Tu trong
mọi hoàn cảnh
Có nhiều
người nghĩ rằng, tu là phần riêng của những kẻ rảnh rang
nhàn hạ, những người thừa của thừa tiền, còn mình làm
đầu tắt mặt tối, cơm không đủ no áo không đủ ấm, có
thì giờ đâu mà nói chuyện tu. Hoặc có những người nghĩ,
tu là việc của những kẻ thiếu phước bần hàn, cô quả,
tật nguyền, nhờ tu họ được an ủi bớt khổ, còn ta phước
nhiều của lắm, thân quyến đầy đàn, đẹp đẽ sang trọng
mà tu làm gì. Lại có người nghĩ, tu là việc của những
kẻ tội lỗi ác độc, bởi họ tạo nhiều tội lỗi nên
phải tu để chuộc tội, còn tôi hiền lành có làm gì hại
ai đâu mà tu. Bởi có những quan niệm này, nên người ta không
màng không nghĩ đến tu. Họ đâu biết rằng, mọi chúng ta
trong tâm niệm có cả xấu lẫn tốt, nếu thả nổi mặc tình
niệm xấu hoành hành, là sống theo bản năng, mất hết tư
cách của con người và sẽ gây tội lỗi ngập trời. Ðể
hạn chế tâm niệm xấu, khiến nó tiêu mòn, khởi dậy tâm
niệm tốt, khiến nó tăng trưởng, đây là việc làm của
người tu. Có giảm tâm niệm xấu, tăng tâm niệm tốt, người
này mới đủ tư cách con người và làm nhiều việc tốt đẹp
với mọi người chung quanh. Thế là, có hoàn cảnh nào mà
chẳng nên tu?
Có
những người bận lo sinh kế gia đình, tửng bưng sáng đã
có mặt ở chợ, đến sẩm tối mới về tới nhà, rồi lo
ăn uống giặt giũ cho con cái là tối mò, có rảnh lúc nào
đâu mà tu? Nếu bảo những người này phải tụng kinh, phải
lần chuỗi niệm Phật, chắc hẳn không thế nào làm được.
Nhưng tu ở đây là, bỏ ý nghĩ xấu, nuôi dưỡng ý nghĩ tốt,
bỏ lời nói dữ, nói lời nói lành, dừng những hành động
ác, tạo những hành động thiện, có mất thì giờ chút nào
mà tu không được. Trái lại, chính khi buôn bán làm ăn ấy,
chúng ta có ý nghĩ tốt, thốt lời nói lành, có hành động
thiện, người khách hàng mến thương, khiến khách mua hàng
càng lúc càng đông, việc làm ăn dễ phát đạt. Ví như cô
bán hàng có khách đến mua, giá món hàng một ngàn đồng,
cô nói một ngàn hai, chờ khách trả một ngàn là cô bán.
Song trớ trêu, người khách không trả một ngàn, mà trả ba
trăm. Trường hợp này, nếu cô bán hàng không biết tu thì
nổi giận quát tháo ầm ĩ, gây ra cuộc cãi vã ồn ào. Ngược
lại, cô bán hàng biết tu, chỉ cần cười, nói nhẹ nhàng
"trả chưa tới giá, bán không được". Mọi việc êm ái, không
ai thiệt thòi gì, mai kia người khách ấy còn có thể đến
gian hàng này mua hàng. Trước những cảnh bất như ý, chúng
ta biết kềm hãm sự nóng giận, biết lựa lời ôn hòa để
đáp, biết giữ thái độ bình tĩnh, là khéo tu. Ở giữa chợ,
mỗi ngày sự bất như ý diễn ra liên tục, nên tu hành là
điều tối cần cho người sống trong hoàn cảnh này. Vì thế
người xưa nói: "Nhất tu thị, nhị tu sơn."
Nếu
là người nông phu làm nghề ruộng khi vác cuốc ra đồng,
chúng ta nghĩ "cần mẫn làm cho lúa trúng, để có cơm cho gia
đình mình ăn, vơi ra giúp đồng bào mình cùng có cơm ăn".
