Luân
hồi
I.-
MỞ ÐỀ
Có
một số người bảo "Nhà Phật nói Luân hồi để ru ngủ
con người trong giấc mơ mê tín". Chúng ta khảo sát kỹ coi
câu ấy có đúng thế không? Ðó là nhiệm vụ của người
truyền bá Phật giáo, cần phải làm sáng tỏ vấn đề này.
Bởi thuyết luân hồi là một thuyết quan trọng trong nhà Phật,
nếu là mê tín thì đạo Phật là đạo mê tín hay sao? Hẳn
không phải thế, đạo Phật là đạo giác ngộ, truyền bá
những lẽ thật của mình giác ngộ được cho chúng sanh biết
là nhiệm vụ của đức Phật. Chúng ta là người nối bước
theo sau đức Phật, cần phải nghiên cứu tường tận giải
bày rõ ràng để mọi người được hiểu khỏi sanh nghi ngờ
là một điều cần yếu không thể thiếu được. Lý luân
hồi là một cơ cấu hệ trọng trong Phật pháp, bao gồm cả
nhân quả, nghiệp báo là căn bản đạo đức của người
tu Phật. Không thông lý luân hồi, người Phật tử khó bề
tu tiến được. Do đó, chúng ta cần phải tìm hiểu cho thấu
đáo.
II.
ÐỊNH NGHĨA
Luân
hồi là xoay vần, cứ mãi đảo lên lộn xuống xoay vần trong
khuôn khổ cố định. Mọi sự đổi thay biến chuyển không
đứng yên một vị trí nào. Hằng xê dịch biến thiên từ
trạng thái này sang trạng thái khác, từ hình tướng này sang
hình tướng khác. Tất cả sự biến thiên đều tuỳ duyên
thăng trầm không nhất định là luân hồi.
III.
LUÂN HỒI LÀ SỰ THẬT
Qua
định nghĩa trên, chúng ta thấy luân hồi là một triết lý
thực tiễn không còn gì phải nghi ngờ. Bởi vì con người
và vũ trụ hiện tại đều nằm chung trong một định luật
"biến thiên".
a/
Quả đất luân hồi: Nhờ khoa học phát minh cho biết quả
địa cầu chúng ta đang ở xoay tròn quanh một cái trục trong
không gian. Do sự xoay tròn này, phía nào của quả đất hướng
về mặt trời là sáng, phía bị khuất là tối. Từ đó, con
người mới đặt ra thời gian. Sự xoay tròn này không phải
luân hồi là gì? Quả đất xoay khiến có ngày đêm và hai
mươi bốn tiếng đồng hồ nhịp nhàng theo chiều quay của
trái đất, lại có chia xuân hạ thu đông, do sự xê dịch
gần và xa mặt trời. Từ sự xoay tròn của trái đất, nảy
sanh thời gian, thời gian và trái đất đều là luân hồi.
Quả đất là chỗ tựa nương để sống còn của vạn vật
và con người; bản thân nó đã luân hồi thì những vật tựa
nương vào nó làm sao khỏi luân hồi. Thế thì cả vũ trụ
lẫn vạn vật cùng toàn thể chúng sanh đều là luân hồi.
Ðó là một sự thật căn cứ trên khoa học, chớ không phải
là chuyện huyền thoại mơ hồ. Thể theo sự nhận xét tổng
quát này, chúng ta cần đi chi tiết hơn cho dễ hiểu.
b/
Vạn vật luân hồi: Muôn vật trên quả địa cầu đều cùng
chung luân hồi. Về sinh vật từ cái cây cọng cỏ bởi do
hạt nẩy mầm tăng trưởng thành cây, sanh hạt, đảo đi lộn
lại mãi không cùng. Các loài động vật thì từ trứng nở
thành con, con lại sanh trứng; hoặc từ bào thai thành hình,
khi trưởng thành lại có bào thai, lẩn quẩn loanh quanh không
cùng. Ðó là chúng ta nói sự luân hồi trong cuộc tiếp nối.
Ðến
ngay bản thân sự vật cũng bị luân hồi, chúng sanh trưởng
thành là do đất nước gió lửa, khi tan hoại cũng trở về
đất, nước, gió, lửa, tụ lại tán ra theo duyên biến chuyển
chẳng cùng. Bản thân đất nước gió lửa vẫn bị luân hồi.
