Tinh thần
giác ngộ của đạo Phật
qua ngày lễ
Vu-lan
Hôm
nay nhân ngày lễ Vu-lan, chúng tôi có một thời thuyết pháp
với đề tài
"TINH THẦN GIÁC NGỘ CỦA ÐẠO PHẬT".
Chúng tôi sẽ chỉ rõ tinh thần giác ngộ của lễ Vu-lan như
thế nào cho tất cả quí vị thấy, vì chính đó là tinh thần
giác ngộ của đạo Phật. Tinh thần giác ngộ đó sẽ diễn
tiến từ thấp lên cao, đến chỗ tột đỉnh như thế nào,
chúng tôi tuần tự giải thích qua cho tất cả quí vị rõ.
Trước tiên tôi nói thẳng về ngày lễ Vu-lan. Theo thường
ở chùa, ngày rằm tháng bảy là ngày lễ "Tự tứ" của chư
tăng cũng gọi là Phật hoan hỉ nhật, cũng gọi là ngày Vu-lan-bồn,
dịch âm tiếng Phạn. Ở Trung Hoa dịch nghĩa là giải đảo
huyền, tức là cứu hay cởi tội khổ bị treo ngược. Nói
một cách khác là cứu tội khổ của những người đang đọa
trong cảnh đau khổ địa ngục ngạ quỉ. Ðó là tên gọi,
nhưng sở dĩ đặt ngày lễ Vu-lan vào ngày rằm tháng bảy
là do ý nghĩa nào, tiêu chuẩn nào đức Phật nhắm như vậy?
Chúng
tôi lần lượt giải thích các tiêu chuẩn đó. Bởi ngày xưa,
lúc đức Phật tại thế, chư Tăng hoặc bốn vị hay nhiều
hơn, đều phân tán đi nơi này nơi nọ giáo hóa. Ðến mùa
hạ, ở Ấn Ðộ mưa nhiều, nước lũ cho nên sự đi lại
khó khăn. Ðức Phật ra lịnh cho chư Tăng đến mùa hạ phải
qui tụ một nơi để thúc liễm tu hành và kiểm soát lẫn
nhau, để tu hành thế nào cho nghiêm chỉnh. Trong ba tháng hạ,
tức là đến ngày rằm tháng bảy, chư Tăng nhắc nhở lẫn
nhau trong hành động, ngôn ngữ, tư tưởng còn khuyết, còn
sơ sót. Sau đó mỗi nhóm tùy phương tiện mà đi giáo hóa
khắp nơi. Như vậy, ba tháng an cư tính từ rằm tháng tư đến
rằm tháng bảy. Ngày rằm tháng bảy gọi là lễ "tự tứ",
có nghĩa là: Tự: mình, Tứ: mặc tình, tức là chính mình
đi ra giữa đại chúng, giữa chư Tăng cầu thỉnh tất cả
chư Tăng xét thấy mình có những sơ sót nào, những lỗi lầm
nào thì yêu cầu hoan hỉ chỉ dạy để cho mình nhận lấy
lỗi lầm, ăn năn chừa cải. Ðó là Tự tứ.
Trong
bài văn tự tứ nói thế này:
Một
vị Tăng hay là vị Tỳ-kheo đến trước những vị Tỳ-kheo
khác có đức hạnh hơn thưa:
"Bạch
Ðại đức một lòng thương xót, con là Tỳ-kheo A hay B gì
đó, trong ba tháng an cư, Ðại đức hoặc thấy hoặc nghe hoặc
nghi con có lỗi lầm gì thì thương xót chỉ dạy cho, con sẽ
phát lồ sám hối đúng pháp."
Như
vậy, trong ba tháng an cư hoặc đích thân họ thấy những cái
sơ sót của mình hoặc là họ nghe những người xung quanh nói
lại những cái sơ sót của mình, hoặc là họ thấy cái sơ
sót mà không biết có đúng hay không, trong lòng còn nghi ngờ.
Trong ba trường hợp đó, mình đều ra cung thỉnh nói thẳng,
chỉ thẳng ra cho mình biết dù cái đó chưa phải là tội.
Họ còn nghi ngờ mà nói ra mình cũng sẵn sàng nghe, xét thấy
đúng là lỗi thì sám hối phát lồ, do đó tội lỗi sẽ giảm
bớt. Như vậy mới là người làm lễ tự tứ đúng pháp.
Quí vị thấy có gì đặc biệt trong lễ tự tứ này không?
Theo
tâm lý con người như quí vị thấy, tất cả chúng ta ít có
người muốn nói cái dở của mình, hoặc che cái hay của mình.
Có người nào muốn nghe người ta nói cái xấu của mình hay
không? Ða số đều muốn khoe cái hay mà sợ thấy cái dở
của mình, cho nên luôn luôn người ta khoe cái hay và giấu
cái dở mình. Ðó là bệnh phổ thông của mọi người. Cái
bệnh đó làm cho con người tiến hay lùi? Nếu có hay một
chút đem ra khoe khoang, còn xấu thì che giấu để người ta
không thấy, đó là tâm niệm hiếu danh. Nếu mình một lần
làm xấu giấu được, không ai biết, không ai chỉ, không ai
nhắc, thì lần xấu thứ hai, thứ ba sẽ theo đó mà diễn
tiến. Càng che giấu tội lỗi thì tội lỗi càng nhiều. Cho
nên cái bệnh che giấu khiến con người thoái bộ. Làm cho
con người hư hỏng là bệnh hay khoe cái hay và che giấu cái
dở của mình.
Tinh
thần người Phật tử là tinh thần tự giác, cho nên chúng
ta phải tự giác cái gì chúng ta xấu. Lỡ phạm tội lỗi
chúng ta phải nhìn thẳng phải thấy rõ ràng, tự tỉnh, tự
giác. Thấy được tội lỗi của mình, tự mình hối cải.
Ðó là tinh thần phát lồ. Phát lồ là gì? - Là vạch cái
lỗi của mình trước mọi người, trước chư Tăng, trước
quần chúng để cho người ta thấy rõ mình có cái dở đó,
để mình hứa trước mọi người sẽ cải tiến không còn
dở nữa. Tháng này tôi có cái dở đó, tôi phát lồ với
quí vị, quí vị đã nhận đã ch?ng thật lời của tôi rồi,
hứa rằng tháng sau tôi sẽ tiến hơn không còn dở như vậy
nữa. Như thế mỗi tháng mỗi năm tôi đều phát lồ, trước
tôi có dở mười, có yếu lắm đi nữa, lần lần tôi còn
dở chín, dở tám rồi bảy chớ không đến nỗi nào trước
sao, sau vậy. Nếu trước phát lồ rồi sau cũng phát lồ y
như thế thì có hổ thẹn hay không. Tự nhiên mình hổ thẹn,
không thể nào chịu nổi. Giả sử mình có yếu đuối một
lần phát lồ, lần sau có phạm hay có tội cũng ráng nhẹ
hơn một chút, nếu nhiều lần như vậy tự nhiên lỗi càng
ngày càng giảm xuống. Tinh thần phát lồ là tinh thần tự
giác. Nếu mình không biết lỗi thì làm sao phát lồ. Biết
lỗi là tỉnh hay mê? Nếu mê thì đâu biết lỗi. Người mê
là người làm quấy không biết mình là quấy, làm sai không
dám nhận mình là sai. Nếu mình quấy tự biết mình là quấy
đó thật là tỉnh. Tỉnh tức là giác. Nhưng có người có
tỉnh có giác mà không dám nói, không dám trình bày thì sao?
