-hàm
đến hệ Bát-nhã đều chỉ chỗ chủ yếu tu hành được
giải thoát, được thành Phật gốc từ không cho sáu căn chấp
trước với sáu trần. Thành giải thoát hay thành trầm luân
cũng chỉ là sáu căn không dính mắc sáu trần hay sáu căn
kẹt chặt sáu trần. Người học đạo giải thoát phải hiểu
rõ điều này.
KINH
LĂNG NGHIÊM CŨNG ÐỒNG TINH THẦN NÀY
Trong
kinh Lăng nghiêm, A-nan sau khi nghe Phật dạy nghĩa quyết định
thứ hai, khởi nghi vấn: "... Xin nguyện đức Đại Từ thương
xót kẻ chìm đắm, chính nơi thân tâm hiện nay, chỉ cho chúng
tôi thế nào gút, do đâu mà cởi, cũng khiến cho chúng sanh
khổ não vị lai được khỏi luân hồi, không sa vào ba cõi..."
Khi
bấy giờ, ông A-nan và cả đại chúng đều nghe các đức
Như Lai mười phương, số như vi trần, tuy khác miệng nhưng
đồng một lời, bảo A-nan rằng: "Hay thay cho A-nan! Ông muốn
biết cái câu sinh vô minh là cái đầu gút, khiến ông phải
luân hồi sanh tử, thì nó chính là sáu căn của ông, chớ
không phải vật gì khác; ông lại muốn biết tính vô thượng
Bồ-đề, khiến ông chóng chứng đạo quả an vui, giải thoát,
vắng lặng, diệu thường, thì cũng chính là sáu căn của
ông, chớ không phải vật gì khác." (Kinh Lăng Nghiêm tr. 51,
Tâm Minh dịch.)
Ở
đây không chỉ đức Phật Thích-ca mà cả mười phương chư
Phật đồng nói sáu căn là gốc luân hồi, sáu căn cũng là
gốc giải thoát. Vô minh là cái mê chấp của sáu căn, nó
lôi chúng ta vào vòng luân hồi sanh tử. Vô thượng Bồ-đề
là cái tỉnh giác của sáu căn, nó đưa chúng ta đến chỗ
an lạc giải thoát... Thấy được chỗ căn bản này, sự tu
hành của chúng ta, có nơi y cứ vững chắc, chúng ta không
còn ngờ vực gì trên bước đường tầm đạo giải thoát.
Ngài
A-nan tuy nghe như vậy vẫn còn ngờ, cúi đầu bạch Phật:
"Làm sao cái khiến cho tôi bị luân hồi, sống chết hay được
an vui, diệu thường, cũng đều là sáu căn, chớ không phải
vật gì khác?"
Phật
bảo A-nan: "Căn và trần đồng một nguồn, cột và mở không
phải hai, cái thức phân biệt là luống dối như hoa đốm
giữa hư không. A-nan, nhân cái trần, mà phát ra cái biết của
căn, nhân cái căn, mà có ra cái tưởng của trần, tướng
phần sở kiến và kiến phần năng kiến đều không có tự
tánh, như những hình cây lau gác vào nhau. Vậy nên nay ông
chính nơi tri kiến, lập ra tướng tri kiến thì tức là gốc
vô minh; chính nơi tri kiến, không có tướng tri kiến, thì
đó là vô lậu chân tịnh Niết-bàn, làm sao trong ấy lại
còn có vật gì khác." (Kinh Lăng Nghiêm tr 453-457, Tâm Minh dịch)
Ðoạn
này Phật nói rõ căn trần thức đều hư dối không thật
như hoa đốm trong hư không, như bó lau dựng nương vào nhau
mà không có chủ. Cái không thật, không chủ ấy, mà chấp
thấy biết của sáu căn là thật, là gốc vô minh. Ðã là
vô minh thì đi trong luân hồi sanh tử. Nếu thấy biết mà
không chấp tướng thấy biết là vô lậu chân tịnh Niết-bàn.
Bởi vì từ cái gốc không thật có sanh ra ngọn ngành hoa quả
cũng đều không thật. Không thật chấp là thật tức vô minh.
Không thật biết không thật là giác ngộ. Vô minh thì luân
hồi, giác ngộ thì giải thoát. Chỉ y cứ sáu căn, mê thì
luân hồi, giác thì giải thoát, không còn pháp gì khác nữa.