Như sáng sớm, chúng ta lấy thau múc một phần ba thau nước
đem để ngoài trời nắng, đến chiều thau nước cạn khô.
Thử hỏi nước đi đâu? Nước mất hết rồi sao? Nước không
đi đâu, nước cũng chẳng mất, chẳng qua nước là thể lỏng
do ánh nắng nóng bốc lên thành thể hơi, hơi theo gió bàng
bạc trong hư không nào có định xứ. Thể hơi gặp khí lạnh
đọng lại rơi xuống thành nước, nước lại bốc thành hơi,
cứ thế mãi luân hồi không cùng. Gió lửa đất cũng thế,
tùy duyên từ hình thái này đổi sang hình thái khác, đổi
đổi thay thay không có ngày cùng. Tìm chỗ bắt đầu và chung
cục của chúng không thể được. Hình tướng trạng thái
luôn luôn đổi thay, sự thật vẫn không bao giờ mất. Từ
một hình tướng thô đổi thành một trạng thái tế, với
cái nhìn thô thiển người ta bảo là mất, thật sự nào có
mất, chỉ là biến thái.
c/
Con
người luân hồi: Nói đến con người tạm chia làm hai phần,
vật chất và tinh thần, như bóng đèn và điện. Ngọn đèn
phát huy được ánh sáng phải có đủ hai điều kiện hỗ
tương nhau. Có bóng đèn mà không có điện trở thành vô ích,
có điện mà không có bóng đèn cũng vô nghĩa. Sự hỗ tương
giữa điện và bóng đèn không thể tách rời, không thể đặt
giá trị thiên trọng, không thể xem như chủ khách. Cần phải
thấy sự tương quan bất khả phân ly. Tinh thần và vật chất
của con người cũng thế, mọi sự phân chia, khinh trọng...
đều sai ý nghĩa chân thật của nó. Vì muốn thấy sự luân
hồi tường tận, chúng ta tạm nhìn con người ở hai mặt
để dễ bề nhận xét:
* Vật
chất luân hồi: Phần vật chất nơi con người, nhà Phật
chia tổng quát làm 4 phần: đất, nước, gió, lửa. Những
loại cứng trong thân người, như da thịt gân xương tóc lông
răng móng... thuộc về đất. Các loại ướt, như máu mủ,
mồ hôi đàm dãi nước mắt nước mũi... thuộc về nước.
Hít không khí vào cho phổi hô hấp, quả tim đập, các mạch
máu nhảy... mọi thứ động thuộc về gió. Nhiệt độ trong
người làm cho thức ăn tiêu hóa, máu không đông đặc, ấm
áp toàn thân... thuộc về lửa. Bốn thứ này thiếu một là
con người chết ngay. Ở đây chúng ta phân tích sự luân hồi
từng thứ:
-
Ðất luân hồi: Thâu nhận tế bào mới, đào thải tế bào
cũ, thay mới đổi cũ không lúc nào dừng, ấy là luân hồi.
Cho đến thân này sống nhờ ăn những thức có chất bột
(đất), khi chết nó tan hoại trở thành đất. Khi sống mượn
những chất đất bồi dưỡng, lúc chết trả lại cho đất.
Hợp lại tan ra, tan ra hợp lại, không phải luân hồi là gì?
- Nước
luân hồi: Máu từ quả tim chạy khắp các mạch, rồi trở
về quả tim, chạy ra trở về, trở về chạy ra, sự tuần
hoàn như vậy gọi là luân hồi. Cho đến khi sống mượn nước
để bồi bổ chất ướt trong thân, lúc chết chảy ra trở
về lòng đất. Sự mượn trả mà không bao giờ mất ấy là
luân hồi.
- Gió
luân hồi: Hít không khí vô, thở không khí ra, hít vô thở
ra cả đời như vậy là luân hồi. Nhờ cái động của thở
hít không khí mà các cơ quan trong toàn thân hoạt động, các
cơ quan hoạt động là thân sống. Ðến khi thở không khí
ra mà không hít lại, liền ngừng hoạt động, tức là thân
chết. Thế thì sự sống của thân này đích thực do luân
hồi của gió, gió ngưng luân hồi thì thân phải hoại diệt.