- Ðó là yếu đuối thiếu gan dạ. Cho nên đối với người
tu phải có tinh thần tự giác tức biết nhận sự sai lầm,
những lỗi của mình. Phải can đảm trình bày cái quấy của
mình trước quần chúng để người ta chứng nhận cho mình
điều đó. Hứa trước quần chúng mình sẽ cải đổi, chớ
không hứa suông. Hứa như vậy để mà tiến bộ. Do đó nên
người tu theo đạo Phật là người biết tự giác. Ðó là
tự nhận lỗi để phát lồ. Nhưng tự nhận lỗi không chưa
đủ. Khi cái giác mình còn yếu chưa đầy đủ, cho nên có
cái mình biết có cái mình chưa biết, mình dễ tha thứ cho
mình lắm, mình dễ quên cái dở của mình lắm. Cho nên đức
Phật dạy chúng ta cần phải gan dạ hơn nữa, và phải can
đảm nghe lời chỉ trích của bạn bè, của những người
thiện tri thức lớn hơn mình. Như vậy khả dĩ bao nhiêu lỗi
lầm của mình mới tiêu tan được, mới có thể ra ngoài vòng
lỗi lầm được. Nếu mình không gan dạ nghe, không nhận những
lời chỉ trích thì mình khó mà tiến được. Cho nên tinh thần
"Tự tứ" là tinh thần cầu những người chung quanh mình thấy
những điều sơ sót những chỗ lỗi lầm do mình không thấy
được, nhờ chỉ cho mình nhắc cho mình để cải tiến.
Như
vậy người học đạo, người tu hành, nhất là người sống
trong đoàn thể mà biết tự giác phát lồ lỗi mình và can
đảm nghe lời chỉ dạy những lỗi lầm những sơ sót của
mình, thì người đó có tiến bộ hay không? Ðương nhiên chúng
ta thấy tâm hồn con người đó là một tâm hồn tỉnh giác
sáng suốt và họ là con người có ý chí quả cảm để cầu
tiến. Nếu không cầu tiến thì đâu chịu nghe lời phê bình
của người. Dám nghe lời phê bình để chấp nhận sửa đổi
đó là tinh thần cầu tiến mạnh mẽ vô cùng. Do đó hai điểm
quan trọng nhất của tinh thần tự tứ là biết tự giác để
phát lồ sám hối giữa đại chúng và thành tâm cầu xin chư
Tăng vì mình chỉ lỗi cho. Sau khi được chỉ lỗi, vui mừng
sám hối trước đại chúng. Như vậy tức là con người tự
giác nhận lỗi để sửa đổi. Họ sẽ từ từ vươn lên,
chớ không bao giờ đứng yên một chỗ. Cho nên người tu mà
thiếu tinh thần phát lồ và thiếu tinh thần tự tứ, người
tu đó khó tiến được. Vì vậy trong đoàn thể chư Tăng,
đến ngày rằm tháng bảy tức là ngày Tự tứ. Ngày mà toàn
thể đều ra giữa đại chúng phát lồ và cầu xin chư Tăng
thấy, nghe, nghi những lỗi gì của mình đem ra chỉ dạy cho,
để mình hứa nguyện sửa đổi. Ðó là ngày đức Phật vui
mừng nhất.
Bởi
trông thấy đoàn thể đệ tử của mình biết tiến bộ và
biết tỉnh giác, nên Phật hoan hỉ. Nếu không làm đúng như
vậy, đức Phật không vui. Ngày đó là ngày được đức Phật
khuyến khích cúng dường. Vì sao? Vì là ngày chư Tăng có tinh
thần cao cả gan dạ nhận lỗi mình, và những lời phê bình
chỉ trích của chung quanh, hứa sửa đổi. Thật đó là ngày
quí giá đáng khen. Cho nên Phật nói chính ngày này mới là
ngày toàn thể Phật tử cúng dường cầu nguyện có thể được
như ý. Nếu chư Tăng không làm được như vậy thì cầu nguyện
chưa chắc được như ý. Tại sao? Vì người biết tỉnh giác
là người có ý chí cầu tiến thì đối với việc làm của
họ có thể việc gì cũng xong. Ðối với sự giúp đỡ người
thì việc giúp đỡ nào cũng thành tựu. Bởi vì lúc nào họ
cũng tỉnh giác và lúc nào cũng cầu tiến, người như vậy
mới đạt được cái gì họ mong muốn. Và muốn lợi ích
cho người mới thành tựu viên mãn. Cho nên đức Phật nói
chỉ có ngày Tự tứ cầu nguyện mới được như ý. Thành
thử đức Phật khuyến khích, Phật tử thể theo tinh thần
tự tứ mà thực hiện lễ cầu nguyện. Nhưng thật ra nhằm
khuyến khích chư Tăng nhiều hơn, khuyến khích tinh thần phát
lồ và tinh thần tự tứ.
Nhưng
gần đây chúng ta đi ngược một chút với tinh thần tự tứ
của chư Tăng. Tỷ dụ như một chùa có một hai cô ni, một
hai ông thầy, không an cư, không tự tứ mà cũng tổ ch?c lễ
Vu-lan long trọng, nói rằng cúng dường ngày Vu-lan là có phước,
nào là giải đảo huyền, nào là xá tội vong nhân v.v... Mà
khi đó quí vị chưa áp dụng đúng tinh thần tự tứ. Họ
không sống với tính cách đoàn thể, không sống đúng với
tinh thần Phật muốn dạy, mà họ hô hào như vậy thì quí
vị thấy có hợp lý hay không? Vì vậy chúng ta phải thấy
rõ người tu theo đạo Phật là đi trên con đường giác ngộ.
Một việc nào cũng làm đúng theo tinh thần giác ngộ. Ngày
tự tứ là ngày tự giác của mọi người. Sau khi xét lại
cái sai lầm, cái sái quấy của mình trong ba tháng để mình
phát lồ sám hối và đồng thời nhờ chung quanh, những người
có tinh thần cương trực, chỉ những lỗi lầm sơ sót của
mình. Như vậy sự tiến bộ của mình càng ngày càng vươn
lên. Tinh thần giác ngộ như vậy mới là tinh thần giác ngộ
mạnh mẽ sáng suốt.
Ðó
là tôi nói thẳng cho quí vị thấy tinh thần tự tứ của
ngày rằm tháng bảy. Vì vậy ngày rằm tháng bảy này mới
nên làm lễ Vu-lan, tức là Phật tử mới nên cúng dường
để theo sở nguyện của mình. Cái sở nguyện được hay không
được, đó là vấn đề khác. Nhưng điều đáng chú ý hơn
hết là đức Phật đặt trọng vấn đề tự tứ của chư
Tăng, mới là ngày quan trọng.
Quí
vị nhớ trong kinh Vu-lan, chuyện bà Thanh Ðề, nhờ ngài Mục-kiền-liên
cúng dường chư Tăng ngày rằm tháng bảy mới thoát được
nghiệp ngạ quỉ mà sanh lên cung trời Thiên Hoa Quang. Như vậy
tinh thần cầu nguyện đó ảnh hưởng thế nào với người
có tội lỗi? Chỗ này tôi nói thêm cho quí vị thấy tinh thần
đạo Phật. Chính những việc làm đó không nằm trong các
mê tín mà nằm trong tự giác, tại sao vậy?
Trước
tôi xin kể những chuyện khác, dù chuyện này có tính cách
ngụ ngôn, nhưng để quí vị thấy tinh thần của đạo Phật.
