Giác ngộ
pháp gì ứng dụng tu
Ngũ thừa Phật
giáo?
I.-
MỞ ÐỀ
Tất
cả pháp Phật dạy đều trước phải giác ngộ rồi sau mới
ứng dụng tu. Cũng như trước biết đường rồi sau mới đi,
trước hiểu rồi sau mới làm. Sự giác ngộ này là nhận
thấy lẽ thật ngay thế gian không phải huyền nhiệm siêu
viễn, mà là cụ thể thực tế. Bởi giác ngộ rồi mới tu,
nên đúng tinh thần đạo giác ngộ. Chúng ta là Phật tử phải
thấu rõ lẽ này, đừng lầm lẫn ứng dụng tu một cách mù
quáng. Không hiểu mà làm là việc làm càn bướng dại khờ.
Chúng ta phải thắp sáng ngọn đuốc chánh pháp soi bước đi,
để khỏi vấp ngã rơi hố lọt hầm.
Tổng
quát căn bản Phật pháp là Ngũ thừa Phật giáo, trước khi
ứng dụng tu mỗi thừa đều phải giác ngộ mỗi pháp. Ví
như ở bến xe miền Ðông tại thành phố Hồ Chí Minh, trước
khi chúng ta mua vé lên một chiếc xe nào là phải ý thức được
mình đi đâu, đi làm gì? Khi mua vé lên xe, chúng ta biết rõ
chủ đích và phân biệt rành rẽ con đường mình đi. Nếu
chúng ta mua vé lên xe Tây Ninh là biết rõ mình sẽ đến Thị
xã Tây Ninh, mua vé lên xe Vũng Tàu là biết rõ mình sẽ đến
Ðặc khu Vũng Tàu. Lên xe nào đến chỗ ấy là ví dụ cho
ngũ thừa Phật giáo. Bởi vì thừa là cỗ xe hay ngồi xe, sẽ
đưa đến mục đích chúng ta nhắm. Chọn lựa xe đi là theo
nhu cầu cần thiết của chúng ta đã biết. Thế nên trước
giác, sau tu là chủ yếu của Ngũ thừa Phật giáo.
II.-
GIÁC NGỘ LÝ NHÂN QUẢ, LUÂN HỒI ỨNG DỤNG TU NHÂN THỪA,
THIÊN THỪA
1.
Giác ngộ lý nhân quả, luân hồi
a)
Giác ngộ lý nhân quả
Vạn
vật và mọi hiện tượng trên thế gian này, nếu đem ra khảo
sát, chúng ta sẽ thấy không có một vật tượng nào thoát
ra ngoài nhân quả. Từ động vật, thực vật, khoáng vật
cho đến mọi hiện tượng mà các giác quan chúng ta cảm nhận
được, đều phải có nhân mới thành quả. Ví như con người
là quả, xuất phát từ bào thai là nhân. Cây lúa, bông lúa
là quả, phát sanh từ hạt lúa giống là nhân. Khối đá là
quả, kết hợp từ những hạt bụi là nhân. Dù là những
hiện tượng lạ xuất phát từ con người hay thiên nhiên,
tuy hiện nay người ta chưa phát giác được nguyên nhân của
nó, song chỉ là chưa tìm ra, chớ chẳng phải không nguyên
nhân. Thấy quả, chúng ta liền biết có nhân, đó là tinh thần
khoa học, là óc khảo cứu của các nhà bác học. Thấy một
thành quả, chúng ta chưa tìm ra nguyên nhân của nó, là chưa
thấu suốt vấn đề. Từ một kết quả, chúng ta thông suốt
nguyên nhân, chúng ta có thể cấu tạo nguyên nhân để được
kết quả như ý muốn. Ví như thấy bông lúa thơm biết từ
hạt giống lúa thơm, chúng ta muốn sang năm có lúa thơm ăn,
năm này phải lấy giống lúa thơm gieo mạ. Trên lãnh vực
khoa học, người ta thấy nắp vung nồi nước động, biết
từ hơi nước đun sôi bốc lên, do đó chế biến ra các loại
máy nổ. Khi thấy chiếc pháo thăng thiên bay vút lên cao nổ
tung ra, biết từ nhiên liệu cháy có sức đẩy, người ta
chế ra các loại phi cơ phản lực... cho đến những ngôn từ
luận lý cũng phải từ quả đến nhân, hoặc từ nhân ra quả.