- Lửa
luân hồi: Do những thức ăn có chất nóng nuôi dưỡng phần
lửa trong thân. Lửa dùng sưởi ấm toàn thân, thiêu đốt
vật thực, lại do vật thực bồi bổ chất lửa. Cứ tiêu
dùng, bồi bổ, bồi bổ tiêu dùng, đảo đi lộn lại là luân
hồi. Khi tiêu dùng mà không bồi bổ kịp, lửa từ từ tắt,
con người chết. Lửa ấy trở về với thiên nhiên, tùy duyên
chuyển biến trong không gian, mà chưa bao giờ mất là luân
hồi.
Tóm lại,
tứ đại tụ họp quân bình nhau là con người sống khỏe
mạnh, nếu thiếu quân bình là ốm đau, phân tán thì tử vong.
Trong khi tứ đại tụ họp trong thân này luôn luôn biến chuyển
tuần hoàn, không được ngăn trệ ứ đọng. Vừa bị ngăn
trệ ứ đọng là thân này nguy ngập. Sự biến chuyển tuần
hoàn của tứ đại trong thân con người gọi chung là vật
chất luân hồi. Sở dĩ nói luân hồi vì biến chuyển mà không
phải mất hẳn.
* Tinh
thần luân hồi (tâm sở luân hồi): Phần tinh thần của chúng
ta luôn luôn thay đổi bất thường, không bao giờ đứng yên
ở một vị trí. Những thứ buồn vui, yêu ghét, thương giận,
lành dữ, phải quấy... thường thay mặt đổi mày như trên
sân khấu. Có khi chúng ta hiền lành như ông Phật, có lúc
giận dữ như con cọp đói. Nhiều lúc vui vẻ yêu thương,
lắm khi bực bội thù địch. Những tâm trạng đổi thay không
lường được, chính tự thân chúng ta cũng không ước đoán
nổi tâm trạng của mình sẽ xảy ra những cái gì. Sự buồn
vui thương ghét đổi thay thăng giáng nơi nội tâm chúng ta
gọi là luân hồi.
Nói
chung nơi con người chúng ta, hai phần vât chất lẫn tinh thần
đều là tướng trạng luân hồi. Sự luân hồi của chúng
là sự hoạt động sống còn của ta. Biết rõ vật chất tinh
thần chỉ đổi thay hình tướng trạng thái, chớ không một
vật nào mất. Nếu thấy mất, chẳng qua do cái nhìn cạn cợt
nông nổi mà kết luận như thế. Thực thể của nó là "biến
thiên mà bất diệt", thấy đến chỗ tận cùng ấy, mới khỏi
nghi ngờ về lý luân hồi. Sự luân hồi ngay trong thân hiện
tại này là hiện tại luân hồi . Ðến sự tụ lại tan ra,
tan ra tụ lại của thân con người là luân hồi đời này
sang đời khác.
Mọi
sự tụ tán đều tùy duyên khiến hình tướng trạng thái
đổi khác. Ví dụ nước do duyên nóng bốc thành hơi, gặp
duyên lạnh cô đọng thành khối. Sự biến thái này đều
do duyên quyết định. Duyên quyết định cho sự luân hồi
của con người là gì? Là nghiệp. Nghiệp là động cơ chánh
yếu trong cuộc luân hồi của con người.
IV.-
ÐỘNG CƠ LUÂN HỒI
Nghiệp
là hành động từ thân tâm con người tạo thành. Khi thành
nghiệp rồi nó thúc đẩy dẫn dắt con người đến chỗ thành
quả của nó. Chính nó là động cơ quan yếu đẩy mãi trong
vòng luân hồi không dừng của tất cả chúng sanh. Cơ quan
tạo nghiệp có ba thứ, thân miệng và ý. Nói đến nghiệp
là nói đến sự toàn quyền quyết định nơi mọi người
chúng ta. Không ai tạo nghiệp thế cho chúng ta, cũng không ai
có thể thay thế nghiệp cho chúng ta. Chính chúng ta là chủ
nhân tạo nghiệp, cũng là chủ nhân thọ báo. Trọng trách
của mọi sự khổ vui hiện tại và mai sau đều do chúng ta
quyết định. Chủ trương nghiệp là chủ trương giành lại
toàn quyền cho con người. Chúng ta là chủ nhân của chúng
ta hiện tại và vị lai. Không phải một đấng Thượng đế
hay một tha nhân nào khác tạo thành một cuộc sống an vui
hay đau khổ cho chúng ta, mà chính do thân miệng ý của chúng
ta trong quá khứ cũng như hiện tại gây nên. Chúng ta thừa
nhận nghiệp do mình tạo ra, đã tước hết mọi quyền năng
của các đấng thiêng liêng, của định mạng, của tướng
số và của rủi may. Nghiệp là hành động, là thói quen nên
có thể chuyển đổi, chỉ cần nỗ lực và bền chí. Nghiệp
có nghiệp thiện và nghiệp ác.
a/
Nghiệp ác:
Nghiệp ác là hành động làm cho người khổ
và mình khổ, hoặc ở hiện tại hay ở vị lai. Hành động
này do ba cơ quan tạo nên: thân, miệng, ý.