Quan niệm ấy là ý nghĩ lành, đó là tu. Thấy thửa ruộng
bên cạnh tốt hơn ruộng mình, không có tâm đố kỵ, mà lòng
mừng thầm bạn mình được lúa trúng, gia đình ấm no...,
mình gắng học hỏi theo cách làm ăn ấy, đây là tâm niệm
của người biết tu. Lại, khi làm việc đắp bờ cuốc ruộng,
trong tâm vừa nảy ra niệm xấu, ta liền diệt trừ, trong tâm
nảy ra niệm tốt, ta liền khơi dậy cho nó tăng trưởng, ấy
là tu, một cuốc là một câu niệm Phật, hoặc một cuốc
tận kim cang địa ấy là tu.
Là
học trò bận việc học hành, công phu tu không hề chướng
ngại. Khi cắp sách đi học, em nghĩ "ta cố gắng học cho giỏi,
để mai kia giúp cha mẹ khi tuổi già, có tài để góp công
mình xây dựng quê hương tốt đẹp hơn", đó là em tu. Thầy
giáo, cô giáo nhọc sức giảng dạy bài vở, em lắng nghe và
cố học thuộc, vì thương sợ thầy cô buồn, đấy là em
biết tu. Bạn bè trong lớp có những trò học giỏi hơn em,
em không ganh tỵ, trái lại còn kính phục để bắt chước
theo, ấy là tâm niệm người tu. Người tu là người biết
phục thiện, mỗi khi có lỗi lầm bị rầy, bị phạt, biết
lỗi sửa ngay, không oán hờn trách móc. Có những đứa học
hành thua kém và thiếu phương tiện hơn em, em thương mến
hướng dẫn và giúp đỡ nó, là em khéo tu. Xã hội ngày mai
sáng sủa hơn, tốt đẹp hơn, chính nhờ những mầm non biết
tu.
TU
TRONG CẢNH NGHÈO KHÓ
Chúng
ta nghèo tiền nghèo của chớ đâu có nghèo ý nghĩ, lời nói,
hành động. Chuyển hóa ý nghĩ xấu thành tốt, lời nói dữ
thành hiền, hành động ác thành thiện là tu. Việc này đâu
đòi có tiền có của, nhàn rỗi mới làm được. Chính trong
cuộc sống vất vả nghèo nàn của chúng ta cần thiết phải
có nó. Như có người nghèo khó vất vả mà lòng tốt, lời
nói hiền hòa, hành động lương thiện, khiến mọi người
thương mến giúp đỡ, nhờ đó mọi khó khăn giảm bớt đi.
Ngược lại, nếu ở trong cảnh khó khăn mà ý ngang ngạnh,
lời nói hung dữ, hành động bạo ngược, khiến ai nghe thấy
cũng ghét cũng lánh xa, nhờ điều gì họ cũng không giúp,
thì khó khăn lại càng khó khăn hơn. Hơn nữa, tâm hồn trong
sáng, lời nói hiền hòa, hành động thanh cao, dù chúng ta sống
trong cảnh nghèo vẫn thấy êm đềm hạnh phúc. Chồng biết
nhường vợ, vợ biết kính chồng, con hiếu thuận cha mẹ,
cha mẹ thương yêu con cái, gọi là cuộc sống hạt muối cắn
hai, thật là lý tưởng biết bao.
TU
TRONG CẢNH BỆNH HOẠN
Bình
thường người ta cho khi bệnh hoạn là chướng ngại tu hành,
đây cũng là quan niệm sai lầm về việc tu. Nếu thấy tụng
kinh, tọa thiền mới là tu, khi bệnh hoạn tụng kinh không
nổi, tọa thiền không được, đó là chướng ngại tu. Song
tu cốt ngăn ngừa phiền não, chiến thắng vọng tưởng, dù
có tụng kinh tọa thiền, không tụng kinh tọa thiền đều
tu được. Nếu có người bệnh nặng không đi đứng được,
nằm một chỗ, khi ấy nằm nhiếp tâm niệm Phật, niệm chí
tử, chẳng buồn nghĩ đến ai, lo việc gì, chỉ một bề niệm
Phật thôi. Ðây là tu đại tinh tấn theo pháp môn Tịnh độ,
đâu có chướng ngại gì. Hoặc có người bệnh, không niệm
Phật mà thích quán chiếu, liền quán thân này thấy nó là
gốc khổ đau, là tướng vô thường, là hiện tượng nhớp
nhúa, là không có chủ, nương thân bệnh quán chiếu tường
tận như vậy, thấy được tướng thật của thân, đây là
pháp trí tuệ sẽ gần với Niết-bàn, là tu thiền. Khổ nỗi,
người Phật tử bình thường tinh tấn tu hành, gặp lúc bệnh
hoạn lại thối chuyển, sanh phiền não với con cháu, đây
là việc đáng tiếc. Khi mạnh chúng ta tu, để khi yếu bệnh
có đủ đạo lực tiếp tục, vì lúc này là lúc gần với
tử thần, là phút chiến đấu cuối cùng, nếu ngang đây mà
dừng, mà hướng đi chiều khác, thật là một việc hoài công
vô ích. Bởi vậy nên, Phật tử chúng ta phải thấy khi bệnh
là cơ hội tốt, dồn hết tâm lực vào sự tu, chuyên tâm
không lơi niệm, được vậy là gần với Phật, gần Niết-bàn,
mới mong thoát khỏi khổ luân hồi muôn kiếp.