Nếu không như thế là lý luận không chặt chẽ. Ví như nói,
tôi thích món ăn này (quả), vì nó vừa miệng tôi (nhân).
Tôi không ưa người đó (quả), vì họ ở xấu với tôi (nhân).
Vì nghèo (nhân), tôi không dám ăn xài (quả). Thực tế mà
nói, nhân quả bao trùm hết mọi lãnh vực trong cuộc sống
của con người. Mọi hành vi thố lộ ra, đều lệ thuộc nhân
quả. Song với người trí thì biết rõ, kẻ ngu thì không phân
rành.
Nói
đến nhân quả là tùy thuộc thời gian. Bởi vì từ nhân đến
quả, phải trải qua giai đoạn khác nhau. Như từ một hạt
cam đến thành cây cam và có trái cam, phải trải qua thời
gian dài. Hạt cam hoại để thành cây cam, hạt cam thuộc quá
khứ, cây cam hiện tại, trái cam vị lai. Rồi trái cam là quá
khứ, hạt cam là hiện tại, cây cam là vị lai. Cứ thế xoay
vần từ nhân đến quả, từ quả lại nhân. Vì thế muốn
đoán định nhân quả, chúng ta phải căn cứ trên ba thời
mà xét. Nếu ai chỉ cắt xén một chặng mà đoán định, là
sai lầm lệch lạc. Ví như đồng thời trồng cam, mà một
người được quả cam sành, một người được quả cam đường.
Nhìn cây cam lá cam giống nhau, mà trái cam lại khác. Nếu chỉ
căn cứ cây cam, trái cam mà biện lý lẽ, làm sao hiểu nổi.
Chúng ta phải xét lui về quá khứ, khi gieo hạt cam loại nào,
mới thấy thấu đáo vấn đề. Cũng thế, trong cuộc sống
khổ vui tốt xấu hiện tại của chúng ta, không nhìn lui về
quá khứ, khó bề hiểu biết tường tận. Cho nên trong kinh
Nhân Quả Phật dạy: "Muốn biết nhân đời trước, cứ xem
cuộc sống hiện tại này, cần biết quả đời sau, nên xem
hành động hiện nay." Hiện tại là kết quả của quá khứ,
cũng là nhân của vị lai. Cây cam là quả của hạt cam, cũng
là nhân của quả cam. Muốn mai kia được nhiều quả cam ngon,
hiện tại chúng ta phải vun quén cho cây cam được sum suê.
Ðấy là khéo ứng dụng nhân quả. Hiểu thấu đáo lý nhân
quả là giác ngộ lý nhân quả.
b)
Giác ngộ lý luân hồi
Luân
hồi là sự vận hành luân chuyển. Trong bầu vũ trụ chúng
ta hiện sống đây, luôn luôn vận hành luân chuyển. Quả địa
cầu xoay tròn mãi mãi, sáng tối rồi sáng tối. Nhân đó lập
thời gian: ngày, tháng, năm, xuân, hạ, thu, đông. Thế rồi
xuân hạ thu đông lại xuân hạ thu đông... Ð?y là hiện trạng
luân hồi của không gian và thời gian. Cho đến mọi sanh vật
sinh sống trên quả địa cầu, vừa có sự sống là có vận
hành lưu chuyển, ở bên trong mọi vật đều có sự vận hành
luân chuyển không ngừng. Dừng đứng lại là mất sự sống.
Như nơi con người máu từ quả tim chạy ra các huyết quản,
từ các huyết quản trở về quả tim, sự vận hành ấy không
có khi dừng, vừa dừng lại là chết. Các sanh vật khác cũng
thế. Cho nên luân hồi, là một thực thể của vũ trụ và
chúng sanh. Phủ nhận lý luân hồi là phủ nhận sự sống,
phủ nhận sự biến thiên của thời gian và không gian.