-
Thân làm ác: Ðể cho thân buông lung thích hành động giết
hại sanh mạng người, hoặc thích trộm cướp tài sản người,
hoặc đắm say dâm dật trái phép, là nghiệp ác của thân.
Vì hành động này làm cho người khổ và mình khổ, nếu hiện
tại chưa đến thì vị lai cũng chịu.
- Miệng
làm ác: Miệng ưa nói lời dối trá, lời ác độc, lời ly
gián, lời thêu dệt, là nghiệp ác của miệng. Vì những lời
nói này khiến người nghi ngờ bực tức đau khổ mang tai họa,
nên hiện tại hoặc vị lai mình cũng phải nhận lấy hậu
quả đau khổ ấy.
- Ý
làm ác: Si mê, tham lam, nóng giận là nghiệp ác của ý. Chính
nó là động cơ thúc đẩy thân làm ác, miệng nói ác. Bản
thân nó thì chưa làm hại được ai, song do nó khiến thân
sát phạt người, miệng chửi bới nguyền rủa người. Thân
miệng mà không cộng với tham sân si thì tự nó không có lỗi
lầm gì. Thế nên, tuy nói ba cơ quan tạo nghiệp, mà ý là
cơ quan hệ trọng hơn cả, nó là chủ động của hai cơ quan
kia.
b/
Nghiệp thiện:
Những hành động đem lại sự an ổn vui
vẻ cho người và mình là nghiệp thiện. Sự an ổn vui vẻ
chẳng những có trong hiện tại mà còn đến vị lai. Cũng
do ba cơ quan tạo thành nghiệp thiện: thân, miệng, ý.
-
Thân làm lành: Thân không giết hại người, không trộm cướp
tài sản người, không dâm dật phi pháp là nghiệp thiện của
thân. Tại sao không làm ba việc ấy là thiện? Bởi vì con
người quí nhất là sanh mạng, chúng ta không hại sanh mạng
họ thì họ đến với chúng ta một cách an ổn không sợ sệt.
Thứ yếu là tài sản, con người tự thấy tài sản là huyết
mạch của họ, chúng ta nhất quyết không trộm cướp thì,
họ đến với chúng ta cũng như chúng ta đến với họ, đều
được an vui không hồi hộp lo âu về mất của. Hạnh phúc
của gia đình là vợ chồng hòa thuận tin yêu trinh bạch với
nhau, nếu vợ hay chồng có tình ý riêng tư với ai là gia đình
mất hạnh phúc. Chúng ta giữ gìn không theo sự dâm dật phi
pháp, đến với gia đình ai họ đều an ổn vui vẻ không nghi
ngờ sợ sệt chi cả. Gìn giữ ba điều này, chúng ta đã ban
sự an ổn vui tươi cho bao nhiêu người rồi, cũng chính là
đem lại sự an ổn vui tươi cho gia đình chúng ta.
- Miệng
làm lành: Miệng không nói dối trá, không nói ác độc, không
nói ly gián, không nói thêu dệt là miệng làm nghiệp lành.
Vì sao? Bởi vì, nói dối trá khiến người nghi ngờ mất niềm
tin, đã không tin nhau làm gì có thương mến. Thế nên nói
dối là căn bản khiến con người mất hết tình thương. Nói
ác độc khiến người nghe sanh phẫn nộ bực dọc đau khổ.
Nói ly gián làm cho thân thuộc họ phải chia lìa, tạo thành
cái khổ ái biệt ly. Nói thêu dệt là tô điểm không đúng
chân lý, khiến người không tìm ra được lẽ thật. Chúng
ta quyết định gìn giữ miệng không nói bốn điều trên là
tạo được tình thân giữa mình và người, đem lại cho mọi
người sự an ổn, bảo vệ được tình thân của người,
giúp cho người dễ nhận ra lẽ thật. Thế là, chúng ta đã
tạo điều kiện tốt đẹp cho xã hội biết mấy.
