Hoa sen
trong bùn
Có lắm
người xuất gia cũng như tại gia cho rằng, chúng ta tu không
thể nào giác ngộ thành Phật. Vì đức Phật ra đời có những
nhân duyên kỳ đặc, bản chất Ngài đã thánh sẵn rồi; còn
chúng ta nào là ham mê dục lạc, nào là tội lỗi đầy đầu,
nào là sanh nhằm thời mạt pháp căn cơ yếu kém ngu độn
v.v... làm sao tu thành Phật được? Ở đây chúng ta hãy nhìn
Thái tử là một con người, thật là người để lấy làm
mẫu mực hướng theo tu hành.
THÁI
TỬ TẤT-ÐẠT-ÐA (Siddharta) - SỐNG TRONG HOÀNG CUNG
Khi
là một ông hoàng ở trong cung cấm, Thái tử bị mọi thứ
dục lạc bủa vây: nào là vợ đẹp, hầu xinh, Ngài có cả
thảy ba bà vợ, bà Cu-tỳ-gia (Gapica), bà Gia-du-đà-la (Yasodhara),
bà Lộc giả (Urganica) và cung phi mỹ nữ. Nào là đàn ngọt
hát hay, cả ngày âm thanh dằng dặc không dừng nghỉ. Nào
là sự chiều chuộng của vua cha, xây cung điện thích hợp
bốn mùa, tạo cảnh vui thích không để Ngài có một phút
đăm chiêu. Ðây là cảnh thiên đàng ngay trong trần thế, Ngài
vui hưởng cảnh này đến năm mười chín tuổi.
THÁI
TỬ ÐI TU VÀ THÀNH PHẬT
Chỉ
một lần Thái tử trông thấy cảnh già, bệnh, chết của
con người, Ngài khổ đau trằn trọc. Tại sao người ta phải
chấp nhận lớp người này sanh ra, già, bệnh, chết, rồi
lớp khác tiếp tục, cứ thế tiếp tục mãi không có ngày
cùng? Ngài cương quyết đập tan cái tiền lệ ấy. Vì thế,
bao đêm Ngài thức trắng, lòng Ngài băn khoăn đau xót giày
vò, cốt tìm ra lối thoát để cứu mình, cứu chúng sanh. Từ
đây, sắc đẹp hát hay, trở thành trơ trẽn tầm thường
trước mắt Ngài. Thức ngon vị ngọt, trở thành nhạt nhẽo
chán ngán, khi chúng để vào miệng Ngài. Ngài ê chề ngán
ngẩm mọi thứ dục lạc tạm bợ trá hình. Ngài cương quyết
rời hoàng cung xuất gia tầm đạo. Mặc dù con đường này
giăng trải trước mắt Ngài muôn vàn nguy hiểm thập tử nhất
sanh, Ngài chấp nhận phải dấn bước. Thế là Ngài xuất
gia lúc mười chín tuổi.
Bao
nhiêu năm lang thang trong rừng sâu học đạo, con người vương
giả của Ngài đã pha màu sương gió, đã từng trải mọi
thứ đắng cay, song ý chí kiên cường quả cảm của Ngài
không suy giảm. Học đạo không thỏa mãn, Ngài nguyện thực
hành khổ hạnh tột cùng. Nhưng thân sắp hoại mà đạo chưa
thấy, Ngài phải sống trung hòa và đến dưới cội bồ-đề
ngồi tu bốn mươi chín ngày đêm liền ngộ đạo. Ngang đây,
Ngài thành Phật hiệu là Thích-ca Mâu-ni. Ðã qua rồi, con đường
tầm đạo ngót mười một năm.
Sau
khi Ngài thành Phật, Ngài nhìn hồ sen thấy có những hoa đã
nở tròn đầy, có những hoa còn búp son trinh, có những hoa
đang trụ hình trong nước, có những mầm sen còn vùi trong
bùn nhơ. Song tất cả đều có khả năng nở tròn khoe sắc,
nhả hương tinh khiết. Chúng đồng trong lòng đất nhớp nhúa
vươn lên, khi được hớp sương phơi nắng, chúng đều tròn
đủ sắc hương như nhau. Ngài thấy con người cũng thế, khi
sanh ra và lớn lên trong vòng mê dục, một phen tỉnh giác con
người sẽ tiến lên bậc giác ngộ khó gì. Thế là, Ngài
lấy hoa sen để biểu trưng cuộc sống và giáo lý của Ngài.