Như đức Phật kể lại tiền thân của Ngài: "Thuở nọ Ngài
là một đứa con bất hiếu. Khi Ngài chết rồi vào địa ngục.
Ngay trong ngục tối, Ngài thấy ở đàng xa một đóm lửa sáng
rực đi đến dần dần tới Ngài. Tới gần Ngài nhìn rõ ra
là người đang bị một vòng lửa cháy đỏ rực trên đầu.
Người đó la rên thảm thiết. Khi tới gần, Ngài hỏi: Anh
ơi, anh làm tội gì mà chịu khổ lắm vậy? Chàng đó nói:
Không giấu gì ông, thuở xưa tôi ở nhân gian, vì bất hiếu
với cha mẹ, nên giờ đây tôi mới khổ như thế này.
Ngài
hỏi: Tới bao giờ anh mới hết tội đó?
Chàng
kia đáp: Chừng nào ở nhân gian có người nào bất hiếu như
tôi, đến thế cho tôi, thì tôi mới hết.
Vừa
nói thì vòng lửa bên đầu anh kia chụp qua đầu của Ngài.
Ngài bị đốt cháy đỏ rực, đau khổ quá Ngài rên la thảm
thiết. Khi tỉnh lại, Ngài hỏi: Ðầu tôi bị vòng lửa đốt
cháy như thế này, thưa anh chừng nào mới hết, mới khỏi
cái khổ này? Anh kia nói: Chừng nào có người ở trên nhân
gian bất hiếu như ông, xuống thế cho ông thì ông mới hết.
Khi
đó Ngài liền nhớ cái khổ bị đốt như thế này đau đớn
vô ngần, nếu có người chịu khổ như mình thì tội nghiệp
họ quá, chi bằng để một mình mình chịu khổ thôi. Cho nên
lúc đó Ngài liền phát nguyện: ‘Nguyện tất cả người
trên thế gian, từ đây về sau đừng có ai bất hiếu như
tôi, để một mình tôi chịu cái khổ này suốt đời suốt
kiếp.’ Ngài vừa nguyện xong, bất thần vòng lửa bay đâu
mất. Ngài thấy Ngài sanh lại ở chỗ khác tốt đẹp, không
còn vòng lửa nữa."
Qua
câu chuyện đó tuy có tính cách ngụ ngôn nhưng cho chúng ta
thấy rõ một khi phát tâm từ bi rộng lớn, phát tâm đạo
đức, thì bao nhiêu cái khổ cái xấu tan đi.
Ngài
kể thêm một câu chuyện nữa: "Một thuở nọ Ngài cũng là
một người đi săn bắn tàn bạo. Ngài chết và rơi vào địa
ngục. Khi đó quỉ sứ bắt Ngài kéo trên một chiếc xe cồng
kềnh, phía sau có người cầm roi đánh. Ngài kéo nặng nề
quá. Kéo qua chỗ tra tấn người, Ngài thấy những người
khác bị đánh đập hành hạ đau khổ rên siết quá đỗi.
Ngài động lòng thương nguyện rằng: ‘Tôi xin thế tất cả
cái đau khổ của những người ở trong đây! Tất cả cái
khổ của những người đang chịu, xin để cho mình tôi chịu.’
Ngài vừa phát nguyện như vậy thì tự thấy Ngài không còn
ở địa ngục nữa."
Qua
hai câu chuyện trên đó, chúng ta thấy bà Thanh Ðề, sở dĩ
ra khỏi vòng ngạ quỉ không phải chư Tăng có tài xuống đó
dẫn bà lên. Không phải có một ông Diêm vương hay ông chúa
ngục nào mở thả bà, ân xá cho bà. Cũng không phải ông Phật
trên đài sen xuống cứu bà, mà chính vì tinh thần sáng suốt
và ý chí mạnh mẽ cầu tiến của chư Tăng đồng chung một
tâm niệm hướng về bà, mong bà cải đổi tâm niệm xấu
xa. Do sự giao cảm đó mà bà tỉnh giác, chính bà tỉnh giác
biết được tội lỗi của bà, nên bà hối hận chừa bỏ.
Do đó bà thoát khỏi cái khổ ngạ quỉ. Thoát khỏi là do
tâm hối cải tỉnh giác chớ không phải do sức bên ngoài
bắt mình hay thả mình. Ðó là sự thật do tinh thần tỉnh
giác của con người mà ra. Chỗ đó đối với quí vị hơi
lạ, nhưng sự thật là thế.
Chúng
ta thấy rằng tất cả cái khổ là gốc ở mê lầm. Mê lầm
nên mới có hiểu sai quấy tự mình thấy mình khổ. Thí dụ
chúng ta gặp một người mà mình có ác cảm, thấy mặt họ
mình vui hay buồn? Người mà mình có ác cảm thấy mặt họ
là mặt đổi sắc, cảm thấy buồn cảm thấy khổ, khi phải
đối đầu với họ. Nếu khi đó mình dẹp phiền não, có
tâm niệm sáng suốt hơn, và tự hỏi tại sao mình xấu như
vậy? Tại sao mình có ác cảm với người ta? Người ta cũng
tốt, tại sao mình có niệm xấu với họ. Tự hỏi như vậy
là mình có thể vui cười cùng họ và không còn bực bội
khó chịu nữa. Quan niệm bực bội khó chịu đó là bởi mình
cố chấp, mình ghen ghét, mình xấu xa đối với mọi người.
Gặp họ thấy họ là mình cảm như có cái gì bực bội, rồi
tự mình chuốc khổ. Hết khổ không phải Phật cứu mình
mà chính là nhờ mình đổi được quan niệm của mình.
Ðến
đây tôi kể một câu chuyện trong Thiền tông. Vị Tổ thứ
tư Thiền tông là Tổ Ðạo Tín, lúc còn làm Sa-di khi gặp
Tổ Tăng Xán (Tổ thứ ba ở Trung Hoa), Ngài thưa: Bạch Hòa
thượng dạy cho con phương pháp giải thoát.
Tổ
nhìn sững vào mặt hỏi: Ai trói buộc chú?
Ngài
quýnh lên không biết ai trói buộc mình. Nhìn lại mình một
hồi, Ngài thưa: Bạch Hòa thượng không ai trói buộc con hết.
Tổ
bảo: Như vậy cầu giải thoát làm gì?
Ngài
liền tỉnh ngộ.
Vì
mình đeo một quan niệm đen tối nên cảm thấy mình xấu xa
đau khổ. Giờ đây mình xem cái xấu xa đau khổ đó nó có
từ đâu? Khi tìm lại thì quan niệm xấu xa đau khổ không
còn nữa. Nhìn thẳng nó thì không thấy có, lúc đó liền
hết khổ. Hết khổ ngay trong cái mình nhìn thẳng lại nó,
mình trông không thấy nó. Như vậy để thấy rõ cái khổ
hay không khổ gốc ở mê lầm hay giác ngộ. Cho nên người
giác ngộ là người thoát khổ, người mê lầm là người
đau khổ.
Ðó
là then chốt của đạo Phật. Ð?o Phật cứu khổ không có
nghĩa là cứu người này ở trong địa ngục đem bỏ trên
trời. Hay là đem người này ở trong ngạ quỉ đưa lên một
cõi nào khác. Cứu khổ chính là chỉ dạy cho người ta giác
ngộ. Mà giác ngộ rồi liền đó được giải thoát.