- Ý
làm lành: Ý không có tham sân si là ý làm nghiệp lành. Chúng
ta thường thấy mọi sự bất bình đổ vỡ đều phát nguồn
từ tham sân si. Nếu chúng ta không để cho tham sân si dẫn
dắt hoành hành thì cả cuộc đời chúng ta được an ổn,
cũng là nguồn an ổn cho mọi người. Ba thứ này gọi là tam
độc, vì nó gây đau khổ cho mình và người không thể lường
trước được. Người nào kềm cương giữ thắng được nó,
bảo đảm được một đời sống an lành, cũng bảo vệ được
an ninh trật tự cho mọi người. Ngược lại, kẻ nào buông
cương thả thắng nó sẽ lôi đời họ vào hố sâu nguy hiểm,
cũng gây họa hại cho khách bàng quan không ít. Thế nên, không
cho tham sân si nổi dậy là gìn giữ sự an ổn vẹn toàn cho
mình và mọi người.
c/
Khả năng của nghiệp: Nghiệp là cái không có hình tướng
mà có khả năng đáng kể. Ví như gió, tuy không thấy hình
tướng mà nó thổi đất nước đều lung lay. Nghiệp cũng
thế, bình thường chúng ta không thấy nó, mà nó lôi chúng
ta đi khắp nẻo luân hồi. Sở dĩ nó có khả năng mạnh mẽ
như vậy là do tập quán lâu ngày. Như người tập hút thuốc,
buổi đầu khói thuốc chỉ cảm thấy khó chịu, nhưng tập
lâu ngày thành ghiền, khi ghiền rồi với giá nào cũng phải
tìm cho có nó. Thử hỏi cái ghiền ấy hình tướng ra sao,
mà điều khiển con người một cách mãnh liệt như thế? Quả
thật không ai biết tướng mạo của nó, nhưng khi nó đòi
hỏi, người ta phải chạy ngược chạy xuôi tìm cho ra thuốc
hút. Bệnh ghiền rượu khả năng còn mạnh hơn, từ những
hớp rượu cay xé mồm, tập mãi thành quen, bắt đầu ghiền
rượu. Khi ghiền không có rượu khiến người ta phải ụa
phải mửa, oằn oại nhọc nhằn, ngáp trời ngáp đất, quả
thật chi phối hết khả năng con người. Chúng ta tự đặt
câu hỏi, ai đem bệnh ghiền ấy đến cho chúng ta? Chính chúng
ta tự tập, tập lâu thành ghiền, cái ghiền ấy do mình tạo
rồi mình chịu. Cái ghiền ấy có ma lực gì mà đày đọa
hành hạ con người đến thế? Hắn không có ma lực gì, chẳng
qua tập lâu ngày thành thói quen, thói quen càng lâu sức càng
mạnh. Ðã tự chúng ta tập thành bệnh, khi muốn hết bệnh
cũng tự chúng ta gan dạ bỏ nó, không ai có thể bỏ thế
cho chúng ta. Khả năng của bệnh ghiền giống hệt khả năng
nghiệp chi phối chúng ta trong lục đạo luân hồi vậy.
Tự
chúng ta tạo nghiệp lành hoặc nghiệp dữ, tạo càng lâu thì
sức mạnh càng lắm, đến cuối cùng chúng chi phối dẫn dắt
chúng ta đi vào con đường lành hay dữ tùy chỗ gây tạo của
mình. Không phải hóa công đày đọa, không phải thượng đế
bày ra, chính chúng ta tự tạo rồi tự thọ. Khi đã thành
nghiệp, chúng ta khó cưỡng được nó. Thế nên, biết chọn
nghiệp lành để tạo là đã tự gây một sức mạnh đưa
mình đến cõi lành. Cắm đầu gây nghiệp ác là tạo áp lực
lôi mình vào cõi dữ. Chính đây là quyền lựa chọn của
con người, quyền định đoạt số phận ở mai hậu. Nếu
cứ sống say chết ngủ đẩy đâu đi đấy, những kẻ này
về sau than trời trách đất nào có ích gì. Chúng ta có đủ
thẩm quyền quyết định đời mình hiện tại và vị lai,
tại sao chúng ta lại bỏ mất cái giá trị cao cả ấy. Những
kết quả tốt xấu dở hay ở hiện nay và mai kia đều nằm
sẵn trong tay chúng ta. Chúng ta có quyền phán quyết một bản
án tốt xấu trong đời sống mai sau của mình. Ðừng cầu
khẩn van xin bất cứ một năng lực nào ngoài chúng ta.