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa là hình ảnh cụ thể nhất.
PHẬT
NGỒI TRÊN ÐÀI SEN
Chúng
ta đọc lịch sử Phật, ai cũng biết Bồ-tát đến cội bồ-đề
trải cỏ làm tòa ngồi, và thành đạo ngay dưới cội cây
này. Hiện nay chúng ta thờ Phật đúng theo tài liệu lịch
sử, phải để Ngài ngồi trên tòa cỏ. Tại sao ngày nay chùa
nào thờ Phật cũng ngồi trên tòa sen? Ðây là để biểu trưng
con người của Ngài. Vì trước kia là ông hoàng, Ngài cũng
nhiễm ô ngũ dục, như mầm sen còn ở trong bùn. Khi Ngài vượt
thành xuất gia là mầm sen ra khỏi bùn, mà còn ở trong nước.
Lúc Ngài ngồi tu ở dưới cội bồ-đề và thành đạo là
hoa sen ra khỏi nước nở tròn đầy hương thơm ngào ngạt.
Hoa sen lại tượng trưng cho sự bình đẳng giữa mọi người.
Ðã là mầm sen thì mầm sen nào cũng có khả năng vươn lên
khỏi bùn, khỏi nước và trổ hoa tươi thắm hương thơm ngạt
ngào. Ðã là con người thì con người nào cũng có khả năng
thoát khỏi dục lạc ô nhiễm, thức tỉnh tu hành và đạt
thành đạo quả. Phật quả không phải của riêng một người
nào, mà của chung tất cả ai có ý chí thoát trần, có quyết
tâm đạt đạo. Vì vậy, Phật quả gọi là Vô thượng giác,
là giác ngộ không ai trên, song có người bằng; Phật cũng
dùng hình ảnh hoa sen để nhắc nhở Phật tử, ở giữa chốn
ô nhiễm mà khéo vượt ra bằng trí tuệ sáng ngời của mình.
Bài
kệ nói :
Như
giữa đống rác nhớp.
Quăng
bỏ nơi bờ đầm
Chỗ
ấy hoa sen nở.
Thơm
sạch đẹp ý người.
Cũng
vậy, giữa quần sanh.
Uế,
nhiễm, mù, phàm tục
Ðệ
tử bậc Chánh Giác.
Sáng
ngời với trí tuệ. -- (Pháp cú câu 58-59)
Hoa sen
mọc chỗ nhớp nhúa mà thơm tho tươi đẹp, sống trong đời
nhiễm nhơ mù tối, người Phật tử chúng ta phải khéo dùng
trí tuệ vượt ra để cứu mình, và cứu người. Cái quí
của hoa sen là sanh từ chốn bùn lầy mà tinh khiết, cái cao
cả của người tu là sống trong mọi dục lạc nhiễm ô mà
vượt ra an toàn siêu thoát. Hoa hường, hoa lan thơm hơn hoa
sen, mà không được nhắc tới, vì sanh ở chỗ đất sạch.
Nếu Thái tử là người từ trên trời rơi xuống mà đắc
đạo thì không có giá trị gì. Chính trong vòng kềm tỏa của
dục trần, mà thoát được mới là bậc đại hùng.
CÁ
NHẢY KHỎI LƯỚI
Ðời
Tống ở Trung Hoa có hai Thượng tọa Thâm và Minh. Hai vị có
duyên sự cùng sang đò qua sông Hoài. Ðang sang sông, thấy người
bủa lưới đang kéo, có con cá to nhảy khỏi lưới ra ngoài.
Thượng tọa Thâm vỗ tay khen: "Hay thay! Như Thiền sư." Thượng
tọa Minh không đồng ý bảo: "Phải ở ngoài lưới mới hay,
đợi vào lưới rồi mới nhảy là muộn." Thượng tọa Thâm
nói: "Huynh Minh chưa hiểu." Ði hơn dặm đường, Thượng tọa
Minh bỗng nhận ra chỗ sai, liền sám hối.