Tôi
thí dụ một cách cụ thể hơn. Thí dụ có người bị bệnh
ghiền á phiện. Khi họ bị ghiền mà không có tiền để mua
á phiện, họ phải ụa mửa đủ thứ hết. Hôm nào đây họ
tỉnh giác, họ thấy cái ghiền á phiện này là tai họa lớn.
Thấy mình bị hao mòn khí lực, tài sản tiêu hao, làm mọi
người lo sợ v.v... bây giờ nhất định cương quyết bỏ,
không ghiền nữa. Khi họ giác ngộ, biết được tai họa của
nó, cương quyết bỏ, thì từ đó về sau họ sẽ thắng được
bệnh ghiền. Thắng được bệnh ghiền là họ hết khổ. Mà
hết khổ đó là do ai? Do họ tự giác. Phải vậy không? Họ
biết được cái dở, cả quyết chừa thì họ hết khổ. Nếu
họ không biết cái đó dở, không biết cái đó là tai họa
thì họ cứ đi sâu, đi sâu mãi không bao giờ ra khỏi khổ.
Cho nên có giác ngộ mới được giải thoát. Có giác ngộ
mới hết khổ. Ðó là sự thật mà lâu nay chúng ta ít có
quan niệm rõ. Chúng ta cứ tưởng rằng đi đến chùa cầu
cúng rồi Phật làm cho mình hết khổ. Ðó là cái hiểu lệch
lạc của chúng ta. Tinh thần Phật tử đi chùa phải là tinh
thần cầu học đạo để thấy phương pháp tu hành, để mình
được giác ngộ. Mà giác ngộ chính là tự mình cứu khổ
cho mình, chớ không phải ai cứu khổ cho mình được. Vì vậy
đức Phật đã từng nói: "Ta không có quyền ban ơn giáng họa
cho ai." Nếu Ngài có quyền ban ơn giáng họa cho người thì
Ngài thành thần linh mất rồi, không phải là Phật nữa. Chính
Ngài dạy phương pháp giác ngộ, tự chúng ta bỏ đi cái mê
lầm, cái sái quấy của mình. Ðó là cứu khổ, là điều
căn bản của đạo Phật.
Hôm
nay là ngày lễ Vu-lan, chúng ta phải biết rõ tinh thần Vu-lan.
Ðó là tinh thần tự giác và cầu tiến. Tự giác bằng cách
nhìn thẳng lại những cái sái quấy, những lỗi lầm của
mình. Can đảm ra trước quần chúng để xin phát lồ sám hối.
Cầu tiến bằng cách mong mọi người chung quanh nhìn thấy
cái sơ sót lỗi lầm của mình, chỉ bảo cho mình chừa cải.
Ðó mới đúng là tinh thần Vu-lan. Ðúng tinh thần đó thì
việc làm nào cũng thành tựu như ý. Do đó trong đạo Phật,
thường nói ngày tự tứ là ngày có công đức lớn.
Lễ
Vu-lan, tinh thần giác ngộ là thế đó, không phải ỷ vào
sức cầu nguyện mà không tự giác. Ðức Phật chọn ngày
tự tứ để khuyên Phật tử làm lễ Vu-lan là do ý nghĩa này.
Giờ
đây chúng tôi nói tới giác ngộ. Có phải giác ngộ ở chừng
này thôi hay còn phải giác ngộ thế nào nữa? Ở đây chúng
tôi cũng lược nêu lên qua một ít điểm giác ngộ để quí
vị thấy. Với tinh thần Vu-lan giác ngộ của những người
biết tự giác và biết cầu tiến. Ở trong phạm vi phàm phu
còn là phàm Tăng chúng ta phải mong giác ngộ và cầu tiến
như thế.
Tiến
dần lên những bậc thánh tăng thì sự giác ngộ thế nào?
Ðây tôi kể trong đạo Phật có những vị thánh tăng chứng
quả Thanh văn, Duyên giác hay là Bích-chi Phật đến Bồ-tát
v.v... Những vị giác ngộ đó như thế nào? Những hàng Thanh
văn sau khi nghe Phật nói pháp Tứ đế: Khổ đế, Tập đế,
Diệt đế và Ðạo đế, các vị nhận đúng như thật, đúng
tinh thần giác ngộ. Nhận rõ ràng không nghi ngờ gọi là chứng
đạo hay thấy đạo. Khi thấy đạo, chứng đạo rồi bước
vào hàng Tu-đà-hoàn lần đến A-la-hán. Như vậy chỗ giác
ngộ đó như thế nào? Thí dụ như nghe đức Phật nói: "tất
cả thế gian là khổ" chư Tỳ-kheo thấy như thế nào? Biết
lời Phật đúng hay là không đúng? Phần nhiều vị nói thế
gian là khổ, cứ nghĩ khổ là đói khổ, là lạnh khổ là
đau ốm v.v... Cho những điều khổ đó là khổ của Phật
nói. Sự thật đức Phật nói thế gian khổ, là vô thường.
Tại sao vô thường là gốc của khổ? Bởi vì thông thường
kể nào Tứ khổ, nào Bát khổ. Tứ khổ là sanh lão bệnh
tử. Bát khổ là Tứ khổ thêm cầu bất đắc khổ, ái biệt
ly khổ, oán tắng hội khổ, và ngũ ấm xí thạnh khổ. Như
vậy cái khổ đó ở trong qui luật vô thường. Người ta ai
không nghĩ rằng mình sanh ra lớn lên, trong khi tuổi trẻ còn
khỏe mạnh sung túc, ít năm thấy mình già mặt nhăn má cóp.
Lúc đó có buồn hay không? Răng lung lay nhai không biết ngon,
mắt mờ thấy không xa không rõ. Tất cả những hiện tượng
đó đều là hiện tượng khiến mình không được vui. Không
được vui tức là khổ, là bất như ý. Thường thường cái
khổ là cái bất như ý? Ý mình không muốn bị mắt mờ tai
điếc, răng rụng, má cóp, mà tất cả cái đó nó tới, mình
có vui hay không? Ðó là bất như ý, mà bất như ý là khổ.
Cái khổ đó là gì? - Là vô thường. Mình đang mạnh khỏe,
hoạt động tự do, tới lui tự tại, phát lên đau rên hì
hì đi không được, hoạt động không được, mình có khổ
hay không? Ðó là bất như ý, đó là khổ. Như vậy sanh già
bệnh chết đều là tướng trạng vô thường, đều là khổ.
Cái khổ đó có người nào khỏi hay không? Nếu nói khổ do
đói rách thì đức Phật nói không phải chân lý, mà nói riêng
cho một nhóm người nào thôi, vì có người không đói không
rách thì họ không khổ. Khổ là nói chung cho toàn thể con
người. Con người nào cũng nằm trong luật Vô thường. Mà
đã nằm trong vô thường thì bất như ý. Ðã bất như ý thì
khổ đau. Cái khổ đó nếu chúng ta thấy tường tận tức
là nhận chân được khổ đế. Nhận chân được khổ đế
rồi, vậy khổ từ đâu mà có? - Từ tập đế. Tập đế
là gì? Ðức Phật nói là tham sân si. Nếu nói rộng ra thì
mạn, nghi, ác kiến, tức là sáu thứ căn bản phiền não,
nói rộng nữa thì tới mấy chục thứ phiền não. Tóm lại
tất cả phiền não gốc từ tham sân si mà ra.
Sở
dĩ chúng ta thấy chúng ta già nên buồn, bất như ý là tại
sao? Là tại chúng ta có lòng tham muốn mình được trẻ mãi.