Nói
đến khả năng nghiệp là khả năng của chúng ta, nghiệp và
chúng ta không phải là hai. Nếu chúng ta khôn ngoan khéo léo
lo tạo nghiệp lành, chúng ta dại khờ ngu muội gây tạo nghiệp
ác. Khổ vui sẽ tùy nghiệp mang đến với chúng ta một cách
chân thành.
V.
TẤT YẾU CỦA LUÂN HỒI
Tạo
nghiệp là nhân, thọ báo là quả. Tất yếu của sự luân
hồi là nhân quả. Lăn lộn trong ba cõi sáu đường đều tùy
thuộc nhân quả. Mình đã gây nhân nhất định mình phải
chịu quả, quả khổ quả vui là do gây nhân khổ vui. Nhân
quả là lẽ công bằng chân thật, bởi mỗi cá nhân gây tạo
khác nhau, nên sự thọ nhận cũng sai biệt. Sự công bằng
từ nhân đến quả, không phải sự công bằng do ai khác áp
đặt cho mình. Nếu do kẻ khác áp đặt cho mình là đã bất
công rồi. Ngày nay chúng ta tạo nhân, ngày mai chúng ta thọ
quả, thật là rõ ràng rành mạch biết bao. Song nói tới nhân
quả là căn cứ trên thời gian suốt cả quá khứ hiện tại
vị lai, trong quá khứ có cái gần có cái xa, vị lai cũng thế,
khiến có những kết quả xảy đến mà đương sự không bao
giờ nhớ. Lại có những sự kiện gây nhân mà không thấy
kết quả. Do đó nhân quả trở thành rắc rối khó khăn, người
ta khó tin khó nhận. Nhưng sự thật lúc nào cũng thật, bởi
khả năng nhớ hiểu của con người quá giới hạn, nên có
những thắc mắc thế thôi. Nếu người nhận hiểu sâu về
lý nhân quả thì cuộc sống này đã có tiêu chuẩn nhắm đến
và an ổn vô cùng. Vì mọi kết quả hiện chịu trong đời
đều do nhân gây ra từ thuở trước, nên khổ không oán hờn,
vui không ngạo mạn. Mình làm mình chịu, chỉ quí ngang đây
phải chọn lấy nhân tốt mà làm, để mai kia khỏi phải thọ
quả đau khổ, cho nên trong kinh nói: "Bồ-tát sợ nhân, chúng
sanh sợ quả." Kẻ trí thì sợ nhân, người ngu thì sợ quả.
Do cái nhìn thấu suốt và cái nhìn nông cạn, nên có chia Bồ-tát
và chúng sanh. Nhân có thiện ác thì quả cũng có khổ vui.
Những
kẻ gây tạo nghiệp ác, ắt phải thọ quả khổ trong ba đường
dữ, địa ngục ngạ quỉ súc sanh. Nghiệp ác là mình làm
cho kẻ khác khổ, cân xứng với nhân mình gây, thọ quả khổ
một nơi trong ba đường dữ. Nhân khổ có khi không thành quả,
do nửa chừng mình biết hối cải, hoặc chuyển đổi. Nhân
khổ nhất định thọ quả khổ, do sự nuôi dưỡng một cách
sung mãn. Ví như có người uống rượu mà không ghiền, vì
họ biết giới hạn chừa bỏ. Có người uống rượu nhất
định phải ghiền rượu, vì họ mãi tiếp tục và say mê.
Có nhân khổ mà không thọ quả khổ, hoặc nhất định phải
thọ quả khổ, cũng như thế.