Qua
câu chuyện trên, chúng ta thấy thế nào? Con cá trong lưới
nhảy là hay, con cá thong dong ngoài lưới là hay? Ðạo lý nhà
Phật dạy, trong cảnh bủa vây của phiền não mà thoát ra
được mới thật là hay. Ðây mới thi thố được sức mạnh
phi thường của con người thoát tục. Nếu ở ngoài lưới
nói gì nhảy, không nhảy làm sao biết được sức mạnh của
mình. Hơn nữa, bản thân con người đầy đủ tam bành (tam
độc), lục tặc (sáu giặc) lại sáu trần dụ dỗ cuốn lôi,
nếu không phải là bậc siêu quần bạt tụy làm sao thắng
trận giặc nội công ngoại kích này. Cùng là cá, bao nhiêu
con khác bị lưới cuốn không thể giãy vùng, cuối cùng bị
người đánh cá bắt bỏ vào giỏ, chỉ một con này nhảy
vọt khỏi lưới, không đồng với người xuất trần thoát
tục là gì? Nếu chúng ta sanh ra đã là Thánh thì còn nói gì
tu. Chính vì chúng ta mang đầy đủ thói hư tật xấu trong
mình, chứa đầy tham sân si trong lòng, cho nên gặp cảnh thì
nhiễm, trái ý thì sân, quẳng chúng thoát ra, thật là điều
khó khăn trăm phần, ai làm được điều đó, đáng cho chúng
ta chấp tay tán thán. Vì thế, Tuệ Trung Thượng Sĩ đã làm
bài kệ:
XUẤT
TRẦN
Tằng
vi vật dục dịch lao khu
Bài
lạc trần hiêu thế ngoại du
Tán
thủ na biên siêu Phật Tổ
Nhất
hồi đẩu tẩu nhất hồi hưu.
Dịch:
RA
KHỎI BỤI HỒNG
Ðã
từng ham muốn phải long đong
Ném
quách mà ra khỏi bụi hồng
Buông
thõng bờ kia lên Phật Tổ
Một
lần phủi giũ một lần xong.
Bởi
vì chúng ta chạy theo vật dục nhân gian nên phải khổ sở
gian nan. Nếu can đảm ném phắt hết, vượt ra ngoài vòng trần
lụy, quả là can đảm phi thường. Có thể, mới buông thõng
tay bước lên ngôi nhà Phật Tổ được. Song phải mạnh dạn
dứt khoát, một lần bỏ đi không thèm ngó lại. Chớ đừng
học thói nhầy nhụa, dùng dùng thẳng thẳng cắt không đứt,
bứt không rời, một chân bước tới hai chân bước lui, không
làm nên trò trống gì, chỉ chuốc trò cười cho hàng thức
giả. Bởi vậy nên nhà thiền thường dùng câu "giết người
không ngó lại" là ý này. Phải can đảm dứt khoát thì việc
khó mấy cũng thành công.
TRẦN
NHÂN TÔNG: ÔNG VUA, TU SĨ
Vua
Trần Nhân Tông sanh năm 1258, lên ngôi vua năm hai mươi tuổi,
xuất gia năm bốn mươi mốt tuổi và năm mươi mốt tuổi
tịch (1308). Suốt hai mươi năm, Ngài là bậc nhân chủ lãnh
đạo quốc gia giữ nước chăn dân, ngồi trên ngai vàng sống
trong cung ngọc, mọi thứ dục lạc đều dư thừa. Hai phen
cầm quân chống giặc xâm lăng, nhân mạng hy sinh rất lớn.
Bổn phận giữ nước chăn dân, Ngài làm đầy đủ. Năm bốn
mươi mốt tuổi, Ngài nhường ngôi cho con, đi xuất gia. Lúc
nhỏ Ngài đã được vua cha và thầy là Tuệ Trung Thượng
sĩ chỉ dạy đạo lý thiền nhuần thấm sâu xa, nên khi xuất
gia Ngài không cần tầm học, chỉ thực hiện điều đã học
được.
Trong
mười năm, là kẻ xuất gia Ngài mang hiệu Trúc Lâm Ðầu-đà,
tích cực hoạt động truyền bá chánh pháp. Trong giới xuất
gia, Ngài giáo dục chúng Tăng, có khả năng đảm đang giáo
hội. Trong dân chúng, Ngài đem pháp Thập thiện giáo hóa toàn
dân, khiến Phật pháp mở rộng trong nhân gian. Công tác hoằng
truyền Phật pháp, giáo hóa nhân dân, Ngài làm suốt đời
không dừng nghỉ.
