Nghiệp
báo
I.-
MỞ ÐỀ
Mọi
việc khổ vui trong kiếp hiện tại của chúng ta đều do nghiệp
quá khứ và hiện tại chi phối. Nghiệp lành thì được vui,
nghiệp ác thì chịu khổ, chúng ta chỉ biết sợ khổ, cầu
vui mà không biết tránh nghiệp ác, tạo nghiệp lành. Thế
chẳng khác nào kẻ sợ bóng mà cứ đứng ngoài trời nắng,
muốn nghe nhạc mà bịt lỗ tai. Một khi nghiệp quả đến,
chúng ta dù muốn dù không, tất nhiên cũng phải chịu. Bởi
nó là kết quả do hành động của chính mình đã tạo. Mình
làm, rồi mình chịu, đó là lẽ công bằng hợp lý của kiếp
người.
II.-
ÐỊNH NGHĨA
Nghiệp
báo nói đủ là nghiệp quả báo ứng. Bởi vì nghiệp nhân
chúng ta đã gây thì nghiệp quả phải đến. Sự báo đáp
thù ứng cân xứng nhau giữa nghiệp nhân và nghiệp quả. Trước
tiên chúng ta cần biết chữ nghiệp.
a)
Nghiệp: là dịch nghĩa chữ Karma tiếng Phạn, chỉ hành động
tạo tác theo thói quen của mỗi người. Nghiệp có nghiệp
thiện, nghiệp ác, định nghiệp, bất định nghiệp... Nghiệp
thiện là hành động lành đem lại sự an lạc cho chúng sanh.
Nghiệp ác là hành động dữ làm đau khổ chúng sanh. Ðịnh
nghiệp là hành động hoặc lành hoặc dữ có cộng tác với
ý thức tạo thành nghiệp quyết định. Bất định nghiệp
là hành động hoặc lành hoặc dữ không cộng tác với ý
thức nên thành nghiệp không quyết định.
b)
Báo: là đền trả một cách công bằng, không sai chạy, không
tiêu mất. Chúng ta có hành động lành hay dữ, kết quả của
hành động ấy sẽ đến, hoặc sớm hay muộn thôi. Thí dụ
chúng ta mắng chửi người là hành động dữ, người ấy
sẽ mắng chửi lại ngay khi đó, hoặc thời gian khác, khó
tránh khỏi. Sự thù đáp cân xứng gọi là báo. Báo có chia
ba thứ: hiện báo, sanh báo và hậu báo. Hiện báo là quả
báo hiện tại, những hành động lành hay dữ ngay trong đời
này chịu quả báo. Sanh báo là quả báo đời sau, hành động
tốt xấu của ba nghiệp, đến đời sau mới chịu quả báo.
Hậu báo là về sau lâu xa mới chịu quả báo. Ví như vào
đầu mùa mưa, chúng ta đồng thời gieo trồng hạt đậu phộng,
trồng cây chuối, trồng cây mít. Ðến ba tháng sau, chúng ta
được kết quả có đậu phộng. Sang năm, chúng ta mới kết
quả có chuối. Song ba bốn năm sau, chúng ta mới được kết
quả có mít. Như thế, hành động đồng thời mà kết quả
sai biệt, tùy loại khác nhau. Nếu chúng ta đòi hỏi ba thứ
phải kết quả đồng thời là ngu xuẩn.
III.-
TỪ ÐÂU TẠO THÀNH NGHIỆP?
Nghiệp
từ thân, miệng, ý chúng ta tạo nên. Bởi thân miệng ý chúng
ta làm lành, nói lành, nghĩ lành nên tạo thành nghiệp lành.