Nếu chúng ta không có lòng tham muốn trẻ hoài thì già đến
có buồn không? Tóm lại trong ba cái tham sân si, si là gốc.
Tại si mà mình không thấy được vô thường, không nhận
được lý vô thường nên mình mới tham hoài, mới nghĩ tới
sống mãi. Phải vậy không? Nghe đến cái chết là run lên,
nghe đến cái già thì buồn đi. Ðó là tham. Nếu mình biết
rõ được lý vô thường là mình phá được cái si rồi. Trong
cái vô thường mà nghĩ là thường, là si mê. Biết rõ lý
vô thường mong cầu được trẻ mãi, tham được khỏi chết
v.v... không còn nữa. Mà cái tham không còn thì cái già chết
còn không? Như vậy phá được cái si thì khổ theo đó mà
hết.
Cái
sân cũng vậy. Sở dĩ chúng ta thấy người khác mình ghét
mà gặp mặt nhau thì bực bội gọi là oán tắng hội khổ.
Chúng ta nhận được lý vô thường rồi phải biết rằng
con người mình là vô thường mọi người cũng vô thường,
thì giận nhau hờn nhau làm gì? Tha thứ cho rồi, mình có sống
đời đâu mà ôm ấp giận hờn. Tha thứ được thì mình hết
khổ, cho nên nhận chân được lý vô thường thì tâm sân
dịu xuống. Dịu xuống thì bớt khổ. Như vậy tham sân si
là gốc của khổ là Tập đế. Khổ là quả, tham sân si là
nhân. Tham sân si giảm thì khổ quả theo đó mà giảm bớt.
Quí vị thấy chúng ta tỉnh giác hay là chúng ta giác ngộ được
nhân khổ thì cái quả khổ theo đó mà hết. Sở dĩ chúng
ta khổ là vì chúng ta tham danh, tham lợi, tham đủ thứ. Cho
nên mất một cái thì chúng ta khổ một cái, mất nhiều cái
thì chúng ta khổ nhiều cái. Chúng ta tham nên muốn cái gì
cũng gom về mình cho nhiều. Mất là đau khổ liền. Như vậy
khổ là tự lòng tham. Nếu chúng ta biết tất cả chúng ta
đều là vô thường, đã là vô thường thì phải làm sao?
- Không nên ôm ấp. Ðã là vô thường thì phải chia sớt nhau.
Vô thường mà ôm giữ, điều đó không phải là vô thường.
Phải vậy không? Nếu biết được lý vô thường thì chúng
ta phải san sẻ phải chia sớt. Như vậy là chúng ta dứt lòng
tham, tức hết khổ. Chúng ta làm bể cái chén, buồn hai ba
ngày. Bởi tại chúng ta tưởng cái chén là còn hoài, nên lỡ
bể chúng ta buồn. Nếu biết đó là vô thường lỡ bể rồi
thì thôi. Dè dặt mai đừng cho cho bể nữa. Cái khác cũng
thế. Biết được lý vô thường nên chúng ta không ôm ấp,
không gìn giữ riêng cho bản thân mình. Thân mình là vô thường
sự vật cũng vô thường, tại sao mình cứ gom góp? Tại sao
mình cứ giữ gìn? Khi gom góp gìn giữ đó là thỏa mãn lòng
tham. Khi biết được vô thường thì đâu còn tham nữa. Hết
tham là mình hết khổ. Chính vì ngộ được lý vô thường,
theo đó khổ sẽ giảm. Vì vậy nên các vị A-la-hán không
còn khổ nữa. Còn mình chưa biết được lý vô thường nên
mới khổ. Nhưng có nhiều người nói: "Nói như thầy cái gì
cũng vô thường hết thì ai muốn làm gì nữa." Như vậy là
lầøm ý của Phật. Ðức Phật nói vô thường để mà tiến
bộ chớ không phải vô thường để mà buông tay.
Quí
vị nhớ bài kinh nhật tụng hằng ngày ở chùa, tụng kinh
Di-đà rồi chúng ta tụng thêm:
Thị
nhật dĩ quá
Mạng
diệc tùy giảm
Như
thiểu thủy ngư
Tư
hữu hà lạc
Ðại
chúng đường cần tinh tiến
Như
cứu đầu nhiên
Ðản
niệm vô thường
Thận
vật phóng dật.
Nghĩa
là:
Ngày
nay đã qua, mạng sống theo đó mòn đi, như cá cạn nước,
còn có gì vui? Thế nên, toàn thể đại chúng gắng mà tinh
tấn. Như cứu lửa cháy đầu, chỉ nhớ vô thường, dè dặt
chớ buông lung.
Hiểu
được lý vô thường rồi phải nỗ lực việc đáng làm phải
làm liền đừng chần chờ. Thấy người ta khổ, đói rách
mình có thể giúp được, không nên nói để mai mốt sẽ giúp.
Ðiều đó không phải là hiểu lý vô thường rồi. Biết được
lý vô thường cái đáng làm phải làm ngay. Mai mốt biết mình
còn hay không? Việc phải làm là làm liền. Giúp được cái
là phải giúp liền. Tu được là cố gắng tu liền chớ đừng
chờ tới mai tới mốt. Chính đó là biết lý vô thường.
Cho nên càng nghĩ đến vô thường càng gắng làm lành làm
phải, càng gắng giúp ích cho mọi người và càng cố gắng
tiến tu. Ðó là hiểu lý vô thường. Chớ nói vô thường
rồi buông tay chờ chết là trái với ý của đức Phật dạy.
Vì vậy cho nên, chúng ta hiểu rõ được tinh thần đó, hiểu
được lý vô thường rồi, chúng ta mới có thể thương nhau,
giúp đỡ nhau mà không có lòng tham gom góp về mình.
Ðó
là tinh thần của đạo Phật.
Thí
dụ chúng ta đi chung một chiếc tàu, chiếc tàu bị giông bão
muốn chìm. Tất cả người trong tàu đều là người thân
và biết số phận của mình mong manh rồi. Giả sử lúc đó
có người bị sóng nhồi ngã qua mình người kia hoặc là té
đạp lên chân người khác. Lúc đó những người bị té vô
mình, hoặc bị đạp trên chân có nên giận không? Hẳn là
không? Vì lúc đó ai cũng có tâm niệm rằng mạng sống mình
không còn bao lâu nữa, giận hờn làm chi. Lo sao cho khỏi cái
khổ nạn này, thì giờ đâu mà giận hờn. Ðây cũng vậy.
Nếu chúng ta hiểu lý vô thường là sao? Như trong kinh Tứ
Thập Nhị Chương đức Phật hỏi các vị Tỳ-kheo: "Mạng
người sống được bao lâu?" Một thầy Tỳ-kheo trả lời:
"Sống được vài năm." Ngài nói: "Ngươi chưa hiểu đạo."
Thầy Tỳ-kheo khác trả lời: "Sống được trong một bữa
ăn." Ngài nói: "Ngươi chưa hiểu đạo." Ð?n vị sau nói: "Chỉ
sống trong hơi thở." Ngài gật đầu nói: "Ông thấy đạo
rồi." Như vậy thấy đạo là thấy được lý vô thường.
Nếu mình thấy mạng sống trong hơi thở, khi hơi thở này
còn thì chúng ta phải làm lợi mình lợi người chứ. Mạng
sống đã mong manh như vậy, tại sao mình còn ôm ấp giận
người này buồn người kia, trách người nọ. Như vậy có
phải tự mình giết mòn mình hay không? Mà giết mòn một cách
vô ích. Vì chúng ta biết lý vô thường nên phải vươn lên,
phải làm lợi mình lợi người, đừng sơ sót một giờ phút
quí báu nào hết. Ðó mới là hiểu được tinh thần vô thường.