Thừa
nhận lý luân hồi, chúng ta phải thừa nhận hai yếu tố then
chốt của nó là vận hành và bất tận. Vì mọi hiện tượng
trên nhân gian này luôn luôn vận hành thăng trầm mà bất tận.
Sự vật tùy duyên đổi thay, song bản chất của nó không
mất. Ví như nước, tùy duyên nóng hay lạnh hình thái của
nó bị đổi thay. Từ một thể lỏng, gặp duyên sóng nước
biến thành thể hơi, gặp duyên lạnh cô đọng lại thành
thể cứng. Mọi sự biến thể của nước đều là tùy duyên.
Có khi nó nhẹ bàng bạc trong hư không, có khi đọng lại thành
khối cứng như đá. Tuy hình thái đổi luôn luôn, mà bản
chất nước vẫn không mất. Nếu ai thấy nước không còn
ở thể lỏng, bảo mất là khờ. Hoặc thấy tan không còn
ở thể cứng, bảo hết là dại. Người khôn ngoan biết sự
tùy duyên biến thái của nước, muốn nó là hơi dùng duyên
nóng, muốn nó thành khối dùng duyên lạnh. Thế là tùy duyên
ứng dụng một cách linh động. Ðó là chỗ sử dụng của
các nhà khoa học hiện nay.
Cũng
thế, sang lãnh vực con người, biết sự luân hồi tùy nghiệp
duyên, người tu hành khéo tạo nghiệp lành duyên tốt, để
sự vận chuyển đúng theo sở nguyện của mình. Sử dụng
nghiệp duyên theo nguyện vọng sở thích của mình, là người
thông suốt lý luân hồi. Biết rõ luân hồi là biến thể
chớ không mất, người tu không mắc kẹt hai cái chấp thường
kiến và đoạn kiến. Từ nghiệp duyên tốt xấu đưa đến
thành quả khổ vui ở mai kia. Chúng ta dại gì không chọn nghiệp
duyên tốt để được kết quả an vui. Ðây là sự tu hành
của người Phật tử trong cuộc luân hồi.
2.
Ứng dụng tu nhân thừa, thiên thừa
Sau
khi thành Phật, đức Thích-ca đã từng bảo: "Ta xem thấy chúng
sanh luân hồi trong sáu đường, như người mắt sáng đứng
trên lầu cao nhìn xuống ngã tư đường, thấy người qua lại
của mỗi con đường một cách rõ ràng." Trong sáu con đường
ấy là: trời, người, a-tu-la, súc sanh, ngạ quỉ, địa ngục.
Ba con đường trên là tốt, ba con đường dưới là xấu. Ba
con đường trên chọn kỹ chỉ có cõi trời, cõi người còn
tu được. A-tu-la nóng nảy khó tu. Vì thế người tu phải
chọn hai con đường trên, gọi là Nhân thừa và Thiên thừa.
a)
Nhân thừa
Tu
nhân thừa, trước phát nguyện qui y Tam Bảo để vạch một
lối đi cho hiện tại và mai sau. Kế giữ năm giới là nền
tảng tạo thành tư cách con người, là con người ai cũng xem
sanh mạng mình là tối thượng, tài sản là huyết mạch, gia
đình là tổ ấm an vui. Vì thế tuyệt đối không được giết
người, không được trộm cướp của người, không được
phạm tà dâm. Lại không nói dối để gây uy tín, sự cảm
thông trong gia đình và ngoài xã hội, không uống rượu để
mình bình tĩnh sáng suốt và khỏi làm phiền hà mọi người
chung quanh. Hiện tại là một con người đúng tư cách con người,
vị lai cũng sẽ làm người xứng đáng danh nghĩa con người.