Khi
sắp tịch, Ngài nằm tại Ngọa Vân am sai người gọi Bảo
Sát đến. Ngày một tháng mười một, đúng nửa đêm, sao
sáng đầy trời, Ngài hỏi: Bây giờ là giờ gì? Bảo Sát
thưa: Giờ Tý. Ngài đưa tay ra hiệu mở cửa sổ để nhìn
ra ngoài, nói: Ðến giờ ta đi vậy. Bảo Sát hỏi: Tôn đức
đi đâu bây giờ? Ngài đọc lại bài kệ:
Nhất
thiết pháp bất sanh
Nhất
thiết pháp bất diệt
Nhược
năng như thị giải
Chư
Phật thường hiện tiền
Hà
khứ lai chi hữu?
Dịch:
Tất
cả pháp chẳng sanh
Tất
cả pháp chẳng diệt
Nếu
hiểu được như thế
Chư
Phật thường hiện tiền
Nào
có đi có lại?
Bảo
Sát hỏi thêm: Khi chẳng sanh chẳng diệt thì sao? Ngài khua
tay nói: Thôi đừng nói mê nữa. Rồi Ngài ngồi theo kiểu
sư tử tọa mà tịch... (Tam Tổ thực lục).
Qua
ba giai đoạn trên, chúng ta thấy Ngài sống giai đoạn nào
ra giai đoạn ấy. Lúc làm vua thì quên mình giữ nước, hết
dạ chăn dân. Khi đi tu, nhiệt tâm vì đạo mài miệt tu hành,
chẳng ngại nhọc nhằn hết tình với tăng tục. Vì thế,
trên đường đời Ngài thành công viên mãn, trên đường đạo
thì đạo quả viên thành. Chính thái độ dứt khoát tích cực,
nên lãnh vực nào Ngài cũng thành công. Ngài cũng hưởng dục
lạc trong hoàng cung, cũng cầm binh khiển tướng ngoài trận
mạc, nếu nói là tội lỗi thì cũng tràn trề. Song khi dứt
khoát tiến tu thì cắt đứt mọi quá khứ, sống kham khổ
tu hành, nên lấy hiệu đầu-đà (khổ hạnh). Với ý chí cương
quyết đó, chỉ trong vòng mười năm, Ngài đã tiến đến
chỗ sanh tử tự tại. Ðây là tấm gương sáng rỡ để nhắc
nhở chúng ta, không sợ mình trước mê lầm tội lỗi, chỉ
sợ xuất gia rồi mà thái độ vẫn mập mờ. Ngài là con người
thấy được đạo lý và sống được đạo lý. Chúng ta đọc
bài kệ kết thúc bài phú Cư Trần Lạc Ðạo của Ngài thì
rõ:
Cư
trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ
tắc xan hề khốn tắc miên
Gia
trung hữu bảo hưu tầm mích
Ðối
cảnh vô tâm mạc vấn thiền.
Dịch:
Trong
đời vui đạo hãy tùy duyên
Ðói
đến thì ăn mệt nghỉ liền
Nhà
mình báu sẵn thôi tìm kiếm
Ðối
cảnh không tâm, chớ hỏi thiền.
Sống
ngay trong lòng trần tục mà khéo biết đạo vẫn thấy an vui.
Duyên cảnh đổi thay tùy thời linh động, như khi đói thì
ăn, khi mệt thì nghỉ, đừng cố chấp cứng nhắc mà tự
khổ đau. Phật đã sẵn nơi ta, khỏi phải nhọc nhằn sang
đông tìm tây. Cái khôn ngoan khéo léo của chúng ta là "đối
cảnh tâm không động", chính nơi đây là thiền rồi, còn
thưa hỏi đâu nữa. Người học đạo nhận thấy Phật đã
sẵn nơi tâm mình, song muốn Phật hiện thì tâm đừng chạy
theo cảnh. Ðây là lối tu thật giản đơn, thật cụ thể,
mà người đời khó tin khó nhận. Người ta chỉ tin Phật
ở Tây phương, phải siêng năng lễ bái thì được phước,
được Phật rước về cõi Phật. Bởi vậy Tổ Lâm Tế nói:
"Người ngu cười ta, kẻ trí biết ta." Cười, vì thấy không
tụng kinh lễ bái, chẳng biết tu cái gì? Biết, vì thấy lối
tu tế nhị cụ thể thiết thực, không còn gì nghi ngờ. Một
ông vua, xuất gia chỉ có mười năm mà đạt đạo như vậy,
thật đáng quí kính biết dường nào. Cho nên triều đình
tôn xưng Ngài là Ðiều Ngự Giác Hoàng.