Thân miệng ý chúng ta làm dữ, nói dữ, nghĩ dữ tạo thành
nghiệp dữ. Thế nên, chúng ta chủ nhân tạo nghiệp cũng chính
chúng ta là chủ nhân thọ báo. Ngang đây chúng ta hãnh diện
đã thoát khỏi mọi quyền lực thiêng liêng ban họa xuống
phước. Chúng ta cũng hiên ngang thọ nhận tất cả quả khổ
vui, mà không có một lời oán hờn than trách. Chúng ta khôn
ngoan biết chọn lựa nghiệp nhân nào mình thích mà làm, không
còn mù quáng làm càn bướng. Ðây là sự trưởng thành, khi
rõ nghiệp từ đâu có.
IV.-
TỪ ÐÂU CÓ BÁO ỨNG?
Sự
báo ứng cũng chính nơi mình hiện ra. Mỗi khi chúng ta tạo
nghiệp lành hay dữ, mắt chúng ta thấy cảnh ấy, tai chúng
ta nghe tiếng ấy, hạt giống lành dữ ấy đã rơi vào tàng
thức chúng ta. Kẻ đối tượng bị chúng ta làm khổ vui cũng
thế, do mắt thấy, tai nghe nên hạt giống biết ơn hay thù
hằn đã rơi vào tàng thức của họ. Khi nào đó, cả hai gặp
lại nhau thì hạt giống ân oán ấy trỗi dậy, khiến hai bên
tạo thêm một lần nghiệp lành dữ nữa. Cứ thế tạo mãi
khiến nghiệp càng ngày càng dầy, ân oán càng ngày càng lớn.
Như khi chúng ta gặp một người đang mắc phải cảnh khốn
đốn cơ hàn, hình ảnh buồn thảm khổ đau của họ hiện
bày đầy đủ. Chúng ta trong tay có đủ phương tiện, liền
giúp họ qua cơn khốn đốn, lúc đó trên gương mặt khổ
đau đã ngả sang gương mặt vui tươi, sáng sủa. Chứùng kiến
hiện tượng ấy, hạt giống vui tươi đã rơi vào tàng thức
chúng ta. Nếu mỗi ngày chúng ta đều gieo vào tàng thức những
hạt giống vui tươi, đến khi thân này sắp hoại, chúng ta
không còn đủ nghị lực làm chủ, những hình ảnh vui tươi
ấy sẽ hiện đến với chúng ta, mời chúng ta đến cảnh
vui tươi. Ngược lại, mỗi ngày chúng ta cứ gieo rắc khổ
đau cho người, những hạt giống khổ đau chứa đầy trong
tàng thức chúng ta, đến khi hơi tàn, lực tận những hình
ảnh đó sống dậy, đuổi bắt đánh đập chúng ta, khiến
chúng ta phải chạy chui vào cảnh khổ. Ðó là nghiệp báo
khổ vui của mai kia. Nghiệp báo không phải từ đâu đến,
mà chính từ tàng thức chúng ta hiện ra. Người xưa thần
thánh hoá khả năng chứa đựng của tàng thức bằng ông thần
độ mạng. Bảo rằng ông thường theo dõi chúng ta, và ghi
chép hết mọi hành động thiện ác của chúng ta, để báo
cáo với Thiên đình hay Diêm chúa. Hoặc cụ thể hóa tàng
thức chứa đựng bằng Ðài gương nghiệp cảnh. Bảo rằng
chúng ta làm lành hay dữ, sau khi chết đến chỗ Diêm vương,
ở trước sân triều có cái gương lớn, người làm lành làm
dữ dẫn đến trước gương đều hiện rõ ràng đầy đủ,
không thể chối cãi được.