TU
TRONG CẢNH TẠI GIA
Có
một số Phật tử nghĩ rằng, ở tại gia phiền rộn khó tu,
được xuất gia rảnh rang tu hành mới giải thoát. Quan niệm
này cũng không đúng. Nếu thấy tại gia là nhiều việc, vào
chùa chắc gì ít việc? Người xưa nói: "Ca-sa vị trước hiềm
đa sự, trước dĩ ca-sa sự cánh đa." (Ca-sa chưa mặc than nhiều
việc, được mặc ca-sa việc lại nhiều.) Câu này thật là
chua chát đối với người tu. Ðây quả là sợ ông táo gặp
ông lò, chạy ô mồ mắc ô mả. Chúng ta đâu không nghe quí
thầy trụ trì thường than: "Trụ trì làm dâu trăm họ." Thế
là ít việc hay nhiều việc, phiền rộn hay rảnh rang. Yếu
điểm tu hành là hiểu đạo, vững lòng tin. Ðủ hai điểm
này, ở tại gia hay xuất gia đều tu được. Nếu không đủ
hai điểm này, dù ở chùa chưa chắc đã tu được. Chúng ta
phải khéo linh động trong mọi hoàn cảnh, đừng đòi hỏi
phải cảnh thế ấy tu mới được. Sự đòi hỏi đó là cái
cớ để chúng ta không tu. Vì có những người không thể tạo
được hoàn cảnh như ý. Có những Phật tử nam cũng như nữ,
con cái đầy đàn đầy đống mà cứ nằng nặc đòi xuất
gia, quăng đại cho người ở nhà làm sao thì làm. Nếu thỏa
mãn nguyện vọng, vào chùa một lúc, gặp khi gia đình thiếu
thốn, con cái nheo nhóc, nóng lòng rồi gởi ca-sa cho chùa trở
về nhà. Ðây là việc làm nông nổi.
CHỨNG
MINH MỌI HOÀN CẢNH ÐỀU TU ÐƯỢC
Ngày
xưa, đời Ðường ở Trung Hoa có gia đình ông Bàng Long Uẩn,
vẫn làm cư sĩ tại gia, mà tu đến được chỗ sanh tử tự
tại. Trong giới học Phật từ trước đến nay vẫn ngưỡng
mộ công đức tu hành của gia đình ông. Như trong bài sám
tu Tịnh độ đã đọc buổi tối, có câu "in như thiền định
họ Bàng thuở xưa..." Ông Bàng Long Uẩn trước theo Nho học,
sau nghiên cứu Phật thấy thích thú, ông tìm đến tham vấn
các thiền sư. Ban đầu, ông đến hỏi Thiền sư Hy Thiên (Thạch
Ðầu): "Người không cùng muôn pháp làm bạn là người gì?"
Hy Thiên liền bụm miệng ông. Ngay đây ông được ngộ. Sau
ông đến tham vấn Mã Tổ (Ðạo Nhất), cũng đem câu ấy ra
hỏi. Mã Tổ bảo: "Ông hớp một ngụm cạn hết sông Tây
Giang, ta sẽ vì ông nói." Ông càng tin sâu hơn.