Biết vô thường mà tinh tấn như cứu lửa cháy đầu. Quý
vị thấy có ai bị lửa cháy đầu mà còn đi chơi thong thả
hay không? Hay phải tay quơ miệng la đủ thứ hết. Ðâu có
thể chần chờ được. Chính chúng ta cũng vậy. Nhận được
lý vô thường của Phật dạy, chúng ta phải tỉnh giác phải
cố gắng làm lợi ích cho mình cho người. Ðó là tinh thần
vô thường. Tôi đã nói cái khổ đế và tập nhân của khổ
đế.
Tiếp
theo đây là diệt đế và đạo đế, tức là diệt được
hết tập nhân. Tập nhân là gì? Là tham sân si. Nếu diệt
được thì an nhiên tự tại, đó là Niết-bàn. Muốn diệt
được hết tập nhân phải làm sao? Tức là phải tu ngũ căn,
ngũ lực, thất bồ đề phần, bát chánh đạo v.v... Ðó là
những phương pháp diệt hết mầm đau khổ. Như vậy thấy
rõ pháp tứ đế thì chứng được quả A-la-hán. Ðó là cái
giác ngộ của bậc thánh, nhà Phật gọi là hàng thánh nhị
thừa.
Tiến
lên một bậc nữa có những vị ra đời ở thế gian mà không
gặp Phật pháp, không nghe được pháp Tứ đế của Phật,
bỗng nhiên thấy những cuộc hưng suy của cuộc đời hoặc
là thấy mùa thu lá rụng, mùa xuân cây cối đâm chồi nẩy
lộc v.v... tức là sự doanh hư tiểu trưởng của sự vật
rồi tự nhiên giác ngộ được lý vô thường. Ðó là bậc
Ðộc giác. Tự mình giác ngộ không qua lời Phật dạy, khỏi
nghe giáo lý mà được giác ngộ. Kế đến là bậc Duyên giác.
Có những hàng nghe đức Phật nói về mười hai nhân duyên:
vô minh duyên hành... cho tới lão bệnh tử. Mười hai nhân
duyên đó như sợi dây chuyền nó liên kết không rời. Thấy
rõ được lý mười hai nhân duyên tiến tu để được giải
thoát đó gọi là bậc Duyên giác. Như vậy chúng ta thấy là
A-la-hán là Duyên giác cũng gọi là người giác ngộ, giác
ngộ, ở khía cạnh này hay ở khía cạnh khác.
Cho
tới giác ngộ cứu kính mà ở đây chúng ta đang thực hành.
Giác ngộ của hàng Bồ-tát như trong các kinh: kinh Pháp Hoa,
kinh Lăng Nghiêm, kinh Niết-bàn v.v... là chỉ cho giác ngộ cứu
kính của đạo Phật. Giác ngộ cứu kính đó là giác ngộ
thế nào? Bởi vì hàng Nhị thừa chúng tôi thường gọi là
Thanh văn hay Duyên giác đều là nằm trong các pháp đối đãi.
Như hàng Thanh văn thì thấy có KHỔ, TẬP là nhân quả của
luân hồi. DIỆT, ÐẠO là nhân quả của giải thoát. Tức
là bên này là luân hồi, bên kia là giải thoát, có đối đãi.
Hàng Duyên giác cũng vậy, thấy mười hai nhân duyên đi chiều
thuận là luân hồi. Ngược lại đi chiều hoàn diệt là giải
thoát, tức vô minh diệt thì hành diệt v.v... Như vậy cũng
là ở trong đối đãi mà ở trong đối đãi thì giác ngộ
đó chưa phải là cứu kính, theo tinh thần kinh Niết-bàn.
Cho
nên trong kinh Niết-bàn có thí dụ gọi "Xuân trì thập lịch".
Tức là mùa Xuân lặn dưới ao mò lên một hòn sỏi, hòn gạch.
Xuân trì là cái ao mùa Xuân, thập lịch là lượm gạch hay
ngói. Vì trong đó đức Phật nói: Thí như mùa Xuân ao nước
trong, có một số người bơi thuyền ở dưới ao chơi. Bỗng
nhiên có người cầm hòn ngọc quí buông tay rớt xuống ao.
Rớt rồi bao nhiêu người lặn xuống mò. Có người được
hòn sỏi, mừng quýnh đưa lên nói tôi được ngọc rồi, nhưng
giơ tay lên là hòn gạch chớ không phải ngọc. Khi nhiều người
ùa nhau lặn mò, nước đục ngầu, không thấy được hòn
ngọc. Kẻ nắm gạch, người nắm ngói gì đó v.v... đưa lên
hô là được ngọc mà sự thật không phải. Người khôn ngoan
chờ cho nước lắng lặng trong trẻo, mắt nhìn kỹ thấy viên
ngọc đang ở chỗ nào, nhảy xuống một cách từ từ, lượm
lên nói tôi được hòn ngọc, thì chừng đó mới là ngọc
thật. Như vậy thí dụ đó nói cái gì? Tuy hàng Thanh văn Duyên
giác cũng thấy được đạo, ngộ được đạo, nhưng mà giác
ngộ ở một khía cạnh của sự đối đãi, cũng như người
lặn xuống ao lượm được gạch tưởng là ngọc. Chỉ có
Bồ-tát là sáng suốt, đợi nước trong trẻo thấy rõ ràng
hòn ngọc nó nằm ở chỗ nào, mới lặn ngay chỗ đó nắm
đưa lên. Chừng đó mới là ngọc thật. Các hàng Bồ-tát
không mò ngọc trong khi nước còn đục, mà đợi nước trong
rồi tự mình thấy ngọc, thấy rồi mới nắm lấy được
hòn ngọc. Quí vị nhớ trong kinh Pháp Hoa, đức Phật nói:
các hàng Thanh văn được Niết-bàn. Niết-bàn đó đức Phật
cho là gì? Là "Hóa thành" là cái thành Hóa ra để tạm nghỉ
chớ không phải là thật. Mà thật thì phải tới "Bảo sở"
tức là tới nơi chân chánh, mới là thật. Ðó là để thí
dụ cho Bồ-tát.
Như
vậy tại sao tôi nói thí dụ đó? Bởi vì hàng Bồ-tát dụ
cho người ngồi trên thuyền đợi nước trong thấy hòn ngọc
nằm ngay chỗ nào, rồi mới lặn nhè nhẹ, từ từ đến ngay
chỗ đó nắm lên. Chừng đó mới thật là được hòn ngọc.
Nói tóm lại thấy rồi mới nắm lên. Như vậy đúng là tinh
thần của Thiền tông gọi là KIẾN TÁNH KHỞI TU. Thấy được
cái đó rồi mới khởi tu, đó là tinh thần cứu kính của
Phật giáo. Vì Phật giáo đi đến chỗ cứu kính không còn
đối đãi. Còn đối đãi là chưa đến giác ngộ cứu kính.
Thế nên trong kinh Bát-nhã mở đầu cho Ðại thừa nói: "Sắc
bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không
tức thị sắc." Mới nghe không ai hiểu gì hết, gì mà sắc
sắc không không. Nhưng sự thật đó là một lẽ thật cứu
kính, bởi chúng ta mê lầm, nhìn tướng trạng thô, thấy cái
bàn này gọi là sắc, còn ở chỗ trống này gọi là không.