THÁI
TỬ TẤT-ÐẠT-ÐA VÀ TRẦN NHÂN TÔNG
Thái
tử là ông hoàng chưa từng đối đầu với mọi việc khó
khăn ở đời, chỉ thấy cảnh già, bệnh, chết là phát tâm
đi tu. Mục đích Ngài đi tu để tìm phương pháp phá vỡ cái
luật khắc nghiệt của kiếp con người mà muôn thuở đã
chấp nhận. Ngài phải trả cái giá rất đắt là, mười một
năm nằm gió phơi sương lang thang trong rừng núi, ăn uống
sơ sài cho đến kiệt sức. Đến khi giác ngộ viên mãn phương
pháp giải thoát sanh tử tuyên bố thành Phật. Ðây là người
khai mở con đường đạo giác ngộ giải thoát. Tức là Ngài
đã phá vỡ luật khắc nghiệt (già bệnh chết) chi phối mình
và đem ra chỉ dạy mọi người. Việc làm của Ngài là muôn
thuở không hai.
Vua
Trần Nhân Tông là người kế thừa con đường của Phật
đã vạch sẵn. Bởi kế thừa nên công phu đơn giản và nhẹ
nhàng, chỉ cần đem đuốc mình mồi vào đuốc Phật là cháy
sáng. Do đó đi tu Ngài không khổ công tầm đạo, chỉ cần
ứng dụng đạo đã sẵn vào việc tu hành là thành công. Tuy
vậy cũng không phải là việc dễ dàng, mặc dù có công thức
chỉ rõ, muốn ứng dụng công thức ấy phải gan góc cùng
mình, phải mạnh tay chặt đứt mọi xiềng vàng xích ngọc,
phải hùng dũng nhảy vọt khỏi mấy lớp rào tình cảm bịt
bùng.
Hai
Ngài đều chôn mình trong cung vàng điện ngọc, bị bao vây
bởi đám cung nữ phi tần, bị phủ kín trong tiếng đàn ngọt
hát hay, bị siết chặt bởi mùi thơm vị quí. Song cả hai
đều quả cảm thoát ra không chút đoái hoài luyến tiếc.
Do đó hai Ngài làm được việc khó làm, để lại cho đời
tấm gương phi phàm xuất chúng. Hai Ngài là hai mầm sen chôn
sâu trong vũng bùn ngũ dục, vươn lên khỏi nước nở tròn
tươi thắm và tỏa ra mùi hương tinh anh thanh khiết bủa khắp
cả trần gian.
Qua
những hình ảnh trên, chúng ta có đủ kinh nghiệm trong việc
tiến tu, không còn e dè nghi ngại gì nữa. Bởi vì không có
vị nào đã là thánh rồi thành thánh, mà tất cả đều bị
bao vây bởi phiền não dục trần. Cái đặc điểm của các
ngài là nhạy cảm sớm thức tỉnh và anh dũng khi cần thoát
nó. Ðiều đó chúng ta có thể học được, có ai thấy cảnh
già bệnh chết mà chẳng buồn, có ai không khí khái khi thốt
ra những lời thề bán mạng. Chỉ cần chúng ta triệt để
ứng dụng cái nhạy cảm của mình để phát chí tu hành, khéo
xoay chuyển cái khí khái của mình vào con đường quyết tử
cầu đạo. Dám hạ quyết tâm trên đường hành đạo, chúng
ta sẽ thu gặt được kết quả chắc chắn không nghi. Chúng
ta là những mầm sen phơi mình trên bùn ngũ dục, thoát khỏi
nó để vươn lên có khó gì? Chúng ta đâu có cung vàng điện
ngọc, đâu có cung phi mỹ nữ... mọi dục lạc tìm cầu rất
khó, nếu thoát nó thì hết sức nhẹ nhàng, chỉ cần một
cái nhảy nhẹ đã ra khỏi rồi, thế mà chúng ta cứ chần
chừ không ưng nhảy. Ðây là yếu điểm muôn kiếp chịu trầm
luân của chúng ta.