CHẤP
LÀ SI MÊ
Cuộc
đời là một dòng trôi chảy linh động, không dừng ở một
phút giây nào, không đứng mãi ở một vị trí nào. Thế mà,
chúng ta cố giữ nó còn mãi và nguyên vẹn với chúng ta. Quan
niệm cố giữ là gốc từ si mê, bởi vì không thấy được
lẽ thật. Như thân này là vô thường sanh già bệnh chết,
mà chúng ta có chịu già, chịu bệnh, chịu chết đâu? Chúng
ta muốn trẻ mãi, muốn khỏe luôn, muốn sống hoài. Song muốn
mà không được trở thành đau khổ. Cho nên nói già khổ,
bệnh khổ, chết khổ. Nếu chúng ta thấy rõ luật vô thường
như thế, không mong muốn cố giữ, thì khi già, bệnh, chết
đến có khổ chăng? Họa chăng có khổ là khổ vì thân bại
hoại thôi, chớ không có khổ do tâm cố giữ mà không được.
Vì thế, người thấy rõ lẽ này không chấp trước là bớt
khổ năm mươi phần trăm (50 %).
Ðến
cái bệnh muôn đời của chúng ta là chấp cái thấy, cái nghe,
cái ngửi, cái nếm, cái xúc chạm, cái suy nghĩ của mình lúc
nào cũng đúng. Ta một bề chấp cứng cái thấy cho đến cái
suy nghĩ của mình là đúng, khác đi là sai, người cũng một
bề chấp cứng như vậy, mà hai cái thấy và suy nghĩ đều
khác nhau, chắc chắn sẽ nổ ra trận đấu khẩu, đấu khẩu
mà không giải quyết được, trận đấu võ ắt phải đến.
Nhỏ thì chuyện rắc rối giữa cá nhân với cá nhân, lớn
hơn giữa gia đình với gia đình, lớn nữa giữa quốc gia
với quốc gia. Ngòi đấu tranh đã châm lên, thì lửa đau khổ
sẽ lan khắp. Chính vì không suốt thấu lẽ thật, nên sẽ
sanh ra chấp chặt. Cái chấp chặt ấy vốn từ si mê mà ra.
Do đó, đạo Phật chủ trương lấy ánh sáng giác ngộ, phá
tan đêm tối si mê, là cứu khổ chúng sanh. Cái cứu khổ này
không có hình tướng, nên không thấy cụ thể, song cái lợi
ích sâu xa bền bỉ của nó không thể đánh giá đến được.
Người đời chỉ thấy cái gì cụ thể, cho là thiết thực,
không thấy cụ thể cho là huyền hoặc. Như một gia đình
nghèo khổ khốn đốn, người chồng là cột trụ trong nhà
đi đạp xích lô, mỗi ngày được năm ba ngàn, anh mắc phải
cái bệnh ghiền rượu. Chiều nào anh cũng phải ngồi quán,
số tiền kiếm được của anh đã mất hết hai phần trong
quán. Vợ con anh chỉ còn một số quá nhỏ, nên phải khốn
đốn. Chúng ta thấy thương, mỗi ngày đến giúp vài lít gạo,
thử hỏi chúng ta giúp đến bao giờ gia đình này hết khốn
đốn? Chỉ cách duy nhất, chúng ta phải khéo khuyên ông chồng
nhà ấy bỏ rượu. Một khi ông thức tỉnh chịu bỏ rượu,
gia đình ấy sẽ bớt khốn đốn lâu dài. Lời khuyên để
ông chịu bỏ rượu không có gì cụ thể, mà kết quả không
thể lường được. Chính vì cứu khổ chúng sanh, đức Phật
vạch trần cho chúng ta thấy cái mê chấp là đau khổ, là
trầm luân. Một khi chúng ta thức tỉnh bỏ được mê chấp
là an lạc vĩnh viễn.
Tóm
lại, trên đây đã trình bày đầy đủ cội gốc của đau
khổ trầm luân và cội gốc của giải thoát Niết-bàn. Chủ
động của hai lối đi xuống và lên là sáu căn. Mê muội
y cứ vào sự thấy biết của sáu căn mà chấp chặt, là đau
khổ trầm luân. Sáng suốt thấy rõ sự thấy biết của sáu
căn là giới hạn là góc cạnh, không chấp trước là an lạc
giải thoát. Con đường tu của chúng ta thật là đơn giản,
chỉ ở sáu căn giác và mê mà được vui hay chịu khổ. Không
tìm cái vui ở phương trời nào, cũng không chạy trốn cái
khổ ở núi non gì. Chuyển hướng sáu căn không chạy theo
không dính mắc sáu trần là thật sự giải thoát. Có vị
tăng hỏi thiền sư: "Thế nào là giải thoát?" Thiền sư trả
lời: "Căn trần không dính nhau là giải thoát." Câu này vừa
là đơn giản vừa là thực tế. Dính mắc là bị trói buộc,
là mất tự do. Không dính mắc là tự do là giải thoát, thật
không có gì lạ cả. Hơn nữa căn trần là tướng duyên hợp
không thật. Nếu thấy căn trần duyên hợp như huyễn hóa,
là phá được chấp ngã (căn), chấp pháp (trần), mới là
hoàn toàn giải thoát.