Ðó là do thấy được nhân, biết rõ quả và nhận được
sự bất tận trong dòng sanh mạng của con người, nên ứng
dụng tu như thế.
b)
Thiên thừa
Chúng
sanh ở cõi Trời do phước đức đầy đủ nên dục lạc sung
mãn. Chúng ta muốn hưởng sự an vui ấy, ngay hiện tại cần
phải tu mười điều lành, nhân lành đầy đủ sẽ được
kết quả sanh cõi Trời. Mười điều lành có chia hai phần
tiêu cực và tích cực. Mười điều lành tiêu cực: không
giết người, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối,
không nói ly gián, không nói thêu dệt, không nói ác khẩu,
bớt tham lam, bớt nóng giận, không tà kiến. Mười điều
lành tích cực: cứu mạng chúng sanh, bố thí, trinh bạch, nói
chân thật, nói hòa hợp, nói đúng lý, nói nhã nhặn, tập
từ bi, tập nhẫn nhục, chánh kiến. Mười điều này nhân
thù thắng nên được quả thù thắng nhất trong sáu đường.
Vì thế, người Phật tử tu hành, nếu biết còn luân hồi
nên chọn cái luân hồi này là tốt đẹp hơn cả. Ðó là
ứng dụng tu Thiên thừa, qua sự giác ngộ lý Nhân quả, Luân
hồi.
III.
GIÁC NGỘ LÝ VÔ THƯỜNG, KHỔ, KHÔNG, ỨNG DỤNG TU THANH VĂN
THỪA.
a)
Giác ngộ lý vô thường, khổ, không
Vạn
vật trên nhân gian này đều là tướng di động biến thiên,
không một vật nào tạm yên và đứng nguyên một trạng thái.
Sự di động biến thiên ấy gọi là vô thường. Vô thường
là một lẽ thật trùm trên vạn vật. Ðã có vô thường phải
đến biến hoại (khổ), đã biến hoại phải bị diệt mất
(không). Ba trạng thái này liên hệ dĩ nhiên với nhau. Ðã
thừa nhận vô thường là thừa nhận KHỔ, thừa nhận khổ
phải chấp nhận KHÔNG. Vạn vật cứ như thế mà tiếp diễn
liên miên bất tận.
b)
Tu pháp tứ đế
Ðức
Phật chứng kiến lẽ ấy, nên Ngài nói pháp tứ đế. Tất
cả là khổ, vì nó là tướng vô thường biến hoại. KHỔ
là một lẽ thật nên nói là Khổ đế. Nơi con người sanh
khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ. Ðây là tướng vô thường
biến hoại của con người. Dù là người ở ngôi vị nào
cũng phải chung chịu bốn tướng ấy. Thế nên khổ đế là
luật chung của nhân loại, không riêng bởi một cá nhân nào.
Chẳng những thế mà còn, Ái biệt ly khổ, Cầu bất đắc
khổ, Oán tắng hội khổ, và Ngũ ấm xí thạnh khổ. Nghĩa
là ngoài cái khổ biến hoại của bản thân, còn những cái
khổ tình cảm bất như ý. Người thương yêu mà phải xa lìa,
khiến cho lòng dạ tan nát. Những điều mơ ước mong cầu
mà không toại nguyện, quả là một tuyệt vọng, một bất
mãn tột cùng. Kẻ oán ghét mà phải sống chung cùng, thật
là sự bực bội khó tả. Tổng quát ngay nơi thân năm ấm
này là một khối chung hợp toàn những thứ biến hoại đau
khổ. Kể cả những thứ khổ nhỏ nhiệm thì có đến tám
vạn bốn ngàn khổ.
Sự
khổ này không phải ngẫu nhiên mà có chính nó phát xuất
từ nguyên nhân: si, tham, sân, mạn, nghi, ác kiến. Nếu kể
chi ly có đến tám vạn bốn ngàn thứ trần lao phiền não.
Các thứ đó gọi chung là Tập đế. Do si mê không biết thân
tâm như thật nên khởi tham ái thân tâm. Bởi tham ái thân
tâm nên mong cầu mọi sự khoái lạc, gặp sự chống đối
liền khởi tức giận. Do ái ngã nên khinh khi lấn lướt người.