Người
gây tạo nghiệp thiện ắt thọ quả vui trong cõi người, cõi
a-tu-la và cõi trời. Cân xứng với nghiệp lành mình đã tạo,
nhiều ít cao thấp, kết quả cũng có hơn kém thấp cao. Có
khi người tạo nghiệp lành mà không được quả lành, hoặc
người tạo nghiệp lành nhất định hưởng quả lành. Ví
như, một số sinh viên vào học y khoa, có người không đủ
khả năng học hoặc lười biếng học, nên tuy học y khoa mà
không kết quả thành bác sĩ. Có người đủ khả năng lại
cần cù học tập, nhất định một ngày kia sẽ thành bác
sĩ. Từ nhân đến quả còn cần có những sự kiện trợ giúp
đầy đủ mới được viên mãn. Không thể có nhận định
tất nhiên rằng có nhân là có quả. Bởi vì thời gian từ
nhân đến quả là giai đoạn biến động, hoặc được tăng
trưởng, hoặc bị tiêu mòn, tùy theo những sự kiện trợ
giúp. Biết thế, chúng ta có thể chuyển nhân xấu thành tốt,
hoặc nhân tốt trở ra xấu.
Sự
tất yếu của luân hồi tùy thuộc nhân quả, không có kẻ
nào khác áp đặt khổ vui cho chúng ta, cũng không có bàn tay
nào lôi kéo chúng ta phải đi đường này hay lối khác, mọi
sự kết quả đều cân xứng với nhân mình gây tạo. Nắm
vững yếu tố này, mới thấy chúng ta trọn quyền định đoạt
số phận của chúng ta. Nếu cuộc đời của chúng ta hiện
nay được tươi sáng hay đen tối, đều do sự khéo léo hay
vụng về của ta ngày xưa. Can đảm nhận lấy trách nhiệm
của mình, không oán trách kêu ca, không than thân tủi phận.
Chúng ta gan dạ trong cuộc sống hiện tại, song phải khôn
ngoan chọn lấy lối đi ở ngày mai.
VI.
THOÁT LY LUÂN HỒI
Ðạo
Phật giải rõ lý luân hồi, nhưng không phải để mãi chịu
luân hồi. Biết luân hồi tường tận rồi, Phật chỉ ra con
đường thoát ly luân hồi. Ðúng như ý nghĩa biết khổ, chúng
ta mới tìm cách thoát khổ. Luân hồi là vòng loanh quanh lẩn
quẩn, nhào đi lộn lại không thể thoát ra. Chấp nhận trong
vòng quanh quẩn đó, do người không tìm được manh mối thoát
ra, hoặc không đủ khả năng để thoát ra. Như các nhà khoa
học phát minh được sức hút của trái đất, mọi vật cam
chịu trong vòng vọt lên rớt xuống, không sao thoát ra ngoài
được. Nhưng cũng các nhà khoa học chế phi thuyền đủ khả
năng vọt ra ngoài vòng hút của trái đất, đi thám hiểm các
hành tinh khác. Biết rõ sức hút của trái đất rồi, mới
chế được phi thuyền vọt ra ngoài sức hút. Cũng thế, Phật
giải rõ lý luân hồi rồi, mới dạy phương pháp thoát ly
luân hồi. Mục đích của đạo Phật là thoát ly sanh tử luân
hồi, không chấp nhận sự loanh quanh trong vòng sanh tử. Còn
trong sanh tử dù dài ngắn khổ vui , đạo Phật đều kết
luận là đau khổ, vì cùng một số phận vô thường. Chỉ
thoát được luân hồi mới là an vui giải thoát.
VII.
KẾT LUẬN
Ðạo
Phật nói lý luân hồi cũng là phát minh một sự thật của
vạn vật và con người. Vì đối tượng của đạo Phật là
con người, nên chung qui đặt nặng về sự luân hồi của
con người. Con người nhận hiểu thấu đáo về lý luân hồi,
nếu họ không có khả năng thoát khỏi luân hồi, tự mình
chọn lựa cuộc luân hồi an vui và thoải mái. Nếu họ có
khả năng thoát ly luân hồi, do hiểu luân hồi tiến tu đạo
giải thoát. Biết được lý luân hồi, chúng ta biết được
lẽ công bằng của con người, cũng nhận lấy sự tự do căn
bản nơi chúng ta. Mọi mê tín ỷ lại đều tiêu tan, do biết
ta là người quyết định thân phận của mình. Tất cả oán
hờn tủi hận đều sạch hết, vì có ai áp đặt sự đau
khổ cho mình mà than thở. Quả chúng ta là con người độc
lập tự do của chính mình trong hiện tại và vị lai. Dù chưa
giải thoát, biết được lý luân hồi, chúng ta cũng sáng suốt
và an ổn ngay trong đời sống này. Mọi tương lai đều nằm
trong tay chúng ta, chúng ta trọn quyền chọn lấy một tương
lai nào theo sở thích của mình.