Gia
đìng ông, hai ông bà và một con trai, một con gái. Ông cất
nhà gần chân núi, mỗi ngày chẻ tre đan sáo, cô con gái gánh
ra chợ bán. Sống đạm bạc qua ngày để tu hành. Một hôm,
trong nhà cùng ngồi bàn việc đạo, ông nói: "Nan nan nan, thập
tạ du ma thọ thượng thang." (Khó khó khó, mười tạ dầu
mè trên cây vuốt.) Bà đáp: "Dị dị dị, bách thảo thượng
đầu Tổ sư ý." (Dễ dễ dễ, trên đầu trăm cỏ ý Tổ sư.)
Cô con gái tên Linh Chiếu đáp: "Dã bất dị, dã bất nan, cơ
lai khiết phạn, khốn lai thùy." (Cũng chẳng dễ, cũng chẳng
khó, đói đến thì ăn mệt ngủ khò.) Với cái nhìn của ông,
thấy sự tu hành thật khó khăn vô kể, giống như người
trèo lên cây cao mà bị thoa dầu, trèo lên tuột xuống, không
có chỗ để bám. Trái lại, bà thấy việc tu rất dễ, vì
nhìn ở đâu cũng thấy ý Tổ sư tràn khắp. Cô Linh Chiếu
dung hòa, không nói khó, không nói dễ, khó dễ là hai bên,
vượt qua hai bên (nhị kiến) tâm sẽ thanh tịnh thản nhiên,
khi ấy chỉ đói đến thì ăn, mệt đến thì ngủ. Câu nói
của cô Linh Chiếu dễ bị người sau hiểu lầm, người ta
nghĩ rằng tu thiền là đói ăn mệt ngủ, rồi sống theo bản
năng, thật là tai họa, chủ yếu cô nói là, khi nào tâm ta
không còn mắc kẹt hai bên, khó dễ, tốt xấu, hơn thua, hay
dở..., mới đến chỗ đói ăn mệt ngủ.
Lại,
ông có làm bài kệ nói sự đoàn tụ của gia đình ông như
sau:
Hữu
nam bất thú
Hữu
nữ bất giá
Ðại
gia đoàn biến đầu
Cộng
thuyết vô sanh thoại.
Dịch:
Có
con trai không cưới vợ
Có
con gái không gả chồng
Cả
nhà cùng sum họp
Ðồng
bàn lời vô sanh.
Về già,
một hôm ông lên ngựa giữa ngồi chuẩn bị tịch, bảo Linh
Chiếu: "Con ra sân xem đúng ngọ vô cho cha hay." Cô Linh Chiếu
ra xem trở vào thưa: "Gần đúng ngọ, mặt trời bị nguyệt
thực, cha ra xem." Ông ra sân xem, trở vào, thấy Linh Chiếu
lên ngựa giữa ngồi kiết già tịch. Ông nói: "Con gái ta lanh
lợi quá!" Lo mai táng Linh Chiếu xong, ông báo tin cho thân hữu
hay sắp tịch. Hôm ấy bạn bè tụ hội, ông nằm gối đầu
trên đầu gối Châu Mục Công, nhắm mắt thị tịch. Tin này
đến bà Long Uẩn, bà ra đồng cho con trai hay, người con trai
đang đánh trâu cày ruộng, bà bảo: "Con ơi! Ông già vô tri
và con bé ngu si đã bỏ mình đi rồi." Người con trai thưa:
"Vậy hở mẹ!" Liền đứng thẳng tịch. Bà nói: "Thằng ngu
si này cũng đi nữa." Bà lo mai táng con trai xong, lên núi tịch.
Ðây là hiện tượng sanh tử tự tại của gia đình ông Bàng
Long Uẩn. Ông Long Uẩn đan sáo, cô Linh Chiếu bán sáo ngoài
chợ, con trai ông cuốc cày ngoài ruộng, bà Long Uẩn ở nhà
nấu cơm, đều tu hành đắc lực đến sanh tử tự tại. Tại
sao chúng ta lại đổ tại hoàn cảnh này, hoàn cảnh nọ, tu
không được?
Ðến
đời Trần ở Việt Nam, vua Trần Thánh Tông và Tuệ Trung Thượng
sĩ, một ông vua, một ông quan vẫn tu hành đắc lực. Chúng
ta ôn lại câu chuyện sau đây. Nhân ngày làm tuần cho Hoàng
thái hậu, vua Thánh Tông thỉnh các bậc tôn túc đến dự
trai, trong đó có Tuệ Trung Thượng sĩ. Nhà vua yêu cầu các
Ngài trình bài kệ ngắn để thấy chỗ kiến giải của các
ngài, qua nhiều bài kệ, nhà vua không hài lòng bèn trao giấy
bút cho Thượng sĩ. Thượng sĩ viết một mạch:
Kiến
giải trình kiến giải
Tợ
niết mục tác quái
Niết
mục tác quái liễu
Minh
minh thường tự tại.