Bởi si mê nên nghi ngờ lẽ thật và khởi kiến chấp tà ác.
Tụ hợp những nguyên nhân mê lầm tạm bợ này làm ngã, quả
thật là nhân của khổ, nên gọi là Tập đế, hay Khổ tập.
Muốn
cho quả khổ tan hoại, không gì hơn đập thẳng nơi tập nhân.
Tập nhân đã tiêu diệt gọi là Diệt đế hay Khổ diệt.
Bởi tập nhân là mầm si mê biến hoại, nên khi diệt sạch
chúng thì, trí tuệ phát sanh, nhân sanh diệt cũng bặt dứt.
Thế là chứng tứ quả Thanh văn được tịch diệt Niết-bàn.
Song
muốn phá hoại tập nhân cần phải có phương tiện. Phương
tiện này là ba mươi bảy phẩm trợ đạo: Tứ niệm
xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất
giác chi, Bát chánh đạo. Mỗi pháp như Tứ niệm xứ... ứng
dụng triệt để cũng có thể tiêu diệt được tập nhân,
không nhất thiết phải tu đủ ba mươi bảy phẩm. Những pháp
này quả có công hiệu tiêu diệt tập nhân, nên gọi là Ðạo
đế hay Khổ đạo. Chữ đạo có nghĩa là phương pháp, ba
mươi bảy phẩm này là những phương pháp diệt sạch tập
nhân đau khổ.
Trong
bốn đế này đứng về mặt nhân quả mà nói: Khổ đế là
quả, Tập đế là nhân của dòng luân hồi sanh tử. Diệt
đế là quả, Ðạo đế là nhân của dòng giải thoát sanh
tử. Thế nên còn có Tập đế quyết định phải có Khổ
đế, biết dụng tu Ðạo đế đúng pháp, nhất định sẽ
đạt được Diệt đế. Thế là hai con đường luân hồi đau
khổ và tịch diệt Niết-bàn đã trưng bày trước mắt chúng
ta, tùy ý chọn lấy mà đi. Ðây là một lẽ thật không thể
sai chạy, cho nên Tôn giả A-nan trình lên Phật khi Ngài sắp
niết-bàn: "Mặt trời có thể lạnh, mặt trăng có thể nóng,
pháp Tứ đế Phật nói vẫn không thay đổi!"
IV.-
GIÁC NGỘ LÝ NHÂN DUYÊN ỨNG DỤNG TU DUYÊN GIÁC THỪA
a)
Giác ngộ lý duyên sanh vô ngã
Vạn
vật có hình tướng đều do duyên hợp. Không có một vật
tự thân là một vật, mà phải do chung hợp nhiều dữ kiện
mới hình thành. Cái bàn không tự là cái bàn, mà phải có
gỗ, có đinh, ông thợ mộc và dụng cụ mới tạo thành cái
bàn. Cái cây không tự là cái cây, mà phải có hạt giống,
có phân, có đất, có nước, có ánh nắng và người săn sóc
mới thành cây. Con người không tự là con người, mà phải
do tinh cha, huyết mẹ, nhờ sự bú sữa, ăn uống, hít thở...
mới thành con người. Tóm lại cả thế gian này không có một
vật gì tự nó thành nó, mà do duyên chung quanh hợp thành hình.
Ðã
do duyên hợp thì không chủ thể, thế là vô ngã. Như thân
xác thịt chúng ta, nhà Phật bảo là tứ đại hợp thành.
Ðất nước gió lửa là bốn thứ lớn, hợp thành con người
cũng hợp thành sự vật. Thử phân tích con người, chất cứng
là đất, chất ướt là nước, chất động là gió, chất
ấm là lửa. Bốn chất này tìm xem cái nào là chủ? Nhẹ như
chất gió và lửa mà thiếu một, thử hỏi thân này còn chăng?