Mình cho sắc với không là hai cái khác nhau. Phải vậy không?
Ðây là sắc, đây là không, hai cái khác nhau, một cái có
tướng trạng có hình dáng sờ mó được, còn một cái trống
rỗng không có gì hết. Ðó là chỗ chúng ta thường lầm.
Chỗ trống không chúng ta cho đó là không nhưng con mắt Phật
giáo không phải vậy. Ngay cái có nó có cái không, ngay cái
không đã có cái có. Cái có thô thiển này chúng ta nhìn thấy
một hình sắc dầy đặc, nhưng với kính hiển vi mấy trăm
lần thì chúng ta thấy nó thưa hở. Như gương mặt chúng ta
thấy như láng, nhưng với kính phóng đại vài chục lần thôi
thì sẽ thấy nó sần sùi, có hang lỗ. Như vậy nó có hay
là không có là tại con mắt thô hay tế. Nơi hình tướng này
có lồng cái không trong đó, còn ngay chỗ không này có cái
sắc trong đó. Như chỗ không này có ánh sáng xuyên qua thì
chúng ta sẽ thấy bao nhiêu là bụi bặm lăng xăng ở giữa
này. Như vậy nó đâu phải là không. Nó chỉ không là không
tướng trạng thô kệch mà có những tướng vi tế trong đó,
chớ không phải là không hẳn. Chúng ta cứ cực đoan cho đây
là không hẳn hay có hẳn, thành ra không nhìn tường tận các
pháp ở đời.
Người
hiểu đạo thấy trong cái có đã lồng cái không, trong cái
không đã lẫn cái có. Thấy như vậy, các Ngài thấy không
còn có hai riêng rẽ, không còn có hai đối đãi. Còn thấy
hai đối đãi là chưa phải thấy cái thật. Nếu tới chỗ
thật là không có hai. Mà nói như vậy thì ai cũng không chấp
nhận hết. Tại sao vậy? - Bởi vì tới giác ngộ cứu kính
thì không hai mà còn có hai thì chưa phải giác ngộ cứu kính.
Nhưng mà làm sao quí vị thấy không hai cho được. Vì thế
gian này là thế gian đối đãi. Thật ra nếu quí vị xét cho
tường tận, thật tình còn đối đãi thì chưa phải cứu
kính. Tại sao? Bởi vì cái thể cứu kính nó không hai. Cũng
như Phật và chúng ta. Chúng ta thấy Phật là giác ngộ còn
chúng ta là mê lầm. Phật và chúng ta là một hay hai. Nếu
chúng ta thấy Phật và chúng ta là một hay là hai thì không
biết ai trúng ai trật. Thông thường nói nếu không là hai
thì là một chớ gì?
Có
thể tôi đi từ từ cho quí vị thấy. Chúng ta thấy đức
Phật với chúng ta là hai, vì Phật là giác mà chúng ta là
mê, cho nên là hai. Nhưng mà chúng ta mê là mê cái gì? Phật
giác là giác cái gì chứ? Chính cái đó mới là quan trọng.
Tôi thí dụ bây giờ đem vàng làm ra chiếc vòng tay, và chiếc
cà rá. Ðây là chiếc vòng, đây là chiếc cà rá, như vậy
quí vị thấy hai hay là một? Ðương nhiên là hai rồi, vòng
khác cà rá khác. Ðó là ta nhìn trên giả tướng của hai món
đó. Nếu nói về thể, hai món đó là một hay là hai? - Là
một. Như vậy trên hai cái, thể cà rá và vòng cũng là vàng
thôi. Vàng có một có hai không? Vàng là vàng nó không có một
hai. Có một hai là lập ra để đối đãi chiếc cà rá là
một chiếc vòng là hai, chớ vàng là vàng không có một, hai.
Thành ra một hai là đối đãi trên giả tướng của hai món
đồ thôi. Còn cái thể của món đồ là vàng không nói một
hai. Nói một hai là nói cái giả tướng. Cho nên còn có một
hai là còn trong đối đãi. Vì vậy mà có vị Tăng hỏi vị
Thiền sư: "Phật và chúng sanh là một hay là hai?" Ngài trả
lời:
Duy
dư nhất đoá tại
Minh
nhật khủng tùy phong.
Dịch:
Chỉ
còn thừa một đóa
Ngày
mai ngại gió rơi.
Ngài
không nói hai hay một mà nói bây giờ tôi chỉ thấy còn thừa
một đóa hoa, ngày mai e gió cũng rụng luôn. Như vậy giai đoạn
đầu thấy Phật và chúng sanh là hai, nhưng bước vào giai
đoạn kế thấy Phật và chúng sanh không là hai nữa, nên gọi
là một. Mà cái một đó tạm thời thôi, chớ cái một đó
không phải là cứu kính. Vì cái một đó tạm đặt với cái
hai, đến cứu kính một cũng không còn. Cho nên bây giờ tạm
thấy còn một đóa hoa, ngày mai gió thổi, nó cũng rơi luôn
không còn nữa. Còn nói một là nói tạm chớ nó không thật.
Còn nói một là đối với hai. Tới chỗ cứu kính thì cái
hai không còn nữa. Nói như vậy cho quí vị thấy chỗ giác
ngộ đó cần phải thấy như thế. Cho nên Thiền tông kể
rằng sau khi ngộ đạo, đức Phật nói như trong kinh Hoa Nghiêm
chép: "Lạ thay! Lạ thay! Tất cả chúng sanh đều có đầy
đủ trí tuệ đức tướng Như Lai, vì bị vọng tưởng mê
lầm che lấp không thấy, không hiểu không biết."
Ngài
thấy rõ chúng sanh ai cũng đều có trí tuệ đức tướng Phật
hết. Như vậy thành Phật là thành cái chúng sanh sẵn có.
Ngộ đạo là ngộ cái sẵn có ở chúng sanh, và chúng sanh
mê là mê cái sẵn có mà quên đi. Cái mình sẵn có mà quên
đi gọi là mê. Thành Phật không có gì lạ, là nhận được
cái sẵn có của chính mình. Vì vậy có một vị Thiền sư
ở trong hội ngài Qui Tông, nửa đêm la: "Tôi ngộ rồi, tôi
ngộ rồi." Trong đại chúng ai cũng lấy làm lạ không biết
ông ấy ngộ cái gì? Sáng hôm sau ngài Qui Tông lên pháp tòa
hỏi: "Vị tăng hồi hôm nói ngộ rồi ra đây xem." Vị Tăng
bước ra. Ngài hỏi: "Ông thấy cái gì mà nói ngộ?" Ông ấy
trả lời bằng câu: "Sư cô thị nữ nhân tác." Nghĩa là: Sư
cô vốn là người nữ làm ra chớ không có gì lạ hết. Ngài
Qui Tông gật đầu nói: Chính ông ngộ.
Như
vậy ngộ là cái gì? Thường thường chúng ta tưởng ngộ
là ngộ cái gì ở bên trời kia, chớ không ngờ chính ngộ
là ngộ cái sẵn có của mình. Mình cứ nói thành Phật là
có hào quang rực rỡ hay có gì lạ. Những cái đó phải có
mới là Phật, không ngờ thành Phật là SỐNG LẠI VỚI CÁI
SẴN CÓ CỦA CHÍNH MÌNH. Cái sẵn có của chính mình, nếu
mình sống được với chính nó, mình trở về với chính nó,
đó gọi là giác ngộ thành Phật. Tại sao vậy? Vì cái mình
có mà mình bỏ quên gọi là mê, giờ đây mình biết được
gọi là giác. Giác tức là ngộ. Người giác ngộ tức là
Phật, chớ không có gì lạ hết.