V.-NGHIỆP
BÁO KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN
Sự
góp nhặt gieo vào tàng thức là một lẽ thật, không phải
việc huyễn hoặc, do không tưởng bịa ra. Ðây thử cử một
thí dụ, khi chúng ta muốn học thuộc lòng một bài thơ. Chúng
ta đọc một lần, hai lần, cho đến nhiều lần tự thấy
nó thuộc. Cái thuộc ấy là do đâu, chẳng qua mỗi lần chúng
ta đọc, hạt giống ấy rơi vào tàng thức, đọc nhiều lần,
hạt giống ấy càng trưởng thành mạnh mẽ, đây gọi là
thuộc. Thuộc xong chúng ta không đọc nữa, thỉnh thoảng trong
tàng thức nó trỗi dậy, mỗi lần trỗi dậy, chúng ta ôn
lại đôi ba phen, thế là thuộc lại càng thuộc. Từ miệng
chúng ta đọc, hạt giống thơ rơi vào tàng thức gọi hiện
hạnh huân chủng tử. Từ tàng thức thơ trỗi dậy, gọi là
chủng tử khởi hiện hạnh. Chúng ta ôn lại đôi ba lần,
gọi là hiện hạnh huân chủng tử. Thế là sự huân khởi
không thể nghĩ bàn. Nếu cả đời chúng ta huân chủng tử
nào nhiều nhất, đời sau sanh ra hạt giống ấy sống dậy
sớm nhất. Bởi thế mới có các vị thần đồng, xuất hiện,
như Mạc Ðĩnh Chi ở Việt Nam mười hai tuổi đã thông suốt
thi pháp, Bạch Cư Dị ở Trung Hoa chín tuổi đã làm thơ, Pascal
ở Pháp mười hai tuổi đã thông Kỷ hà học..., cho đến
cùng học một lớp mà mỗi đứa bé đều có khả năng riêng.
Khi
trong kho tàng thức còn chứa chủng tử thì sự huân khởi
không thể nghĩ bàn. Vì thế nó có sức mạnh lôi kéo chúng
ta đi thọ sanh trong lục đạo không có ngày dừng. Thế nên,
nói đến nghiệp báo là nói đến sự luân hồi sanh tử.
VI.-
LÀM SAO HẾT NGHIỆP?
Nghiệp
đã do chúng ta gây tạo biến chủng tử huân vào tàng thức.
Muốn hết nghiệp cũng do chúng ta khéo loại hết những chủng
tử nghiệp ở trong tàng thức ra. Khi kho tàng thức sạch chủng
tử thì sức mạnh lôi vào sanh tử không còn. Khi chủng tử
còn trong kho ấy, gọi là tàng thức, là nhân sanh tử. Khi chủng
tử trong kho ấy sạch hết, gọi là không Như Lai tàng, là
kho Như Lai trống, tức là dứt mầm sanh tử. Vì thế muốn
hết nghiệp sanh tử, chúng ta phải ứng dụng những phương
pháp tu để tiêu diệt các hiện hạnh từ chủng tử dấy
khởi. Ví như khi chúng ta học thuộc lòng một bài thơ, song
mỗi lần nhớ lại, chúng ta đều bỏ qua, thời gian lâu bài
thơ ấy sẽ quên bẵng. Những chủng tử khác cũng thế, mỗi
khi khởi hiện hạnh, chúng ta đều thông qua chẳng cho hình
ảnh sống lại, lâu ngày tự nhiên nó mất. Phương pháp niệm
Phật, Trì chú, Tọa thiền đều nhắm vào mục đích này.
VII.-
KẾT LUẬN
Thấu
rõ lý nghiệp báo, chúng ta cố gắng tạo điều kiện thuần
thiện để được quả báo toàn vui, nếu còn chấp nhận ở
trong sanh tử. Sự chọn lựa khổ vui là quyền sở hữu của
chúng ta, không phải Thần thánh, cũng không phải ai khác, có
quyền ban khổ vui cho chúng ta. Quyền năng sắp đặt một cuộc
sống mai kia, đều do bàn tay chúng ta gây dựng. Nếu một khi
nào đó, chúng ta không chấp nhận cuộc sống luân hồi nữa,
cũng chính chúng ta loại bỏ những mầm sanh tử đang chứa
chấp trong tàng thức của chúng ta. Thế là, chúng ta đã giành
quyền với tạo hóa, đã tước bỏ quyền lực của thần
linh và độc tôn trong việc thoát ly sanh tử.