Quả nhiên không thể thiếu một chất nào mà thân này còn
tồn tại. Thế thì bốn chất có khả năng như nhau, vậy cái
nào là chủ? Không có chủ tức là vô ngã. Thân đã vô ngã,
tâm lại có ngã chăng? Nhà Phật chia thân này làm năm nhóm:
nhóm hình sắc gọi là sắc uẩn, nhóm cảm thọ gọi là thọ
uẩn, nhóm tưởng tượng gọi là tưởng uẩn, nhóm suy tư
gọi là hành uẩn, nhóm phân biệt gọi là thức uẩn. Bỏ
phần sắc uẩn ra, còn bốn thứ kia thuộc phần tâm thần.
Thế thì bốn nhóm thọ tưởng hành thức cái nào là chủ.
Nếu cảm thọ là chủ thì tưởng tượng suy tư phân biệt
là gì? Chính nơi tâm thần chúng ta có đủ bốn nhóm ấy,
mỗi thứ hoạt động một lãnh vực riêng. Thế nên phần
tâm cũng không chủ thể, ấy là tâm vô ngã.
b)
Tu pháp Thập nhị nhân duyên
Mười
hai nhân duyên, khởi đầu là vô minh duyên hành, hành duyên
thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục
nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ,
thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão tử. Thế là
"cái này có nên cái kia có, cái này sanh nên cái kia sanh". Vô
minh là mê lầm về bản ngã, nên mất thân theo nghiệp dẫn
là Hành. Nghiệp thúc đẩy thức đi thọ sanh là Thức. Thức
tựa vào sự phối hợp của tinh cha huyết mẹ là Danh sắc.
Danh là thức, sắc là tinh huyết cha mẹ, hợp thành thai bào.
Thai bào có đủ sáu căn là lục nhập. Khi ra khỏi lòng mẹ
sáu căn tiếp xúc với sáu trần là Xúc. Do sự tiếp xúc có
cảm thọ khổ, vui, không khổ không vui là Thọ. Bởi cảm
thọ nên sanh yêu thích là Ái. Từ yêu thích khởi tâm bảo
thủ là Thủ. Do bảo thủ tạo thành nghiệp thiện ác là Hữu.
Ðã có nghiệp thiện ác là có sanh đời sau là Sanh. Ðã có
sanh là phải già chết là Lão tử. Trong mười hai nhân duyên
liên hệ quá khứ hiện tại vị lai, cứ thế xoay vần không
có ngày cùng. Ðây là mười hai nhân duyên theo chiều lưu chuyển.
Biết
rõ thân tâm này do nhân duyên hòa hợp không có chủ thể là
vô ngã. Trí tuệ đạt lý vô ngã này dẹp tan mê lầm về
bản ngã là Vô minh. Thế là vô minh diệt nên Hành diệt, Hành
diệt nên Thức diệt, Thức diệt nên Danh sắc diệt, Danh sắc
diệt nên Lục nhập diệt, Lục nhập diệt nên Xúc diệt,
Xúc diệt nên Thọ diệt, Thọ diệt nên Ái diệt, Ái diệt
nên Thủ diệt, Thủ diệt nên Hữu diệt, Hữu diệt nên Sanh
diệt, Sanh diệt nên Lão tử diệt. Từ đây vòng xúc xích
mười hai nhân duyên tan rã. Chính là câu "cái này không nên
cái kia không, cái này diệt nên cái kia diệt". Ðây là quán
mười hai nhân duyên theo chiều hoàn diệt.
Do
thấu suốt nhân duyên, đạt được trí vô ngã nên chứng
quả Duyên giác.
Ngang
đây chấm dứt sự luân hồi, hằng an lạc Niết-bàn.