Như
vậy nói ni cô tưởng đâu cái gì xa lạ linh thiêng cao cả,
nhưng sự thật ni cô vốn là một cô gái. Bây giờ cạo đầu
mặc áo thành sư cô chớ có gì lạ đâu? Nói Phật, tưởng
Phật ở đâu và có gì lạ đời, không ngờ cũng chính là
cái sẵn có của mình chớ không phải đâu lạ. Cho nên một
vị khác, sau khi ngộ đạo cũng làm bài thơ, câu chót ông
nói rằng: Lý Bạch nguyên lai thị tú tài. Tức là ông Lý
Thái Bạch, nhà thơ ai nghe nói cũng nể. Mà xét kỹ lại ông
cũng chỉ là ông tú tài như bao nhiêu ông tú tài khác, chớ
không có gì lạ. Chính cái đó là để chỉ cho cái ngộ là
ngộ cái sẵn có của mình. Vì vậy đức Phật sau khi thành
Phật, Ngài nói: "Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật
sẽ thành." Bởi vì Ngài có cái đó, tất cả chúng sanh cũng
có cái đó. Không phải Ngài ngộ cái gì khác, mà ngộ ngay
trong thân tứ đại ngũ uẩn này là cái thân vô thường sanh
diệt, có sẵn cái không sanh không diệt. Nhận được cái
không sanh không diệt nơi mình gọi đó là ngộ đạo, chớ
không phải tìm cái gì xa xôi. Mà cái không sanh không diệt
đó nơi phàm phu cũng có. Cũng như sư cô có sẵn ở những
cô cư sĩ đầu có tóc, chớ có gì lạ đâu. Chỉ cần một
khi nào đó thay đổi hình thức, đổi thay tâm niệm là thành
sư cô chớ gì? Như vạây không có gì xa lạ, mà mình tưởng
cái đó ở đâu, từ phương trời nào đến. Thế nên tinh
thần giác ngộ của đạo Phật là giác ngộ ngay cái thực
tế hiện tại. Vì vậy người giác ngộ rồi thì không còn
thấy hai. Ðó mới là giác ngộ cứu kính.
Không
thấy hai cho nên không nghĩ rằng cõi mình đây là cõi Ta-bà
khổ, còn cõi Cực lạc là cõi Phật A-di-đà an vui. Quí vị
có nghĩ bỏ cõi này chạy qua bên kia vui hay không? Nếu ngay
trong cõi khổ, khéo biết thì mình được vui rồi. Mình mê
thì tạo nghiệp xấu xa là khổ. Ngay trong cái khổ mà biết
chuyển hướng, biết thay đổi tâm niệm, biết làm những
điều lành điều phải, biết chia cơm xẻ áo với mọi người,
biết sống trong tình đoàn kết anh em, tự nhiên mình vui. Cái
khổ là cũng tự mình tạo, tự mình có những tham, tự mình
có những sân, tự mình có những si, rồi mình đau khổ. Phải
vậy không? Nếu dẹp bỏ tham sân si rồi, ngay cõi này có phải
là cực lạc hay chưa? Vậy có nên tìm cực lạc bên kia hay
không? Nếu chúng ta thấy bên kia là Cực lạc, bên này là
Ta-bà, là còn thấy hai. Mà còn thấy hai là còn thấy đối
đãi, chưa là lẽ thật. Vậy người hiểu đạo đúng theo
tinh thần Ð?i thừa là ngay ở trong các cảnh khổ, ngay trong
cái chỗ mà người ta cho là xấu xa mình khéo chuyển thành
an lạc, tốt đẹp, chớ không phải bỏ đây cầu kia.
Ðó
là tinh thần đạo Phật. Ðạo Phật không có bỏ để trốn
để cầu. Có nhiều người lầm nghĩ rằng mình tu là phải
trốn thiên hạ, phải bỏ hết những cái gì đâu đâu. Ðó
là lầm lẫn. Tu là chính mình phải thay đổi những cái tâm
xấu xa của mình là tham sân si. Nếu chuyển được tham sân
si thì Ta-bà thành Cực lạc. Còn không chuyển được tham sân
si, ôm tâm niệm tham sân si, cầu về Cực lạc, Cực lạc cũng
biến thành Ta-bà. Vì còn tham sân si, thì ở đâu cũng rầy
lộn đánh lộn. Mà rầy lộn đánh lộn, giành giựt đó là
gốc của Ta-bà. Cho nên chúng ta chuyển đổi được tâm niệm
tham sân si thì ngay Ta-bà thành Cực lạc. Còn không chuyển
đổi được tâm niệm tham sân si thì Cực lạc biến thành
Ta-bà. Ðó là sự thật cho nên hiểu đạo thì chúng ta nên
hiểu như vậy. Ngay trong cuộc đời này, dù ở trong hoàn cảnh
nào đi nữa, chúng ta cũng vẫn an vui. Chúng ta thấy đây không
phải là khổ, chính đây nếu ta khéo chuyển thì cõi này là
cõi Cực lạc, chớ không phải chờ về Cực lạc mới thấy
Cực lạc. Như vậy tinh thần đạo Phật đến chỗ cứu kính
giác ngộ mới thấy rằng chính mình và mọi người, chính
mình và các hoàn cảnh đều không phải là vấn đề hai ba.
Ngay nơi tâm niệm mình chuyển hướng hết những cái xấu
xa của mình thì hoàn cảnh nào cũng là hoàn cảnh tốt đẹp.
Ở trong chỗ nào cũng là chỗ tiến bộ, chớ không phải xấu
xa. Xấu xa chính vì cái ấp ủ tham lam, ấp ủ sân si của
mình nên thấy xấu xa. Dứt hết những cái đó thì tự nhiên
nó sáng sủa tốt đẹp.
Thế
nên các Thiền sư lúc nào cũng thấy cõi đời là đẹp. Ðẹp
như một bài thơ. Tại vì thấy ở đâu cũng là tốt, ở đâu
cũng là sáng sủa. Còn chúng ta vì mang cặp kính ủ rũ buồn
bã, nên thấy cái gì cũng buồn. Phải vậy không? Nếu mình
mang cặp kính tươi sáng trong lòng, nhìn cái gì mà không vui.
Phải vậy không? Khi nào trong quí vị tâm hồn đương ưu tư
buồn bã thì nhìn thấy cái gì cũng buồn bã theo. Nếu tâm
hồn quí vị sáng suốt phấn khởi vui vẻ thì nhìn cái gì
chẳng vui vẻ. Cho nên chúng ta cần tạo một tâm hồn vui vẻ
sáng sủa và tỉnh giác thì ngoại cảnh theo đó mà sáng sủa.
Nó không còn tối tăm mờ mịt nữa. Tối tăm mờ mịt đó
là cái mê đen tối của tham sân si, chớ không phải gì khác.
Hôm
nay là ngày Phật hoan hỉ tôi nhắc lại những điểm then chốt
cho tất cả quí vị cùng chúng tôi, mọi người chúng ta đều
nỗ lực vươn lên. Làm sao luôn luôn tỉnh giác từ thấp lên
cao và luôn luôn với tâm niệm cầu tiến lợi mình lợi người
để cho chính mình càng ngày càng được an vui, xã hội càng
ngày càng thêm tốt đẹp. Ðó mới là tinh thần giác ngộ
của đạo Phật.