Dịch:
Kiến
giải trình kiến giải
Như
dụi mắt thấy quái
Dụi
mắt thấy quái rồi
Rõ
ràng thường tự tại.
Nhà vua
đọc xong, liền phê tiếp ở sau:
Minh
minh thường tự tại
Diệc
niết mục tác quái
Kiến
quái bất kiến quái
Kỳ
quái tất tự hoại.
Dịch:
Rõ
ràng thường tự tại
Cũng
dụi mắt thấy quái
Thấy
quái chẳng thấy quái
Quái
ấy ắt tự hoại.
Kiến
giải của chúng ta không thật, giống như dụi mắt trong hư
không có những đốm hoa. Khi con mắt bình thường trở lại
thì những đốm hoa không còn. Những đốm hoa mất đi, ấy
là con mắt sáng. Tâm chúng ta bị kiến giải che mờ, một
khi kiến giải lặng mất, lúc ấy mới là tâm chân thật sáng
suốt. Vua Thánh Tông và Thượng sĩ chỗ thấy như nhau, khác
nhau chỉ đối ngược ý trước sau mà thôi. Thượng sĩ nói
con mắt dụi thấy hoa đốm, khi hết lòa con mắt trước đã
sáng rỡ. Thánh Tông nói con mắt trước đã sáng rõ, do dụi
nên thấy hoa đốm, chính khi thấy hoa đốm, biết là không
thật thì hoa đốm tự mất, trở lại con mắt sáng như trước.
Vua
Thánh Tông đau nặng, Thượng sĩ biên thơ hỏi thăm. Vua trả
lời bằng hai câu thơ:
Viêm
viêm thử khí hạn thông thân
Vị
tằng uyển ngã nương sanh khố.
Dịch:
Hừng
hực hơi nóng toát mồ hôi
Chiếc
khố mẹ sanh chưa từng ướt.
Thượng
sĩ bệnh sơ sài, Ngài kê một giường gỗ nằm tại Dưỡng
Chân Trang. Ngài nằm nghiêng bên phải theo phép cát tường,
mắt nhắm lại, người hầu và thê thiếp khóc rống lên.
Ngài mở mắt ngồi dậy, sai lấy nước rửa tay súc miệng,
liền quở nhẹ rằng:
"-Sống
chết là lẽ thường, buồn thảm luyến tiếc chi, làm não
chân tánh ta".
Nói xong,
Ngài nằm xuống yên lặng mà tịch.
Một
ông vua khi sắp chết, thấy thân tứ đại tan rã đau đớn,
song còn một cái chưa bao giờ tan rã, đây là "chiếc khố
mẹ sanh". Một ông quan sống trong cảnh thê thiếp tôi tớ
đầy nhà, mà vẫn nhẹ nhàng thanh thản ra đi, trước mọi
người khóc than luyến tiếc. Nếu vì bận rộn khó tu, ai bận
rộn hơn một ông vua, nhất là ông vua vì dân vì nước trước
cuộc xâm lăng của phương Bắc. Ai bị ràng buộc hơn một
ông quan, có đủ thê thiếp tôi tớ đầy nhà. Những vị này
tu được, chúng ta không còn lý do gì thối thác khó tu.
Tóm
lại, chúng ta là con người chưa có ai toàn hảo, cần phải
biết tu để chận đứng những điều xấu dở xuất phát
từ ba nghiệp của mình. Ðồng thời chúng ta khéo nuôi dưỡng
những hành động tốt đẹp từ thân miệng ý phát ra. Dừng
ác nuôi thiện là điều không thể thiếu, nơi con người muốn
vươn lên. Khước từ tu hành, là chúng ta khước từ sự tiến
bộ, là khước từ mọi đẹp đẽ cao quí, khước từ sự
an vui hạnh phúc. Nếu ai quyết chí vươn lên, muốn sống cuộc
đời an lạc, muốn gia đình hạnh phúc, muốn xứ sở huy hoàng,
tu là chủ yếu thực hiện những điều mong muốn ấy.