V.-
GIÁC NGỘ LÝ DUYÊN KHỞI TÁNH KHÔNG, TU BỒ-TÁT THỪA
a/
Giác ngộ lý duyên khởi tánh không
Cũng
đứng trên lý duyên sanh, song Bồ-tát không dừng lại ở chỗ
thân này do năm uẩn kết hợp là vô ngã, mà còn thấy năm
uẩn tánh không. Bởi vì thân này là giả tướng do năm uẩn
kết hợp, chính năm uẩn cũng là giả tướng của cái khác
kết hợp và có cái khác cũng là giả tướng của cái khác
nữa kết hợp... Tột cùng tất cả các pháp đều là duyên
hợp không có chủ thể, là tánh không. Bởi tánh không do duyên
hợp nên giả có. Vì cái có ấy là tướng duyên hợp, nên
giả dối tạm bợ như huyễn hóa. Giả có nên chẳng phải
không, có một cách tạm bợ nên không phải thật có. Thế
là không mắc kẹt ở hai bên chấp không và chấp có. Ðạt
tột lý duyên khởi tánh không, Bồ-tát nhìn sự vật như chính
bản thân mình, chỉ có giả danh mà không có thực thể. Bởi
không có thực thể, nên các pháp thấy như bọt, bóng, huyễn
hóa. Duyên hợp thì các pháp có, duyên tan thì các pháp không.
Sự có không ấy chẳng qua là tướng của duyên thôi. Thế
nên, Bồ-tát thấy thân như huyễn, ngay khi sanh mà biết vô
sanh.
b/
Tu pháp lục độ
Lục
độ là sáu pháp: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn,
Thiền định, Trí tuệ. Sáu pháp này tu được cứu kính gọi
là Lục ba-la-mật. Bồ-tát do thấy các pháp như huyễn nên
tu bố thí được cứu kính. Bố thí có chia: Tài thí, Pháp
thí, Vô úy thí. Tài thí lại có ngoại tài, nội tài. Bồ-tát
dùng của cải để cứu giúp người đói khổ là bố thí
ngoại tài. Có khi cần đến sức lực, hoặc thân phần của
mình để cứu giúp người, Bồ-tát sẵn sàng làm là bố thí
nội tài. Song phần tài thí chỉ là phương tiện đầu để
thu nhiếp cảm tình của người rồi sang pháp thí. Pháp thí
là đem chánh pháp chỉ dạy cho người được tỉnh giác. Giáo
hóa cho người được giác ngộ là phần giác tha của Bồ-tát.
Vô úy thí là dùng phương tiện giúp người qua cơn kinh sợ
hãi hùng. Trong mọi hoàn cảnh khủng khiếp của Bồ-tát đều
dùng mọi phương tiện để an ủi cho người khỏi sợ. Song
cái sợ to lớn nhất là biển khổ sanh tử, Bồ-tát thường
chèo thuyền Bát-nhã cứu người qua khỏi biển khổ là vô
úy thí. Ðã thấy các pháp như huyễn, nên Bồ-tát không khước
từ những điều khó bố thí. Vì thế bố thí được ba-la-mật.
Trì
giới là gìn giữ giới pháp của Phật răn cấm. Trong giới
Bồ-tát có mười giới trọng và bốn mươi tám giới khinh,
từ kinh Phạm võng. Hoặc Tam tụ tịnh giới của hàng Bồ-tát.
Ðây là ba nhóm giới thanh tịnh Bồ-tát phải thực hành. Một
là nhiếp luật nghi giới, những pháp nên lìa Bồ-tát hằng
lìa. Hai là nhiếp thiện pháp giới, những pháp nên chứng,
Bồ-tát đều tu chứng. Ba là nhiêu ích hữu tình giới, Bồ-tát
thường làm lợi ích chúng sanh. Những giới pháp này tu hành
đến cứu kính viên mãn gọi là giới ba-la-mật. Chính vì
thấy các pháp duyên khởi như huyễn nên Bồ-tát hay làm được
việc khó làm.
Nhẫn
nhục là sức cam chịu mọi hoàn cảnh khổ đau bức bách tủi
nhục đến với tự thân. Chúng ta chiến thắng mọi sự thúc
giục bức bách của bản thân tạo ra và chiến thắng những
gì khổ đau tủi nhục từ bên ngoài đưa đến. Cho đến những
điều oan trái không đâu, hoặc cực kỳ vô lý, chúng ta cũng
nhẫn chịu được. Có khi phải trả giá rất đắt về danh
dự, về thân thể, mà vẫn cam chịu để tròn hạnh nhẫn
nhục. Cho nên nhẫn nhục khi đến cứu kính là một sức hùng
dũng phi thường, vì đã chiến thắng hoàn toàn bản tánh ái
ngã và bảo vệ ngã. Ðược thế mới gọi là nhẫn nhục
ba-la-mật.
Tinh
tấn là cố gắng nỗ lực. Dốc hết khả năng để chiến
thắng mình, để chóng thành đạo quả, là tinh tấn trong phần
tự lợi. Dốc hết khả năng để cứu giúp người, để giáo
hóa cho họ giác ngộ, là phần lợi tha. Ở hai bình diện tự
lợi lợi tha, Bồ-tát lúc nào cũng nỗ lực một cách tột
cùng, gọi là tinh tấn ba-la-mật. Bởi Bồ-tát thấy đem thân
như huyễn độ hữu tình như huyễn, nên không bao giờ biết
mỏi mệt và chán ngán.
Thiền
định, "thiền" nguyên từ chữ Phạn Dhyàra (Thiền Na), Trung
Hoa dịch là Tĩnh lự. Có nghĩa là do gá tâm một cảnh khiến
những tâm lự lăng xăng được lặng yên. Song Thiền định
trong nhà Phật cũng có nhiều lối, hoặc quán thân tâm này
vô chủ để ngộ ngã không hoặc quán năm uẩn tánh không
để ngộä pháp không, hoặc tâm không chấp cảnh khiến tâm
cảnh nhất như. Bởi dừng được vọng tâm nên gọi là tĩnh
lự. Thiền định đến tâm cảnh nhất như là Thiền ba-la-mật.
Trí
tuệ là trí vô sư được hiển lộ viên mãn. Bởi mây mờ
vọng lự dứt sạch, nên mặt trời trí tuệ vô sư chiếu
sáng rực rỡ. Trí tuệ này là do công phu tu thiền định mà
phát xuất, chớ không phải do học tập mà được. Cho nên
khi trí thể này hiện bày thì vô minh phiền não hoàn toàn
tiêu sạch. Thế là đầy đủ trí vô lậu thoát ly sanh tử
luân hồi. Ðây là trí tuệ ba-la-mật.
Lục
độ có nghĩa là do tu sáu pháp này đưa qua biển khổ sanh
tử. Lại có nghĩa tu mỗi pháp qua mỗi cái dở: tu Bố thí
độ bỏn sẻn, tu Trì giới độ phá giới, tu Nhẫn nhục độ
nóng giận, tu Tinh tấn độ lười biếng, tu Thiền định độ
tán loạn, tu Trí tuệ độ ngu si.
Tóm
lại, ngũ thừa Phật giáo là phương tiện hướng chúng sanh
tiến lên, tùy căn cơ và sở nguyện mà sự tiến lên ấy
có cao thấp khác nhau. Ðã là phương tiện thì chưa phải mục
đích chánh yếu của đức Phật muốn dạy. Nếu nhằm chỗ
mục đích chánh của Phật thì chỉ giáo hóa chúng sanh đều
được thành Phật. Tuy nhiên lòng từ bi của đức Phật là
như thế, song trình độ căn cơ của chúng sanh thì chẳng đồng.
Buộc lòng đức Phật phải mở rộng Ngũ thừa hoặc Tam thừa
mà giáo hóa chúng sanh. Nếu chúng ta ứng dụng tu hành một
thừa trong năm thừa, mà tâm niệm vẫn biết rõ rằng đây
là phương tiện để tiến lên, chớ không phải chỗ an trụ
vĩnh cửu, là không có lỗi lầm. Ngược lại, chúng ta tu theo
thừa nào chấp chặt vào đó, không chịu phát tâm hướng
thượng, ấy là những kẻ rơi trong hóa thành. Chúng ta là
người cầu Phật đạo, phải tu đến bao giờ viên mãn Phật
đạo mới được dừng nghỉ. Ðây là mục đích tối thượng
của người Phật tử chúng ta.